THE SEVEN STAGES OF PURIFICATION

This is a book born of wide and deep meditative experience, a guide to the progressive stages of Buddhist meditation for those who have taken up the practice in full earnestness.

BẢY GIAI ĐOẠN THANH LỌC

Đây là cuốn sách được hình thành từ kinh nghiệm thiền định sâu rộng, hướng dẫn các giai đoạn tiến bộ của thiền định Phật giáo cho những ai đang tu tập một cách nghiêm túc.

The seven stages of purification provide the framework for the practising disciple’s gradual progress from the cultivation of virtue up to the attainment of the final goal. Integral to the higher stages of purification are the nine types of insight-knowledge, by which the disciple breaks through the delusions covering his mental vision and penetrates through to the real nature of phenomena. In the present book the stages of purification and the insight-knowledges are treated not only with the authors great erudi- tion, but with the clarifying light of actual medi- tative experience.

Bảy giai đoạn thanh lọc cung cấp khuôn khổ cho sự tiến bộ dần dần của người hành giả tu tập từ việc trau dồi đức hạnh cho đến việc đạt được mục tiêu cuối cùng. Tích hợp với các giai đoạn thanh lọc cao hơn là chín loại tuệ minh sát, nhờ đó hành giả phá vỡ những ảo tưởng che phủ tầm nhìn tinh thần của mình và thâm nhập vào bản chất thực sự của các pháp. Trong cuốn sách này, các giai đoạn thanh tịnh hóa và tuệ minh sát được đề cập không chỉ bằng sự uyên bác thâm sâu của tác giả mà còn bằng ánh sáng soi sáng của kinh nghiệm thiền định thực tế.

The author, the late Venerable Matara Sri Nanarama Mahathera, was one of the most respected meditation masters of present-day Sri Lanka, the abbot and meditation master of the Mitirigala Nissarana Vanaya monastery. Though he himself emphasized the practice and teaching of insight meditation (vipassana), his experi- ence, and also this book, extend to serenity med- itation (samatha) as well.

Tác giả, cố Hòa thượng Matara Sri Nanarama Mahathera, là một trong những thiền sư được kính trọng nhất ở Sri Lanka ngày nay, là vị trụ trì và thiền sư của tu viện Mitirigala Nissarana Vanaya. Mặc dù bản thân Ngài nhấn mạnh đến việc thực hành và giảng dạy thiền minh sát (vipassana), nhưng kinh nghiệm của Ngài và cả cuốn sách này cũng mở rộng sang thiền định (samatha).

TRANSLATOR'S PREFACE

If the output of literature on a subject is any indication of the prevailing trends in the reading public, Buddhist meditation is today undoubtedly a subject of wide interest both in the East and in the West. In this field, the West is beginning to look to the venerable traditions of the East to learn more of the techniques and teachings of mind-control. The "supply" of this "know-how" for self-conquest, however, falls far short of the "demand" due to the dearth of meditation masters who can speak with confidence on the subject. It is in this context that the present treatise should prove to be a mine of information for those who cherish higher ideals.

LỜI MỞ ĐẦU CỦA NGƯỜI DỊCH

Nếu các sản phẩm văn học về một chủ đề là bất kỳ biểu hiện nào cho thấy xu hướng phổ biến trong công chúng đọc nhiều thì thiền định Phật giáo ngày nay chắc chắn là một chủ đề được quan tâm rộng rãi cả ở phương Đông lẫn phương Tây. Trong lĩnh vực này, phương Tây đang bắt đầu tìm đến những truyền thống đáng kính của phương Đông để tìm hiểu thêm về các kỹ thuật và lời dạy về kiểm soát tâm. Tuy nhiên, “nguồn cung” “kỹ năng” để tự chinh phục này lại không bằng “nguồn cầu” do thiếu các thiền sư có thể nói chuyện một cách tự tin về chủ đề này. Chính trong bối cảnh này mà cuốn sách được chứng tỏ là một kho tài liệu cho những ai ấp ủ những lý tưởng cao siêu hơn.

The author of this treatise is our revered teacher, the Venerable Matara Sri Ñāṇārama Mahā- thera the meditation master (kammaṭṭhān- ăcariya) of Mitirigala Nissaraṇa Vanaya, at Mitirigala, Sri Lanka. Now in his eightieth year, he is one of the most respected among the meditation masters of Sri Lanka today, both for his all-round knowledge of the techniques of meditation and for his long experience in guiding disciples. Although he himself specialized in the Burmese vipassanā methods and is able to speak with authority on the subject, he does not confine himself to the "pure insight" approach. Though presented succinctly, his treatise covers the entire range of the Seven Stages of Purification and the Insight Knowledges, stressing the value of both samatha (serenity) and vipassana (insight). -

Tác giả của tiểu luận này là vị thầy tôn kính của chúng tôi, Hòa thượng Matara Sri Ñāṇārama Mahā-thera, là thiền sư (kammaṭṭhān-ăcariya) của Mitirigala Nissaraṇa Vanaya, tại Mitirigala, Sri Lanka. Hiện nay ở tuổi tám mươi, Ngài là một trong những thiền sư được kính trọng nhất ở Sri Lanka ngày nay, cả về toàn diện kiến thức về các kỹ thuật thiền lẫn kinh nghiệm lâu năm trong việc hướng dẫn đệ tử. Mặc dù bản thân Ngài chuyên về các phương pháp vipassanā của người Miến Điện và có uy tín để có thể nói chuyện về chủ đề này, nhưng Ngài không tự giới hạn mình vào cách tiếp cận “tuệ giác thanh tịnh”. Mặc dù được trình bày ngắn gọn, luận thuyết của Ngài bao trùm toàn bộ phạm vi của Bảy Giai đoạn Thanh Tịnh hóa và Tuệ Minh Sát, nhấn mạnh giá trị của cả thiền định (samatha) và thiền minh sát (vipassana) tuệ giác (insight)

The treatise grew out of a series of discourses on meditation which our venerable teacher gave to us, his pupils, in 1977. Some of us managed to take down the substance of his talks, which we later put to him and elaborated on with some editorial com- ments. The final result of these labours appeared as the original Sinhala treatise which bore the title Sapta Visuddhiya-hā-Vidarshana-ñāṇa.1

Luận án này bắt nguồn từ một loạt bài giảng về thiền định mà vị thầy đáng kính của chúng tôi đã giảng cho chúng tôi, những học trò của Ngài, vào năm 1977. Một số người trong chúng tôi đã cố gắng ghi lại nội dung các bài nói chuyện của Ngài, mà sau này chúng tôi đã đưa cho Ngài để bổ sung thêm một số bài giảng khác. Kết quả cuối cùng của những công sức này xuất hiện dưới dạng bản luận gốc Sinhala mang tựa đề Sapta Visuddhiya-hā-Vidarshana-ñāṇa.1

The Sinhala work was then translated into an exact English version, which was further polished and edited unti] it took shape as the present treatise.

Tác phẩm Sinhala sau đó được dịch sang một phiên bản tiếng Anh chuẩn xác, được trau chuốt và chỉnh sửa thêm cho đến khi nó thành hình bản luận thuyết hiện tại.

In transforming the spoken discourses into a systematic exposition, to some extent the living spirit of their immediate delivery had to be lost. We have tried to prevent this loss by retaining as many Of the inspirational passages as we could in the body of the text. A few such passages from the early talks had to be removed as being out of place inan expository treatise. But to make these available to the reader, we include them in Appendix 1 under the title: "The Call to the Meditative Life."

Khi chuyển những bài pháp thành một bài thuyết trình có phương pháp, ở một mức độ nào đó, tinh thần sống động của việc truyền tải ngay lập tức chúng đã phải bị đánh mất. Chúng tôi đã cố gắng ngăn chặn sự mất mát này bằng cách giữ lại nhiều đoạn truyền cảm hứng nhất có thể trong phần nội dung của văn bản. Một số đoạn như vậy trong các bài nói chuyện đầu tiên đã phải bị loại bỏ vì chúng không phù hợp với một luận thuyết giảng kinh. Nhưng để cung cấp những điều này cho người đọc, chúng tôi đưa chúng vào Phụ lục 1 với tựa đề: “Lời khuyên cho đời sống thiền định”.

A Pupil
Mitirigala Nissarana Vanaya
Mitirigala,
Sri Lanka
October 25, 1981

1. Published for free distribution by Premadasa Kodituvakku, 38, Rosemead Place, Colombo 7 (1978).

A Pupil
Mitirigala Nissarana Vanaya
Mitirigala,
Sri Lanka
October 25, 1981

1. Được xuất bản để phân phối miễn phí bởi Premadasa Kodituvakku, 38, Rosemead Place, Colombo 7 (1978).

Namo tasa bhagavato arhato
Sammāsambuddhassa

Namo tasa bhagavato arhato
Sammāsambuddhassa

Homage be to the Blessed One, Accomplished
and Fully Enlightened

Con đem hết lòng thành kính làm lễ Đức Bhagavā đó, Ngài là bậc Arahaṃ cao thượng, được chứng quả Chánh Biến Tri do Ngài tự ngộ, không thầy chỉ dạy.

Abbreviations

A.  

Aṅguttara Nikāya (figures refer to number of book (nipāta) and Sutta)

D.  

 Digha Nikāya

Dhp.  

 Dhammapada

Dhp.A..  

 Dhammapadatthakathā (Comm.)

G.S.   

 Gradual Sayings

KS.; 

 (Kindred Saying

M.  

 Majhima Nikayā

MA. ; 

 Majhima Nikayāṭṭhakathā
(Papancasudani)

M.L.S.  

 Middle Length Sayings

Mp.  

 Milindapañha

Pj.  

 Paramatthajotikā

Ps.  

 Patisambhidāmaggā

S.  

 Samyutta Nikaya

Sn.  

 Suttanipata

Thag.  

 Theragatha

Ud.   

 Udana

Vísm.  

 Vísuddhimagga

Abbreviations

A.  

Tăng Chi Bộ Kinh(Những bài kinh sắp theo pháp số (nipāta) and Sutta)

D.  

 Trường Bộ Kinh

Dhp.  

 Kinh Pháp Cú

Dhp.A..  

 Dhammapadatthakathā (Comm.)

G.S.   

  Tăng Chi Bộ Kinh

KS.; 

 Tương Ưng King

M.  

 Trung Bộ Kinh

MA. ; 

 Chú giải Majhima Nikayāṭṭhakathā
(Papancasudani) của Buddhaghosacariya

M.L.S.  

 bản dịch tiếng Anh của bộ Majjhima Nikaya; Trung Bộ Kinh

Mp.  

 Kinh Mi Tiên Vấn Đáp

Pj.  

 Chú giải Tiểu Tụng

Ps.  

 Patisambhidāmaggā Vô Ngại Giải Đạo-

S.  

 Tương Ưng Bộ

Sn.  

 Kinh Tập

Thag.  

 Trưởng Lão Tăng Kệ

Ud.   

 Kinh Phật Tự Thuyết

Vísm.  

 Thanh Tịnh Đạo

References to the Visuddhimagga are to chapter and section number of the translation by Bhikkhu Nanamoli, The Path of Purification, 4th ed. (BPS, 1979)

Những tham khảo đến Thanh Tịnh Đạo là số chương và số phần trong bản dịch của Ngài Bhikkhu Nanamoli, The Path of Purification, 4th ed. (BPS, 1979)

INTRODUCTION (page 12)

The Relay of Chariots

LỜI GIỚI THIỆU

Những Trạm Xe

The path of practice leading to the attainment of Nibbãna unfolds in seven stages, known as the Seven Stages of Purification (satta visuddhi). The seven in order are:

Con đường tu tập dẫn đến chứng ngộ Niết Bàn trải ra trong bảy giai đoạn, được gọi là Bảy Giai Đoạn Thanh Tịnh (satta visuddhi). Bảy giai đoạn theo thứ tự như sau:

1. Purification of Virtue (silavisuddhi)
2. Purification of Mind (cittavisuddht)
3. Purification of View (ditrhivisuddhi)
4. Purification by Overcoming Doubt
(kankhavitaranavisuddhi)
5. Purification by Knowledge and Vision of
What is Path and Not-Path
(maggãmaggafianadassanayvisuddhi)
6. Purification by Knowledge and Vision of the Way (patipadäñänadassanavisuddhi)
7. Purification by Knowledge and Vision (ñãnadassanavisuddhi).

1. Thanh Lọc Giới Ðức (Sìlavisuddhi, giới tịnh)
2. Thanh Lọc Tâm (Cittavisuddhi, tâm tịnh)
3. Thanh Lọc Quan Kiến (Ditthivisuddhi, kiến tịnh)
4. Thanh Lọc bằng cách Khắc Phục Hoài Nghi (Kankhàvitaranavisuddhi, đoạn nghi tịnh)
5. Thanh Lọc bằng cách Thấu Hiểu và Nhận Thấy thế nào là "Con Ðường" và thế nào là
"Không-Phải-Con-Ðường" (Maggàmagganànadassanavisuddhi, đạo phi đạo tri kiến tịnh)
6. Thanh Lọc bằng cách Thấu Hiểu và Nhận Thấy Con Ðường (Patipadànànadassanavisuddhi, đạo tri kiến tịnh)
7. Thanh Lọc bằng cách Thấu Hiểu và Nhận Thấy (ñãnadassanavisuddhi, tri kiến tịnh)

In the attainment of Nibbana itself, our minds are in direct relation to the seventh and last stage of this series, the Purification by Know- ledge and Vision, which is the knowledge of the supramundane path. But this purification cannot be attained all at once, since the seven stages of purification form a causally related series in which one has to pass through the first six purifications before one can arrive at the seventh.

Để đạt được Niết-bàn, tâm chúng ta liên quan trực tiếp đến giai đoạn thứ bảy và là giai đoạn cuối cùng của những giai đoạn này, Tịnh hóa bằng Tri kiến và Nhãn quan, tức là hiểu biết về con đường siêu thế. Nhưng sự thanh lọc này không thể đạt được cùng một lúc, vì bảy giai đoạn thanh lọc tạo thành một chuỗi liên hệ nhân quả trong đó hành giả phải trải qua sáu giai đoạn thanh lọc đầu tiên trước khi có thể đạt đến giai đoạn thứ bảy.

The only direct canonical reference to the Seven Stages of Purification is found in the Rathavintta Sutta (The Discourse on the Relay of Chariots), the twenty-fourth discourse of the Majjhima Nikãya.2 In the Dasuttara Sutta of the Digha Nikaya (Sutta No. 34), these seven purifi- cations are counted among nine items collec- tively called factors of endeavour tending to purification (parisuddhi-padhaniyanga), the ]ast two of which are purification of wisdom and purification of deliverance. However, this same series of seven purifications forms the scaffold- ing of Bhadantäcariya Buddhaghosas encyclo- pedic manual of Buddhist meditation, the Visuddhimagga. Thus this series serves as a most succinct outline of the entire path a meditator passes through in his inner journey from bondage to liberation.

Tài liệu tham khảo kinh điển trực tiếp duy nhất về Bảy Giai Đoạn Thanh Lọc được tìm thấy trong kinh Ratha-vintta Sutta (Kinh Trạm Xe), bài giảng thứ hai mươi bốn của Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikãya). 2 Trong bài kinh Thập Thượng (Dasuttara Sutta) của Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya ) (kinh số 34), bảy sự thanh tịnh này được tính trong số chín điều được gọi chung là các yếu tố nỗ lực hướng tới sự thanh lọc (parisuddhi-padhaniyanga), hai điều cuối cùng là thanh lọc trí tuệ và thanh lọc giải thoát. Tuy nhiên, chính loạt bảy thanh tịnh hóa này đã tạo thành nền tảng cho cuốn cẩm nang bách khoa về thiền định Phật giáo của Bhadantäcariya Buddhaghosas, Visuddhimagga. Do đó, loạt bài này đóng vai trò như một bản phác thảo ngắn gọn nhất về toàn bộ con đường tu tập mà một thiền giả phải trải qua trong cuộc hành trình nội tâm từ trói buộc đến giải thoát.

In the Rathavinita Sutta, the Seven Stages of Purification are presented through a dialogue in which the questions of the venerable Sariputta are met with striking replies from the venerable Punna Mantäniputta — all meant to highlight some salient features of this teaching:

Trong bài Kinh Trạm Xe - Ratha-vinita, Bảy Giai Đoạn Thanh Lọc được trình bày qua một cuộc đối thoại trong đó những câu hỏi của Tôn giả Sariputta được đáp ứng bằng những câu trả lời ấn tượng từ Tôn giả Punna Mantäniputta - tất cả đều nhằm nêu lên một số đặc điểm nổi bật của giáo lý này:

(2. Translated by LB. Horner as Middie Length Sayings (M.L.S.), 3 volumes (London: Pali Text Society, 1954-59))

^^^^

“Friend, 1s the holy life lived under the Blessed One?”

Này hiền giả, có phải có phải chúng ta sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn?”

“Yes, friend.”

Thậy như vậy, Hiền giả.

“Friend, is it for purification of virtue that the holy life is lived under the Blessed One?”

Này Hiền Giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích giới thanh tịnh ?”

“Not for this, friend.”

Không phải vậy, Hiền Giả.

“Then, friend, is it for purification of mind that the holy life is lived under the Blessed One?”

Vậy, Hiền Giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích tâm thanh tịnh ?

“Not for this, friend.”

Không phải vây, Hiền Giả.

“Then friend, is it for purification of view that the holy life is lived under the Blessed One?”

Vậy, Hiền Giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là mục đích kiến thanh tịnh ?

“Not for this friend.”

Không phải vậy, Hiền Giả.

“Then, friend, is it for purification by overcoming doubt that the holy life is lived under the Blessed One?”

Vậy, Hiền Giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích đoạn nghi thanh tịnh ?

“Not for this, friend.”

Không phải vậy, Hiền Giả.

“Then, friend, is it for purification by knowledge and vision of what is path and not-path that the holy life is lived under the Blessed One?”

Vậy, Hiền Giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh ?

“Not for this, friend.”

Không phải vậy, Hiền giả

“Then, friend, is it for purification by knowledge and vision of the way that the holy life is lived under the Blessed One?”

Vậy, Hiền giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích đạo tri kiến thanh tịnh ?

“Not for this, friend.”

Không phải vậy, Hiền Giả.

“Then, friend, is it for purification by knowledge and vision that the holy life is lived under the Blessed One?”

Vậy Hiền Giả, có phải sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn là vì mục đích tri kiến thanh tịnh

“Not for this, friend.”

Không phải vậy, Hiền Giả.

“What, then, is the purpose, friend, of living the holy life under the Blessed One?”

Như vậy, Hiền Giả, với mục đích gì, sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn ?

“Friend, it is for the complete extinc- tion without grasping that the holy life is lived under the Blessed One.”

-- Hiền giả, với mục đích vô thủ trước Bát-niết-bàn, nên sống phạm hạnh dưới sự chỉ dạy của Thế Tôn.

'This reply reveals that not even the seventh and last purification is to be regarded as the purpose of living the holy life. The purpose is nothing but the complete extinction of all defilements without any kind of grasping. In other words, it is the attainment of Nibbãna — the Uncompounded Element (asankhata dhãtu).

'Câu trả lời này cho thấy rằng ngay khi lần thanh lọc thứ bảy và lần cuối cùng cũng không được coi là mục đích của việc sống đời phạm hạnh. Mục đích không gì khác hơn là sự dập tắt hoàn toàn mọi phiền não mà không có bất kỳ hình thức bám víu nào. Nói cách khác, đó là sự đạt được Nibbāna (là pháp Chơn Ðế tuyệt đối, hoàn toàn vắng lặng, Siêu Thế Viên Tịch, cũng gọi là Chơn Không, vì không có cái có) - Yếu tố Vô vi (asankhata dhãtu).

To clarify this point further, the venerable Punna Mantãniputta gives the following parable of the Relay of Chariots:

Để làm sáng tỏ điểm này hơn nữa, Tôn giả Punna Mantāniputta kể câu chuyện ngụ ngôn về Trạm Xe tiếp sau đây:

“Friend, it is as though while King Pasenadi of Kosala was staying in Sävatthi, some- thing to be done urgently should arise in Sãketa, and seven relays of chariots would be arranged for him between Sävatthi and Sãketa. Then, friend, King Pasenadi of Kosala, having left Sãvatthi by the palace- gate, might mount the first chariot in the relay, and by means of the first chariot in the relay, he would reach the second chariot in the relay. He would dismiss the first chariot in the relay and would mount the second chariot in the relay, and by means of the second chariot in the relay, he would reach the third chariot in the relay. He would dismiss the second chariot in the relay and would mount the third chariot in the relay, and by means of the third chariot in the relay, he would reach the fourth chariot in the relay. He would dismiss the third chariot in the relay and would mount the fourth chariot in the relay, and by means of the fourth chariotin the relay, he would reach the fiíth chariot in the relay. He would dismiss the fourth chariot in the relay and would mount the fifth chariot in the relay, and by means of. the ñth chariot in the relay, he would reach the sixth chariot in the relay. He would dismiss the fifth chariot in the relay and would mount the sixth chariot in the relay, and by means of the sixth chariot in the relay, he would reach the seventh chariot in the relay. He would dismiss the sixth chariot in the relay and would mount the seventh chariot in the relay, and by means of the seventh chariot in the relay, he would reach the palace-gate in Sãketa.”

