(page 71) Out of these forty modes of comprehension, the meditator should reflect upon only those which. make sense to him. There is no harm in not being able to understand every mode. It is enough if one reflects on those one can understand. |
(trang 71) Trong bốn mươi phương thức nhận thức này, hành giả chỉ nên suy ngẫm về những phương thức có ý nghĩa với mình. Không có gì sai khi không thể hiểu được hết mọi phương thức. Chỉ cần suy ngẫm về những phương thức mà mình có thể hiểu là đủ. |
The meditator should understand exactly when this knowledge by comprehension becomes complete. Normally, there is a ten- dency to prolong the process of comprehension sỉnce one likes to go on reflecting in this way. For some meditators the process of comprehen- sion reaches its culmination within a short period, for others it takes longer. When the Knowledge by Comprehension, starting from the meditation subject, extends to the five aggre- gates of the meditator, and from there to exter- nai formations, so much so that the three characteristics occur to hỉm spontaneously and effortlessly in accordance with the norm of the Dhamma, and all animate and inanimate thỉngs appear to him as so many distinctive clusters of elements — then, at that stage the Knowledge by Comprehension can be regarded as complete. |
Thiền sinh cần hiểu chính xác khi nào sự hiểu biết này trở nên hoàn thiện. Thông thường, có khuynh hướng kéo dài quá trình hiểu biết vì có người thích tiếp tục suy ngẫm theo cách này. Đối với một số thiền sinh, quá trình hiểu biết đạt đến đỉnh cao trong một thời gian ngắn, đối với những người khác thì mất nhiều thời gian hơn. Khi Tuệ thấu đạt, còn gọi là Thẩm sát tuệ (Sammasanañäna), bắt đầu từ chủ đề thiền định, mở rộng đến năm uẩn của thiền sinh, và từ đó đến các hành uẩn bên ngoài, đến mức ba đặc tướng xảy ra một cách tự nhiên và không cần nỗ lực theo chuẩn mực của các Pháp, và tất cả các vật hữu tình và vô tình xuất hiện với người đó như rất nhiều nhóm yếu tố riêng biệt — thì, ở giai đoạn đó, sự hiểu biết có thể được coi là hoàn thiện. |
'When Knowledge by Comprehension devel- ops to this stage, the meditator applies himself to meditation with great enthusiasm. He is even reluctant to get up from his meditation seat, as he feels he can continue reflecting on formations for a long time without any trouble. Sometimes he is totally free from thoughts about matters outside his meditation subject. By now, as the Comprehension-Knowledge is well developed, he clearly understands the three characteristics. The arising and passing away of formations is fully manifest to him. As he sees how each part arises and passes away, even such thỉngs as a flame of a lamp, a cascade of water, or a sound, appear to him as so many particles and heaps. The parts and particles of all these thỉngs become manifest to him as discrete but inter- connected processes in the form of vibrations. They seem like a squirming swarm of worms. Even the body appears as a heap of fine elemen- tal đust in constant transformation. |
Khi Tuệ Thấu Đạt phát triển đến giai đoạn này, hành giả sẽ tự mình hành thiền với sự nhiệt tình hơn. Thậm chí, thiền giả còn miễn cưỡng đứng dậy khỏi chỗ ngồi thiền vì cảm thấy có thể tiếp tục suy ngẫm về các Hành trong một thời gian dài mà không gặp bất kỳ khó khăn nào. Đôi khi, hành giả hoàn toàn thoát khỏi những suy nghĩ về những vấn đề bên ngoài chủ đề thiền của mình. Đến lúc này, khi Tuệ Thấu Đạt đã phát triển tốt, hành giả hiểu rõ ba đặc tướng. Sự sinh và diệt của các hình thành được thể hiện đầy đủ với hành giả. Khi hành giả thấy cách từng phần sinh và diệt, ngay cả những thứ như ngọn lửa của một ngọn đèn, một thác nước, hay một âm thanh, đối với hành giả cũng xuất hiện như rất nhiều hạt và đống. Các bộ phận và hạt của tất cả những thứ này trở nên thể hiện với thiền giả như những quá trình riêng biệt nhưng có sự kết nối với nhau dưới dạng rung động. Chúng có vẻ giống như một đàn giun đang ngọ nguậy. Ngay cả cơ thể cũng xuất hiện như một đống bụi nguyên tố tinh tế đang biến đổi liên tục. |
(page 72) 2. _ The Ten Imperfections of Insight |
(page 72) 2. _Mười điều bất toàn của tuệ giác |
From the stage of Knowledge by Comprehen- sion up to the initial phase of the Knowledge of Arising and Passing Away, the meditator becomes aware of an increasing ability to medi- tate without difficulty. Extraneous thoughts have subsided, the mind has become calm, clear and serene. Owing to this serenity and non-distraction, defilements decrease and the mental continuum becomes highly purified; the body, too, manifests the same serenity. As he is engaged in contemplation in the initial phase o£ the Knowledge of Arising and Passing Away, the meditator has to be extremely cautious. For Ít is precisely at this point that the imperfections 0ƒ insight spring up, threatening to entice the tunwary meditator away from the right path of practice. The Visuddhimagsa (XX,105-125) describes ten such imperfections: |
Từ giai đoạn Tuệ Thấu Đạt cho đến giai đoạn đầu của Tuệ sanh diệt, Tuệ quán chiếu trạng thái sanh diệt (Udayabbaya ñāṇa) , thiền giả nhận thức được khả năng thiền định ngày càng tăng mà không gặp khó khăn. Những suy nghĩ không liên quan đã lắng xuống, tâm trở nên tĩnh lặng, sáng suốt và thanh thản. Nhờ sự thanh thản và không bị phân tâm này, các phiền não giảm đi và dòng tâm thức trở nên thanh lọc cao độ; thân cũng biểu hiện sự thanh thản tương tự. Khi thiền giả tham gia vào quá trình chiêm nghiệm trong giai đoạn đầu của Tuệ quán chiếu trạng thái sanh diệt (Udayabbaya ñāṇa), thiền giả phải cực kỳ thận trọng. Bởi vì chính tại thời điểm này, những khiếm khuyết của sự hiểu biết sâu sắc xuất hiện, đe dọa lôi kéo thiền giả rời xa con đường thực hành đúng đắn. Visuddhimagsa (XX, 105-125) mô tả mười điều khiếm khuyết như sau: |
(page 73) |
(trang 73) |
(2) knowledge (ñãna) (7) energy (paggaha) |
7. Sự cố gắng (Pakkaha). Sự cố gắng quá mức có thể khiến cho hành giả mệt mỏi, Tâm không rõ ràng. Thông thường, sự cố gắng và sự tập trung phải tương đồng. Quá nhiều cố gắng dẫn đến mệt mỏi, và tập trung quá mức (sati) sẽ khiến cho hành giả dừng lại sự tu tập... |
(3) rapturous delight (pït)) _ (8) assurance (upatthãng) |
8. Định quá mức (Uppathana). Chánh niệm quá mức có thể dẫn đến định quá mức và hành giả sẽ thấy nhiều ánh sáng (nimita - ấn chứng xuất hiện trước mắt). Hành giả sẽ mất đi các Pháp là đối tượng - nghĩa là hành giả sẽ xa rời khoảnh khắc hiện tại, và không thể tiếp tục. |
(4) calmness (passaddhi) (9) equanimity (upekkhã) |
9. Xả (Uppekha). Hành giả đôi khi tâm xả quá mạnh phát sinh, và hành giả tin tưởng sai lầm rằng mình không có phiền não - nó đã được đoạn diệt bởi Níp bàn: nhưng hành giả vẫn có phiền não của tà kiến, tham và sân chỉ đi qua tạm thời. Trong giai đoạn này hành giả không thể tiếp tục tu tập. |
(5) bliss (sukha) (10) attachment (nikanti). |
10. Sự dính mắc vào các cảm giác (nikanti). Hành giả trở nên thỏa thích với tất cả phiền não minh sát, và thỏa mãn khi ở lại với trạng thái này. Và vì thế hành giả không thể tiếp tục tu tập, làm cho đình trệ pháp hành. Hành giả phải tiếp tục gia tăng chánh niệm vào tất cả các hiện tượng. |