“Này Hiền giả, như vua Pasenadi xứ Kosala đang ở Sāvatthi, có công việc khẩn cấp phải làm ở Sãketa, và bảy cỗ xe được sắp đặt được sắp xếp cho vua giữa Sāvatthi và Sãketa. Khi ấy, này Hiền giả, vua Pasenadi xứ Kosala, sau khi rời Sãvatthi cạnh cổng cung điện, có thể cưỡi chiếc xe đầu tiên trong cuộc chạy tiếp sức, và nhờ chiếc xe đầu tiên trong cuộc chạy tiếp sức, vị ấy sẽ đến được trạm thứ hai trong cuộc chạy tiếp sức. Vua sẽ loại bỏ trạm xe đầu tiên trong cuộc chạy tiếp sức và sẽ dùng trạm xe thứ hai trong cuộc chạy tiếp sức, và bằng xe thứ hai trong cuộc chạy tiếp sức, vua sẽ đến được trạm xe thứ ba trong cuộc chạy tiếp sức. Vua sẽ loại bỏ trạm xe thứ hai trong cuộc chạy tiếp sức và sẽ cưỡi trạm xe thứ ba trong cuộc chạy tiếp sức, và bằng trạm xe thứ ba trong cuộc chạy tiếp sức, vua sẽ đến được trạm xe thứ tư trong cuộc chạy tiếp sức. Vua sẽ loại bỏ trạm xe thứ ba trong cuộc chạy tiếp sức và sẽ cưỡi trạm xe thứ tư trong cuộc chạy tiếp sức, và bằng trạm xe thứ tư trong cuộc chạy tiếp sức, vua sẽ đến được trạm xe thứ năm trong cuộc chạy tiếp sức. Vua sẽ loại bỏ trạm xe thứ tư trong cuộc chạy tiếp sức và sẽ cưỡi trạm xe thứ năm trong cuộc chạy tiếp sức, và bằng cách đó. trạm xe thứ sáu trong cuộc chạy tiếp sức, vua sẽ đến được trạm xe thứ sáu trong cuộc chạy tiếp sức. Vua sẽ loại bỏ trạm xe thứ năm trong cuộc chạy tiếp sức và sẽ cưỡi trạm xe thứ sáu trong cuộc chạy tiếp sức, và bằng trạm xe thứ sáu trong cuộc chạy tiếp sức, vua sẽ đến được trạm xe thứ bảy trong cuộc chạy tiếp sức. Vua sẽ đổi trạm xe thứ sáu trong cuộc chạy tiếp sức và sẽ cưỡi trạm xe thứ bảy trong cuộc chạy tiếp sức, và bằng trạm xe thứ bảy trong cuộc chạy tiếp sức, vuasẽ đến được cổng cung điện ở Sãketa.”

In the case of the seven purifications, the purity implied is reckoned in terms of the elimination of. the unwholesome factors opposed to each purifi- cation. Purification oƒ Virtue implies the purity obtained through abstinence from bodily and verbal misconduct as well as from wrong liveli- hood. Purtfication oƒ Mind 1s the purity resulting from cleansing the mind of attachment, aversion, inertia, restlessness and conflict, and from secur- ing it against their influx. Purification of View is brought about by dispelling the distortions of wrong views. Purification by Overcoming Doubt is purity through the conquest of all doubts con- cerning the pattern of samsäric existence. Purữfication by Knowledge and Vision of What is Path and Not-Path signifies the purity attained by passing beyond the alluring distractions which arise in the course of insight meditation. Purữfication by Knowledge and Vision oƒ the Way is the purity resulting from the temporary re- moval of defilements which obstruct the path of. practice. And lastly, Purification by Knowledge and Vision is the complete purity gained by erad- icating defilements together with their underlying tendencies by means of the supramundane paths. Purification by Knowledge and Vision consists of the knowledges of the four paths — the path of Stream-entry, the path of Once-return, the path of Non-return and the path of Arahantship.

Trong trường hợp bảy sự thanh tịnh, sự thanh tịnh ngụ ý được tính theo phương diện loại bỏ phiền não, những yếu tố bất thiện trái ngược với mỗi sự thanh tịnh.Thanh Tịnh giới là sự thanh tịnh đạt được qua việc tránh xa những hành vi sai trái về thân ngữ ý cũng như lối sống sai trái. Thanh lọc tâm là sự thanh tịnh có được từ việc làm sạch tâm khỏi tham, sân, si, sự bất an và xung đột, và từ việc bảo vệ tâm tránh khỏi sự xâm nhập của chúng. Sự thanh lọc Kiến được thực hiện bằng cách xua tan những biến dạng của những tư kiến sai lầm. Thanh lọc đoạn nghi bằng cách vượt qua nghi ngờ là sự thanh tịnh thông qua việc chinh phục mọi nghi ngờ liên quan đến khuôn mẫu của luân hồi. Sự thanh tịnh đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh Không phải con đường biểu thị sự thanh tịnh đạt được bằng cách vượt qua những xao lãng quyến rũ phát sinh trong quá trình thiền minh sát. Sự thanh lọc bằng đạo tri kiến và Nhãn quan là sự thanh tịnh có được từ sự loại bỏ tạm thời những phiền não cản trở con đường tu tập. Sự tu tập. Và cuối cùng, Thanh Tịnh Kiến nhờ Tri Kiến là sự thanh tịnh hoàn toàn đạt được bằng cách tận diệt các phiền não cùng với các khuynh hướng tiềm ẩn của chúng bằng các con đường siêu thế. Sự thanh lọc bằng Trí tuệ và Nhãn kiến bao gồm sự hiểu biết về bốn quả vị thánh giải thoát: Dự lưu, Nhất lai, Bất lai, A-la-hán.

CHAPTER I

PURIFICATION OF VIRTUE,
(SILAVISUDDHI)

CHAPTER I

THANH LỌC GIỚI ĐỨC,
(SILAVISUDDHI - GIỚI TỊNH)

Like any other tree, the great tree of the medi- tative life requires roots. The roots of the medita- tive life are Purification of Virtue and Purification of Mind. Unless these two roots are nourished, there will be no progress in meditation.

Giống như những cái cây, Thiền Định trong đời sống như một cái cây lớn nó cần có cội rễ. Cội rễ của đời sống thiền định là Thanh Tịnh giới hạnh và Thanh Tịnh tâm. Trừ khi hai gốc rễ này được nuôi dưỡng, nếu không sẽ không có tiến bộ trong thiền định.

The first and most fundamental of the roots is Purification of Virtue. Purification of Virtue consists in understanding and maintaining four types of restraint: (1) observing the precepts one has undertaken and protecting them like ones very life; (2) guarding the six sense- doors without allowing defilements to arise; (3) maintaining a righteous livelihood; and (4) making use of one's requisites of life with wise reflection. A meditative monk who lives according to these four ways of restraint will find nothing to get attached to or resent. The meditator, then, is one who has a “light liveli- hood, being light in body and content at heart — free from the burden of ownership as regards anything anywhere between the earth and the sky. Though these four principles were originally prescribed for monks and nuns, lay meditators should adapt them to their own situation.

Gốc rễ đầu tiên và căn bản nhất là Thanh Tịnh Giới Hạnh. Sự thanh lọc giới hạnh bao gồm việc hiểu và duy trì bốn sự thu thúc: (1) tuân giữ các giới luật mà một người đã thọ trì và bảo vệ chúng như chính mạng sống của mình; (2) canh giữ sáu căn không cho phép phiền não khởi lên; (3) duy trì chánh mạng; và (4) sử dụng những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống với sự suy ngẫm sáng suốt. Một tu sĩ thiền định sống theo bốn sự thu thúc này sẽ không có gì để dính mắc hay oán giận. Khi đó, người hành thiền là người có “sinh hoạt nhẹ nhàng, thân thể nhẹ nhàng và tâm hồn hài hòa - buông bỏ gánh nặng sở hữu đối với bất cứ thứ gì ở bất kỳ đâu giữa trái đất và bầu trời. Mặc dù bốn nguyên tắc này ban đầu được quy định cho các tu sĩ và chư ni, nhưng các thiền sinh tại gia nên áp dụng chúng cho phù hợp với hoàn cảnh riêng của mình.

Everyone must have a standard of virtue dedicated to Nibbãna. The standard is relative to his status in life. Monks and nuns are expected to observe the precepts of training given in the two codes of moral discipline making up their respective Pātimokkha. Male and female novices have to keep the ten pre- cepts as their standard of virtue. Male and female lay-devotees have five precepts as a per- manent standard of virtue in their everyday life. If they are more enthusiastic, they can under- take and keep the “eight precepts with liveli- hood as the eighth,” or the ten lay precepts, or the eight precepts recommended as the special observance for Uposatha days. The texts record several instances of persons who, without previ- ously undertaking any precepts, fulfilled the requirements of the Purification of Virtue by a mere act of determination while listening to a discourse, and even succeeded in attaining the supramundane paths and fruits. We should understand that such persons were endowed with highly developed spiritual faculties and were backed by a vast store of merit lying to their credit since they had already fulfilled the perfections for their respective attainments in the past.

Mọi người đều phải có chuẩn mực đạo đức dành riêng cho Nibbāna (Nibbāna có nghĩa là chấm dứt tham ái, giải thoát khỏi mọi phiền não). Chuẩn mực này liên quan đến địa vị trong cuộc sống của người đó. Các tu sĩ phải tuân theo các giới luật được đưa ra trong giới bổn của họ gồm 227 điều học của vị tỳ khưu và 311 điều học của tỷ khưu ni, hai quy tắc kỷ luật đạo đức tạo nên tương ứng với họ. Các sa di nam và sa di nữ phải giữ mười giới như tiêu chuẩn đức hạnh của mình. Các cư sĩ nam và nữ có năm giới như một tiêu chuẩn đức hạnh thường có trong cuộc sống hàng ngày của họ. Nếu nhiệt tình hơn, họ có thể thực hiện và giữ “tám giới với Không nằm ngồi nơi quá cao, và nơi xinh đẹp, điều này thuộc về cuộc sống là giới thứ tám,” hoặc mười giới tại gia, hoặc tám giới được khuyến cáo là những giới luật đặc biệt phải tuân giữ trong những ngày lễ Bồ Tát hay Trai Giới(Uposatha). Kinh điển ghi lại một số trường hợp về những người, trước đây không hề thọ trì bất kỳ giới luật nào, đã đáp ứng các yêu cầu của sự Thanh Tịnh chỉ bằng một hành động quyết tâm trong khi nghe thuyết pháp, và thậm chí đã thành công trong việc đạt được đạo quả siêu thế. Chúng ta nên hiểu rằng những người như vậy là do khả năng tâm linh phát triển cao và được hỗ trợ bởi các công đức lớn nhờ vào sự tu tập của họ đã hoàn thành các Ba La Mật cho những thành tựu tương ứng của họ trong quá khứ.

At the time of attaining the paths and fruits, both monk and layman should be equally developed. in regard to the virtue of sense restraint. This virtue of sense restraint consists in mindfully guarding the six sense-doors — the eye, ear, nose, tongue, body and mind. By means of mindfulness one must prevent the arising of all defilements sparked off by sense experience — all forms of desires, major and minor conflicts, as well as those deceptions which are extremely subtle, rooted in delusion itself, in pure and simple ignorance. Deception is something difficult to understand. But if one mindfully makes a mental note of every object “calling” at the six sense-doors, one can free oneself from deception. The not-knowing and misconceiving of what should be known amounts to delusion.

Vào lúc đạt được Đạo và Quả, cả tu sĩ và cư sĩ đều phải được tu tập như nhau. về sự thu thúc các giác quan. Việc thu thúc các giác quan này bao gồm việc chánh niệm canh giữ sáu căn – mắt (nhãn căn) tai (nhĩ căn), mũi (tỷ căn), lưỡi (thiệt căn), thân (thân căn) và ý (ý căn). Với chánh niệm, người ta phải ngăn chặn sự phát sinh của mọi phiền não do sự tiếp xúc của các giác quan gây ra - mọi hình thức ham muốn, xung đột lớn và nhỏ, cũng như những ảo tưởng cực kỳ vi tế, bắt nguồn từ chính ảo tưởng, trong sự vô minh và giả định. Ảo tường là một điều gì đó khó nhận thức. Nhưng nếu người ta ghi nhận một cách chánh niệm mỗi đối tượng đang “quyến rủ” sáu căn, người ta có thể giải thoát mình ra khỏi ảo tưởng. Việc không nhận thức và hiểu sai về những gì thường dẫn đến ảo tưởng.

By failing to make a mental note of a pleasant feeling, one provides an opportunity for lust to arise. Failure to make a mental note of an unpleasant feeling can be an opportunity for the arising of repugnance, while such a failure in regard to a neither-unpleasant-nor-pleasant feeling might give rise to deception, delusion or ignorance. Therefore the practice of mentally noting each and every object that calls at the six sense-doors will also be helpful in getting rid of the underlying tendency to ignorance.

Do thiếu chánh niệm trong tâm một cảm thọ dễ chịu, tạo cho người ta cơ hội cho tham dục phát sinh. Việc thiếu chánh niệm trong tâm một cảm thọ khó chịu có thể là cơ hội cho sự sinh khởi của mối ác cảm, trong khi sự thất bại như vậy đối với một cảm thọ không khó chịu cũng không dễ chịu có thể làm phát sinh sự lừa dối, si mê hoặc vô minh. Do đó, việc tu tập ghi nhận trong tâm từng đối tượng gợi đến do sáu căn cũng sẽ hữu ích trong việc loại bỏ khuynh hướng vô minh tùy miên.

In the case of the pleasant feeling, friend Visäkha, the underlying tendency to attach- ment must be abandoned. In the case of the painful feeling, the underlying tendency to repugnance must be abandoned. And in the Case of the neither-unpleasant-nor-pleasant feeling, the underlying tendency to igno- rance must be abandoned.

Cũlavedalla Sutta, M.I,303

Hiền giả Visakha, trong lạc thọ, tham tùy miên phải từ bỏ. Trong khổ thọ, sân tùy miên phải từ bỏ. Trong bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên phải từ bỏ.

Cũlavedalla Sutta, Trung Bộ Kinh, M 44 (HT Minh Châu Việt dịch)

Before one can establish oneself firmly in virtue, one must understand its significance well. For this purpose, one should study the Description of Virtue in the Visuddhimagga (Chapter I).

Trước khi có thể thọ giới vững, người ta phải hiểu rõ ý nghĩa của giới. Điều này, hành giả nên đọc kỹ phần Mô tả giới trong Thanh Tịnh Đạo, chương I (Visuddhimagga)

Normally, one protects one's virtue impelled by conscience and shame (hiri, ottappa), which are its proximate causes. A wise man, however, observes virtue purely with the aim of attaining Nibbãna. As a matter of fact, virtue has been defined as the bodily and verbal restraint (the abstention from bodily and verbal misconduct) which comes as a result of listening to and understanding the Dhamma (Ps.L1).

Thông thường, người ta bảo vệ giới hạnh của mình do sự tàm và quí (hiri, ottappa), đó là những nguyên nhân gần nhất của nó. Tuy nhiên, một người trí tuệ tuân theo giới hạnh chỉ nhằm mục đích đạt đến Niết-bàn. Trên thực tế, đức hạnh đã được định nghĩa là sự thu thúc về thân và khẩu (không làm những hành vi sai trái về thân và khẩu) xuất phát từ kết quả của việc học và hiểu Pháp (Patisambhidāmaggā Vô Ngại Giải Đạo L1).

'There are several grades of virtue, ranked in order of ascending excellence:

'Có một số bậc giới hạnh, được xếp theo thứ tự tăng thượng:

1. thevirtue of an ordinary worlding (.e. one who is not practising to attain the supramundane path);

1. Giới hạnh của người phàm (tức là người không tu tập để đạt được con đường siêu thế);

2. the virtue of a noble worldling (.e. a worldling practising the course of training to reach the path);

2. Giới hạnh của một người phàm (một người phàm tu tập để đạt đến con đường đạo );

3. thevirtue of a trainer (i.e. the virtue associated with the four paths and the first three fruits);

3. Giới hạnh của người đang tu tập tâm (tức là giới gắn liền với bốn đạo và ba quả đầu);

4. thevirtue of a non-trainer (i.e. the virtue consisting in tranquillized purification or virtue associated with the fruit of Arahantship).

4. Giới hạnh của một người không phải là người còn đang tu tập tâm (tức là đức hạnh bao gồm sự thanh tịnh hóa an tịnh hoặc đức hạnh gắn liền với quả vị A-la-hán).

The fourth and last of these is the virtue which comes naturally to Buddhas, Paccekabuddhas and Arahants as a result of their eradication of all defilements.

Cấp bậc thứ tư và cuối cùng là giới hạnh đến một cách tự nhiên với chư Phật, chư Phật Độc Giác và chư vị A-la-hán nhờ sự tận diệt mọi phiền não.

Understanding the virtue of fourfold restraint described above, one should protect ones virtue even at the cost of life, being guided by conscience and shame as well as by the ideal of Nibbäna.

Hiểu được việc thu thúc bốn điều về giới hạnh được mô tả ở trên, người ta nên bảo vệ giới hạnh của mình ngay cả khi phải trả giá bằng mạng sống, người ta được hổ trợ bởi tàm và quí cũng như lý tưởng Niết Bàn.

CHAPTER II

PURIFICATION OF MIND

(CITTAVISUDDHI)

CHƯƠNG II

THANH LỌC TÂM TỊNH

(CITTAVISUDDHI)

The bodily and verbal restraint established by puried virtue paves the way for mental restraint, which brings the next stage of purifica- tion, Purfication of Mind. This purification comes through concentration (samädhi), which can be reached by two approaches, the vehicle of. serenity (samathayäna) or the vehicle of insight (vipassanäyäna).

Sự thu thúc thân và khẩu được tu tập bởi giới hạnh thanh tịnh sẽ mở đường cho sự thu thúc về tâm, đưa đến giai đoạn thanh lọc tiếp theo, đó là Thanh lọc Tâm. Sự thanh lọc này đến từ Định (samādhi), có thể đạt được bằng hai phương pháp: Thiền Chỉ (samathayäna) hoặc Thiền Minh Sát Tuệ(vipassanäyäna).

1. The Obstructions and Aids to Concentration

1. The Obstructions and Aids to Concentration

A meditator intent on developing serenity con- centration must first make an effort to sever the impediments to meditation. For meditative monks the Visuddhimagga cenumerates ten impediments (palibodhä):

Một hành giả muốn tu tập thiền định trước tiên phải nỗ lực diệt trừ những chướng ngại cho thiền . Đối với các tu sĩ tu tập thiền định, Trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) liệt kê mười chướng ngại (palibodhä):

A dwelling, family and gain,
A class, and building too, as fifth, And travel, kin, affliction, books,, And supernormal powers:

See Vism.111, 29.56.

Đó là: trú xứ, gia đình, lợi dưỡng, đồ chúng, việc xây cất, du lịch, quyến thuộc, ưu não, sách vỡ, thần thông.

Xem Thanh Tịnh Đạo Visuddhimagga 111.29.56

1 Adwelling can be an impediment to one who has many belongings stored there or whose mind is caught up by some business connected with it.

1) Trú xứ: Có thể là một chướng ngại đối với những người có nhiều đồ đạc hoặc bận tâm trong công việc xây cất đang tiến hành, hoặc bận rộn vì một công việc liên hệ đến chỗ ấy.

2. Aƒamily consisting of relatives or sup- porters becomes an impediment for one living in close association with its members.

2. Gia đình bao gồm họ hàng hoặc những người hộ trì sẽ trở thành một trở ngại cho một người sống liên hệ mật thiết với các thành viên trong gia đình đó.

3. Gains, in the sense of the four requisites of a monkss life (robes, food, lodgings and medi- cines), oblige him to become involved in associ- ation with laymen.

3. Lợi dưỡng, theo nghĩa tứ vật dụng cần thiết cho đời sống một tu sĩ (áo y, thức ăn, chỗ ở và thuốc men), buộc vị ấy phải tham gia vào sự kết giao với các cư sĩ.

4. A class of students is an impediment when it binds the meditator with duties of teach- ing and instruction.

4. Đồ chúng là một trở ngại khi nó ràng buộc hành giả với nhiệm vụ giảng dạy và hướng dẫn.

5. New building work is always an impedi- ment to a meditating monk as it is a responsibil- ity which distracts him.

5. Xây cất: Công việc xây dựng mới luôn là một trở ngại đối với một hành giả hành thiền vì đó là một trách nhiệm khiến vị ấy xao lãng việc tu tập.

6. AjJourney becomes a source of distract- ing thoughts both in the planning and in the actual travel.

6. Du lịch, là nguyên nhân của những suy nghĩ trong việc lập kế hoạch và trong chuyến du lịch , nó sẽ trở thành một chướng ngại cho vị hành giả trong khi tu tập.

7. Kin or relatives, when they fall sick, sometimes have to be cared for by a monk, a responsibility which again takes him away from meditation.

7. Thân nhân hay họ hàng, khi bị bệnh, đôi khi phải được chăm sóc, một trách nhiệm đó khiến hành giả rời xa thiền định.

8. Ones own iliness or qffliction which calls for treatment is yet another impediment.

8). Ưu não là bất cứ loại bệnh nào, khi đau đớn thực sự là một chướng ngại, nên cần chữa trị thuốc men.

9. Books, in the sense of responsibility for the scriptures, can be a hindrance to some medi- tators.

9. Sách vở là trách nhiệm đối với kinh điển, có thể là một trở ngại đối với một số thiền sinh, nếu chỉ lo tụng đọc mà không hành thiền.

10. Even the supernormal powers, which are hard to maintain, may be an impediment for one who seeks insight.

10. Thần thông là phép lạ của phàm phu, rất khó duy trì cũng có thể là trở ngại cho người tu tập.

It will be useful to a meditating monk to under- stand beforeEhand the way of tackling the impediments.s Six impediments — dwelling, family, gain, class, kin and fame — can be over- come by giving up attachment to them. Three impediments — building, travel and books — are done away with by not undertaking the activities they imply. Affliction is an impedi- ment to be overcome by proper medical treat- ment with regard to curable diseases. There are some diseases which are of the chronic type. However, whether one's disease turns out to be chronic or even incurable, one should go on meditating in spite of it. Diseases like catarrh, which are rather tolerable, must be subdued with perseverance in meditation. An earnest meditator must not allow iliness to get the better of him. In countless births in samsära one must have been the helpless victim of diseases. So at least now one should make a sincere effort to treat the diseases of the mind even while taking medicines for the diseases of the body. In this way one will succeed in overcoming the impediments so that one can go on with ones meditation.

----------------------------
14... Alay.meditatorwil ofcourse, not be able to avoid the impediments as Rllyas. 1a monk, but he should try to emulate the monk to the best of hie abily (Ed.}.