(1) Due to the developed state of his mind at this stage, a brilliant light appears to the medita- tor. At first he catches a glimpse of something like a lamplight in the distance. Even if there is no lamp inside his hut, he seems to see one even. with his eyes open. He then discovers that this light emanates from his own body. Though his teacher had instructed him to simply make a mental note of everything he sees, the meditator now pays no heed to those instructions. He con- cludes that the teacher had not foreseen this event and was mistaken on this point. |
(1) Do trạng thái phát triển của tâm ở giai đoạn này, một ánh sáng rực rỡ xuất hiện với thiền giả. Lúc đầu, thiền giả thoáng thấy một vật gì đó giống như ánh đèn ở đằng xa. Ngay cả khi không có ngọn đèn nào bên trong túp lều của mình, thiền giả dường như vẫn nhìn thấy một ngọn đèn ngay cả khi mở mắt. Sau đó, thiền giả phát hiện ra rằng ánh sáng này phát ra từ chính tâm mình. Mặc dù người thầy đã hướng dẫn thiền giả chỉ cần ghi nhớ mọi thứ mình nhìn thấy, thiền giả giờ đây không để ý đến những hướng dẫn đó. Thiền giả kết luận rằng người thầy đã không lường trước được sự kiện này và đã nhầm lẫn về điểm này. |
(page 74) He even presumes that he is now more developed in meditation than his teacher. So he continues to enjoy the illumination without making a mental note of it. In such situations as these a meditator must not fall into delusion. The teachers advice stems from the lineage of the Buddha and the Arahants. Therefore the meditator should regard his teacher's advice as i it were given to. him by the Buddha himself and be diligent in making mental notes. |
(trang 74) Hành giả thậm chí còn cho rằng mình đã phát triển hơn về thiền định so với thầy của mình. Vì vậy, hành giả tiếp tục tận hưởng sự giác ngộ mà không ghi nhớ trong tâm. Trong những tình huống như thế này, một thiền giả không được rơi vào ảo tưởng. Lời khuyên của thầy bắt nguồn từ lời dạy của Đức Phật và các vị A-la-hán. Do đó, thiền giả nên xem lời khuyên của thầy mình như thể nó được Đức Phật ban cho và phải siêng năng ghi nhớ trong tâm. |
A skilful meditator endowed with discretion would be more cautious in a situation like this. He, too, first thinks that this illumination is a sigøn of some supramundane attainment. But he recognizes a desire for this illumination, and wisely reflects that that desire would not have arisen in him if he had actually attained a supra- mundane stage. So he concludes that this could not possibly be the path, and dismisses the illu- mination with a mental note. In the same way he becomes aware that craving arises whenever he thinks: “This is my illumination,” and that conceit arises at the thought: “Even my teacher does not possess an illumination like mine.” Also, in conceiving his experience to be a supra- mundane stage, he recognizes that he is holding. a wrong view. So he refuses to be misled by the illumination and succeeds in abandoning this particular imperfection of insight. |
Một thiền giả khéo léo trong sự thận trọng sẽ thận trọng hơn trong một tình huống như thế. Trước tiên, hành giả cũng nghĩ rằng sự giác ngộ này là dấu hiệu của một số thành tựu siêu thế gian. Nhưng hành giả nhận ra một mong muốn về sự giác ngộ này, và khôn ngoan suy ngẫm rằng mong muốn đó sẽ không phát sinh trong mình nếu mình thực sự đạt được một giai đoạn siêu thế gian. Vì vậy, hành giả kết luận rằng đây không thể là con đường, và gạt bỏ sự giác ngộ bằng một ghi chú trong tâm. Tương tự như vậy, hành giả nhận ra rằng sự thèm muốn phát sinh bất cứ khi nào mình nghĩ: "Đây là sự giác ngộ của tôi", và rằng sự kiêu ngạo phát sinh khi nghĩ: "Ngay cả thầy của tôi cũng không có sự giác ngộ như của tôi". Ngoài ra, khi quan niệm trải nghiệm của mình là một giai đoạn siêu thế gian, hành giả nhận ra rằng mình đang nắm giữ một quan điểm sai lầm. Vì vậy, hành giả từ chối bị sự giác ngộ đánh lừa và thành công trong việc từ bỏ sự không hoàn hảo cụ thể này của sự hiểu biết. |
(page 75) (2) The same approach applies to the remaining imperfections. The meditator gains a remarkable insight into the meaning of canonical statements, doctrinal points and terms. Whatever words he reflects on now reveal to him a depth of meaning he had never previously seen in them. He mistakes this for discriminative wisdom (patisambhidã), and interpreting it as a supramundane quality, becomes enthusiastic in preaching. As a result, his meditation suffers a setback. This is the imperfection called “knowledge.” The skilful meditator, however, who discerns the craving, conceit and views behind this imperfection, concludes that this is the not-path, abandons it, and moves on to the right path of mental noting. |
(trang 75) (2) Cách tiếp cận tương tự áp dụng cho những khuyết điểm còn lại. Thiền giả đạt được sự hiểu biết sâu sắc đáng kể về ý nghĩa của các tuyên bố kinh điển, các điểm giáo lý và thuật ngữ. Bất kỳ từ nào mà hành giả suy ngẫm bây giờ đều tiết lộ cho hành giả một chiều sâu ý nghĩa mà trước đây mình chưa từng thấy trong chúng. Hành giả nhầm lẫn điều này với trí tuệ phân tích (patisambhidã), và diễn giải nó như một phẩm chất siêu thế, trở nên nhiệt tình trong việc thuyết giảng. Kết quả là, thiền định của hành giả gặp phải một sự thất bại. Đây là khuyết điểm được gọi là "kiến thức". Tuy nhiên, thiền giả khéo léo, người nhận ra sự thèm muốn, tự phụ và tư kiến đằng sau khuyết điểm này, kết luận rằng đây là con đường không phải, từ bỏ nó và chuyển sang con đường đúng đắn của sự ghi nhận trong tâm trí. |
(3) Because of his progress in comprehension, the meditator becomes transported with joy. Uplifting joy arises in him like heaving waves of the sea. He feels as though he is sitting in the air or on a cushion stuffed with cotton-wool. Here, again, the unskilful medi- tator is deceived. The skilful meditator, how- ever, applies the same method of discernment as he did in the case of illumination. Regard- ing this imperfection as a manifestation of craving, conceit and wrong view, he frees himself from its deceptive influence. |
(3) Vì sự tiến bộ trong sự lĩnh hội, thiền giả trở nên vui sướng. Niềm vui nâng cao nảy sinh khởi như những con sóng biển nhấp nhô trong hành giả. Hành giả cảm thấy như thể mình đang ngồi trên không trung hoặc trên một chiếc đệm nhồi bông. Ở đây, một lần nữa, thiền giả bị ảo tưởng. Tuy nhiên, thiền giả khéo léo áp dụng cùng một phương pháp phân biệt như đã làm trong trường hợp giác ngộ. Xem sự bất toàn này là biểu hiện của lòng tham, kiêu ngạo và tà kiến, hành giả giải thoát mình khỏi ảnh hưởng lừa dối của nó. |
(page 76) |
(trang 76) |
(5) As he is contemplating arising and passing away, a sublime happiness pervades the meditators body and mind. Uneasiness and pain disappear. Here, too, the unskilful meditator is deceived, while the skilful one recognizes the imperfection and overcomes it. |
(5) Khi thiền sinh quán chiếu về sự sinh diệt, một niềm hạnh phúc cao cả tràn ngập thân tâm của thiền sinh. Sự bất an và đau đớn biến mất. Ở đây, thiền sinh không khéo léo cũng bị lừa dối, trong khi thiền sinh khéo léo nhận ra sự bất toàn và vượt qua nó. |
(6) Sometimes the meditator becomes inspired by an intense faith in the Triple Gem (the Buddha, the Dhamma and the Sangha), in his meditation teacher and in his meditation subject. Enthusiasm overwhelms him, like a fiood of water gushing forth from a dam. Ecstatic with inspiration, the meditator wants to spend most of his time worshipping and preach- ing. He feels impelled to write letters to his rela- tỉves instructing them in the Dhamma. Due to excessive faith, he even starts crying, which makes him seem ridiculous. Thỉs wave of enthu- siasm is also an obstacle that must be checked by. mental noting. Here, too, the skilful meditator reflects wisely and recognizing the imperfection, Treturns to the path. |