Sẽ rất hữu ích cho vị hành giả thiền định khi hiểu trước cách giải quyết những trở ngại. Sáu sự chướng ngại— trú xứ, gia đình, lợi dưỡng, giai cấp, người thân và danh vọng — có thể được khắc phục bằng cách từ bỏ sự dính mắc chúng. Ba trở ngại— xây dựng, đi lại và sách — được loại bỏ bằng cách không thực hiện các hoạt động mà chúng ngụ ý. Đau khổ là một trở ngại cần được khắc phục bằng cách điều trị y tế thích hợp đối với các bệnh có thể chữa khỏi. Có một số bệnh thuộc loại mãn tính. Tuy nhiên, cho dù căn bệnh của một người trở thành mãn tính hay thậm chí không thể chữa khỏi, người đó vẫn nên tiếp tục thiền định bất chấp điều đó. Các bệnh như viêm mũi, khá phổ thông , phải được chế ngự bằng sự kiên trì thiền định. Một thiền sinh nghiêm túc không được để sự ích kỷ chế ngự mình. Trong vô số lần tái sinh trong luân hồi, hành giả hẳn đã là nạn nhân bất lực của bệnh tật. Vì vậy, ít nhất bây giờ, hành giả nên nỗ lực chân thành để điều trị các bệnh về tâm trí ngay cả khi đang dùng thuốc cho các bệnh về cơ thể. Bằng cách này, hành giả sẽ thành công trong việc vượt qua những chướng ngại để có thể tiếp tục hành thiền.

----------------------------
14... 14... Dĩ nhiên, thiền sinh không thể tránh khỏi những trở ngại như các vị tu sĩ . 1, nhưng họ nên cố gắng thực hành với hết khả năng của mình (Ed.}. .

(page 26)

Besides knowing how to cut off the impedi- ments, a meditator should understand the six obstacles (paripantha) and the six cleansings (vodãna). The obstacles are those conditions which mar or retard progress in concentration, the cleansings those which help bring concentra- tion to maturity. The six obstacles are:

(page 26)

Bên cạnh sự diệt trừ những chướng ngại, một thiền giả nên hiểu sáu chướng ngại (paripantha) và sáu sự thanh lọc (vodãna). Các chướng ngại là những điều kiện làm hỏng hoặc làm chậm sự tiến triển trong sự tập trung, các sự thanh lọc là những điều kiện giúp đưa sự tập trung đến định. Sáu chướng ngại là:

1. the mind hankering after the past, overcome by distraction;

1- Kāmacchanda nīvaraṇa: Tham dục trong ngũ trần là pháp chướng ngại. tâm khao khát quá khứ, bị sự xao lãng chế ngự

2. the mind yearning for the future, overcome by hopes and longings;

2- Byāpāda nīvaraṇa: Sân hận là pháp chướng ngại.

3. theinert mind, overcome by lethargy;

3- Thīnamiddha nīvaraṇa: Buồn chán-buồn ngủ là pháp chướng ngại. Ðó là tâm buồn chán và tâm buồn ngủ cần cố gắng.

4. the over-anxious mind, overcome by Trestlessness:

4- Uddhaccakukkucca nīvaraṇa: Phóng tâm-hối hận là pháp chướng ngại.

5. the over-inclined mind, overcome by lust;

5- Vicikicchā nīvaraṇa: Hoài nghi là pháp chướng ngại.

6. the disinclined mind, overcome by ill wilI. (Ps.L165)

6- Avijjā nīvaraṇa: Vô minh là pháp chướng ngại.

Understanding that these six conditions are detri- mental to concentration, one should constantly protect the mind from falling under their influ- ence, for through carelessness, one can lose what- ever concentration one has already developed. Now, let us see how these six states Occur. When the meditator applies himself to his subject of meditation, thoughts relating to that

Hiểu rằng sáu pháp chướng ngại này có hại cho sự tập trung, người hành giải phải liên tục thanh lọc tâm ra khỏi ảnh hưởng của chúng, vì do bất cẩn, người hành giả có thể mất bất kỳ sự tập trung nào mà mình đã phát triển. Bây giờ, chúng ta hãy xem sáu pháp chướng ngại này xảy ra như thế nào. Khi hành giả thiền định áp dụng bản thân vào đề mục thiền định của mình, những suy nghĩ liên quan đến

(page 27)

subject keep on arising in his mind. And as this train of thought continues to run along the track of the meditation subject, now and then it runs into memories of certain past events in some way related to that subject. Before the meditator is aware of what is happening, the train of thought jumps off the track of meditation and adheres to those past events. It may take some time, even a long time, for the meditator to realize that his mind is no longer on the meditation subject. This tendency for the mind to deviate from the meditation subject greatly impairs the power of concentration, causing distraction. Thus this tendency is a hindrance even to the maintenance of one's concentration, let alone its maturing.

(page 27)

đề mục tiếp tục nảy sinh trong tâm của hành giả. Và khi dòng suy nghĩ này tiếp tục chạy dọc theo đường đi của chủ đề thiền, thỉnh thoảng nó lại chạy vào ký ức về một số sự kiện trong quá khứ theo một cách nào đó liên quan đến chủ đề đó. Trước khi người hành giả nhận thức được điều gì đang xảy ra, dòng suy nghĩ nhảy ra khỏi đường đi của thiền và bám vào những sự kiện trong quá khứ đó. Có thể mất một thời gian, thậm chí là rất lâu, để người hành giả nhận ra rằng tâm trí của mình không còn ở chủ đề thiền nữa. Xu hướng tâm trí đi chệch khỏi chủ đề thiền này làm suy yếu rất nhiều sức mạnh tập trung, gây ra sự mất tập trung. Do đó, xu hướng này là một trở ngại ngay cả đối với việc duy trì sự tập trung của hành giả, chứ đừng nói đến việc phát triển của thiền.

The second obstacle cited above is the ten- dency of the mind to run toward the future. Very often this tendency takes the form of wishes and aspirations. When desire takes hold of the mind for a long while, it creates a certain mental tremor, and this too undermines concentration.

Chướng ngại thứ hai được nêu ở trên là khuynh hướng vọng về tương lai của tâm. Rất thường xuyên khuynh hướng này mang hình thức của những mong muốn và khát vọng. Khi ham muốn chiếm giữ tâm trong một thời gian dài, nó tạo ra một chấn động tâm nhất định, và điều này cũng làm suy yếu sự tập trung.

The third obstacle is mental inertia, which makes the mind lethargic.

Chướng ngại thứ ba là sự trì trệ về mặt tinh thần, khiến cho tâm trở nên uể oải.

The ƒourth obstacle is the over-anxious mind. At times the meditator becomes so enthusiastic and strenuous in his efforts that he begins to meditate with excessive zeal. But neither his body nor his mind can stand this overstrung effort. Physically he feels exhausted and some-times has headaches: mentally he becomes very confused, leading to the decline of his concen- tration.

Chướng ngại thứ tư là tâm quá lo lắng. Đôi khi, người hành giả trở nên quá nhiệt tình và căng thẳng trong cố gắng của mình đến nỗi hành giả bắt đầu thực hành thiền với sự hăng hái quá mức. Nhưng cả cơ thể lẫn tâm của hành giả đều không thể chịu đựng được sự cố gắng quá mức này. Về mặt thể chất, hành giả cảm thấy kiệt sức và đôi khi bị đau đầu: về mặt tinh thần, hành giả trở nên rất bối rối, dẫn đến sự suy giảm khả năng tập trung của mình.

(page 28)

The ƒïƒth obstacle is the over-inclined state of mind. This state is brought about by lust and results from allowing the mind to stray among Vvarious extraneous thought-objects.

(page 28)

Chướng ngại thứ năm là trạng thái tâm hoài nghi. Trạng thái này do dục vọng gây ra và là kết quả của việc để tâm lang thang suy nghĩ giữa nhiều đối tượng xa lạ.

And the sixth obstacle is the disinclined state of the mind which results from allowing the mind to pursue extraneous thought-objects under the influence of ill will.

Và chướng ngại thứ sáu là trạng thái tâm vô minh, xuất phát từ việc cho phép tâm theo đuổi những suy nghĩ vào đối tượng xa lạ dưới ảnh hưởng của bất thiện.

'To protect the mind from lapsing into these six obstacles, one should prevent the mind from pursuing extraneous thought-objects. It is by keeping ones mind aloof from these six obs- tacles that the six occasions for the cleansing of concentration are obtained. In other words, in the very attempt to overcome the six obstacles, one fulfils the six conditions necessary for the Cleansing of concentration. The six cleansings are thus the cleansing of the mind from hanker- ing after the past, from yearning for the future, from lethargy, from restlessness, from lust and from ilI will.

Để bảo vệ tâm không rơi vào sáu chướng ngại này, hành giả nên ngăn trừ tâm ra khỏi việc theo đuổi những đối tượng tư tưởng bên ngoài. Bằng cách giữ tâm không vướng vào sáu chướng ngại này, hành giả có thể có sáu cơ hội để thanh lọc sự tập trung. Nói cách khác, trong chính nỗ lực vượt qua sáu chướng ngại, hành giả đã hoàn thành sáu điều kiện cần thiết để Thanh lọc sự tập trung. Do đó, sáu sự thanh lọc là thanh lọc tâm ra khỏi tham dục, không khao khát quá khứ, không khao khát tương lai, khỏi sự uể oải, khỏi sự bồn chồn, khỏi sự ham muốn và ra khỏi bất thiện pháp.

A certain degree of purification of the mind is brought about by these six ways of cleansing concentration. However, four more auxiliary conditions are necessary to complete this purifi- cation:

Sáu cách thanh lọc tâm này mang lại một mức độ thanh lọc tâm nhất định. Tuy nhiên, cần có thêm bốn điều kiện phụ trợ để hoàn tất sự thanh lọc này:

(page 29)

1. The two spiritual faculties, faith and 'wisdom, must be kept in balance.

(page 29)

1. Hai năng lực tâm linh, đức tin và trí tuệ bổ túc cho nhau và làm cho cân bằng

2. All five spiritual faculties (faith, energy, mindfulness, concentration and 'wisdom) must function with a unity of purpose.

2. Cả năm năng lực tâm linh (đức tin, tinh tấn, chánh niệm, sự tập trung và trí tuệ) phải hoạt động với mục đích thống nhất.

3. Theright amount of effort must be applied.

3. Sự cố gắng ở mức độ vừa phải.

4. Constant and repeated practice must be maintained.

Ps.L168

4. Phải duy trì việc thực hành thường xuyên và lặp đi lặp lại.

Ps.L168

Faith, in this context, means the absence of 'doubts in regard to one's subject of meditation. It is confidence in ones ability to succeed in prac- tice. Wisdom implies the understanding of the purpose of one's meditation. The purpose should be the arousing of the knowledge of mind-and- matter (nãma-rupa). The “right amount of effort is moderate effort. Generally, in the case of serenity meditation (e.g. mindfulness of breathing), three sittings of three hours duration cach would be sufficient practice for a day, whereas in insight meditation, one has to go on mmeditating in all postures throughout the day. By “repeated practice” is meant the arousing of a special ability or a specific tendency by repeat- edly dwelling on some wholesome thought.

Đức tin, trong bối cảnh này, có nghĩa là không có 'sự nghi ngờ liên quan đến đề mục thiền định của hành giả. Đó là sự tin tưởng vào khả năng thành công trong sự tu tập của hành giả. Trí tuệ ngụ ý sự hiểu biết về mục đích của việc tu tập thiền định của hành giả. Mục đích phải là kiến ​​thức về sự sanh diệt của danh-và-sắc (nãma-rupa). "sự nỗ lực phù hợp là nỗ lực vừa phải. Nhìn chung, trong trường hợp Thiền Chỉ Samadhi (ví dụ như chánh niệm về hơi thở), nên thực hành ba lần bao gồm tọa thiền (ngồi), ngọa thiền (nằm), hành thiền (đi), trụ thiền (đứng) trong một ngày và mỗi lần ba tiếng sẽ là đủ để thực hành, trong khi Thiền Minh Sát Tuệ Vipassana,hành giả phải liên tục giữ tâm chánh niệm trong mọi lúc mọi oai nghi suốt cả ngày. "Thực hành lặp đi lặp lại" có nghĩa là khơi dậy một khả năng đặc biệt hoặc một khuynh hướng cụ thể bằng cách liên tục suy ngẫm về một số ý nghĩ lành mạnh.

(page 30)
'To develop concentration, all one's actions — large or small — must be done with mindfulness. “One should make a special resolve to do every- thing with the right amount of mindfulness. When each and every act of a meditator is done mindfully, all his actions will begin to maintain a certain level of uniformity. And as this uniform- ity in mindfulness develops, the behaviour of the mmeditators mind will also reach a certain level of Dprogress. Owing to this power, all postures of a meditator will be uniformly smooth and even. His deportment, the inner wealth of his virtues, will be of an inspiring nature.

(page 30)
Để sự tập trung được phát triển, tất cả mọi oai nghi của hành giả— đại oai nghi hay tiểu oai nghi — đều phải được thực hiện với chánh niệm. “Người hành giả nên quyết tâm đặc biệt để làm mọi việc với chánh niệm phù hợp. Khi mọi oai nghi của một thiền giả được thực hiện một cách chánh niệm, mọi hành động của người hành giả sẽ bắt đầu duy trì một mức độ đồng nhất nhất định. Và khi sự đồng nhất trong chánh niệm này phát triển, hành vi của tâm thiền giả cũng sẽ đạt đến một mức độ tập trung nhất định. Nhờ sức mạnh này, mọi oai nghi của một thiền giả sẽ đều đặn và nhẹ nhàng. Phong thái của người đó, sự phong phú bên trong của các đức tính của người đó, sẽ có bản chất truyền cảm hứng.

At the outset, the task of developing mindful- ness and concentration might appear as some- thing difficult or even unnecessary. One might even become discouraged by it. Understanding this possibility beforehand, one should make a firm determination to persist in ones practice. The progress of a meditator is nothing other than his progress in mindfulness and concentra- tion. When, at the very start, one enthusiastic- ally sets about developing mindfulness, when one makes an earnest effort to apply mindful- ness, one will begin to see how the mind becomes receptive to mindfulness — almost unwittingly. And once one becomes used to it, one will be able to practise mindfulness without any difficulty. One will then come to feel that

(page 31) mindfulness is an activity quite in harmony with the nature of the mind. And ultimately, the mmeditator can reach a level at which he can prac- tise mindfulness effortlessly. Not only that, but he will also discover how mindfulness, when developed, overflows into concentration. As mindfulness develops, concentration naturally 'develops along with it. But an unbroken effort is necessary, and if one is to maintain unbroken. mindfulness, one must pay attention to the intervals which occur at the change of postures.

Lúc đầu, việc phát triển chánh niệm và sự tập trung có thể khởi lên như một điều gì đó khó khăn hoặc thậm chí không cần thiết. Người hành giả thậm chí có thể nản lòng vì điều đó. Hiểu được khả năng này trước, hành giả nên quyết tâm kiên trì thực hành. Sự tu tập của một thiền giả không gì hơn là giữ tâm mình tập trung trong chánh niệm. Khi, ngay từ đầu, một người nhiệt tình bắt đầu phát triển chánh niệm, khi một người nỗ lực hết mình để áp dụng chánh niệm, người hành giả sẽ bắt đầu thấy tâm trở nên tiếp nhận chánh niệm như thế nào — gần như vô tình. Và một khi đã quen với nó, người hành giả sẽ có thể thực hành chánh niệm mà không gặp bất kỳ khó khăn nào. Sau đó, hành giả sẽ cảm thấy rằng

(trang 31) chánh niệm là một hoạt động khá hài hòa với bản chất của tâm. Và cuối cùng, người hành giả giữ chánh niệm có thể đạt đến một cấp độ mà mình có thể thực hành chánh niệm một cách dễ dàng. Không chỉ vậy, hành giả cũng sẽ khám phá ra cách giữ tâm trong chánh niệm, khi được phát triển, sẽ tràn vào sự tập trung. Khi chánh niệm phát triển, sự tập trung tự nhiên 'phát triển cùng với nó. Nhưng cần phải có một nỗ lực không ngừng nghỉ, và nếu một người muốn duy trì chánh niệm không ngừng nghỉ, người đó phải chú ý đến những khoảng thời gian xảy ra khi thay đổi tư thế.

There are four postures: sitting, standing, walking and lying down. In sitting meditation, the mind becomes calm. But when the medita- tors rise up from their seats, some lose that calm- ness Their mindfulness and concentration disappear. Having gotten up, when they start walking or pacing up and down, they lose even the little calmness they had when standing. Their mindfulness and concentration dissipate still more. Because of this tardy procedure, this lack of unbroken continuous mindfulness, one goes on meditating every day, but makes no worthwhile progress; one stagnates.

Có bốn tư thế: tọa thiền (ngồi), trụ thiền (đứng), hành thiền (đi) và ngọa thiền (nằm). Trong thiền tọa, tâm trở nên tĩnh lặng. Nhưng khi thiền sinh đứng dậy khỏi chỗ ngồi, một số người mất đi sự tĩnh lặng đó. Chánh niệm và sự tập trung của họ biến mất. Sau khi đứng dậy, khi họ bắt đầu đi bộ hoặc đi tới lui, họ mất đi ngay cả sự tĩnh lặng nhỏ nhoi mà họ có khi đứng. Chánh niệm và sự tập trung của họ càng tan biến hơn nữa. Do quy trình chậm trễ này, do thiếu chánh niệm liên tục không gián đoạn này, nên người hành giả tiếp tục thiền định mỗi ngày, nhưng không có tiến triển đáng kể nào; người hành giả trì trệ.

If one is to avoid this serious drawback, one should direct ones attention to every posture- junction. Take, for example, the walking pos- ture. This is a posture which offers an excellent opportunity to arouse the power of concentration.

(page 32) Many meditators find it easy to develop concentration in this posture. Suppose one has aroused some degree of mindfulness and con- centration while walking. Now, when one intends to sit down, one should see to it that one 'does not lose what one has already gained. With concentration, one should make a mental note of. the intention of sitting: intending to sit, intend- ing to sit? Then, in siting down also make a 'mental note: “itting, sitting.' In this manner one should maintain unbroken whatever mindful- 'ness and concentration one has already built up, and continue one's meditation in the sitting pos- ture. This practice of making a mental note of both the intention and the act at the posture- junctions enables one to maintain mindfulness and concentration without any lapses.

Nếu muốn tránh nhược điểm nghiêm trọng này, hành giả nên hướng sự chú ý của mình vào khi thay đổi trong mọi oai nghi. Ví dụ, hãy lấy oai nghi đi bộ. Đây là tư thế mang đến cơ hội tuyệt vời để khơi dậy sức mạnh tập trung.

(trang 32) Nhiều thiền sinh thấy dễ dàng phát triển sự tập trung ở tư thế này. Giả sử một người đã tiến bộ được một mức độ chánh niệm và tập trung nào đó khi đi bộ. Bây giờ, khi người hành giả có ý muốn ngồi xuống, người đó nên đảm bảo rằng mình 'không mất những gì mình đã đạt được'. Với sự tập trung, người đó nên ghi nhận trong tâm về ý định ngồi: muốn ngồi, có muốn ngồi không? Sau đó, khi ngồi xuống cũng hãy ghi nhận trong tâm: "ngồi, ngồi". Theo cách này, người đó nên duy trì không gián đoạn bất kỳ chánh niệm và sự tập trung nào mà người đó đã đạt được, và tiếp tục thiền định ở oai nghi ngồi. Thực hành ghi nhận trong tâm về cả ý muốn và hành động ngay khi các oai nghi đang thay đổi này giúp người đó duy trì chánh niệm và sự tập trung mà không có bất kỳ sự gián đoạn nào.

In trying to maintain unbroken mindfulness, 'one should consider well the dangers of neglect- ing that practice and the benefits of developing it. To develop mindfulness is to develop heedful- ness, which is helpful to all wholesome mental states. To neglect mindfulness is to grow inheed- lessness, the path leading to all unwholesome states, to downfall. With these considerations, 'one should make a firm determination and really try to develop mindfulness. When mindfulness 'develops, concentration, too, develops. Note that it is the development of mindfulness and concen tration that is called “progress in meditation.” .Always bear in mind the Buddha's words:

Trong nỗ lực duy trì chánh niệm không gián đoạn, 'hành giả nên cân nhắc kỹ lưỡng những nguy hiểm của việc bỏ bê việc thực hành đó và những lợi ích của việc phát triển nó. Phát triển chánh niệm là phát triển sự chú tâm, điều này hữu ích cho mọi trạng thái tinh thần lành mạnh. Bỏ bê chánh niệm là phát triển sự vô tâm, con đường dẫn đến mọi trạng thái bất thiện, đến sự sa ngã. Với những cân nhắc này, 'người hành giả nên đưa ra quyết tâm vững chắc và thực sự cố gắng phát triển chánh niệm. Khi chánh niệm 'phát triển, sự tập trung cũng phát triển. Lưu ý rằng chính sự phát triển chánh niệm và sự tập trung được gọi là "tiến triển trong thiền định". Luôn ghi nhớ lời Đức Phật:

He who has mindfulness is always well; The mindful one grows in happiness. (S.I, 208)

Người có chánh niệm luôn luôn khỏe mạnh; Người có chánh niệm sẽ phát triển trong hạnh phúc. (Tương Ưng Kinh .I, 208)

.A meditator has to pay attention to the applica- tion of mindfulness at all times and under all cir- cumstances. What needs special emphasis here is that the application of mindfulness should be so oriented as to lead one onward to the realiza- tion of Nibbäna. Mindfulness has to be taken up in a way and in a spirit that will effectively arouse the knowledge of the supramundane paths. lt is only then that mindfulness can right- fully be called “the enlightenment-factor of mindfulness” (satisambojjhanga). Such mindful- ness, well attuned to the path, leads to the goal of Nibbäna.

Người hành thiền phải chú ý đến việc áp dụng chánh niệm mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh. Điều cần đặc biệt nhấn mạnh ở đây là việc áp dụng chánh niệm phải được định hướng sao cho dẫn dắt người hành giả tiến tới chứng ngộ Niết bàn. Chánh niệm phải được thực hiện theo cách và với tinh thần có thể phát triển hiệu quả Tuệ về các con đường Giải Thoát. Chỉ khi đó chánh niệm mới có thể được gọi một cách chính xác của “Niệm Giác Chi - satisambojjhanga" là một trong bảy yếu tố đưa đến giác ngộ. Chánh niệm như vậy, được thực hành nghiêm ngặt với đạo lộ, sẽ dẫn đến mục tiêu Niết bàn.

Meditation is a battle with the mind. Itisa battle with the enemies within — the mental defilements. First of all, one has to recognize that these enemies, while battling among them- selves, are at war with the good thoughts, too. “Love” is fighting with “anger.” “Jealousy” is in complicity with “anger.” “Greed” steps in as an ally to “conceit” and “views.” “Views” and “con- ceit? are mutually opposed, though they both owe their origin to “greed.”

Thiền là một sự tranh đấu với tâm. Đó là cuộc chiến với những kẻ thù bên trong nội tâm mình — những ô nhiễm tinh thần. Trước hết, hành giả phải nhận ra rằng những kẻ thù này, trong khi chiến đấu với nhau, cũng đang chiến đấu với những suy nghĩ thiện và bất thiện. “Ái dục” đang chiến đấu với “sân hận”. “Ghen tị” đang đồng lõa với “sự tức giận”. “Lòng tham” bước vào như một đồng minh của “kiêu ngạo” và “quan điểm”. “Quan điểm” và “kiêu ngạo” đối lập lẫn nhau, mặc dù cả hai đều có nguồn gốc từ “tham dục”.

(page 34)The meditator should understand the nature of these defilements. Mental defilements are a gang of crafty enemies. They create deceptions in the meditators mind even when meditation shows signs of progress. The meditator becomes. happy. But this is a case of subtle deception. Because of his complacency, meditation tends to decline. This is an instance of an enemy mas- querading as a friend.

(trang 34) Người hành thiền nên hiểu bản chất của những ô nhiễm này. Những ô nhiễm tinh thần là một băng đảng của những kẻ thù xảo quyệt. Chúng tạo ra sự lừa dối trong tâm của người hành thiền ngay cả khi thiền định cho thấy dấu hiệu tiến triển. Người hành thiền trở nên. vui vẻ. Nhưng đây là trường hợp lừa dối tinh vi. Vì sự tự mãn của mình, thiền định có xu hướng suy giảm. Đây là trường hợp kẻ thù ngụy trang thành bạn bè.

Selfdeceptions can occur even when the meditator is engaged in making a mental note. For instance, in mentally noting a painful feel- ing, if he has the intention of putting an end to that pain, hate will nd an opportunity to step in. Similarly, in mentally noting a desirable 'object, the meditator is rather tardy in doing so. This lapse leaves room for greed to creep in. In fact, he deliberately delays the mental noting in order to give an opportunity to his desire. He does this when the object of which he has a mental image happens to be a pleasant one. Sometimes, in such situations, he totally neglects the mental noting. The loss the medita- tor incurs by this neglect is indescribably great.

Sự ảo tưởng này có thể xảy ra ngay cả khi người hành thiền đang ghi nhận trong tâm. Ví dụ, khi ghi nhận trong tâm một cảm giác đau đớn, nếu hành giả có ý định chấm dứt nỗi đau đó, thì lòng sân sẽ có cơ hội để bước vào. Tương tự như vậy, khi ghi nhận trong tâm một 'đối tượng mong muốn', người hành giả khá chậm trễ trong việc làm như vậy. Sự sai sót này tạo cơ hội cho lòng tham len lỏi vào. Trên thực tế, hành giả cố tình trì hoãn việc ghi nhận trong tâm để tạo cơ hội cho ham muốn của mình. Hành giả làm như vậy khi đối tượng mà hành giả có hình ảnh trong tâm tình cờ là một đối tượng dễ chịu. Đôi khi, trong những tình huống như vậy, hành giả hoàn toàn bỏ đi việc ghi nhận trong tâm. Sự mất mát mà hành giả phải chịu do sự bỏ bê này là không thể diễn tả được.

Failure to make a mental note of an object as such becomes a serious drawback in the devel- 'opment of one's meditative attention. As soon as one sees a pleasant object, one should make a mental note of it and summarily dismiss it.

Việc Tâm hành giả thiếu ghi nhận về một đối tượng như vậy sẽ trở thành một trở ngại nghiêm trọng trong quá trình phát triển sự an trú thiền định của hành giả. Ngay khi nhìn thấy một đối tượng dễ chịu, tâm hành giả nên ghi nhận và nhanh chóng loại bỏ nó.

(page 35)Otherwise one will only be courting disaster. Sometimes the meditator will get a mental image of a woman coming so close as to make physical contact with him. On such occasions the meditator has to be alert and heedful in making. a mental note. There are two ways of mental noting:

(trang 35)Nếu không như vậy, người hành giả chỉ đang tự chuốc lấy tai họa. Đôi khi, người hành giả sẽ có hình ảnh trong tâm về một người phụ nữ đến gần đến mức có thể tiếp xúc xác thịt với mình. Trong những trường hợp như vậy, người thiền phải cảnh giác và chú ý trong việc ghi nhớ trong tâm. Có hai cách ghi nhớ trong tâm:

(1) While meditating, one hears a sound. If it is a sound which continues for a long while, one should mentally note it twice or thrice (hearing.... thearing').

(1) Trong khi thiền định, hành giả nghe một âm thanh. Nếu đó là một âm thanh kéo dài trong một thời gian dài, hành giả nên ghi nhận nó trong tâm hai hoặc ba lần (nghe... nghe').

(2) While meditating, one hears a sound. If it is possible to continue meditation in spite of that sound, after the initial mental noting, one need not repeatedly make a mental note of it.

(2) Trong khi thiền định, hành giả nghe thấy một âm thanh. Nếu có thể tiếp tục thiền định không để ý đến âm thanh đó, sau khi ghi nhận ban đầu trong tâm, hành giả không cần phải ghi nhận nó nhiều lần trong tâm.

In meditation, one should make a mental note of everything encountered. One should get into the habit of mentally noting whatever comes along — be it big or small, good or bad. To make a mental note of painful feelings with dislike leaves room. for hate, thus one should always exercise equa- nimity in mentally noting these feelings. One should not note them with the idea of getting rid of them. The aim should be to comprehend the nature of phenomena by understanding pain as pain. The same principle applies to a pleasant object giving rise to a pleasant feeling. With Nibbãna as the sole aim, one should learn to make mmental notes of everything with equanimity.

Trong lúc đang thực hành thiền định, khi pháp hiện bày hành giả nên ghi nhớ mọi thứ gặp phải. Hành giả nên tập thói quen ghi nhớ mọi pháp xảy ra — dù lớn hay nhỏ, tốt hay xấu. Ghi nhớ những cảm giác đau đớn với sự không thích sẽ để lại chỗ trống. Đối với sự ghét bỏ, do đó người hành giả nên luôn luôn thực hành sự bình thản khi ghi nhớ những cảm giác này. Hành giả không nên ghi nhớ chúng với ý định loại bỏ chúng. Mục đích là để hiểu bản chất của các pháp bằng cách hiểu đau đớn là đau đớn. Nguyên tắc tương tự cũng áp dụng cho những đối tượng dễ chịu tạo ra cảm giác dễ chịu. Với Nibbãna là mục đích duy nhất, hành giả nên học cách ghi nhớ các pháp hiện bày với sự bình thản.

(page 36)

2. The Stages of Concentration

(page 36)

2. The Stages of Concentration

Purification of Mind is achieved when the degree of concentration becomes sufficiently strong to cause the suppression of the five afflictive defile- ments known as the “five hindrances” (pañca- nữvaranä), namely: sensual desire, ill will, sloth and torpor, agitation and remorse, and doubt.5

Sự thanh lọc tâm đạt được khi mức độ tập trung trở nên đủ mạnh để có thể chế ngự năm phiền não gây đau khổ được gọi là “Năm triền cái (panñcanivaranā), là: tham dục, sân hận, hôn trầm – thụy miên, trạo cử – hối quá và hoài nghi..5

There are three kinds of concentration qualifying as Purification of Mind: access con- centration (upacära-samädhi), absorption con- centration (appanä-saruädhi), and momentary. concentration (khanika-samädhi). The first two are achieved through the vehicle of seren- ity (samatha), the last through the vehicle of insight (vipassanä). Momentary concentration iD0SSesses the same strength of mental unifica- tion as access concentration. Since it is equipped with the ten conditions mentioned above, and holds the five hindrances at bay, it aids the attainment of insight knowledge. However, because it does not serve directly as a basis for jhãna as such, it is not called access concentration.

Có ba loại định được coi là Thanh lọc Tâm: cận định (upacära-samädhi), định an chỉ (appanä-saruädhi), và Sát na định (khanika-samädhi). Hai loại đầu tiên đạt được thông qua phương tiện Thiền Chỉ (Samatha), loại cuối cùng đạt được thông qua Thiền Minh Sát (vipassanä). Định tạm thời đánh giá cùng một sức mạnh của sự Nhất Thống Tâm như định cận định. Vì nó được trang bị mười điều kiện đã đề cập ở trên và ngăn chặn năm triền cái, nên nó hỗ trợ việc đạt được trí tuệ tuệ giác. Tuy nhiên, vì nó không trực tiếp đóng vai trò là cơ sở cho jhãna như vậy, nên nó không được gọi là cận định.

----------------------------------
5. (1) Kāmacchanda, (2) Vyāpāda, (3) Thīna-middha, (4) Uddhacca-kukkucca, (5) Vicikicchā.

----------------------------------
5. (1) Kāmacchanda = tham dục, (2) Vyāpāda = sân hận, (3) Thīna-middha = hôn trầm thụy miên, (4) Uddhacca-kukkucca, (5) Vicikicchā = Hoài nghi.

(page 37)Here we will discuss the attainment of Puri- fication of Mind vỉa the approach of serenity. The fullest form of this purification is absorption. concentration, which consists of eight medita- tive attainments (attha samäpatti): tour absorp- tions called 7hãnas, and four immaterial states (ãruppas). The two main preparatory stages leading up to a jhãna are called preliminary work (parikamma) and access (upacära).6

(trang 37) Ở đây chúng ta sẽ thảo luận về việc Thanh lọc Tâm bên cạnh sự đạt được sự thanh thản. Hình thức đầy đủ nhất của sự thanh lọc này là sự tập trung, bao gồm chứng đắc tám lần thiền định còn gọi là bát định (attha samäpatti): sự hấp thụ được gọi là Jhãnas, và bốn trạng thái vô sắc ( Arūpa). Hai giai đoạn chuẩn bị chính dẫn đến tầng thiền định (Jhãna) được gọi là tâm chuẩn bị (Parikamma) và sự đạt đến cận định (upacära samädhi).6

The ordinary consciousness cannot be con- verted into an exalted level all at once, but has to be transformed by degrees. In the stage of preliminary work, one must go on attending to the subject of meditation for a long time until the spirirual faculties become balanced and function with a unity of purpose. Once the spir- itual faculties gain that balance, the mind drops into access. In the access stage, the five hin- 'drances do not disrupt the flow of concentration. The original gross object of meditation is replaced by a subtle mental image called the counterpart sign (patibhäga-nimitta).

Tâm thức bình thường không thể chuyển đổi thành một cấp độ cao hơn ngay lập tức, mà phải chuyển đổi từng bước. Trong giai đoạn tâm chuẩn bị, hành giả phải tiếp tục chú tâm vào đề mục thiền định trong một thời gian dài cho đến khi các khả năng tâm trở nên cân bằng và hoạt động với mục đích nhất thống (định). Khi các khả năng tâm đạt được sự cân bằng đó, tâm rơi vào trạng thái tiếp cận. Trong giai đoạn tiếp cận, năm triền cái không làm gián đoạn dòng chảy của sự tập trung. Đối tượng thô ban đầu của thiền định được thay thế bằng một hình ảnh tinh tế trong tâm trí được gọi là ấn tượng khái niệm (patibhäga-nimitta).

During the access stage, the mind becomes powerfully unified upon its object. When the mind, as it were, sinks into the object, this signals the arising of the jhãnic mind known as absorption. On reviewing the first jhãna, one discovers that it has five distinguishing compo- nents called “jhãna factors,” namely: applied thought, sustained thought, joy, bliss and one- pointedness.7

Trong giai đoạn nhập định, tâm trở nên hợp nhất mạnh mẽ vào đối tượng của nó. Khi tâm, như thể, chìm vào đối tượng, điều này báo hiệu sự xuất hiện của tâm thiền được gọi là “absorption” là (sự tập trung toàn triệt) là đắc sơ thiền . Khi xem xét lại sơ thiền, hành giả phát hiện ra rằng nó có năm thành phần phân biệt được gọi là “yếu tố thiền”, cụ thể là: tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm (định).7

------------------------
6. See Appendix 3 for further detalls.

------------------------
6. Xem Phụ lục 3 để biết thêm chi tiết..

(page 38) However, one should not set about the task of reviewing these jhãna factors as soon as one attains a jhãna. To start with, it is advisable to emerge from the jhãna after remaining in it for Just ve minutes. Even this has to be done with an appropriate determination: “I will attain to the first jhãna for five minutes and emerge from. it after five minutes.” Using such a formal deter- mination, one should repeat emerging from the Jhãna and re-attaining it a good many times. TThis kind of practice is necessary because there is a danger that a beginner who remains immersed in a jhäna too long will develop exces- sive attachment to it. This elementary practice is, at the same time, a useful training for mastery. in attaining to and emerging from a jhãna.8

(trang 38) Tuy nhiên, người hành giả không nên thẩm nghiệm lại các yếu tố Thiền jhãna này ngay khi chứng đạt tầng thiền. Để bắt đầu, nên xuất ra khỏi tầng thiền này sau khi ở trong đó chỉ năm phút. Ngay cả điều này cũng phải được thực hiện lời nguyện rằng: "Tôi sẽ đạt đến tầng thiền jhãna thứ nhất trong năm phút và thoát khỏi nó sau năm phút." Sử dụng lời nguyện chính thức như vậy, người giả nên lặp lại việc thoát khỏi thiền và đạt lại nó nhiều lần. Loại thực hành này là cần thiết vì có nguy cơ là người mới bắt đầu hành thiền đắm chìm trong thành quả thiền jhãna quá lâu sẽ phát sinh sự gắn bó nó quá mức. Thực hành cơ bản này đồng thời là một sự rèn luyện hữu ích để thành thạo trong việc đạt đến thiền và thoát khỏi thiền jhãna.8

To prevent any possible distractions and to stabilise the jhãna he has obtained, the beginner should spend his time attaining to and emerging from the jhãna as many times as he can. But on each occasion he should make a fresh determi- nation as to the duration of the jhãna. The number of minutes may be increased gradually. As to the number of times, there need not be any limit. The purpose of this practice is to gain the twin mastery in attaining to and emerging from the jhãna. Mastery in these two respects can be regarded as complete when one is able to remain in the jhãna for exactly the same number. 'of minutes as determined, and is able to emerge from the jhãna at the predeterimined time.

Để ngăn ngừa mọi sự xao lãng có thể xảy ra và để ổn định jhãna mà mình đã đạt được, người hành giả mới bắt đầu thực tập thì nên dành thời gian để đạt được và thoát khỏi jhãna nhiều lần nhất có thể. Nhưng trong mỗi lần, người hành giả nên đưa lời chú nguyện mới về thời lượng của jhãna. Số phút có thể tăng dần. Về số lần, không cần phải có bất kỳ giới hạn nào. Mục đích của bài tập này là đạt được sự thành thạo song song trong việc đạt được và thoát ra khỏi thiền. Sự thành thạo trong cả hai khía cạnh này có thể được coi là hoàn thành khi người hành giả có thể duy trì thiền trong cùng một số phút như đã chú nguyện và có thể thoát khỏi jhãna vào thời điểm đã định trước.

-----------------------
7. Q) viekke, Ø) vieäre, G3) phí, (4) sukhd, (9) ckqggeti.
8... The ñve knds of mastery: (1) mastery la adverting, (2) mastery ln ataiing,
(3) mastery in resolving, (4) mastey ín emerging, (5) mastery n revieving..

-----------------------
7. Q) viekke, Ø) vieäre, G3) phí, (4) sukhd, (9) ckqggeti.
8... The ñve knds of mastery: (1) mastery la adverting, (2) mastery ln ataiing,
(3) mastery in resolving, (4) mastey ín emerging, (5) mastery n revieving..

(page 39) Once this twofold mastery is complete, one should practise for mastery in adverting and reviewing. Of these, the practice of adverting should be taken up first as this enables one to consider the jhãna factors separately. Then one can practise for mastery in reviewing, which is a kind of reflection on the quality of those jhãna factors. As it is impossible to reflect on thejhãna factors while remaining in the jhãna, one has to 'do so only after emerging from it. At the stage of. the first jhãna the principal components are the five mental factors: applied thought, sustained thought, joy, bliss and one-pointedness. If these factors are not clearly distinguishable, the medi- tator should repeatedly attain to and emerge from the jhãna, reviewing it again and again.

(trang 39) Khi đã thông thạo hai mặt này, hành giả nên thực hành để thành thạo trong việc chú ý và xem xét. Trong số này, trước tiên, nên thực hành chú ý vì điều này cho phép hành giả xem xét các yếu tố thiền jhãna một cách riêng biệt. Sau đó, hành giả có thể thực hành để thành thạo trong việc thẩm nghiệm, đây là một loại phản ánh về phẩm chất của các yếu tố jhãna đó. Vì không thể suy ngẫm về các yếu tố thiền jhãna khi vẫn ở trong thiền jhãna, nên hành giả phải 'làm như vậy chỉ sau khi thoát khỏi thiền. Ở giai đoạn jhãna đầu tiên, các thành phần chính là năm yếu tố tinh thần: tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Nếu không phân biệt rõ các yếu tố này, hành giả thiền định nên nhiều lần đạt đến và thoát khỏi jhãna, thẩm nghiệm lại nó nhiều lần.

(page 40)

(page 40)

“Applied thought” (vitakka) is the applica- tion of the mind to the object, the “thrusting” of the mind into the object. “Sustained thought” (vicära) is the continued working of the mind on that same object. The distinction between these two will be clearly discernible at this stage because of the purity of the jhanic mind. The other three factors, joy, bliss and one- pointedness, will appear even more distinc- tively before the mind°s eye.

Tầm (vitakka) là hướng tâm đến đối tượng, sự dẫn tâm vào đối tượng, phận sự của tầm là gây chú ý tới và đập vào đối tượng. Tứ (vicära) là được duy trì liên tục chính là tư tưởng được duy trì liên tục là sự hoạt động liên tục của tâm vào cùng đối tượng đó. Sự phân biệt giữa hai điều này sẽ được phân biệt rõ ràng ở giai đoạn này vì sự thanh tịnh của tâm thiền. Ba yếu tố khác, Hỷ, Lạc và sự nhất tâm, sẽ xuất hiện rõ ràng hơn trong tâm thức.

It will be necessary to apply one's mind to these three factors a number of times in direct and reverse order so as to examine their qual- ity. It is in this way that one fulfils the require- mments of mastery in adverting and reviewing. In the process of examining the jhäna factors in direct and reverse order, one acquires further mmastery in attaining to and emerging from the jhãna.

Cần phải đặt tâm của mình vào ba yếu tố này nhiều lần theo thứ tự thuận và nghịch để kiểm tra chất lượng của chúng. Theo cách này, người hành giả đáp ứng được các yêu cầu về sự thành thạo trong việc an trú và thẩm nghiệm. Trong quá trình kiểm tra các yếu tố thiền theo thứ tự thuận và nghịch, người hành giả đạt được sự thành thạo hơn nữa trong việc đạt đến và thoát ra khỏi jhāna.

While examining the jhãna factors in this 'Way to acquire mastery in adverting and review- ing, some of the factors will begin to appear as gross because they have a tendency towards the hindrances. Then one comes to feel that one would be better off without these gross factors. At this juncture one should make the following 'determination for the attainment of the second jhãna: “May I attain the second jhãna which is free from the to factors of applied thought and sustained thought and which consists of the three factors — joy, bliss and one-pointedness" 9

Trong khi xem xét các yếu tố jhãna theo 'Con đường để đạt được sự thành thạo trong sự an trú và thẩm nguyệm, một số yếu tố sẽ bắt đầu xuất hiện như thô thiển vì chúng có xu hướng hướng đến các triền cái. Sau đó, người hành giả cảm thấy rằng mình sẽ tốt hơn nếu không có những yếu tố thô thiển này. Tại thời điểm này, người hành giả nên đưa ra chú nguyện sau đây để đạt được thiền jhãna thứ hai: "Mong rằng tôi đạt được jhãna thứ hai không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố của tầm và tứ và bao gồm ba yếu tố — hỷ, lạc và nhất tâm" 9

(page 41) After making this determination, the medita- tor again concentrates his mind on the counter-part sign. When his faculties mature, he passes through all the antecedent stages and enters absorption in the second jhãna, which is free from applied thought and sustained thought, and is endowed with purified joy, bliss and one- pointedness. As in the case of the first jhãna, here too he has to practise for the fivefold mas- tery, but this time the work is easier and quicker.

After mastering the second jhãna, the meditator may want to go further along the path of serenity. He sees that the joy (pïti) of the second jhãna is gross, and that above this there is a third jhãna which has bliss and one-pointedness only. He makes the determination, undertakes the practice, and — if he is capable — attains it. After mastering this jhãna in the five ways, he realizes that bliss is gross, and aspires to reach the fourth. jhãna, where blissful feeling is replaced by equanimous feeling, which is more peaceful and sublime. When his practice matures, he enters this jhãna, perfects it, and reviews it.