(6) Đôi khi, thiền giả có đức tin mãnh liệt vào Tam Bảo (Đức Phật, Pháp và Tăng), vào thiền sư và vào đề mục thiền của mình. Sự nhiệt tình tràn ngập hành giả, giống như một dòng nước phun ra từ một con đập. Quá phấn khích với cảm hứng, thiền giả muốn dành phần lớn thời gian của mình để thờ phụng và thuyết giảng. Hành giả cảm thấy bị thúc đẩy phải viết thư cho người thân của mình để hướng dẫn họ về Pháp. Do đức tin quá mức, hành giả thậm chí còn bắt đầu khóc, điều này khiến hành giả có vẻ lố bịch. Làn sóng nhiệt tình này cũng là một chướng ngại phải được kiểm soát bằng cách ghi nhận trong tâm. Ở đây, thiền giả khéo léo cũng phản ánh một cách sáng suốt và nhận ra sự không hoàn hảo, Quay trở lại con đường. |
(page 77) |
(trang 77) |
(8) The meditator also discovers that mind- fulness comes effortlessly. Whenever he focuses his attention on some object, mindfulness is already present there, almost automatically. Due to this effortless awareness called “assurance,” the unskilled meditator imagines hiỉmself to possess the perfect mindfulness of the Arahants; thus he is deceived. The skilful meditator, on the other hand, recognizes the craving, conceit and view behind this idea and passes beyond it. |
8) Thiền giả cũng khám phá ra rằng chánh niệm đến một cách dễ dàng. Bất cứ khi nào hành giả tập trung sự chú ý của mình vào một đối tượng nào đó, chánh niệm đã có mặt ở đó, gần như tự động. Do nhận thức không cần nỗ lực này được gọi là “sự bảo đảm”, thiền giả thiếu kỹ năng nên ảo tưởng là mình sở hữu chánh niệm hoàn hảo của các vị A-la-hán; do đó, hành giả bị lừa dối. Ngược lại, thiền giả có kỹ năng nhận ra sự thèm muốn, kiêu ngạo và tư kiến đằng sau ý tưởng này và vượt qua nó. |
(page 78) |
(trang 78) |
(10) The subtle imperfection of insight called “attachment” is one which is latent in all other imperfections. The unskilful meditator conceives a subtle attachment to hỉs insight which is adorned with such marvellous things as illumina- tion; thus he is carried away by craving, conceit and view. The skilful meditator uses his discern- ing wisdom and frees himself from the influence. |
(10) Sự bất toàn tinh tế của tuệ giác được gọi là “sự dính mắc” là một sự khiếm khuyết tiềm ẩn trong mọi sự khiếm khuyết khác. Thiền giả không khéo léo hình thành một sự dính mắc tinh tế vào tuệ giác được tô điểm bằng những điều kỳ diệu như sự giác ngộ; do đó, hành giả bị cuốn đi bởi lòng tham, sự kiêu ngạo và tư kiến. Thiền giả khéo léo sử dụng trí tuệ phân biệt của mình và giải thoát mình khỏi ảnh hưởng. |
(page 79) 3. The Path and the Not-Path |
(page 79) 3. Đạo và Phi Đạo |
(page 80)CHAPTER VỊ VISION OF THE WAY (PATIPADAÑÄNADASSANAVISUDDHI) 1. The Three Full Understandings (Pariññä) |
(page 80)CHAPTER VỊ (PATIPADAÑÄNADASSANAVISUDDHI) 1. Ba loại biến tri (Pariññä) |
In the course of developing insight meditation, a meditator passes through three mundane (lokiya) stages of realization before he reaches the level of the supramundane (lokuttara). These three stages, called the mundane full tuunderstandings, are designated: |
Trong quá trình tu tập thiền minh sát, một hành giả trải qua ba giai đoạn thế gian (lokiya) của sự chứng ngộ trước khi đạt đến mức độ siêu thế (lokuttara). Ba giai đoạn này, được gọi là ba loại biến tri, được chỉ định như sau: |
(1) full understanding as the known. (ñãtapariññä), |
(1) Trí đạt tri (ñãtapariññä), là sự liễu tri do hiểu biết tướng riêng biệt của các Pháp, như là biết rõ "Sắc có đặc tính bị bức não, Thọ có đặc tính bị tác động v.v..." |
(2) full understanding as investigating (tiranapariññä), |
(2) Thẩm đạt tri (Tīraṇapariññā), là sự liễu tri do thẩm sát tướng phổ thông của các pháp hữu vi, như là thẩm sát "Sắc là vô thường, thọ là vô thường v.v..." |
(3) full understanding as abandoning (pahãnapariññä). |
3. Trừ đạt tri (pahānapariññā), là sự liễu tri do đoạn trừ nghịch tưởng, điên đảo kiến, như đoạn trừ tưởng kiến thấy là thường do nhận thấy tướng vô thường v.v... |
(1) The plane of full understanding as the known extends from the Knowledge of Delimita- tion of Mind-and-Matter through the Knowledge of Discernment of Conditions. The function exercised in this stage is the understanding of the individual nature of phenomena. In brief this understanding extends simply to the salient characteristics of phenomena. Thus the medita- tor understands that the earth-element has the characteristic of hardness, the water-element that of trickling, the fire-element that of heat, the air-element that of distending, the mind that of cognizing, feeling that of being felt, and so on. In đetail it covers the four defining modes of any phenomena: its characteristic, function, mani- festation and proximate cause. The full under- standing as the known enables the meditator to. grasp the essential nature of phenomena, which. Ït presents in terms of ultimate categories. |
(1) Trí đạt tri (ñãtapariññä), là hiểu biết đầy đủ như cái đã biết mở rộng từ Tri thức về Phân định Tâm và Sắc qua Tri thức về Phân biệt các Pháp. Chức năng được thực hiện trong giai đoạn này là hiểu biết tướng riêng lẻ của các Pháp. Tóm lại, sự hiểu biết này chỉ mở rộng đến các đặc điểm nổi bật của các Pháp. Do đó, thiền giả hiểu rằng nguyên tố đất có đặc điểm là cứng, nguyên tố nước có đặc điểm là lỏng, nguyên tố lửa có đặc điểm là nóng, nguyên tố gió có đặc điểm là giãn nở, tâm trí có đặc điểm là nhận thức, cảm giác có đặc điểm là được cảm nhận, v.v. Chi tiết, nó bao gồm bốn phương thức xác định của bất kỳ hiện tượng nào: đặc điểm, chức năng, biểu hiện và nguyên nhân gần của nó. Sự hiểu biết đầy đủ như cái đã biết cho phép thiền giả nắm bắt được bản chất cốt lõi của các Pháp. Nó trình bày dưới dạng các phạm trù tối hậu. |
(page 81) |
(trang 81) |
(3) Full understanding as abandoning, the highest mundane stage of realization, involves the systematic abandoning of defilements by the substitution ofopposites (tadangappahana), ie. by the development of particular insights which eclipse defiled erroneous notions from. the mind. This stage starts from the Knowledge of Dissolution and culminates in the Knowledge of Equanimity about Formations. In this stage, as the ignorance obscuring the true nature of formations dissolves and things are seen for what they are, deflements begin to be dis- persed. They are compelled to quit the recesses of the mind, and the more they vacate, the more strength of understanding the mind gains. |
(3) Trừ đạt tri (pahānapariññā), là sự hiểu biết đầy đủ như là từ bỏ, giai đoạn thế tục cao nhất của sự chứng ngộ, bao gồm việc từ bỏ một cách có hệ thống các ô nhiễm bằng cách thay thế các pháp đối lập (tadangappahana), tức là bằng cách phát triển các hiểu biết cụ thể làm lu mờ các quan niệm sai lầm ô nhiễm khỏi tâm trí. Giai đoạn này bắt đầu từ Bhaṅga ñāṇa hay bhangānupassanā-ñāṇa là Tuệ quán chiếu trạng thái hoại diệt của danh-sắc, là Tuệ diệt và đạt đến đỉnh cao trong Saṅkhārupekkhā ñāṇa Tuệ Xả Hành, quân bình, thản nhiên đối với tất cả các Hành. Trong giai đoạn này, không bị vô minh che khuất bản chất thực sự của các hành, và mọi thứ được nhìn thấy thật như chúng là, các ô nhiễm bắt đầu bị diệt trừ. Chúng bị diệt trừ từ các ngóc ngách của tâm , và chúng càng rời xa, thì sức mạnh của sự hiểu biết mà tâm trí đạt được càng lớn. |
(page 82)A meditator will find it useful to bear in mind this threefold division of mundane full under- standing and its relation to the purifications and the stages of knowledge. |
(trang 82) Người hành thiền sẽ thấy hữu ích khi ghi nhớ ba cách phân chia này về sự hiểu biết đầy đủ trần tục và mối quan hệ của nó với sự thanh lọc và các giai đoạn của kiến thức. |
2. The Progress of Insight Knowledge |
2. Những Giai Đoạn Thanh Lọc |
(page 83)Purication by Knowledge and Vision of the 'Way comprises eight stages of knowledge: |
(trang 83) Thanh lọc tâm và tầm nhìn về 'Đạo' bao gồm tám giai đoạn thanh lọc: |
1. Knowledge of Contemplation of Arising and 'Passing Away (udayabbayanupassan añäna) |
1. Tuệ quán chiếu trạng thái sanh diệt (của các hành, tức của danh-sắc). Tuệ sanh diệt. (udayabbayanupassana ñäna) |
2. Knowledge of Contemplation of Dissolution (bhangãnupassanañãna) |
2. Tuệ quán chiếu trạng thái hoại diệt của danh-sắc. Tuệ diệt. (bhangãnupassanañãṇa) còn gọi là Hoại tán tuệ |
3. Knowledge of Appearance as Terror (bhayupatthänañäna) |
3. Tuệ kinh sợ (bhayupatthänañäna) còn gọi là Kinh úy tuệ |
4. Knowledge of Contemplation of Danger (ädinavãnupassanäñäna) |
4. Tuệ quán chiếu hiểm họa (ädinavãnupassanäñäna), còn gọi là Nguy hại tuệ |
5. Knowledge of Contemplation of Disenchantment (nibbidãnupassanäñãna) |
5. Tuệ quán chiếu sự chán nản (nibbidãnupassanäñãna), còn gọi là Yếm ố tuệ |
6. Knowledge of Desire for Deliverance (muñcitukamyatãäñana) |
6. Tuệ muốn giải thoát (muñcitukamyatãäñana), còn gọi là Cầu thoát tuệ |
7. Knowledge of Contemplation of Reflection (patisankhãnupassanäñäna) |
7. Tuệ quán chiếu sự suy tư (patisankhãnupassanäñäna), còn gọi là Trạch sát tuệ |
8. Knowledge of Equanimity about Eormations (sankhärupekkhäñäna). |
8. Tuệ xả về các hành (sankhärupekkhäñäna), còn gọi là Hành xả tuệ |
Knowledge in Conformity with Truth or Conformity Knowledge (anulomañäna) is also in- cluded in this purification as a ninth stage of knowledge. |
Tuệ Thuận Thứ (anulomañäna) cũng được bao gồm trong quá trình thanh lọc này như là giai đoạn thanh lọc thứ chín. |
(page 84)(1) Knowledge oƒ Contemplation oƒ Arising and Passing Away. Purification by Knowledge and Vision of the Way starts with the mature phase of the Knowledge of Arising and Passing. Away, which sets in after the meditator has dis- pelled the deception posed by the imperfections of insight, either through his own unaided efforts or with the help of the teachers instruc- tỉons. He obtains this purification in the course of reflecting on his meditation subject with the pure undeluded mind now well on its way to true insight. |
(trang 84)(1) Tuệ quán chiếu trạng thái sanh diệt (của các hành, tức của danh-sắc). Tuệ sanh diệt. (udayabbayanupassanañäna). Sự thanh lọc bằng Tri Kiến Thanh Tịnh (Ñāṇadassanavisuddhi), là tên gọi của con đường Tuệ Đạo (maggañāṇa), bắt đầu với giai đoạn trưởng thành của Tuệ quán chiếu trạng thái sanh diệt. Giai đoạn này bắt đầu sau khi thiền giả đã xua tan sự ảo tưởng do những bất toàn của tuệ giác gây ra, thông qua những nỗ lực không được hỗ trợ của chính mình hoặc với sự giúp đỡ của người thiền sư. Hành giả đạt được sự thanh lọc này trong quá trình suy ngẫm về chủ đề thiền định của mình với tâm trong sáng không bị mê hoặc hiện đang trên con đường hướng đến tuệ giác thực sự. |
The Knowledge of Contemplation of Arising and Passing Away is defined thus: “The wisdom. in contemplating the change of present phenom- ena is the Knowledge of Contemplation of Arising and Passing Away” (Ps.l,1). It is by contemplating formations as present phenomena. that this particular knowledge is attained. Before this, the reflection on formations took stock of all three temporal modes — past, present and future; but now it is concentrated only on the present. This is a necessary step for seeing the change of formations, ¡.e. the altera- tion of the present condition. In order to see impermanence, one has to perceive the charac- teristic of passing away, and for passing away to. be seen, the event of arising must also be seen. The Knowledge of Arising and Passing Away involves the seeing of both arising and dissolu- tion. At this stage, the process of arising and dis- solution becomes manifest to the meditator in the very subject of meditation he has taken up. |
Tuệ quán chiếu trạng thái sanh diệt của các hành, tức của danh-sắc (udayabbayanupassanañäna) được định nghĩa như sau: “Trí tuệ quán chiếu về sự thay đổi của các pháp hiện tại là Trí tuệ quán chiếu về sự sinh khởi và diệt vong” (Ps.l,1). Bằng cách quán chiếu các pháp như các hiện tượng hiện tại, trí tuệ đặc biệt này đạt được. Trước đó, sự phản chiếu về các hiện tượng đã kiểm kê cả ba thời gian — quá khứ, hiện tại và tương lai; nhưng bây giờ nó chỉ tập trung vào hiện tại. Đây là một bước cần thiết để thấy được sự thay đổi của các pháp, tức là sự thay đổi của trạng thái hiện tại. Để thấy được sự vô thường, hành giả phải nhận thức được đặc điểm của sự diệt của các pháp, và để sự diệt được nhìn thấy, sự sinh cũng phải được nhìn thấy.Trí tuệ về sự sinh và diệt bao gồm việc nhìn thấy cả sự sinh khởi và sự tan rã. Ở giai đoạn này, quá trình sinh khởi và hoại diệt trở nên rõ ràng với người thiền định trong chính đề mục thiền định mà người đó đã chọn. |
(page 85)'Now that he has passed the dangers posed by the imperfections of insight, the meditator proceeds with greater determination in his work of contemplation. All the three characteristics of existence now become clear to him in a reasoned manner. Though these characteristics appeared to him already in the early phase of the Know- ledge of Arising and Passing Away, they were not so clear then because of the adverse influ- ence of the imperfections. But with the imperfec- tions gone, they stand out in bold relief. |
(trang 85) Bây giờ, khi hành giả đã vượt qua được những nguy hiểm do sự không hoàn hảo của tuệ giác gây ra, hành giả tu tập với quyết tâm lớn hơn trong công việc quán chiếu của mình. Cả ba đặc tướng của sự hiện hữu giờ đây trở nên rõ ràng với hành giả theo cách hợp lý. Mặc dù những đặc tướng này đã xuất hiện với hành giả ngay từ giai đoạn đầu của Tuệ quán chiếu trạng thái sinh và diệt, nhưng khi đó chúng không rõ ràng như vậy vì ảnh hưởng bất lợi của những sự không hoàn hảo. Nhưng khi những sự không hoàn hảo đã biến mất, chúng nổi bật lên một cách rõ nét. |
Since the highroad of insight knowledge begins with the Knowledge of Arising and Passing Away, the meditator should be espe- cially acquainted with this particular knowledge. He requires a thorough understanding of the three characteristics — impermanence, suffering and not-self— each of which has two aspects: |
Vì con đường cao nhất của trí tuệ minh sát bắt đầu bằng Tuệ quán chiếu trạng thái sanh diệt (của các hành, tức của danh-sắc). Tuệ sanh diệt. (udayabbayanupassanañäna) , nên thiền giả phải đặc biệt quen thuộc với tuệ đặc biệt này. Hành giả cần hiểu biết thấu đáo về ba đặc tướng — vô thường, khổ và vô ngã — mỗi đặc tướng có hai khía cạnh: |
(1) that which is impermanent and the characteristic of impermanence; |
(1) Vô thường và đặc tính của vô thường; |
(2) that which is suffering and the characteristic of suffering; |
(2) Đau khổ và đặc điểm của đau khổ; |
(3) that which is not-self and the characteristic of not self. |
(3) Vô ngã và đặc tính của vô ngã |