----------------------------

9. -- Hemein ourexplanation, we ollow the sÿstem of the suttas. Bút to some. meditators, only applied thought appears as gross, while to others, both: -applied thought and sustained thought appear at onee as gross. Thỉs .diferenee in Judgement is đue to previous experiences in meditation in pastbirths. The distincion between the fourfold reckoning of the jhãnasin. the sutas and the fivefold reckoning in the Abhidhamima Ïs a recognition. of this diference. “So that which s the second ïn the fourfold reckoning beeomes the second and third in the fivefold reckoning by being divided nto two. And those which are the third and fourth n the former reckoning, become the fourth and fiíh in this reckoning. The first remaïns the first in. each case" (Vism. IV, 202)

(trang 41) Sau khi chú nguyện như vậy, thiền giả lại tập trung tâm vào dấu hiệu tương ứng. Khi các giác quan của thiền giả trưởng thành, thiền giả trải qua tất cả các giai đoạn trước đó và nhập định vào thiền thứ hai, không có tầm và tứ, và cảm nhận được niềm vui (hỷ), hạnh phúc (lạc) và sự nhất tâm (định). Giống như trường hợp của thiền thứ nhất, ở đây thiền giả cũng phải thực hành để đạt được sự thành thạo năm cấp độ, nhưng lần này công việc dễ dàng và nhanh hơn.

Sau khi thành thạo thiền thứ hai, thiền giả có thể muốn tiến xa hơn trên con đường thanh thản. Thiền giả thấy rằng niềm vui (pïti - hỷ) của thiền thứ hai là thô, và trên đó có một thiền thứ ba chỉ có hạnh phúc (lạc) và sự nhất tâm. Thiền giả đưa ra quyết định, thực hành và — nếu có khả năng — đạt được. Sau khi thành thạo thiền jhãna này theo năm cách, hành giả nhận ra rằng lạc là thô, và mong muốn đạt đến thiền jhãna thứ tư, nơi cảm giác lạc được thay thế bằng cảm giác bình thản, an lạc và cao thượng hơn. Khi sự thực hành của hành giả chín muồi, vị ấy nhập vào jhãna này, hoàn thiện nó, và thẩm nghiệm lại nó.

----------------------------

9. -- Trong lời giải thích của chúng tôi, chúng tôi dựa theo kinh sách. Đối với một số thiền giả, chỉ có Tầm xuất hiện là thô, trong khi đối với những người khác, cả Tầm và Tứ xuất hiện cùng một lúc là thô. Sự khác biệt này trong sự nhận xét là do những kinh nghiệm trước đây trong thiền định trong những kiếp trước. Sự khác biệt giữa sự ghi nhận bốn lần của thiền định là theo kinh sách (Tầm, Hỉ, Lạc, Nhất Thống - không có Tứ vì Tầm và Tứ đi chung nhau) trong khi đó được ghi nhận có năm lần trong Vi Diệu Pháp -Abhidhamima (Tầm, Tứ, Hỉ, Lạc, Nhất Thống) đó là sự khác biệt. “Vì vậy, cái thứ hai trong sự ghi nhận bốn lần trở thành cái thứ hai và thứ ba trong sự ghi nhận năm lần bằng cách được chia thành hai. Và những cái thứ ba và thứ tư trong sự ghi nhận trước, trở thành cái thứ tư và kết thúc trong sự ghi nhận này. Cái đầu tiên vẫn là cái đầu tiên trong mỗi trường hợp" (Vism. IV, 202)

(page 42) Beyond the fourth jhäna lie four higher attainments, called “immaterial states” or “immaterial jhãnas,” since even the subtle material form of the jhãnas is absent. These states are named: the base of infinite space, the base of infinite consciousness, the base of nothingness, and the base of neither-perception-nor-non- perception.10 They are attained by perfecting the power of concentration, not through refining the mental factors, but through training the mỉnd to apprehend increasingly more subtle objects of attention.

-----------------------

10. In Pali: (1) ākāsānañcāyatana, (2) viññāṇañcāyatana, (3) ākiñcaññāyatana, (4) N'eva saññānāsaññāyatana

(trang 42) Ngoài tứ thiền còn có bốn chứng đắc cao hơn, được gọi là "trạng thái vô sắc ” hay “Thiền-Vô-Sắc,” vì ngay cả hình thức vật chất vi tế của các thiền jhãnas cũng không có. Những trạng thái này được đặt tên là: Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ, và Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng Xứ.10 Chúng đạt được bằng cách hoàn thiện sức mạnh của sự tập trung, không phải thông qua việc tinh luyện các yếu tố tinh thần, mà thông qua việc rèn luyện tâm để nắm bắt các đối tượng chú ý ngày càng vi tế hơn.

-----------------------

10. In Pali: (1) ākāsānañcāyatana - Không Vô Biên Xứ , (2) viññāṇañcāyatana = Thức Vô Biên Xứ, (3) ākiñcaññāyatana = Vô Sở Hữu Xứ, nevasaññānāsaññāyatanabhūmi = Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng Xứ (4)

CHAPTER III

PURIFICATION OF VIEW
(DITTHIVISUDDHI)

CHAPTER III

THANH LỌC QUAN KIẾN
(KIẾN TỊNH - DITTHIVISUDDHI)

(page 43) Purication of Mind is achieved by eliminating the five hindrances through the development of concentration. This can be done through either the vehicle of serenity or the vehicle of insight. The meditator in the vehicle of serenity aims at gaining either access concentration or absorp- tion concentration pertaining to one of the eight levels of attainment — the four jhãnas and the four immaterial states. The vehicle of insight aims at gaining momentary concentration by contemplating changing phenomena with mind- fulness. When Purification of Mind is accom- plished and the mind has become concentrated, the meditator is prepared for insight meditation in order to develop wisdom.

(trang 43) Thanh lọc Tâm đạt được bằng cách diệt trừ năm triền cái thông qua sự phát triển của sự tập trung. Điều này có thể được thực hiện thông qua của thiền định Samadhi hoặc việc tu tập Thiền Minh Sát Vipassana. Người tu tập thiền định nhắm đến việc đạt được sự tập trung cận định hoặc sự tập trung sự tập trung toàn triệt liên quan đến một trong bát định — bốn thiền jhãnas và bốn thiền vô sắc. Phương tiện của sự quán chiếu nhắm đến việc đạt được sự tập trung nhất thời bằng cách quán chiếu các hiện tượng thay đổi với chánh niệm. Khi sự Thanh lọc Tâm được hoàn thành và tâm đã trở nên tập trung, người hành thiền định được chuẩn bị cho thiền quán để phát triển trí tuệ.

The first stage of insight meditation is called Purifcaton of View. This purification consists in arousing insight into mind-and-matter (nãmaripa), using the meditation subject as a basis. Here the aspect “matter” (rũpa) covers the physical side of existence, the aggregate of material form. The aspect “mind” (nãma) covers the mental side of existence, the four mental aggregates of feeling,

Giai đoạn đầu tiên của thiền minh sát được gọi là Tuệ Phân Biệt Danh Sắc. Sự phân biệt này này bao gồm việc khơi dậy sự minh sát vào Danh-và-Sắc (nãmaripa), sử dụng đề mục thiền làm cơ sở. Ở đây, khía cạnh “Sắc” (rũpa) bao gồm Thân của sự hiện hữu, tập hợp của hình dạng vật chất. Khía cạnh “Danh” (nãma) bao gồm khía cạnh tinh thần của sự hiện hữu, bốn tập hợp tinh thần của thọ, tưởng, hành, thức,

(page 44) perception, mental formations and consciousness. Purifcation of View is attained as the meditator goes on attending to his meditation subject with a unified mind equipped with the six cleansings and. the four conditions relating to the development o£ the spiritual faculties. (See pp. 26-29.)

(trang 44) tưởng, hành và thức. Sự thanh lọc của quan điểm đạt được khi thiền giả tiếp tục chú tâm vào chủ đề thiền của mình với một tâm thống nhất được trang bị sáu sự thanh lọc và bốn điều kiện liên quan đến sự phát triển của các khả năng tâm linh. (Xem trang 26-29.)

Now the meditation subject begins to appear to him as consisting of two functionally distinguishable parts — mỉnd and matter — rather than as a single unit. This purification gains its name because it marks the initial breakaway from all speculative views headed by personality view.11 The method employed is a sequence of realizations called “abandoning by substitution of opposites” (tadangappahäna). The abandoning by substitution of opposites is the abandoning of any given state that ought to be abandoned by means of a particular factor of knowledge, which, as a constituent of insight, is opposed to it. It is like the abandoning of darkness at night by means of a light. (See Vism. XXI,112.)

Bây giờ đề mục thiền định bắt đầu xuất hiện với hành giả như bao gồm hai phần có thể phân biệt về mặt chức năng — Danh và Sắc— thay vì là một đơn vị duy nhất. Sự thanh lọc này có tên như vậy vì nó đánh dấu sự tách biệt ban đầu khỏi mọi quan điểm suy đoán do quan điểm về nhân cách dẫn đầu.11 Phương pháp được sử dụng là một chuỗi các nhận thức được gọi là “đoạn trừ bằng cách thay thế một pháp đối lập” (tadangappahäna). Đoạn trừ bằng cách thay thế một pháp đối lập là đoạn một pháp nào bằng phương tiện một chi phần đặc biệt của trí, mà với tư cách một thành phần của tuệ, nó đối lập với pháp ấy, như sự từ bỏ bóng tối nhờ một bó đuốc. Nó giống như từ bỏ bóng tối vào ban đêm bằng ánh sáng. (Xem Vism. XXI,112.)

In the development of insight meditation, there are sixteen kinds oƒ knowledge to be obtained in sequence:

-----------------------------

Trong quá trình phát triển thiền quán, có mười sáu loại tuệ cần đạt được theo thứ tự:

-----------------------------

11. Sakkdyadighi. The false personaliy view is the view of a truly cxistent self related to the five aggregates takes on twenty forms according to 'whether any of the aggregates — form, feeling, perccption, mental formations and consciousness — is regarded a identical twìth selƒ, as belonging to the self, as contained n the self, or as enclosing the seÏf.

11. Sakkdyadighi. Quan điểm sai lầm về bản ngã là quan điểm về một bản ngã thực sự tồn tại liên quan đến năm uẩn có hai mươi hình thức tùy theo 'bất kỳ uẩn nào — sắc, thọ, tưởng, hành và thức — được coi là giống hệt với bản ngã, là thuộc về bản ngã, là chứa đựng trong bản ngã, hay là bao bọc bản ngã.

^^^^

(Dưới đây là đoạn trích dẫn và tóm lượt, và để hiểu rõ hơn xin đọc bài Minh Sát Tu Tập Vipassanā Bhavana, do Tỳ Kheo Pháp Thông dịch. )

(page 45)

1. Knowledge of Delimitation of Mind-and-Matter (Nāmarūpaparicchedañāṇa - Tuệ Phân Biệt Danh-Sắc)

(page 45)

1. Ðây là tuệ, hành giả nhận ra thực tánh pháp trong sát-na hiện tại về thực tánh của Danh (nāma) và Sắc (rūpa). (Nāmarūpaparicchedañāṇa - Tuệ Phân Biệt Danh-Sắc)

2. Knowledge of Discerning Cause and Condition (Paccayapariggahañāṇa - Tuệ Nắm Bắt Duyên Khởi)

2. Trí Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên, ở giai đoạn tuệ này, hành giả thấy được cả danh và sắc cùng hiện hữu do nhân và chúng làm duyên cho nhau (Paccayapariggahañāṇa - Tuệ Bắt Khởi Duyên Khởi)

3. Knowledge of Comprehension (Sammasanañaṇa - Tuệ Thẩm Sát Tam Tướng)

3. Tuệ Thầm Sát Tam Tướng (Sammasanañaṇa ) hành giả có thể nhận ra ba đặc tính (tam tướng: vô thường, khổ, vô ngã) trong Danh và Sắc.

4. Knowledge of Contemplation of Arising and Passing Away (udayabbayãnupassanäñäṇa -Udayabbayañāṇa - Sanh Diệt Tuệ )

4. Tuệ Quán Sanh Diệt (udayabbayãnupassanäñäṇa -Udayabbayañāṇa - Sanh Diệt Tuệ ), Ðây là trí tuệ nhận ra sự sanh và diệt của Danh-Sắc, và tính tương tục

5. Knowledge of Contemplation of Dissolution (bhangãnupassanañãṇa - Bhangañāṇa - Hoại Diệt Tuệ)

5. Tuệ Quán Hoại Diệt (bhangãnupassanañãṇa - Bhangañāṇa - Hoại Diệt Tuệ), Tuệ chỉ thấy khía cạnh diệt của Danh và Sắc. Hành giả thấy sự phân tán của năm uẩn bên trong tâm lẫn đối tượng ở bên ngoài. Chẳng hạn, hành giả thấy sắc ngồi diệt và cũng thấy luôn danh biết sắc ngồi diệt nữa.

6. Knowledge of Contemplation of Appearance as Terror (Bhayatupaṭṭhānañāṇa - Kinh Úy Tuệ)

6. Trí Quán Tướng Khủng (Bhayatupaṭṭhānañāṇa - Kinh Úy Tuệ), trí tuệ nhận ra rằng Danh-Sắc quả thật là nguy hại.

7. Knowledge of Contemplation of Danger (Ādīnavānupassanāñāṇa - Quán Hoạn Tuệ)

7. Tuệ Quán Nguy (Ādīnavānupassanāñāṇa - Quán Hoạn Tuệ), tuệ thấy Danh-Sắc như cội nguồn của hiểm họa và nguy hại. Hành giả tuệ tri danh sắc như là mối hiểm họa, và cảm thấy rằng tốt hơn hết là không có Danh-Sắc.

8. Knowledge of Contemplation of Disenchantment (Nibbidānupassanāñāṇa - Yếm Ly Tuệ)

8. Tuệ Quán Ly (Nibbidānupassanāñāṇa - Yếm Ly Tuệ), Ðến Tuệ thứ tám này, một cảm giác yếm ly hay nhàm chán khởi lên đối với Danh-Sắc (năm uẩn). Trong sự nhàm chán này, không có tâm sân, mà chỉ có trí tuệ. Tuệ Yếm Ly này xuất phát từ việc thoát ly khỏi tham ái. Nếu sự thoát ly tham ái được hoàn tất, nó được gọi là Virāga (ly tham). Từ ly tham, dẫn đến giải thoát (vimutti). Giải thoát dẫn đến Niết bàn.

9. Knowledge of Desire for Deliverance (Muñcitukamyatāñāṇa - Dục Thoát Tuệ)

9. Tuệ Cầu Giải Thoát (Muñcitukamyatāñāṇa - Dục thoát Tuệ). Sau khi đã nhận ra sự nguy hiểm và tai hoạ của Danh-Sắc ở Tuệ thứ bảy, và yếm ly ở Tuệ thứ tám, giờ đây hành giả ước muốn mãnh liệt - giải thoát khỏi Danh-Sắc (Dục Thoát Tuệ).

10. Knowledge of Contemplation of Reflection (Paṭisankhānupassanāñāṇa - Giản Trạch Tuệ)

10. Tuệ Quán Tưởng (Paṭisankhānupassanāñāṇa - Giản Trạch Tuệ). Ở Tuệ này, được thúc đẩy bởi ước muốn thoát khỏi Danh-Sắc, hành giả cố gắng tìm cách thoát ly, nhưng vẫn chưa biết phải làm thế nào. Khi vừa nhận ra tam tướng trong Danh-Sắc thì cảm giác thoát ly khỏi nó khởi lên mạnh mẽ hơn.

11. Knowledge of Equanimity about Formations (Sankhārupekkhāñāṇa - Xả Hành Tuệ)

11. Xả Hành Tuệ (Sankhārupekkhāñāṇa) khiến tâm thản nhiên đối với Danh-Sắc phát triển, không còn chấp thủ hay luyến ái đối với Danh-Sắc mà từ lâu chúng ta vẫn nghĩ nó như là "ta", "của ta", "tự ngã của ta" nữa. Tuy nhiên, sự thản nhiên (xả) này được kết hợp với tâm yếm ly.
Hành Xả Tuệ, được phát triển từ Tuệ trước, có năng lực rất mạnh và chính nó thấy rõ được rằng Năm Uẩn (Sankhāra) là vô ngã -- không phải đàn ông, đàn bà, người hay thú gì cả -- và cũng thấy rằng sự sống đang rút ngắn lại, không sớm thì muộn con người cũng phải chết, hoàn toàn không có lạc trong Danh-Sắc.
Khi tâm với trí tuệ nhận ra Danh-Sắc là Không (Suññata), nó không còn quan tâm đến Danh-Sắc nữa, mà chỉ thấy thế gian là rỗng không. Bởi lẽ đó mới gọi là tâm có xả -- không ghét cũng không ưa đối với Danh và Sắc, mà thản nhiên với sự yếm ly. Giờ đây tâm muốn đạt đến Niết bàn, nó không màng đến Danh và Sắc nữa.

12 Knowledge in Conformity with Truth (Conformity Knowledge) (Anulomañāṇa - Thuận Thứ Tuệ)

12 Tuệ Thuận Thứ (Anulomañāṇa - Thuận Thứ Tuệ) giúp hành giả chứng ngộ Tứ Thánh Ðế vì đó là một loại trí tuệ viên mãn.

13. Knowledge of Change-of-Lineage (Gotrabhūñāṇa - Tuệ Chuyển Tộc)

13. Tuệ Chuyển Tộc (Gotrabhūñāṇa - Tuệ Chuyển Tộc), là trí tuệ nảy sanh trong Thánh đạo lộ trình tâm (Maggavīthicitta), nghĩa là lộ trình tâm chuyển sang đạo tuệ (maggañāṇa),

14. Knowledge of Path (Magga-ñāṇa - Ðạo Tuệ)

14. Đạo Tuệ (Magga-ñāṇa - Đạo Tuệ) là trí tuệ phát sanh trong tâm thường được gọi là Maggacitta -- Tâm đạo. Maggacitta phát xuất, hay tiếp nhận duyên trợ tạo của nó từ Chuyển Tộc Tuệ (Tuệ 13). Tuệ này lấy Niết bàn làm đối tượng, giống như Tuệ thứ mười ba, song nó hoàn toàn diệt trừ được những phiền não nào nằm trong phận sự của nó và cả tâm lẫn đối tượng đều thuộc siêu thế.

15 Knowledge of Fruit (Phalañāṇa - Quả Tuệ)

15 Quả Tuệ (Phalañāṇa - Quả Tuệ). Trong Thất Tịnh, Tuệ này là Nñāṇadassana-visudïdïhi, tức Tri Kiến Thanh Tịnh. Khi Tâm Ðạo phát sanh trong Tuệ trước (Ðạo Tuệ) và có Niết bàn là đối tượng, nó hủy diệt hoàn toàn các phiền não, liền đó, ở Tuệ này, tâm quả (phalacitta) khởi lên, hành giả cảm giác một sự an lạc sâu lắng. Kết quả này là quy luật vận hành của pháp (dhammaniyāma), nghĩa là tâm quả luôn luôn sanh tiếp sau tâm đạo vậy. Khi tâm quả phát sanh, có khi xảy ra trong ba sát-na tâm, có khi chỉ có hai. Hành giả thuộc hạng lợi căn (có trí tuệ nhạy bén), với ba sát-na tâm, bỏ qua sát-na Parikamma (Chuẩn bị) và bắt đầu với Upacāra (Cận thánh đạo tâm), tiếp đến Anuloma (Thuận thứ), Gotrabhū (Chuyển tộc), Magga (Ðạo), và Phala (Quả) ba lần, thay vì hai.

16 Knowledge of Reviewing (Paccavekkhanañāṇa - Phản Khán Tuệ)

16 Tuệ Quán (Paccavekkhanañāṇa - Phản Khán Tuệ) Phản Khán Tuệ này phát xuất từ Quả Tuệ thứ 15, và nó trở về trạng thái hiệp thế. Bởi lẽ Niết bàn không còn là đối tượng nên hành giả trở lại tâm hiệp thế (lokiyacitta).
Bậc chứng đắc Tuệ này nếu còn nằm trong ba cấp độ đầu của sự chứng đắc, tức Tu đà hoàn, Tư đà hàm và A na hàm, được gọi là bậc Hữu học (Sekkhapuggala). Nếu là bậc Alahán, ở Tuệ này vị ấy chỉ tác ý đến bốn trong năm pháp trên mà thôi, vì bậc Alahán không còn phiền não nữa. Tuy nhiên, không phải các bậc Hữu học đã đạt đến giai đoạn Tuệ này đều phải tác ý đến tất cả năm pháp kể trên. Một số vị, do tuệ mạnh, chỉ tác ý ba pháp đầu mà không cần phải phản khán lại các phiền não.

^^^^

(Dứt đoạn trích dẫn và tóm lượt, và để hiểu rõ hơn xin đọc bài Minh Sát Tu Tập Vipassanā Bhavana, do Tỳ Kheo Pháp Thông dịch. )

(page 46) The series of knowledges arises when the firm and concentrated mỉnd is kept focused on the meditation subject. The first knowledge to arise, the Knowledge of Delimitation of Mind-and- Matter, is obtained with the completion of the first three puriñcations (i.e. Purification of Virtue, Purification of Mind and Purification of View). It is by bringing this first knowledge to maturity in three ways — internally, externally, and both internally and externally — that the Puriication of View is completed. Purification of View is implicit in the Knowledge of Delimitation of Mind-and-Matter, and is reached on. attaining this knowledge. But as yet the insight knowledges proper (vipassanäñäna) have not arisen. The insight knowledges are ten in number, ranging from the Knowledge by Comprehension to Conformity Knowledge. They are founded upon the Purification of View and Puri- fication by Overcoming Doubt, which in turn are founded upon the two roots, Purification of Virtue and Purification of Mind.

(trang 46) Trình tự các tuệ giác phát sinh khi tâm kiên định và tập trung vào đề mục thiền định. Tuệ giác đầu tiên phát sinh, tuệ phân biệt danh-sắc, đạt được khi hoàn thành ba lần thanh lọc đầu tiên (tức là thanh lọc đức hạnh, thanh lọc tâm trí và thanh lọc quan điểm). Bằng cách đưa tuệ giác đầu tiên này đến độ chín muồi theo ba cách — bên trong, bên ngoài và cả bên trong và bên ngoài — thì sự thanh lọc quan điểm mới được hoàn thành. Sự thanh lọc quan điểm ẩn chứa trong tuệ giác về sự phân biệt danh-sắc, và đạt được khi đạt được tuệ giác này. Nhưng cho đến lúc này, tuệ giác thực sự (vipassanäñäna) vẫn chưa phát sinh. Có mười tuệ giác, từ tuệ giác do hiểu biết đến tuệ giác phù hợp. Chúng được xây dựng trên nền tảng của Sự thanh lọc quan điểm và Sự thanh lọc bằng cách vượt qua sự nghi ngờ, và lần lượt được xây dựng trên hai gốc rễ, Sự thanh lọc đức hạnh và Sự thanh lọc tâm trí.