(page 86)The referent of the first set of terms — i.e. that which is impermanent, suffering and not-self — is the five aggregates. The characteristic of impermanence is the mode of arising and passing away; the characteristic of suffering is the mode of being continually oppressed; the characteristic of not-self is the mode of insuscep- tibility to the exercise of power. The five aggre- gates are thus impermanent because they arise and pass away, suffering because they are con- tinually oppressed, and not-self because there is no exercising power over them. The Patisam- bhiđãmagga explains the three characteristics thus: “(t is) impermanent in the sense of wearing away. (It is) suffering in the sense of bringing terror. (It is) not-self in the sense of corelessness” (Ps.I,53). |
(trang 86) Đối tượng tham chiếu của cụm từ đầu tiên — tức là những gì vô thường, khổ và vô ngã — là năm uẩn. Đặc điểm của vô thường là khởi sinh và hoại diệt; đặc điểm của khổ là bất toại nguyện ; đặc điểm của vô ngã là đề cập đến thật tánh của pháp, nó không thể tồn tại một cách độc lập. Năm uẩn do đó là vô thường vì chúng sinh ra và diệt hoại, khổ vì chúng liên tục bất như ý, và vô ngã vì không thể tồn tại một cách độc lập. Chú giải Vô Ngại Giải Đạo (Patisam-bhiđãmagga) giải thích ba đặc điểm như sau: “(nó) vô thường theo nghĩa là hao mòn. (Nó) đau khổ theo nghĩa mang lại nỗi kinh hoàng. (Nó) vô ngã theo nghĩa là không có lõi” (Ps.I,53). |
All the three characteristics are to be found in the five aggregates. The aim of the insight meditator should be to arouse within himself an understanding of these three characteristics. This kind of effort might appear, at first sight, as a mental torture. But when one con siders the solace which this beatific vision yields, one will realize that in all the three worlds there is no worthier aim than this. As the Buddha says: “To that monk of serene mind who has entered an empty house and sees with right insight the Dhamma, there arises a sublime delight transcending the human plane” (Dhp. 373). |
Cả ba đặc tướng đều có trong năm uẩn. Mục đích của thiền giả minh sát là trong chính mình có sự hiểu biết về ba đặc tướng này. Thoạt nhìn, loại nỗ lực này có vẻ như là một sự tra tấn về tinh thần. Nhưng khi hành giả cân nhắc đến sự an ủi mà tầm nhìn hạnh phúc này mang lại, hành giả sẽ nhận ra rằng trong cả tam giới không có mục đích nào xứng đáng hơn thế này. Như Đức Phật đã nói: |
(page 87)The characteristic of impermanence is concealed by continuity. The characteristic of suffering is covered up by the change of postures. The characteristic of not-self is overcast with compactness. |
(trang 87) Đặc tính vô thường trong năm uẩn khó nhận dạng ra vì bị che khuất bởi tính liên tục. Đặc tính bất toại nguyện (đau khổ) của năm uẩn bị che khuất bởi sự thay đổi tư thế. Đặc tính vô ngã của năm uẩn bị che phủ bởi tính cô đọng. |
The process of formations needs to be ana- lyzed. Once it is seen as a heap or series, imper- manence is understood. By resisting the impulse to change ones postures, suffering is understood. By analyzing the mass of forma- tỉons into its constituents — earth, water, fire, air, contact, feeling, etc., the characteristic of not-self becomes evident. When these three characteristics become clear to the meditator, he is in a position to carry on his meditation well. |
Tiến trình của các hành cần được phân tích. Một khi nhìn thấy các hành như một đống hoặc một chuỗi, vô thường được hiểu. Bằng cách chống lại sự thúc đẩy thay đổi tư thế của hành giả, sự bất toại được hiểu. Bằng cách phân tích các hành thành các thành phần của nó — đất, nước, lửa, không khí, tiếp xúc, cảm giác, v.v., đặc điểm của vô ngã trở nên rõ ràng. Khi ba đặc tướng này trở nên rõ ràng với thiền giả, anh ta ở trong một vị trí để thực hiện thiền định của mình tốt. |
As the meditator goes on attending to his meditation subject, the subject begins to appear to him as clearly as it did at the stage of compre- hension. Now, when the formations which make up mind-and-matter become manifest to him, he is able to distinguish the material and mental components of his meditation subject. If, for example, he takes the rise and fall of the abdomen as his subject, he comes to understand that within one rising movement of the abdomen there is a multiplicity of such move ments and that within one falling movement there is also a series of similar movements. He can also see mentally that a series of thoughts arises along with this process, taking each frac- tional movement as object. If he attends to the in-breathing and out-breathing as the subject of his meditation, he can mentally distinguish between the numerous phases of the wind- element connected with the process. He is also. aware that a series of thoughts arises, cognizing. each phrase. |
Khi hành giả tiếp tục chú tâm vào đề mục thiền của mình, đề mục bắt đầu xuất hiện với hành giả rõ ràng khi ở giai đoạn hiểu biết. Bây giờ, khi các hành tạo nên danh-và-sắc trở nên rõ ràng với hành giả, anh ta có thể phân biệt cái nào là sắc và cái nào là danh của đề mục thiền của mình. Ví dụ, nếu hành giả lấy sự phồng lên và xẹp xuống của bụng làm đề mục, hành giả chú tâm vào bụng và ghi nhận sự chuyển động phồng lên xẹp xuống của bụng từ lúc khởi đầu cho đến khi chấm dứt. Hành giả sẽ hiểu rằng đây là sự quán sát yếu tố chuyển động hay yếu tố gió của bụng biểu hiện qua sự phồng, sự chuyển động của bụng, và trong một chuyển động xẹp xuống cũng có một loạt các chuyển động tương tự. Hành giả cũng có thể thấy trong tâm rằng một loạt các suy nghĩ phát sinh cùng với quá trình này, lấy mỗi chuyển động phân đoạn làm đối tượng. Nếu hành giả chú tâm vào hơi thở vào ra làm đề mục thiền của mình, hành giả chánh niệm tỉnh giác niệm hơi thở vào ra như sau: Biết rõ hơi thở vào dài, biết rõ hơi thở ra dài, biết rõ hơi thở vào ngắn, biết rõ hơi thở ra ngắn. Nhờ biết rõ hơi thở dài ngắn nên tâm được tịnh, không còn tán loạn; nhờ không tán loạn nên thành tựu chánh niệm. Nhờ niệm và tuệ phát sinh nên biết rõ hơi thở dài, ngắn ban đầu của nó, hành giả có thể phân biệt trong tâm giữa nhiều giai đoạn của nguyên tố gió liên quan đến quá trình. Hành giả cũng nhận thức được rằng một loạt các suy nghĩ phát sinh, nhận thức chúng. từng ý nghĩ. |
(page 88) 'When he is able to distinguish in this manner, his mind traverses his entire body, making it the subject of meditation. He understands that his entire body is a heap of elemental dust. Ít occurs to him that this heap of elemental dust compos- ing his body is always in a state of motion, like the fine dust motes seen floating in the air when. viewed against the sun's rays. At this stage his miỉnd does not wander towards other objects. His attention is now fully engrossed in meditation. 'When he becomes aware of the components of matter and mỉnd as heaps, series or masses, he begins to see the arising and the passing away of those distinct parts. |
(trang 88) 'Khi hành giả có thể phân biệt theo cách này, tâm của hành giả nhìn toàn bộ thân của hành giả, biến nó thành đề mục của thiền định của mình. Hành giả hiểu rằng toàn bộ thân của mình là một đống bụi nguyên tố. Hành giả chợt nghĩ rằng đống bụi nguyên tố này cấu thành cơ thể của hành giả luôn ở trạng thái chuyển động, giống như những hạt bụi mịn được nhìn thấy lơ lửng trong không khí khi nhìn ngược lại với tia nắng mặt trời. Ở giai đoạn này, tâm của hành giả không lang thang đến các đối tượng khác. Sự chú ý của hành giả bây giờ hoàn toàn đắm chìm trong thiền định. 'Khi hành giả nhận thức được các thành phần của sắc và danh như những đống, chuỗi hoặc khối, hành giả bắt đầu thấy sự sinh và diệt của những phần riêng biệt đó. |
Here, one has to take into account another important fact, namely, that all the phenomenat subsumed under mind-and-matter pass through. three stages: (1) arising (uppäda), (2) persist ence (thiri), and (3) dissolution (bhanga). Birth, decay and death occur even within a very short period of time just as much as within the dura- tion of a long period. Of these three stages, “arising” or “birth” and “dissolution” or “death” are apparent. The intermediate stage of “persist- ence” or “decay” is not so clear. “Arising” is the beginning of impermanence, “persistence” its middle and “dissolution” its end. |
Ở đây, hành giả phải tính đến một sự kiện quan trọng khác, cụ thể là, tất cả các hiện tượng được bao gồm trong danh-và-sắc đều trải qua ba giai đoạn: (1) sinh, khởi đầu một sự sống(uppäda), (2) hoại, diễn tiến hay trải dài cho đến khi chấm dứt (thiri), và (3) chết, sự chấm dứt hay biến mất của một sự sống (bhanga). Sinh, hoại và tử xảy ra ngay cả trong một sát na cũng như trong khoảng thời gian của một thời gian dài. Trong ba giai đoạn này, "sinh khởi" hoặc "sinh" và "tan rã" hoặc "chết" là rõ ràng. Giai đoạn trung gian của "hiện hữu" hoặc "tan rã" thì không rõ ràng lắm. "Sinh " là khởi đầu của vô thường, "trụ" là giữa của vô thường và "tan rã" là kết thúc của vô thường. |
(page 89)The three characteristics — impermanence, suffering and not-self — are now very clear to the meditator. Impermanence is mentally dis- cernible to him as if it were something visible to. his very eyes. Four things appear with clarity before his calm mind: (1) the arising, (2) the cause of arising, (3) the dissolution, (4) the cause of dissolution. The knowledge which. arises together with this clarity of vision is the Knowledge of Arising and Passing Away. At whatever moment this knowledge dawns upon. a meditator at an experiential level as a “realisation,” he should do well to stop at that point for a considerable period of time in order to reflect upon it over and over again. The Knowledge of Arising and Passing Away is a signiñ- cant starting-post. Since greater acquaintance with it will come in useful to a meditator even in the matter of reattaining to fruition (phalasamäãpatti, one can contemplate with the Knowledge of Arising and Passing Away even a hundred or a thousand times. |
(trang 89) Ba đặc tính — vô thường, khổ và vô ngã — giờ đây rất rõ ràng đối với thiền giả. Vô thường có thể nhận biết được bằng tâm như thể nó là thứ gì đó có thể nhìn thấy bằng chính mắt của thiền giả. Bốn điều xuất hiện rõ ràng trước tâm tĩnh lặng của thiền giả: (1) sự phát sinh, (2) nguyên nhân phát sinh, (3) sự tan rã, (4) nguyên nhân tan rã. Kiến thức phát sinh cùng với sự sáng tỏ của tầm nhìn này là Tuệ quán chiếu trạng thái sanh diệt (của các hành, tức của danh-sắc). (udayabbayanupassanañäna). Bất cứ lúc nào kiến thức này xuất hiện. một hành giả ở cấp độ kinh nghiệm như một “sự nhận thức”, hành giả nên dừng lại ở điểm đó trong một khoảng thời gian đáng kể để suy ngẫm về nó nhiều lần. Tuệ quán chiếu trạng thái sanh diệt (của các hành, tức của danh-sắc). (udayabbayanupassanañäna). là một điểm khởi đầu quan trọng. Vì sự hiểu biết sâu sắc hơn về nó sẽ có ích cho một thiền giả ngay cả trong vấn đề chứng đạt quả vị (phala-samäãpatti = Chứng đạt, là tên gọi của 8 tầng thiền định của các cõi sắc giới và vô sắc giới, đôi khi được thêm vào như là thành tựu tầng thứ 9, Nhập Ðịnh Diệt (nirodhasamāpatti) So sánh với jhāna.), người ta có thể quán chiếu với Trí tuệ về sự sanh diệt thậm chí một trăm hay một nghìn lần. |
(page 90) Now, the meditator who has developed the Knowledge of Arising and Passing Away and repeatedly practised it, directs his mind to his subject of meditation. The process of arising and passing away then becomes manifest to him in that very subject. Even in raising his arm and putting it down, he can visualize the beginning, the middle and the end of the process of arising. and passing away. But sometimes the middle is not clearly discernible. This is also so in the case of the rising and falling movements of the abdo- men. In mindfulness of breathing, the begin- nỉng, the middle and the end of the in-breaths and the out-breaths are apparent. The mỉind does not wander. As the meditator continues to keep his meditative attention on the meditation subject, after some time the beginning and the middle stages of the process seem to disappear. Only its end is apparent. When attending to the rising movement of the abdomen, the beginning. and the middle become almost indiscernible. Only the end is apparent. So also in the case of the falling movement of the abdomen. In raising. the arm and lowering it or in lifting the foot and. putting it down, the beginning and the middle are not apparent. Only the end of each process stands out. In the case of the in-breaths and the out-breaths, the in-coming and the out-going are not felt. All that the meditator feels is the touch sensation left by the in-breaths and the out- breaths at the tip of the nose or on the upper lip where they normally strike as they pass. And this is so palpable to him that he can almost hear its rhythm — “tuck-tuck-tuck.” He is not aware of any other object. |
(trang 90) Bây giờ, hành giả đã phát triển Tuệ về sự sanh diệt và thực hành nhiều lần, hướng tâm mình vào đề mục thiền của mình. Sau đó, quá trình sanh diệt trở nên rõ ràng với thiền giả trong chính đề mục đó. Ngay cả khi giơ cánh tay lên và đặt xuống, hành giả vẫn có thể hình dung được phần đầu, phần giữa và phần cuối của quá trình sanh diệt. Nhưng đôi khi phần giữa không thể phân biệt rõ ràng. Điều này cũng đúng trong trường hợp chuyển động phồng lên và xẹp xuống của bụng. Trong chánh niệm về hơi thở, phần đầu, phần giữa và phần cuối của hơi thở vào và hơi thở ra đều rõ ràng. Tâm không phóng dật. Khi hành giả tiếp tục duy trì sự chú ý của mình vào đề mục thiền, sau một thời gian, phần đầu và phần giữa của quá trình dường như biến mất. Chỉ có phần cuối của nó là rõ ràng. Khi chú ý đến chuyển động phồng lên của bụng, phần đầu. và phần giữa trở nên gần như không thể phân biệt được. Chỉ có phần cuối là rõ ràng. Cũng vậy trong trường hợp chuyển động xẹp xuống của bụng. Khi nâng cánh tay lên và hạ xuống hoặc khi nhấc chân lên và đặt xuống, phần đầu và phần giữa không rõ ràng. Chỉ có phần cuối của mỗi quá trình nổi bật. Trong trường hợp hít vào và thở ra, hơi thở vào và hơi thở ra không được cảm nhận. Tất cả những gì hành giả cảm thấy là cảm giác chạm do hơi thở vào và hơi thở ra để lại ở chóp mũi hoặc trên môi trên, nơi chúng thường chạm vào khi đi qua. Và điều này quá rõ ràng đối với anh ta đến nỗi hành giả gần như có thể nghe thấy nhịp điệu của nó — “tuck-tuck-tuck.” Hành giả không nhận thức được bất kỳ đối tượng nào khác. |