To attain the Knowledge of Delimitation of Mind-and-Matter, the meditator, having purified his mind through the successful practice of concentration, focuses his attention on his meditation subject, which could be a hair, a skeleton, the rising and falling movements of the abdomen. (i.e. the wind-element as a tactile object), or mindfulness of breathing. As he goes on attending to that meditation subject, he begins to understand it as consisting of two aspects — a material aspect and a mental aspect, together called “mind-and-matter” (nãma-rūpa).

Để đạt được Tuệ phân biệt Danh - Sắc, thiền giả, sau khi thanh lọc tâm trí của mình thông qua việc thực hành thành công thiền định, tập trung sự chú ý của mình vào đề mục thiền định, có thể là một sợi tóc, một bộ xương, sự chuyển động phồng lên và xẹp xuống của bụng. (tức là yếu tố gió như một vật thể xúc giác), hoặc chánh niệm về hơi thở. Khi hành giả tiếp tục chú ý đến đề mục thiền định đó, hành giả bắt đầu hiểu nó bao gồm hai khía cạnh — tâm và thân, cùng được gọi là "danh-và-săc" (nãma-rūpa).

(page 47) As a rule, one first becomes aware of those parts pertaining to the material aspect of the meditation subject. Whatever parts pertain to its mental aspect attract one's attention later. But sometimes both the mental and material aspects become manifest to the meditator at once. The meditator may even feel that the meditation subject is actually impinging on his mỉnd.

(trang 47) Theo quy luật, trước tiên hành giả nhận thức được những phần liên quan đến sắc pháp của chủ đề thiền. Bất kỳ phần nào liên quan đến khía cạnh danh pháp của nó đều thu hút sự chú ý của hành giả sau đó. Nhưng đôi khi cả khía cạnh danh và sắc đều hiện rõ với người thiền cùng một lúc. Người thiền thậm chí có thể cảm thấy rằng chủ đề thiền thực sự đang tác động vào tâm của mình.

In mindfulness of breathing, for instance, the in-breaths and out-breaths belong to matter while the awareness of them is reckoned as miỉnd. Normally, the in-breaths and the out-breaths strike against the tip of the nose or the tupper lip as they enter and go out. The meditator should pay attention only to the occurrence of in-breathing and out-breathing. He should not follow the in-breaths inside the body or outside it, speculating on what becomes of them, since this will hinder concentration. As the meditator continues to keep his calim mind on the point of contact of the air being inhaled and exhaled (i.e. either at the tip of the nose or on the upper lip), he begins to feel as though his

Trong chánh niệm về hơi thở, chẳng hạn, hơi thở vào và hơi thở ra thuộc về Sắc Pháp trong khi sự nhận thức về chúng được tính là Danh. Thông thường, hơi thở vào và hơi thở ra đập vào chóp mũi hoặc môi trên khi hơi thở đi vào và đi ra. Thiền sinh chỉ nên chú ý đến sự xuất hiện của hơi thở vào và hơi thở ra. Thiền sinh không nên theo dõi hơi thở vào bên trong hoặc đi ra bên ngoài cơ thể, suy đoán về những gì sẽ xảy ra với chúng, vì điều này sẽ cản trở sự tập trung. Khi thiền sinh tiếp tục giữ tâm tĩnh lặng của mình tại điểm tiếp xúc của không khí hít vào và thở ra (tức là ở chóp mũi hoặc trên môi trên), thiền sinh bắt đầu cảm thấy như thể tâm

(page 48)mỉnd approaches and strikes the meditation subject. This happens at a developed stage in his meditation when he becomes aware of the distinction between mind and matter. The mind has the nature of bending towards or leaping. towards an object. At first, every in-breath and out-breath appears as a compact unit. Later one begins to understand that the breath is a mass or heap. This is Delimitation of Matter. One then understands the awareness of the breath to be a series or “heap” of discrete thought-moments, each one a “heap” or mass of many. mental factors. This is Delimitation of Mind. The ability to understand Mind-and-Matter as a heap necessarily implies the ability to distinguish one thing from another, since a heap is, by definition, a group of things lying one on another.

(trang 48) của mình đang tiến đến và đập vào chủ đề thiền. Điều này xảy ra ở giai đoạn phát triển trong quá trình thiền của thiền sinh khi thiền sinh nhận thức được sự khác biệt giữa Danh và Sắc. Tâm (Danh) có bản chất là nghiêng về phía hoặc nhảy về phía một đối tượng. Lúc đầu, mỗi hơi thở vào và hơi thở ra xuất hiện như một đơn vị chặt chẽ. Sau đó, người hành giả bắt đầu hiểu rằng hơi thở là một khối hoặc một đống. Đây là sự phân định của Danh. Sau đó, hành giả hiểu rằng nhận thức về hơi thở là một chuỗi hoặc "nhóm" các khoảnh khắc suy nghĩ riêng biệt, mỗi khoảnh khắc là một "nhóm" hoặc khối của nhiều yếu tố tinh thần. Đây là sự phân định của Tâm. Khả năng hiểu Danh-và-Sắc như một đống nhất thiết ngụ ý khả năng phân biệt một thứ này với một thứ khác, vì một uẩn hay một nhóm, theo định nghĩa, là một nhóm các thứ nằm chồng lên nhau.

This is the preliminary stage of the Knowledge of Delimitation of Mind-and-Matter. At first this understanding is limited to the subject of meditation. Later on it spreads to the other parts of the body connected with the subjects of meditation until it comes to pervade the entire body. Still later the understanding extends outward towards other beings as well as inani- mate thỉngs, since the knowledge, when complete, is threefold: internal, external, and internal-and-external.

Đây là giai đoạn sơ khởi của Tuệ Phân Biệt Danh-và-Sắc. Lúc đầu, sự hiểu biết này chỉ giới hạn trong chủ đề hơi thở vào và hơi thở ra của thiền định. Sau đó, nó lan tỏa đến các bộ phận khác của thân có liên quan đến các chủ đề thiền định cho đến khi nó thấm nhuần toàn bộ cơ thể. Sau đó, sự hiểu biết mở rộng ra bên ngoài hướng đến các chúng sinh khác cũng như các vật vô tri, vì tri thức, khi hoàn thiện, có ba phần: bên trong, bên ngoài và bên trong-và-bên ngoài.

(page 49)

CHAPTER IV

PURIFICATION BY QVERCOMING DOUBT
(KANKHÃVITARANAVISUDDHI)

During the time of the Buddha there were ascet- ics who had raised such sceptical doubts about life as: “From where has this being come?” “What is his destiny?” etc. Even among those who could recollect their previous lives there 'were some who constructed misleading specula- tive theories. Some who had gained recollective knowledge and could see a limited number of their past lives went on to fabricate various speculatve views concerning the past that lay beyond their ken. Thus there were theories of a soul and of a creator God, as well as views denying causality and conditionality. Owing to. this điversity of views, sceptical doubt arises like the wavering in the mind of one who has reached a crossroad. The speculative views serve only to perpetuate that doubt.

(page 49)

CHAPTER IV

ĐOẠN NGHI TỊNH
(KANKHÃVITARANAVISUDDHI)

Vào thời Đức Phật, có những tu sĩ ngoại đạo đã nêu lên những nghi ngờ hoài nghi về cuộc sống như: “Chúng sinh này đến từ đâu?” “Số phận của nó là gì?” v.v. Ngay cả trong số những người có thể nhớ lại những kiếp trước của mình, cũng có một số người đã xây dựng những lý thuyết suy đoán sai lầm. Một số người đã có được kiến ​​thức hồi tưởng và có thể thấy một số kiếp trước của mình đã tiếp tục bịa đặt nhiều quan điểm suy đoán khác nhau về quá khứ nằm ngoài tầm hiểu biết của họ. Do đó, có những lý thuyết về linh hồn và về một vị Chúa sáng tạo, cũng như những quan điểm phủ nhận thuyết Nhân (hetu) Quả (Vipāka) và Liên Quan Tương Sinh hay Duyên Sinh (Paticca samuppada). Do sự đa dạng của các quan điểm này, sự nghi ngờ hoài nghi nảy sinh giống như sự dao động trong tâm của một người đã đến ngã ba đường. Những quan điểm suy đoán chỉ phục vụ để duy trì sự nghi ngờ đó.

These non-Buddhist ascetics had neither a Knowledge of Delimitation of Mind-and-Matter nor a Purification by Overcoming Doubr. They had. attained jhãna basing their thoughts on the soul theory. Due to their lack of understanding, they misinterpreted their meditative experience and became entangled in doubts and wrong views.

Những tu sĩ ngoại đạo không phải Phật tử này không có Kiến thức về Tuệ Phân Biệt Danh-Sắc cũng không có Thanh lọc bằng cách Vượt qua sự hoài nghi. Họ đã đạt được thiền jhãna dựa trên suy nghĩ của họ về lý thuyết linh hồn. Do thiếu hiểu biết, họ đã hiểu sai sự chứng đắc thiền định của mình và bị vướng vào những hoài nghi và tà kiến.

(page 50)To gain freedom from all doubts concerning the nature and pattern of existence, it is necessary. to understand the law of cause and effect, clearly. revealed to the world by the Buddha. This under- standing is called the Knowledge of Discerning Cause and Condition (Paccayapariggahañāṇa - Tuệ Nắm Bắt Duyên Khởi). 'With the maturing of this knowledge the Purification by Overcoming Doubt is brought to completion. Thus the second knowledge is obtained in the process of reaching the fourth purification. This Knowledge of Discerning Cause and Condition is also known as “knowledge of things-as-they-are” (yathäbhũta-ñāṇa), “right vision” (sammädassana) and “knowledge of relatedness of phenomena” (dhamma-tthitiñäna). Some who have had experi- ence in insight meditation in past lives are capable of discerning cause and condition immediately along with their discerning of mind-and-matter.

(trang 50)Để đạt được sự giải thoát khỏi mọi nghi ngờ liên quan đến bản chất (Sắc) và mô thức (Danh) của sự hiện hữu, điều cần thiết là phải hiểu rõ luật Nhân Quả còn được gọi là nghiệp báo đã được Đức Phật thuyết giảng cho thế gian. Sự hiểu biết này được gọi là Tuệ Phân Biệt Nhân và Duyên, là Tuệ nhận biết nhân của mỗi sắc pháp và danh pháp cùng sự tương duyên giữa hai pháp (Paccayapariggahañāṇa - Tuệ Phân Biệt Nhân Duyên). 'Với sự trưởng thành của trí tuệ này, Sự thanh lọc bằng cách vượt qua sự nghi ngờ được đưa đến sự hoàn thiện. Do đó, tuệ thứ hai đạt được trong quá trình đạt đến sự thanh lọc thứ tư. Trí tuệ phân biệt Nhân Duyên này cũng được gọi là "Trí biết như thật" (yathäbhũta-ñāṇa), "tầm nhìn đúng đắn" (sammädassana) và "trí tuệ về sự liên quan của các hiện tượng" (dhamma-tthitiñäna). Một số người đã có kinh nghiệm về thiền minh sát trong các kiếp trước có khả năng phân biệt nhân và duyên ngay lập tức cùng với sự phân biệt của họ về Danh và Sắc.

Owing to his Purification of View, the medi- tator goes beyond the perception of a “being” or “person.” Advancing to the Purification by Over- coming Doubt, he begins to understand that consciousness always arises depending on a par- ticular sense faculty and a sense object, that there is no consciousness in the abstract. As the Buddha says:

Nhờ vào sự Thanh lọc Quan Kiến, thiền giả vượt qua nhận thức về một “chúng sinh” hay “con người”. Tiến tới Thanh lọc bằng cách Đoạn Nghi ngờ, thiền giả bắt đầu hiểu rằng ý thức luôn phát sinh tùy thuộc vào một giác quan cụ thể và một đối tượng giác quan, rằng không có ý thức trong trừu tượng. Như Đức Phật đã nói:

(page 51) Just as, monks, dependent on whatever condition a fire burns, it comes to be reckoned in terms of that condition(that is to say), a fire that burns dependent on logs is reckoned as a “log-fire”; a fire that burns dependent on fagsots is reckoned as a “faggot-fire”; a fire that burns dependent on grass is reckoned as a “grass-fire”; a fire that burns dependent on cow-dung is reckoned as a “cow-dung- fire”; a fire that burns dependent on rubbish is reckoned as a “rubbish-fire” — even so, monks, consciousness is reckoned by the condition dependent on which it arises. A consciousness arising dependent on eye and forms is reckoned as an “eye-consciousness”; a conscious- ness arising dependent on ear and sounds is reckoned as an “ear-consciousness”; a consciousness arising dependent on nose and smells is reckoned as a “nose- consciousness”; a consciousness arising dependent on tongue and flavours is reckoned as a “tongue-consciousness”; a consciousness arising dependent on body and tangibles is reckoned as a “body- consciousness”; a consciousness arising dependent on mind and ideas is reckoned as a “mind-consciousness.”
Mahäatanhasamkhaya Sutta M.1,259ff.

Này các Tỷ-kheo, do duyên nào lửa sanh và lửa ấy có tên tùy theo duyên ấy: duyên củi, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa củi. Duyên vỏ gỗ bào, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa vỏ bào. Duyên cỏ, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa cỏ. Duyên phân bò, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa phân bò. Duyên trấu, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa trấu. Duyên đống rác, lửa sanh, lửa ấy gọi là lửa đống rác. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên, thức sanh, và thức ấy có tên tùy theo duyên ấy. Do duyên mắt và các sắc, thức sanh, và thức ấy có tên là nhãn thức. Do duyên tai và các tiếng, thức sanh, và thức ấy có tên là nhĩ thức. Do duyên mũi và các hương, thức sanh, và thức ấy có tên và tỷ thức. Do duyên lưỡi và các vị, thức sanh, và thức ấy có tên là thiệt thức. Do duyên thân và các xúc, thức sanh, và thức ấy có tên là thân thức. Do duyên ý và các pháp, thức sanh, và thức ấy có tên là ý thức.
Mahäatanhasamkhaya Sutta MN 38. Đại kinh Đoạn Tận Ái - HT Thích Minh Châu dịch

(page 52) Thus the meditator understands that eye- consciousness arises because of the eye and a visual object, and that owing to eye-contact there arise feeling, perception, volition and thought. This is a twofold understanding as it concerns thought and its cause, feeling and its cause, perception and its cause, and so on. At this stage it occurs to him that there is no “I” or “person” apart from the four categories: mind and its cause, and matter and its cause.

(trang 52) Do đó, thiền giả hiểu rằng nhãn thức phát sinh do mắt và đối tượng thị giác, và do tiếp xúc với mắt nên thọ, hành, thức và tưởng phát sinh. Đây là sự hiểu biết hai chiều vì nó liên quan đến suy nghĩ và nguyên nhân của nó, thọ và nguyên nhân của nó, tưởng và nguyên nhân của nó, v.v. Ở giai đoạn này, thiền giả nhận ra rằng không có “tôi” hay “người” ngoài bốn phạm trù: danh và nguyên nhân của nó, và sắc và nguyên nhân của nó.

The rise and fall of the abdomen now appear to him as an agglomeration of the wind-element. He recognizes the earth-element through the touch sensation at the tip of the nose together with the water-element associated with it. By means of the tactile sensation of warmth and coolness, he recognizes the fire-element. Now' that the miỉnd is free from the hindrances, there. is ample scope for wisdom. He understands that matter also arises due to a cause. If the meditator is wise enough, he will understand that this birth has been brought about by some action (kamma) of the past, and that it is the outcome of craving, ignorance and grasping. Whatever creature he sees is, for him, just another instance' of the four categories: mind and its cause, and matter and its cause.

Sự phồng lên và xẹp xuống của bụng bây giờ xuất hiện với hành giả như một sự kết tụ của nguyên tố gió. Hành giả nhận ra nguyên tố đất thông qua cảm giác xúc giác ở chóp mũi cùng với nguyên tố nước liên quan đến nó. Nhờ cảm giác xúc giác về sự ấm áp và mát mẻ, hành giả nhận ra nguyên tố lửa. Bây giờ, khi tâm đã thoát khỏi những chướng ngại, thì có nhiều phạm vi cho trí tuệ. Hành giả hiểu rằng vật chất cũng phát sinh do một nguyên nhân. Nếu hành giả đủ trí tuệ, hành giả sẽ hiểu rằng sự tái sinh này đã được tạo ra bởi một số hành động (nghiệp) trong quá khứ, và rằng đó là kết quả của sự ái dục, vô minh và nắm bắt. Bất kỳ sinh vật nào mà hành giả nhìn thấy, đối với hành giả, chỉ là một ví dụ khác của bốn phạm trù: danh và nguyên nhân của nó, và sẵc và nguyên nhân của nó.

(page 53)At this stage one has to step-up one's practice of mindfulness and full awareness. In every instance of a change of posture one should make a mental note of the action, as well as of the intention which impelled that acton. The mental noting should always register the preceding thought as well:

(trang 53) Ở giai đoạn này, người hành giả phải tăng cường thực hành chánh niệm và tỉnh giác. Trong mọi trường hợp thay đổi oai nghi, người hành giả phải ghi nhận hành động đó cũng như ý định thúc đẩy hành động đó. Việc ghi nhận trong tâm luôn phải ghi lại cả suy nghĩ trước đó:

1. 'intending to stand... intending to stand”
2. *standing... standing'.

1. 'có ý định đứng... có ý định đứng”
2. *đứng... đứng'.

'This method of making a mental note by way o£ cause and effect is helpful in understanding the relationship between the cause and the effect. The condition implied by the Knowledge of Discerning Cause and Condition is already found here. The meditator gradually comes to under- stand that thought is the result and that the object is its cause: “It is because there is a sound. that a thought-oEhearing (an auditory con- sciousness) has arisen....”

Phương pháp ghi nhớ tâm linh này theo cách nhân và quả rất hữu ích trong việc hiểu mối quan hệ giữa nhân và quả. Điều kiện được ngụ ý bởi Tuệ Phân biệt Nhân và Duyên đã được tìm thấy ở đây. Người thiền định dần dần hiểu rằng suy nghĩ là kết quả và đối tượng là nguyên nhân của nó: “Chính vì có âm thanh mà một ý nghĩ-Thính giác (một ý thức thính giác) đã phát sinh.

As he goes on making a note without a break, a skilful meditator would even feel as though his noting is happening automatically. It is not necessary to make a special effort to increase one's understanding of mental objects in this way. One should rather understand the objects as and when they come. Any conscious attempt to accelerate the process would only distract the mind from the subject of concentration and thus retard the power of understanding. If the meditator is well read in the Dhamma, he will be able to gain a quicker understanding by reflecting according to the Dhamma. One who is not so well read will take more tỉme to understand.

Khi tiếp tục ghi nhận không ngừng nghỉ, một người thiền giả khéo léo thậm chí sẽ cảm thấy như thể việc ghi nhận của mình đang diễn ra một cách tự động. Không cần phải nỗ lực đặc biệt để tăng cường sự hiểu biết của mình về các đối tượng tinh thần theo cách này. Thay vào đó, hành giả nên hiểu các đối tượng khi chúng xuất hiện. Bất kỳ nỗ lực có ý thức nào để đẩy nhanh quá trình này sẽ chỉ làm tâm mất tập trung khỏi chủ đề tập trung và do đó làm chậm lại sức mạnh của sự hiểu biết. Nếu thiền giả đọc kỹ về Giáo Pháp, hành giả sẽ có thể đạt được sự hiểu biết nhanh hơn bằng cách suy ngẫm theo Giáo Pháp. Một người không đọc nhiều sẽ mất nhiều thời gian hơn để hiểu.

(page 54)Some meditators gain the knowledge con- cerning the process of formations at the very outset. A meditator who is well advanced in regard to reflections on the Dhamma can arouse this knowledge while meditating on some subject of meditation, equipped with the Purification of Mind. This kind of knowledge is called the Knowledge of Discerning Mind-and-Matter together with Cause and Condition. That is, miỉnd and matter are understood together with. their cause and condition so that the knowledge of mindand-matter and the knowledge of cause and effect arise simultaneously. By developing this knowledge, the Purification by Overcoming. Doubt is attained.

(trang 54) Một số thiền giả đạt được kiến ​​thức liên quan đến quá trình hình thành ngay từ đầu. Một thiền giả tiến bộ về sự suy ngẫm về Pháp có thể khơi dậy kiến ​​thức này trong khi thiền về một số chủ đề thiền, được trang bị Thanh lọc Tâm. Loại kiến ​​thức này được gọi là Tuệ Phân biệt Danh-và-Sắc cùng với Nhân và Duyên. nghĩa là, danh và sắc được hiểu cùng với. nhân và duyên của chúng để kiến ​​thức về danh-và-sắc và kiến ​​thức về nhân và quả phát sinh đồng thời. Bằng cách phát triển kiến ​​thức này, Thanh lọc bằng cách Đoạn Nghi Tịnh đạt được

One who has reached the stage of Purifica- tion by Overcoming Doubt clearly understands the three phases of the round of becoming — the cycle of defilements, the cycle of action, and the cycle of results:

Hành giả đã đạt đến giai đoạn Thanh lọc bằng Đoạn Nghi Thanh Tịnh sẽ hiểu rõ ba giai đoạn của vòng luân hồi — chu kỳ ô nhiễm, chu kỳ hành động và chu kỳ kết quả:

The cycle of deñlements (Kilesavatthu) includes the defling tendencies of the mind such as ignorance, craving, specula- tỉve views and grasping.

Mười phiền não có tên gọi là Kilesavatthu (Tông phiền não) bao gồm những khuynh hướng làm suy yếu tâm trí như vô minh, tham ái, tà kiến và chấp thủ.

(page 55)The cycle of action (kammaṭṭhāna) is the functional aspect of those defilements, that is, the mass of actions, both wholesome and unwholesome.

(trang 55) Chu kỳ nghiệp (kammaṭṭhāna) là khía cạnh chức năng của những phiền não đó, tức là khối lượng các nghiệp, cả thiện và bất thiện.

The cycle of results (vipākavaṭṭi) consists in the pleasant and painful results of those actions.

Chu kỳ kết quả (vipākavaṭṭi) bao gồm những kết quả vui vẻ và đau khổ của những hành động đó.

This understanding is not based on assumptions. Ttis something that occurs to the meditator as an indubitable experience. At this stage although. real insight still has not yet reached completion, the mỉnd possesses great strength. This is a stage with special significance, since the meditator 'who has come this far becomes a “lesser Stream- enterer” (culla-sotäpanna). If he preserves this knowledge of conditionality intact up to the time of death, unimpaired by doubts and waverings, in his next existence he is certain not to be reborn into the four lower worlds: the hells, the world of afflicted spirits (petas), the animal kingdom, and the world of titans (asuras).

Sự hiểu biết này không dựa trên các giả định. Đây là điều xảy ra với thiền giả như một trải nghiệm không thể nghi ngờ. Mặc dù ở giai đoạn này, mặc dù tuệ giác thực sự vẫn chưa đạt đến sự hoàn thiện, nhưng tâm sở hữu sức mạnh to lớn. Đây là một giai đoạn có ý nghĩa đặc biệt, vì thiền giả đã đi đến được giai đoạn này sẽ trở thành một “Tiểu Tu Ðà Huờn” (culla-sotäpanna). Nếu hành giả giữ được kiến ​​thức về duyên khởi này nguyên vẹn cho đến lúc chết, không bị ảnh hưởng bởi những nghi ngờ và dao động, thì trong kiếp sống tiếp theo, hành giả chắc chắn sẽ không bị tái sinh vào bốn cõi thấp hơn: địa ngục, thế giới của những ngạ quỷ đau khổ (petas), thế giới súc sinh và thế giới a-tu-la (asuras).

For one who already possesses the five direct knowledges (abhiñña) — (1) the knowledge of the modes of psychic power, (2) the divine ear-element, (3) the penetration of other minds, (4) the knowledge of recollecting past lives, and (5) the knowledge of the passing away and re-arising of beings — it is sometimes possible,(page 56) on attaining this stage, to see past lives together with their causes and conditions. To some meditators, even the functioning of the internal organs of the body becomes visible. Some have visions of their chilđhood experiences. One who. has no direct knowledge can also arouse memories of his chilđhood and past lives if he dwells immersed in meditation to the exclusion of all 'worldly concerns and extraneous thoughts.

Đối với người đã đắc được năm năng lực cao siêu (abhiñña - thần thông) — (1) Biến hóa thông (iddhividhanñāṇa), tri thức về các phương thức của năng lực tâm linh, (2) Thiên nhĩ thông (dibbasota-dhātunñāṇa), (3) Tha tâm thông (cetopariyanñāṇa) sự thâm nhập vào các tâm khác, (4) Túc mạng thông (pubbenivāsanñāṇa) tri thức về việc nhớ lại các kiếp trước, và (5)Thiên nhãn thông (dibbacakkhunñāṇa) tri thức về sự chết và tái sinh của chúng sinh — đôi khi có thể (trang 56) khi đạt đến giai đoạn này, có thể thấy được các kiếp trước cùng với các nguyên nhân và điều kiện của chúng. Đối với một số thiền giả, ngay cả hoạt động của các cơ quan nội tạng của cơ thể cũng trở nên hữu hình. Một số có những hình ảnh về những trải nghiệm thời thơ ấu của họ. Một người không có trực tri cũng có thể khơi dậy những ký ức về thời thơ ấu và các kiếp trước của mình nếu hành giả đắm mình trong thiền định để loại trừ mọi 'chuyện của thế gian và những suy nghĩ không liên quan.

Samsära — the cycle of recurrent births and deaths — is perpetually kept in motion by speculative views and sceptical doubts. (See Sabbäsava Sutta, M.I,8.) With Purification of View, the mỉnd gains purity by extricating itself from speculative views. With Purification by Overcoming Doubt, the mind becomes pure through the removal of sceptical doubts. The abandonment of views and sceptical doubts at this stage is done merely by the substitution of opposites (Tadanga pàhàna). This abandonment by substitution of opposites is the abandoning of a particular unwholesome thought by means of an antithetical wholesome thought; it can be compared to the dispelling of darkness by lighting a lamp. The abandonment by suppression (Vikkhambhana pahäna), accomplished through serenity meditation, is more effective. By means of this method one can sometimes keep the five hindrances sup pressed even for a long time. The abandon- ment by cutting of (samuccheda pahäna), accomplished by the supramundane path- knowledge, completely eradicates the defile- ments together with their underlying tenden- cies so that they will never spring up again.

Samsära — vòng sinh tử luân hồi — liên tục chuyển động bởi những thân kiến và hoài nghi. (Xem Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc - Sabbäsava Sutta, MN 2) Việc Đoạn Nghi Tịnh, tâm đạt được sự thanh tịnh bằng cách diệt trừ thân kiến. Với vượt qua sự hoài nghi, tâm trở nên thanh tịnh thông qua việc loại bỏ những nghi ngờ hoài nghi. Việc từ bỏ thân kiến và hoài nghi ở giai đoạn này chỉ được thực hiện là thay thế bằng một sự chọn lựa tích cực (Tadanga pàhàna - phần xả đoạn hay trấn áp tạm thời). Sự từ bỏ bằng cách thay thế các mặt đối lập này là sự từ bỏ một ý nghĩ bất thiện cụ thể bằng một ý nghĩ lành mạnh đối lập; nó có thể được so sánh với việc xua tan bóng tối bằng cách thắp một ngọn đèn. Sự từ bỏ bằng cách trấn phục hay áp chế (Vikkhambhana pahäna), được thực hiện thông qua thiền định thanh tịnh, có hiệu quả hơn. Bằng phương pháp này, đôi khi hành giả có thể duy trì năm triền cái bị đè nén ngay cả trong một thời gian dài. Sự từ bỏ bằng cách tuyệt diệt hay bứng gốc (samuccheda pahäna), được thực hiện bởi con đường trí tuệ siêu thế, hoàn toàn diệt trừ các ô nhiễm cùng với các khuynh hướng tiềm ẩn của chúng để chúng không bao giờ xuất hiện trở lại.

(page 57)In insight meditation, the underlying tendencies to speculative views and sceptical doubts still persist. They are abandoned as a “cutting off" only by the path of Stream-entry. The erad- ication of the underlying tendencies to defilements in such a way that they will never arise again is a distinctive quality of supramundane states.

(trang 57) Trong thiền minh sát, khuynh hướng tiềm ẩn về thân kiến và hoài nghi vẫn còn tồn tại. Chúng chỉ bị loại bỏ như một “sự cắt đứt” khi chứng đắc quả vị Nhập Lưu. Việc xóa bỏ các khuynh hướng tiềm ẩn về ô nhiễm theo cách mà chúng sẽ không bao giờ phát sinh nữa là một phẩm chất đặc biệt của các trạng thái siêu thế.

The meditator engaged in cultivating virtue, concentration and wisdom should be as heedful in his task as a farmer diligently busying himsel£ in cultivating his field. What has to be done today must not be postponed for tomorrow: “Procrastination is the thief of time.” The first thing that gives trouble to a meditator sitting down to meditate is his own thoughts. The next troublemaker is pain. To combat thoughts, one has to be skilful in making a mental note of them. When the mind tries to play truant by leaving the meditation subject and going astray, one should make a mental note: 'Mind strays, mỉnd strays° If one goes on with mental noting. throughout the day, one can, to a great extent,(page 58) overcome stray thoughts. But pain is a far more formidable enemy. At first thoughts and pain both keep on troubling the meditator, but when. meditation shows some signs of progress, pain. appears as the more vicious of the two. Yet it has been a matter of experience that when medita- tion is well on its way to progress, one can even. overcome severe pains which earlier seemed insurmountable. Therefore, understanding the secret of success well, one should make such a. firm determination as: “I will not get up from this seat even if my bones break and the joints fall apart.”12

Người hành thiền tham gia vào việc vun trồng đức hạnh, sự tập trung và trí tuệ nên cẩn thận trong nhiệm vụ của mình như một người nông dân cần mẫn bận rộn với việc canh tác trên cánh đồng của mình. Những gì phải làm hôm nay không đượctrì hoãn lại đến ngày mai: "Sự trì hoãn là kẻ trộm thời gian". Điều đầu tiên gây rắc rối cho một thiền giả ngồi xuống để thiền là những suy nghĩ của chính họ. Kẻ gây rắc rối tiếp theo là nỗi đau. Để chống lại những suy nghĩ, hành giả phải khéo léo trong việc ghi nhận chúng trong tâm. Khi tâm cố gắng trốn tránh bằng cách rời khỏi đề mục thiền và đi lạc hướng, hành giả nên ghi nhận trong tâm: 'Tâm phóng dật, tâm phóng dật". Nếu hành giả tiếp tục ghi nhận trong tâm. suốt cả ngày, hành giả có thể, ở một mức độ lớn, (trang 58) chế ngự những suy nghĩ phóng dật. Nhưng nỗi đau là kẻ thù đáng sợ hơn nhiều. Lúc đầu, cả suy nghĩ và nỗi đau đều tiếp tục làm phiền người hành thiền, nhưng khi thiền cho thấy một số dấu hiệu tiến triển, nỗi đau xuất hiện như là kẻ thù hung dữ hơn trong hai kẻ thù. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy rằng khi thiền định đang trên đà tiến triển, hành giả thậm chí có thể vượt qua những cơn đau dữ dội mà trước đây dường như không thể vượt qua. Do đó, hiểu rõ bí quyết thành công, hành giả nên đưa ra chú nguyện vững chắc như: “Tôi sẽ không đứng dậy khỏi chỗ ngồi này ngay cả khi xương tôi gãy và các khớp xương bị tách rời.”12

Then the whole body will cool down, the pain will subside, and one will be able to go on sitting for a longer stretch of time. From that day onwards one will discover the ability to have longer sittings in meditation without pain. A meditator has to arouse the right amount of courage to overcome pain, thinking: “After all, this little suffering is not as oppressive as the suf- fering in hell.” Or, “Let me suffer this little pain. for the sake of the supreme bliss of Nibbãna.” An example is the venerable Lomasanäga Thera who endured piercing cold and scprching heat. Once while he was dwelling in in the Striving- hall in Piyanga Cave at Cetiyapabbata, he spent (page 59) wintry nights in the open air, reflecting on the sufferings in the inter-space hells, without losing. his meditation subject. Again, in summer he spent the daytime sitting in the open air intent on his subject of meditation. When a pupil of his said: “Venerable sir, here is a cool spot. Please come and sỉt here,” he retorted, “Friend, it is pre- cisely because I am afraid of the heat that I sat here” And he continued siting there having reflected on the burning heat in Avici-hell.13
-------------------------

Sau đó, toàn thân sẽ nhẹ nhàng, cơn đau sẽ dịu đi, và hành giả sẽ có thể ngồi lâu hơn. Từ ngày đó trở đi, hành giả sẽ khám phá ra khả năng ngồi thiền lâu hơn mà không đau. Một thiền sinh phải đủ can đảm để vượt qua cơn đau, nghĩ rằng: "Rốt cuộc, nỗi đau nhỏ này không áp bức bằng nỗi đau ở địa ngục." Hoặc, "Hãy để tôi chịu đựng nỗi đau nhỏ này. vì hạnh phúc tối thượng của Niết bàn." Một ví dụ là vị Alahan Lomasanäga Thera đã chịu đựng cái lạnh thấu xương và cái nóng thiêu đốt. Một lần khi đang ở trong hội trường trong hang Piyanga tại Cetiyapabbata, ngài đã dành (trang 59) những đêm mùa đông ngoài trời, suy ngẫm về những đau khổ ở địa ngục giữa không gian, mà không mất đi đề tài thiền định của mình. Một lần nữa, vào mùa hè, ngài dành ban ngày ngồi ngoài trời tập trung vào đề tài thiền định của mình. Khi một học trò của ngài nói: "Thưa ngài, đây là một nơi mát mẻ. Xin hãy đến ngồi đây,” ông ta đáp lại, “Bạn ơi, chính vì tôi sợ nóng nên tôi mới ngồi đây.” Và ông ta tiếp tục ngồi đó sau khi đã suy ngẫm về sức nóng thiêu đốt ở địa ngục Avici.13
-------------------------

12. “Let this body breskup, if it must let lumps of flesh lay scattered; let the pair of shins all apart from my knee-joints."(Mudita Thera, Thag. v.312)

13. MA. Commentary on Sabbäsava Sutta.

12. Dầu thân này hủy hoại, Từng miếng thịt tiêu mòn, Ðầu khớp xương hai gối, Ống chân làm ta ngã. (Mudita Thera, That. v.312) (HT Minh Châu dịch)

13. MA. Commentary on Sabbäsava Sutta.

(page 59) 'While engaged in insight meditation, attend- ing mentally to sections of formations, a medita- tor sometimes goes through experiences which reveal to him the very nature of formations. 'While sitting in meditation his entire body stiff- ens: this is how the earth-element makes itself felt. He gets a burning sensation at the points of contact: this is a manifestation of the fire- element. He is dripping with sweat: this is an illustration of the water-element. He feels as if his body is being twisted: here is the wind- element at work. These are just instances of the four elements announcing themselves with a “here-we-arel” A meditator has to understand this language of the four elements.

(trang 59) 'Trong khi thực hành thiền minh sát, chú ý đến các phần của các pháp hiện bày, đôi khi một thiền giả trải qua những trải nghiệm cho thấy bản chất thực sự của pháp hiện bay. 'Trong khi ngồi thiền, toàn thân của hành giả cứng lại: đây là nguyên tố đất tự cảm nhận. Hành giả có cảm giác nóng rát tại các điểm tiếp xúc: đây là biểu hiện của nguyên tố lửa. Hành giả đang nhỏ giọt mồ hôi: đây là hiện bày của nguyên tố nước. Hành giả cảm thấy như thể thân mình đang bị xoắn lại: đây là nguyên tố gió đang hoạt động. Đây chỉ là những ví dụ về bốn nguyên tố tự thông báo với "ở đây chúng ta đang ở đây" Một thiền giả phải hiểu ngôn ngữ này của bốn nguyên tố.

(page 60)

CHAPTER V

PURIFICATION BY KNOWLEDGE AND.
'VISION OE WHAT 1S PATH AND NOT-PATH
(MAGGAMAGGAÑÃNADASSANAVISUDDHI


(page 60)

CHAPTER V

Thanh lọc bằng cách thấu hiểu và nhận thấy thế nào là Con Ðường,
thế nào không phải là Con Ðường
(MAGGAMAGGAÑÃNADASSANAVISUDDHI - Ðạo Phi-đạo tri kiến tịnh)


The understanding of the distinction between. the direct path and its counterfeit, the misleading path, is referred to as Purification by Knowledge and Vision of What is Path and Not-Path. 'When the meditator arrives at this stage, he has already passed four stages of purification. It is noteworthy that the last three purifications (i.e. Purircation by Knowledge and Vision of What is Path and Not-Path, Purifcation by Knowledge and Vision of the Way, and Puriñcation by Knowledge and Vision) have the qualiication “Knowledge and Vision,” unlike the first four. Hence Purification by Knowledge and Vision of 'What is Path and Not-Path marks a significant turning point in the ascent through the purifications and the knowledges.

Hiểu được về sự khác biệt giữa con đường trực tiếp và con đường sai lầm của nó, được gọi là Thanh lọc bằng Kiến thức và Đạo Phi - đạo tri kiến tịnh. 'Khi thiền giả đạt đến giai đoạn này, hành giả đã vượt qua bốn giai đoạn thanh lọc. Điều đáng chú ý là ba giai đoạn thanh lọc cuối cùng (tức là Thanh lọc bằng Kiến thức và Đạo Phi - Đạo Tri Kiến Tịnh, Thanh lọc bằng Kiến thức và Tầm nhìn về Con đường, và Thanh lọc bằng Kiến thức và Tầm nhìn) có phẩm chất "Kiến thức và Tầm nhìn", không giống như bốn giai đoạn đầu tiên. Do đó, Thanh lọc bằng Kiến thức và Tầm nhìn về 'Đạo Phi và Đạo Tri Kiến Tịnh' đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình thăng tiến thông qua các quá trình thanh lọc và tri kiến.

By the time the meditator reaches this Purification by Knowledge and Vision of What is Path. and Not-Path, he has gained a certain degree of clarity owing to his Purification by Overcoming Doubt. Since he has eliminated obstructive views and doubts, his power of concentration is keener than ever. Now his concentration has reached maturity. His mind is virile and ener- getic. He understands the nature of phenomena, manifest to him as mind-and-matter, together with their causes and conditions.

Vào thời điểm thiền giả đạt đến Sự thanh lọc bằng Kiến thức và Tầm nhìn về Đạo Phi - Đạo Tri Kiến Tịnh, hành giả đã đạt được một mức độ sáng suốt nhất định nhờ Sự thanh lọc bằng cách Vượt qua thân kiến và hoài nghi. Vì hành giả đã loại bỏ những thân kiến và nghi ngờ cản trở, nên sức mạnh tập trung của hành giả sắc bén hơn bao giờ hết. Bây giờ sự tập trung của hành giả đã đạt đến sự trưởng thành. Tâm của hành giả mạnh mẽ và tràn đầy năng lượng. Hành giả hiểu được bản chất của các pháp hiện bày với hành giả như Danh-và-Sắc, cùng với các nguyên nhân và điều kiện của chúng.

(page 61)He has also gained two other significant advantages. The first is relief from stray thoughts, especially when he meditates without a break for the whole day; for such a meditator the stray thoughts arise only very rarely, and whereas earlier the stray thoughts that arose used to stay with him for a long while, now he can dismiss them summarily with a mere mental note. The second advantage is a significant reduction in the painful feelings that arise when. siting in meditation; to his great relief, the meditator finds that even though pains arise, he is now able to note them mentally without being distracted so that he can more easily keep his miỉnd on the subject of meditation. Even severe pains now appear to him as normal events rather than disturbances. This is the “conquest of pain,” a victory with a special significance.14 With this new-found strength the meditator carries on mental noting with great precision. Thỉs stage marks the final phase of the Purification by Overcoming Doubt.

(trang 61) Hành giả cũng đạt được hai lợi ích đáng kể khác. Thứ nhất là thoát khỏi những suy nghĩ lan man, đặc biệt là khi hành giả thiền định liên tục không nghỉ trong cả ngày; đối với một thiền giả như vậy, những suy nghĩ lan man chỉ xuất hiện rất hiếm khi, và trong khi trước đây những suy nghĩ lan man xuất hiện thường ở lại với hành giả trong một thời gian dài, thì giờ đây hành giả có thể xua tan chúng một cách mau chóng chỉ bằng một ghi nhận trong tâm. Lợi ích thứ hai là giảm đáng kể những cảm thọ đau đớn phát sinh khi ngồi thiền; thiền giả thấy nhẹ nhõm vô cùng khi thấy rằng ngay cả khi cơn đau phát sinh, giờ đây hành giả có thể ghi nhận chúng trong tâm mà không bị phân tâm để hành giả có thể dễ dàng giữ tâm vào chủ đề thiền định hơn. Ngay cả những cơn đau dữ dội giờ đây đối với hành giả cũng là những sự kiện bình thường chứ không phải là sự xáo trộn. Đây là “chiến thắng cơn đau”, một chiến thắng có ý nghĩa đặc biệt.(14) Với sức mạnh mới tìm thấy này, thiền giả tiếp tục ghi nhận trong tâm với độ chính xác cao. Giai đoạn này đánh dấu giai đoạn cuối cùng của Thanh lọc bằng cách Vượt qua thân kiến và hoài nghi.

14. In serenly meditation, siting for three hours without beïng harassed by. pain s regarded asthe %conquest of pain.

14. Trong thiền chỉ, hành giả ngồi trong ba giờ mà không bị quấy rầy bởi. nỗi đau được coi chinh phục nỗi đau.

1. Knowledge by Comprehension
(Sammasanañäna)

1.Tuệ thấu đạt, còn gọi là Thẩm sát tuệ.
(Sammasanañäna)

(page 62)Following the Purifñcaton by Overcoming Doubt, but preceding the next purification, Knowledge by Comprehension sets in, which in turn leads to Knowledge of Arising and Passing. Away. Knowledge of Arising and Passing Away occurs in two phases: an undeveloped phase and a mature phase. In the undeveloped phase certain interesting phenomena occur to the meditator, encouraging in their own right but potential distractions from the correct path of practice; these are called the ten imperfections oƑ insight. It is here that the Purification by Know- ledge and Vision of What is Path and Not-Path. comes in. This purification involves understand- ing that attachment to the ten imperfections of insight is the not-path, and that attending to the process of observation (ie. mental noting) proper to the way of insight, is the path. It is so. named because it purifies the person who attains it of the misconception that the not-path is the path.

(trang 62) Tiếp theo thanh lọc bằng cách Vượt qua Sự nghi ngờ, nhưng trước lần thanh lọc tiếp theo, Trí tuệ bằng Sự hiểu biết bắt đầu, đến lượt nó dẫn đến Tuệ quán chiếu trạng thái sanh diệt (của các hành, tức của danh-sắc). Tuệ sanh diệt. Tuệ quán chiếu trạng thái sanh diệt xảy ra theo hai giai đoạn: giai đoạn chưa phát triển và giai đoạn trưởng thành. Trong giai đoạn chưa phát triển, một số hiện tượng thú vị xảy ra với thiền giả, khuyến khích theo cách riêng của chúng nhưng có khả năng gây xao lãng khỏi con đường thực hành đúng đắn; chúng được gọi là mười sự bất toàn của tuệ giác. Đây chính là lúc Sự thanh lọc bằng Trí tuệ và Tầm nhìn về Đạo Phi và Đạo Tri Kiến Tịnh xuất hiện. Sự thanh lọc này bao gồm sự hiểu biết rằng sự gắn bó với mười sự bất toàn của tuệ giác là đạo phi, và rằng việc chú ý đến quá trình quan sát (tức là ghi nhận trong tâm) phù hợp với con đường của tuệ giác, chính là Đạo Tri. Nó được đặt tên như vậy vì nó thanh lọc hành giả đạt được nó khỏi quan niệm sai lầm rằng đạo phi chính là con đường.