(page 91) Sometimes a meditator, on reaching this stage, might think that his meditation has suf- fered a setback since the meditation subject is no. longer clear to him. He even stops meditating. If he is meditating under a teacher, he approaches him and complains about the setback he is faced with. He confesses that he has lost his interest in meditation — that he is fed up with it. The teacher, however, points out, with due reasons, that this is not a setback in meditation, but rather a sign of progress: “At the start, you had taken up the subject of meditation in terms of siøns and modes. A “mode' is a “model.” All these meditation subjects — in-breathing and out- breathing, hairs, fngers, etc. — are mere con- cepts. Now that you have developed your mind- fulness and concentration, your wisdom has also. developed. By developed wisdom a non-existing. sign is understood as non-existing. So you must not be đisappointed. This is how the perception of the compact disappears.” |
(trang 91) Đôi khi, một thiền sinh, khi đạt đến giai đoạn này, có thể nghĩ rằng thiền của mình đã gặp trở ngại vì đề mục thiền không còn rõ ràng với mình nữa. Thậm chí, hành giả còn ngừng tu tập thiền. Nếu anh ta đang thiền với một vị thầy, anh ta sẽ đến gặp vị thầy đó và phàn nàn về trở ngại mà mình gặp phải. Hành giả thú nhận rằng mình đã mất hứng thú với thiền - rằng hành giả đã chán ngấy với nó. Tuy nhiên, vị thầy chỉ ra, với lý do chính đáng, rằng đây không phải là trở ngại trong thiền, mà đúng hơn là dấu hiệu của sự tiến bộ: “Lúc đầu, bạn đã chọn chủ đề thiền theo các trạng thái và phương thức. Một “phương thức” là một “mô hình”. Tất cả các chủ đề thiền này - hít vào và thở ra, tóc, ngón tay, v.v. - chỉ là những khái niệm. Bây giờ, khi bạn đã phát triển chánh niệm và sự tập trung, trí tuệ của bạn cũng đã phát triển. Theo trí tuệ phát triển, một dấu hiệu không tồn tại được hiểu là không tồn tại. Vì vậy, bạn không được thất vọng. Đây chính là cách mà ngã tưởng đồng nhất biến mất.” |
(page 92) The perception of the compact (ghanasattä) is the tendency to take as a unity what is really a multiplicity of actions and functions. Compactness is fourfold: |
(trang 92) Ngã tưởng đồng nhất (ghanasaññā) là sự tưởng lầm ở danh pháp, sắc pháp cho là "Ta độc nhất" mà thôi, là xu hướng coi những gì thực sự là sự đa dạng của các hành động và chức năng là một thể thống nhất. Ngã tưởng đồng nhất có 4 loại: |
(1) compactness as a continuity (santatighana) |
(1) Ngã tưởng đồng nhất liên tục (santatighana) |
(2) compactness as a mass (Samūhaghana) |
(2) Ngã tưởng đồng nhất tổng hợp(Samūhaghana) |
(3) compactness as a function (kiccaghana) |
(3) Ngã tưởng đồng nhất phận sự. (kiccaghana) |
(4) compactness as an object (Ārammaṇaghana). |
(4) Ngã tưởng đồng nhất đối tượng (Ārammaṇaghana). |
At the developed stage of insight meditation, the perception of compactness begins to disintegrate. The rising and falling movements of the abdomen become less and less palpable. One loses awareness of one's entire body. Earlier the meditator could visualize his own body in the seated posture, but now even that becomes imperceptible to his mind. This is the point at which the concept breaks up. Here one has to abide by the teachers instructions and be diligent in practice. |
Ở giai đoạn phát triển của thiền minh sát, ngã tưởng đồng nhất bắt đầu tan rã. Các chuyển động phồng lên và xẹp xuống của bụng ngày càng ít rõ ràng hơn. Hành giả mất nhận thức về toàn bộ cơ thể của mình. Trước đó, hành giả có thể hình dung cơ thể của mình trong tư thế ngồi, nhưng bây giờ ngay cả điều đó cũng trở nên không thể nhận biết được đối với tâm của họ. Đây là điểm mà khái niệm này tan vỡ. Ở đây, hành giả phải tuân theo hướng dẫn của giáo viên và phải siêng năng thực hành. |
In his everyday life, man depends on a mul- titude of concepts of conventional origin. When the perception of compactness disintegrates, conventional notions also break up. One is beginning to move from the fictions believed by the deluded to the truths seen by the noble ones: “Whatever, monks, has been pondered over as truth by the world with its gods and Mãras, by the progeny consisting of recluses and brahmins, gods and men, that has been well discerned as untruth by the noble ones as it really is with right wisdom — this is one mode of reflecting. And whatever, monks, has been pondered over as untruth by the world with its gods and Mãras... that has been discerned as truth by the noble ones as it really is with right wisdom — this is the second mode of reflection” (Dvayatä- nupassanã Sutta, Sn. 147). |
Trong cuộc sống hàng ngày, con người phụ thuộc vào vô số khái niệm có nguồn gốc thông thường. Khi ngã tưởng đồng nhất tan rã, các khái niệm thông thường cũng tan vỡ. Người ta bắt đầu chuyển từ những hư cấu mà người si mê tin tưởng sang những sự thật mà bậc Đạo Sư nhìn thấy: Này các Tỷ-kheo, có thể các Thầy được hỏi thêm nữa như sau: "Có thể có như thế nào?" Này các Tỷ-kheo, "Cái gì được thế giới với chư Thiên, các Ma, các Phạm thiên, được thế giới này với quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người suy tưởng: "Ðây là sự thật", cái ấy được các vị Thánh khéo thấy như thật với chánh trí tuệ là: "Cái này là hư vọng", đây là pháp tùy quán thứ nhất. Này các Tỷ-kheo, "Cái gì được thế giới với chư Thiên, các Ma, các Phạm thiên, được thế giới này với quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người suy tưởng: "Ðây là hư vọng", cái ấy được các vị Thánh khéo thấy như thật với chánh trí tuệ là: "Cái này là chân thật", đây là pháp tùy quán thứ hai. Này các Tỷ-kheo, do Tỷ-kheo chơn chánh tùy quán hai pháp. (Dvayatä-nupassanã Sutta, Kinh Tập - Kinh Hai Pháp Tùy Quán Sn. 3.12 - HT Minh Châu dịch Việt). |
(page 93) (2) Knowledge oƒ Contemplation oƒ Dissolution. When the meditator no longer sees the arising of formations and only their dissolution. is manifest to him, he has arrived at the Know- ledge of Dissolution. Resuming his meditation after this experience, he sees the formations making up mind-and-matter to be constantly đisintegrating, like the bursting of water bubbles or like froth boiling over from a pot of rice. He comes to understand that there is no being or person, that there are only mere formations always disintegrating. |
(trang 93) (2) Tuệ quán chiếu trạng thái hoại diệt của danh-sắc. Tuệ diệt. (bhangãnupassanañãṇa) còn gọi là Hoại tán tuệ Khi hành giả không còn thấy sự khởi sinh của các hành và chỉ thấy sự tan rã của chúng là hiển nhiên với hành giả, anh ta đã đạt đến Tuệ quán chiếu trạng thái hoại diệt của danh-sắc. Tuệ diệt. (bhangãnupassanañãṇa). Tiếp tục thiền định sau trải nghiệm này, hành giả thấy các hành tạo nên danh-và-sắc liên tục tan rã, giống như bong bóng nước vỡ ra hoặc như bọt trào ra khỏi nồi cơm. Hành giả hiểu rằng không có chúng sinh hay con người, rằng chỉ có những hành đơn thuần luôn tan rã. |
'While this Knowledge of Dissolution is going on within him, the meditator has the extraordin- ary experience of being able to see the thought with which he reflected on dissolution. Then he reflects on that thought as well. Thus he enters upon a special phase of powerful insight known as reflective insight (parivipassanä); it is also called insight into higher wisdom (Adhipaññādhammavipassanā). As the Patisambhidãmagga says: “Having reflected on an object, he contemplates the dissolution of the thought which reflected on the object. The appearance (of formations) is also void. Thỉs is insight into higher wisdom'” (Ps.I,58). After reflecting on an object represent- ing mind-and-matter, the meditator reflects upon. the reflecting thought itself. Thus he now sees dissolution not only in every immediate object he adverts to, but in every thought he happens to think as well. |