(page 63) Knowledge by Comprehension (also called Comprehension by Groups) is the reflection on formations in terms of their three universal char- acteristics — impermanence (anicca), suffering (dukkha), and not-self (anatta). Such reflection. sets in between the Purification by Overcoming Doubt and the Purifcation by Knowledge and 'Vision of What is Path and Not-Path, but it does not fall into either of these two purifications by way of classification. The improvements in the meditators ability help him in building up his Knowledge by Comprehension which brings the proper understanding of the three characteris- tics. But the range of comprehension this know- ledge involves is not the same for everyone. For some meditators, the comprehension is broad and extensive; for others, its range is limited. The duration of the occurrence of this know- ledge also varies according to the way the forma- tỉons relating to mind-and-matter are reflected upon. The Buddhas comprehension of forma- tions pervaded all animate and inanimate objects in the ten thousand world-systems. The venerable Sãriputta's Knowledge by Comprehen- sion pervaded everything animate and inani- mate in the central region of India. The sutta expressions “all is to be đirectly known” (sabbam abhiññeyyam), and “all is to be fully known” (sabbam pariññeyyam) also refer to Knowledge by Comprehension. Here “all” (sabbam) does not mean literally everything in the world, but what- ever is connected with the five aggregates.

(trang 63) Tuệ thấu đạt (còn gọi là sự hiểu biết theo nhóm) là nhận thức danh-sắc là vô thường (anicca), khổ (dukkha) và vô ngã (anattā). (Phổ Thông Tướng) Sự phản ánh như vậy nằm giữa sự Thanh lọc bằng cách Vượt qua sự nghi ngờ và sự Thanh lọc bằng tri thức và 'Tầm nhìn về Đạo Tri Kiến Tịnh và Đạo Phi, nhưng nó không rơi vào bất kỳ sự thanh lọc nào trong hai sự thanh lọc này theo cách phân loại. Sự cải thiện trong khả năng của thiền giả giúp hành giả xây dựng Tri thức bằng sự hiểu biết của mình, mang lại sự hiểu biết đúng đắn về ba đặc tướng.Nhưng phạm vi hiểu biết mà kiến ​​thức này bao gồm không giống nhau đối với mọi người. Đối với một số thiền giả, sự hiểu biết rất rộng và sâu rộng; đối với những người khác, phạm vi của nó bị hạn chế. Thời gian xảy ra của kiến ​​thức này cũng thay đổi tùy theo cách các pháp hữu vi liên quan đến danh-và-sắc được phản ánh. Sự hiểu biết của Đức Phật về các hình thành đã thấm nhuần tất cả các vật thể hữu tình và vô tình trong mười ngàn hệ thống thế giới. Trí tuệ hiểu biết của Đại Đức Sãriputta đã thấm nhuần mọi thứ hữu tình và vô tình ở vùng trung tâm của Ấn Độ. Các câu kinh “ tất phải được hiểu bằng trực giác là tất cả đều vô thường, không như ý, và vô ngã.” (sabbam abhiññeyyam), và “tất cả đều phải được hiểu ” (sabbam pariññeyyam) cũng ám chỉ đến sự hiểu biết thấu đáo bởi trí tuệ trực giắc . Ở đây “tất cả” (sabbam) không có nghĩa đen là mọi thứ trên thế giới, mà là bất cứ thứ gì có liên quan đến năm uẩn.

(page 64) The formula of comprehension given in the Suttas says:

Any form whatever, whether past, future. or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near — all form he sees with right wisdom as it really is (thus): “This is not mine,” “This is not I am,” “This is not my sel£” Any feel- ings whatever... any perceptions what- ever... any formations whatever... any. consciousness whatever, whether past, future or present, internal or external, gross or subtle, inferior or superior, far or near — all consciousness he sees with right 'wisdom as it really is (thus): “This is not mine,” “This is not I am,” “This is not myself.” (A.I,171)

(page 64) Một đoạn kinh về tuệ tri như sau:

Bất kỳ sắc pháp nào, dù là quá khứ, tương lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao siêu, xa hay gần — mọi sắc pháp mà người ấy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ (như vậy): “Cái này không phải của tôi,” “Cái này không phải là tôi,” “Cái này không phải là bản ngã của tôi.” Bất kỳ cảm giác nào... bất kỳ nhận thức nào... bất kỳ hành nào... bất kỳ thức nào, dù là quá khứ, tương lai hay hiện tại, bên trong hay bên ngoài, thô hay tế, thấp kém hay cao siêu, xa hay gần — mọi thức pháp mà người ấy thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ (như vậy): “Cái này không phải của tôi,” “Cái này không phải là tôi,” “Cái này không phải là tự ngã của tôi.” (A.I,171)

Now, let-us see how an ordinary meditator can apply this formula as a guide to comprehension. Suppose the meditator is keeping his mind on his meditation subject — mindfulness of breath- ng, the rise-and-fall of the abdomen, or some- thing else. By now the subject of his meditation has gone beyond its conventional significance and is seen in terms of its ultỉimate constituents. For instance, if the meditation subject is a hair, t now manifests itself to him as the elements of earth, water, fire, air, colour, odour, flavour and nutritive essence. If the subject is mindfulness of breathing, it clearly appears as mind-and-matter

Bây giờ, chúng ta hãy xem một thiền sinh bình thường có thể áp dụng phương thức này như một hướng dẫn để hiểu như thế nào. Giả sử thiền sinh đang giữ tâm mình vào chủ đề thiền của mình — chánh niệm về hơi thở, sự phồng lên và xẹp xuống của bụng, hoặc một điều gì đó khác. Đến lúc này, chủ đề thiền của hành giả đã vượt ra ngoài ý nghĩa thông thường của nó và được nhìn nhận theo các thành phần cuối cùng của nó. Ví dụ, nếu chủ đề thiền là một sợi tóc, thì bây giờ nó biểu hiện với hành giả dưới dạng các yếu tố đất, nước, lửa, không khí, màu sắc, mùi, hương vị và tinh chất dinh dưỡng. Nếu chủ đề là chánh niệm về hơi thở, thì nó rõ ràng xuất hiện dưới dạng danh-và-sắc

(page 65)together with their causes and conditions. Now, as the meditator goes on attending to his medi- tation subject, the arising and the passing away. of those formations become apparent to him. He sees, as a present phenomenon, how the forma- tions of mind-and-matter connected with his subject of meditation keep on arising and passing away and undergoing destruction — all in heaps. The understanding of formations as a heap is followed by the understanding of each of them separately. It is the continuity and com- pactness (ghana) of that which conceals the impermanence of formations.

(trang 65) cùng với các nguyên nhân và điều kiện của chúng. Bây giờ, khi thiền giả tiếp tục chú tâm vào chủ đề thiền của mình, sự sinh và diệt của các hành đó trở nên rõ ràng với thiền giả. Thiền giả thấy, như một hiện tượng hiện tại, cách các hành của danh-và-sắc liên quan đến chủ đề thiền của mình tiếp tục sinh và diệt và trải qua sự hủy diệt — tất cả thành từng đống. Sự hiểu biết về các hành như một đống được theo sau bởi sự hiểu biết về từng hành riêng biệt. Đó là sự liên tục và sự cô đọng (ghana) của điều che giấu sự vô thường của các hành.

To understand them separately, to see the discrete phases within the process, is to under- stand the characteristic of impermanence. The impermanence of formations becomes clear to him in accordance with the saying: “Tt is imper- manent in the sense of undergoing destruction” (Ps.I,53). Once the nature of impermanence is apparent, the painful nature and not-self nature of formations become apparent as well.

Hiểu chúng một cách riêng biệt, thấy được những giai đoạn riêng biệt trong quá trình tu tập, là hiểu được đặc tính vô thường. Sự vô thường của các pháp trở nên rõ ràng với hành giả theo câu nói: “Nó vô thường theo nghĩa đang trải qua sự hủy diệt” (Ps.I,53). Một khi bản chất vô thường trở nên rõ ràng, bản chất đau khổ và bản chất vô ngã của các pháp cũng trở nên rõ ràng.

'When he makes a mental note of that under- standing, the range of understanding itself grows wider. This is Knowledge by Comprehen- sion, which comes as a matter of direct personal experience in the present. Based on this experi- ence, he applies the same principle by induction to the past and the future.

Khi hành giả ghi nhớ về sự hiểu biết đó, phạm vi hiểu biết tự nó trở nên rộng hơn. Đây là Kiến thức thông qua Sự hiểu biết, xuất phát từ kinh nghiệm cá nhân trực tiếp trong hiện tại. Dựa trên kinh nghiệm này, hành giả áp dụng cùng một nguyên tắc bằng cách áp dụng vào quá khứ và tương lai.

(page 66) He understands by inductive knowledge that all formations in the past were also subject to destruction. When he tunderstands the impermanence of past forma- tions, he makes a mental note of this under- standing as well. It also occurs to him that the same process, will go on in the future. Thus he concludes that all formations in the three periods of time are indeed impermanent. He makes a mental note of this understanding too. As Ít is said: “Understanding conclusively past, future and present states (of the five aggregates) by summarisation (in groups) is Knowledge by Comprehension” (Ps.I,53).

(trang 66) Hành giả hiểu bằng tri thức quy nạp rằng mọi sự hình thành trong quá khứ cũng phải chịu sự hủy diệt. Khi hành giả hiểu được tính vô thường của các sự hình thành trong quá khứ, hành giả cũng ghi nhận trong tâm về sự hiểu biết này. Hành giả cũng nghĩ rằng cùng một quá trình sẽ tiếp diễn trong tương lai. Do đó, hành giả kết luận rằng mọi sự hình thành trong ba thời thực sự là vô thường. Hành giả cũng ghi nhận trong tâm về sự hiểu biết này. Như đã nói: “Hiểu một cách thuyết phục các trạng thái quá khứ, tương lai và hiện tại (của năm uẩn) bằng cách tóm tắt (theo nhóm) là Tuệ thấu đạt” (Ps.I,53).

All three characteristics become clear to him in this way: “It is impermanent because it wears away. It is painful because it is terrifying. It is not-self because it is coreless.” At the stage of the Knowledge by Comprehension, the functioning. of the mind is extremely rapid.

Cả ba đặc tướng đều trở nên rõ ràng với hành giả : “Nó vô thường vì nó thay đổi. Nó đau khổ vì nó đáng sợ. Nó không phải là ngã vì nó không có cốt lõi.” Ở giai đoạn của Tuệ thấu đạt, hoạt động của tâm cực kỳ nhanh chóng.

The three modes of comprehension — by way Of past, future and present — are them- selves sufficient for breaking up the defilements. However, eight additional modes have been. indicated, grouped into four pairs: (1) internal- external, (2) gross-subtle, (3) inferior-superior, (4) far-near.

Ba phương thức hiểu biết — theo cách của Quá khứ, Tương lai và Hiện tại — tự chúng đã đủ để diệt trừ các ô nhiễm. Tuy nhiên, tám phương thức bổ sung đã được chỉ ra, được nhóm thành bốn cặp: (1) nội-ngoại, (2) thô-vi, (3) hạ-thượng, (4) xa-gần.

(page 67)These eight modes are not apprehended by everyone in the course of reflection on forma- tions. They occur with clarity only to those of keen insight. Together with the three temporal modes, these make up the eleven modes of com- prehension indicated in the formula.15

(trang 67) Tám phương thức này không được mọi người hiểu rõ trong quá trình suy ngẫm về sự hình thành. Chúng chỉ xuất hiện rõ ràng với những người có Tuệ thấu đạt hay còn gọi là Thẩm sát tuệ. Cùng với ba chế độ tạm thời, chúng tạo nên mười một chế độ hiểu được chỉ ra trong công thức.15

'When the meditator attends to his subject of meditation, the materiality connected with it is comprehended by way of the eleven modes. So too are the associated mental aggregates — feeling, perceptions, mental formations and consciousness. Earlier, the meditator regarded consciousness as a compact unit, but now, as comprehension develops, he understands that there are thousands of thoughts — a heap of them occuring in a series, thought after thought. From this the meditator realizes that the thoughts arisen earlier are no longer present and with this conviction the perception of the compactness of consciousness loses its basis. Thus he awakens to the fact of impermanence. Feelings arising in the mỉnd also become mani- fest as a heap — a series of distinct feelings flowing along without a pause. He becomes aware of the fact that a feeling disappears when he makes a mental note of it, and that along with it, the thought connected with the feeling also đisappears. It now dawns on him that the “contact pentad” made up of contact, feeling, perception, volition and consciousness — the primary components of the mind (in mind-and- matter) — are all impermanent.

Khi thiền giả chú tâm vào chủ đề thiền của mình, sắc pháp liên quan đến nó được hiểu thông qua mười một phương thức. Các uẩn tinh thần liên quan cũng vậy — thọ, tưởng, hành và thức. Trước đây, thiền giả coi ý thức là một đơn vị chặt chẽ, nhưng bây giờ, khi sự hiểu biết phát triển, thiền giả hiểu rằng có hàng ngàn suy nghĩ — một đống trong số chúng xuất hiện theo một chuỗi, suy nghĩ này đến suy nghĩ khác. Từ đó, thiền giả nhận ra rằng những suy nghĩ phát sinh trước đó không còn hiện diện nữa và với niềm tin này, nhận thức về sự chặt chẽ của ý thức mất đi nền tảng của nó. Do đó, thiền giả thức tỉnh với thực tế là vô thường. Cảm giác phát sinh trong tâm cũng trở nên rõ ràng như một đống — một loạt các cảm giác riêng biệt chảy trôi không ngừng. Thiền giả nhận thức được thực tế rằng một cảm giác biến mất khi thiền giả ghi nhận nó trong tâm , và cùng với nó, suy nghĩ liên quan đến cảm giác đó cũng biến mất. Bây giờ hành giả nhận ra rằng “ngũ giác tiếp xúc” bao gồm xúc, thọ, tưởng, hành và thức — những thành phần chính của tâm (trong danh-và-sắc) — đều vô thường.

15. Those specialised in the Abhidhamma doeuine of “ulimate categories" (paramantha-dhammna) desctibe the secton of [orations according to the .eleven modes gien above. Others are tunable to describe them in đetai! calthough they may comprehend the formrations aecording to those modes,

15. Những người thông thạo về Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) về “các phạm trù tối thượng” (paramantha-dhammna) mô tả phần [các bài diễn thuyết theo mười một phương thức đã nêu ở trên. Những người khác có thể điều chỉnh để mô tả chúng theo chi tiết mặc dù họ có thể hiểu các hình thức theo các phương thức đó,

(page 68) The meditator first has to reflect on his own set Of five aggregates. At this stage his contem- plation is not confined to his original meditation subject. Rather, contemplation pervades his entire body. He understands the nature of his whole body and makes a mental note of what- ever he understands. Thỉs is comprehension. Not only in regard to his own body, but concerning those of others, too, he gains a similar under- standing. He can clearly visualize his own body, as well as those of others, whenever he adverts to them. Thỉs is Knowledge by Comprehension.

Trang 68) Trước tiên, người hành thiền phải suy ngẫm về năm uẩn của chính mình. Ở giai đoạn này, sự quán chiếu của hành giả không chỉ giới hạn ở chủ đề thiền ban đầu. Thay vào đó, sự quán chiếu thấm nhuần toàn bộ cơ thể của hành giả. Người ấy hiểu bản chất của toàn bộ cơ thể mình và ghi nhớ trong đầu bất cứ điều gì người ấy hiểu. Đây là sự hiểu biết. Không chỉ liên quan đến cơ thể của chính mình, mà còn liên quan đến cơ thể của người khác, hành giả cũng đạt được sự hiểu biết tương tự. Hành giả có thể hình dung rõ ràng cơ thể của chính mình, cũng như cơ thể của người khác, bất cứ khi nào người ấy chú ý đến chúng. Đây là Tuệ thấu đạt.

Some meditators become acutely aware of the frail nature of their body as well. In the Dis- course to Mãgandiya, the Buddha gives the fol- lowing advice to the wandering ascetic Mãgandiya:

Một số thiền giả cũng nhận thức sâu sắc về bản chất yếu đuối của cơ thể mình. Trong bài giảng cho Mãgandiya, Đức Phật đưa ra lời khuyên sau đây cho nhà khổ hạnh du hành Mãgandiya:

And when, Mãgandiya, you have practised the Dhamma going the Dhamma-way, then, Mãgandiya, you will know for your- self, you will see for yourself, that these (fve aggregates) are diseases, boils and darts. (M.,512)

Và khi nào, Mãgandiya, ngươi đã thực hành Giáo pháp theo con đường Giáo pháp, thì, Mãgandiya, ngươi sẽ tự mình biết, ngươi sẽ tự mình thấy, rằng những (năm uẩn) này là bệnh tật, ung nhọt và mũi tên. (M.,512)

(page 69) This again, is a reference to the above- mentioned stage of comprehension. In the Discourse to Dighanakha, the Buddha expounded this method of comprehension in eleven ways:

(trang 69) Một lần nữa, đây là một tham chiếu đến giai đoạn hiểu biết được đề cập ở trên. Trong bài giảng cho Dighanakha, Đức Phật đã trình bày phương pháp hiểu biết này theo mười một cách:

But this body, Aggivessana, which has material shape, is made up of the four great primaries, originating from mother and father, a heaping up of rice and rice- gruel, impermanent by nature, of a nature to be rubbed and massaged, fragile and perishable — this body should be regarded as impermanent, as painful, as a disease, a boil, a dart, a calamity, an affliction, as alien, as disintegrating, as void, as not-self. M.1,500

Này Aggivessana, nhưng thân này có hình dạng sắc pháp, được tạo thành từ bốn nguyên tố chính, bắt nguồn từ mẹ và cha, cơm gạo và cháo gạo, bản chất là vô thường, có bản chất sắc pháp là phải được chà xát và xoa bóp, dễ vỡ và dễ hư hoại - thân này nên được xem là vô thường, là đau đớn, như một căn bệnh, một vết loét, một mũi tên, một tai họa, một sự đau khổ, như xa lạ, như đang tan rã, như trống rỗng, như vô ngã. M.1,500

The Buddha indicated the method of compre- hension in diferent ways, sometimes briefly, sometimes in detail, đepending on the particu- lar disciples power of understanding. The Patisambhidämagga gives forty modes of com- prehension:

Đức Phật chỉ ra phương pháp hiểu theo nhiều cách khác nhau, đôi khi ngắn gọn, đôi khi chi tiết, tùy thuộc vào khả năng hiểu biết cụ thể của từng đệ tử. Trong Chú giải Vô Ngại Giải Đạo Patisambhidämagga Aṭṭhakathā đưa ra bốn mươi cách hiểu:

(Seeing) the five agsregates as imperma- nent, as painful, as a đisease, a boil, a dai a calamity, an affliction, as alien, as disi tegrating, as a plague, a disaster, a terror, a menace, as ñckle, perishable, unendur- ng, as no protection, no shelter, no refuge, as empty, vain, void, not-self, as a danger, as subject to change, as having no core, as. the root of calamity, as murderous, as to be. annihilated, as subject to cankers, as formed, as Mãra's bait, as subject to birth, subject to ageing, subject to illness, subject to death, subject to sorrow, subject to. lamentation, subject to despair, subject to. defilement. Ps.II,238

Thấy ngũ uẩn là vô thường, là đau đớn, là bệnh tật, là ung nhọt, là tai ương, là đau khổ, là xa lạ, là tan rã, là bệnh dịch, là thảm họa, là nỗi kinh hoàng, là mối đe dọa, là hư nát, là không có sự bảo vệ, không có nơi trú ẩn, không nơi nương tựa, là trống rỗng, phù phiếm, vô ngã, là nguy hiểm, là có thể thay đổi, là không có cốt lõi, là gốc rễ của tai ương, là giết người, là bị hủy diệt, là có thể bị loét, là hình thành, là mồi của Ma-la, là có thể bị sinh, có thể bị già, có thể bị bệnh, có thể bị chết, có thể bị buồn rầu, có thể bị than khóc, có thể bị tuyệt vọng, có thể bị ô uế. Ps.II,238

(page 70)'These forty modes can be distributed among the three characteristics as follows, ten illustrating the characteristic of impermanence, twenty-five the characteristic of suffering, and five the char- acteristic of not-self.

(trang 70) Bốn mươi phương thức này có thể được phân bổ giữa ba đặc điểm như sau, mười đặc điểm minh họa cho vô thường, hai mươi lăm đặc điểm minh họa cho đau khổ còn gọi là bất toại nguyện và năm đặc điểm minh họa cho vô ngã.

Impermanence: impermanent, disintegrat- ing, fickle, perishable, unenduring, subject to change, having no core, to be annihi- lated, formed, subject to death.

Vô thường: không thường xuyên, tan rã, thất thường, dễ hư hoại, không bền vững, dễ thay đổi, không có cốt lõi, dễ bị hủy diệt, hình thành, dễ chết.

Suffering: painful, a disease, a boil, a đart, a calamity, an affliction, a plague, a. disaster, a terror, a menace, no protec- tion, no shelter, no refuge, a danger, the root of calamity, murderous, subject to cankers, Mãras bait, subject to birth, subject to ageing, subject to illness, subject to sorrow, subject to lamentation, subject to despair, subject to defilement.

Khổ đau: đau đớn, bệnh tật, ung nhọt, bất toại nguyện, tai ương, đau khổ, dịch bệnh, thảm họa, nỗi kinh hoàng, mối đe dọa, không được bảo vệ, không nơi trú ẩn, không nơi nương tựa, nguy hiểm, gốc rễ của tai ương, giết người, dễ bị loét, mồi của Ma-ra (chết), dễ bị sinh, dễ bị già, dễ bị bệnh, dễ bị buồn rầu, dễ than khóc, dễ tuyệt vọng, dễ bị ô uế.

Not-self: alien, empty, vain, void, not-self.

Vô ngã: không phải của mình, trống rỗng, phù phiếm, hư không, không phải là ta.

webmasters: Nguyễn Văn Hoà & Minh Hạnh

Trang kế | | trở về đầu trang | Home page |


web counter