Trong khi Tuệ quán chiếu trạng thái hoại diệt của danh-sắc. Tuệ diệt. (bhangãnupassanañãṇa) còn gọi là Hoại tán tuệ này đang diễn ra bên trong mình, hành giả có trải nghiệm phi thường là có thể thấy được ý nghĩ mà mình đã suy ngẫm về sự tan rã. Sau đó, hành giả cũng suy ngẫm về ý nghĩ đó. Do đó, hành giả bước vào một giai đoạn đặc biệt của sự thấu hiểu mạnh mẽ được gọi là sự thấu hiểu trọn vẹn minh sát (parivipassanä); nó cũng được gọi là Trí tuệ thiền tuệ siêu việt thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp rõ ràng vô dụng (Adhipaññādhammavipassanā). Như Vô Ngại Giải Đạo (Patisambhidãmagga) nói: “Sau khi suy ngẫm về một đối tượng, hành giả quán chiếu sự tan rã của ý nghĩ đã quán chiếu về đối tượng đó. Sự xuất hiện (của các hành) cũng là không. Đây là Trí tuệ thiền tuệ siêu việt thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp rõ ràng vô dụng (Adhipaññādhammavipassanā)'” (Ps.I,58). Sau khi suy ngẫm về một đối tượng đại diện cho danh-và-sắc, hành giả suy ngẫm về chính ý nghĩ quán chiếu đó. Do đó, bây giờ hành giả thấy sự tan rã không chỉ trong mọi đối tượng trực tiếp mà mình chú ý đến, mà còn trong mọi ý nghĩ mà mình tình cờ nghĩ đến. |
(page 94) |
(trang 94) |
(page 95) |
(trang 95) |
(page 96) |
(trang 96) |
(5) Knowledge oƒ Contemplation oƒ Disenchantment. When the dangers in formations are understood, disenchantment sets in without any special effort. This knowledge of disenchantment, arisen through dissatisfaction with formations, is a kind of knowledge with which a. meditator has to be well acquainted. The dissatisfaction is aroused by perceiving the dangers in formations. Initially it concerns the formations connected with the particular subject of meditation. However, when this knowledge is well developed, whatever occurs to the meditator arouses only disenchantment, whether it be his own fwve aggregates or those of others. All objects and places, all kinds of becoming, gener- ation and destiny, and all stations of consciousness and abodes of beings appear in a way that heightens this disenchantment. |
(5) Tuệ quán chiếu sự chán nản (nibbidãnupassanäñãna), còn gọi là Yếm ố tuệ . Khi những nguy hiểm trong các hành được hiểu, sự chán nản sẽ xuất hiện mà không cần bất kỳ nỗ lực đặc biệt nào. Tuệ quán chiếu sự chán nản (nibbidãnupassanäñãna), còn gọi là Yếm ố tuệ này, phát sinh thông qua sự bất mãn với các hành, là một loại kiến thức mà một thiền giả phải quen thuộc. Sự bất mãn được khơi dậy bằng cách nhận thức những nguy hiểm trong các hành. Ban đầu, nó liên quan đến các hành liên quan đến chủ đề thiền cụ thể. Tuy nhiên, khi kiến thức này được phát triển tốt, bất cứ điều gì xảy ra với hành giả đều chỉ khơi dậy sự chán nản, cho dù đó là năm uẩn của chính mình hay của người khác. Mọi đối tượng và nơi chốn, mọi loại trở thành, sự sinh ra và số phận, và mọi trạm dừng của ý thức và nơi ở của chúng sinh đều xuất hiện theo cách làm tăng thêm sự quán chiếu sự chán nản này. |
(page 97 |
(trang 97) |
'When this dissatisfaction becomes acute, very often a meditator gets whimsical ideas which can be detrimental to his practice. He becomes dissat- isfied with his meditation and meditates without relish. He thinks of stopping his meditation and going somewhere else. He even develops a dislike towards his teacher and other elders who seek his welfare. In view of this situation, it is advisable. for a meditator intending to take up insight medi- tation to inform hỉis meditation teacher or any other elder about his intention. Failing that, he should at least make a ñrm determination well beforehand to withstand the obstacles that might confront him in the course of insight meditation. For even after reaching this stage of disenchant- ment, one has to proceed further. |
'Khi sự chán nản này trở nên nghiêm trọng, một thiền giả thường xuyên có những ý tưởng kỳ quặc có thể gây bất lợi cho việc tu tập của mình. Hành giả trở nên chán nản với việc thiền định của mình và thiền định mà không có hứng thú. Hành giả nghĩ đến việc dừng việc thiền định và đi nơi khác. Hành giả thậm chí còn phát triển sự không thích đối với người thầy và những người lớn tuổi khác tìm kiếm sự an lạc. Theo quan điểm về tình hình này, một thiền giả có ý định thực hành thiền minh sát nên thông báo cho người Thiền Sư hướng dẫn thiền định hoặc bất kỳ người lớn tuổi nào khác về ý định của mình. Nếu không, hành giả ít nhất nên đưa ra quyết định chắc chắn trước đó để chống lại những trở ngại có thể xảy ra trong quá trình thiền minh sát. Bởi vì ngay cả sau khi đạt đến giai đoạn vỡ mộng này, hành giả vẫn phải tiến xa hơn nữa. |
(page 98) |
(trang 98) |
(6) Knowledge oƒ Desire for Deliverance. The Knowledge of Disenchantment is followed by the Knowledge of Desire for Deliverance. The meditator now becomes desirous of being deliv- ered from all the planes of becoming, destiny and generation found in all the three realms. He desires deliverance from all formations and thinks: “How shall I escape from this entire mass of formations bound up with defilements?” |
(6) Tuệ muốn giải thoát (muñcitukamyatãäñana) . Trí tuệ Giải thoát được theo sau bởi Trí tuệ Mong muốn Giải thoát. Bây giờ, thiền giả trở nên mong muốn được giải thoát khỏi mọi cõi luân hồi, số phận và thế hệ được tìm thấy trong cả ba cõi. Hành giả mong muốn giải thoát khỏi mọi sự hình thành và nghĩ: “Làm sao tôi có thể thoát khỏi toàn bộ khối sự hình thành này bị ràng buộc bởi những ô nhiễm?” |
Some peculiarities are noticeable in the medi- tator now, not present in the earlier stage. He is always reflecting on his own shortcomings. He does not stick to his meditation subject. He becomes restless and never feels at ease. For a while he gets up from the meditation seat and starts pacing up and down. Then again he comes and sits down. He turns his meditation seat to face another direction. He keeps on folding his robes several times and thinks of changing his requisites. Various plans for renovating his compound and even for changing the attitudes of other people enter his mind. But still he does not stop his medi- tation. However, in a situation like this, a medita- tor has to be extremely careful, otherwise his meditation is likely to suffer a setback. He should. tunderstand that all these whims and fancies are transient. If some impulse to leave his meditation seat arises at an unusual hour, he should make a mental note of it and refuse to respond to it. The meditator should form a resolve to be firm in dealing with these whimsical ideas of changing postures, requisites, etc., until he has gotten over this lapse — whether it lasts for a few miỉnutes or continues for a number of hours or days. |
Một số đặc điểm kỳ lạ dễ nhận thấy ở hành giả trong hiện tại, không có ở giai đoạn trước. Hành giả luôn suy ngẫm về những khuyết điểm của chính mình. Hành giả không chú tâm vào đề mục thiền định. Hành giả trở nên bồn chồn và không cảm thấy thoải mái. Trong một lúc, hành giả đứng dậy khỏi chỗ ngồi thiền và bắt đầu đi đi lại lại. Sau đó, hành giả lại đến và ngồi xuống. Hành giả quay chỗ ngồi thiền của mình sang hướng khác. Hành giả liên tục gấp áo choàng của mình nhiều lần và nghĩ đến việc thay đổi các vật dụng cần thiết. Nhiều kế hoạch khác nhau để cải tạo khu nhà của mình và thậm chí thay đổi thái độ của những người khác xuất hiện trong tâm hành giả. Nhưng hành giả vẫn không dừng thiền định. Tuy nhiên, trong một tình huống như thế này, hành giả phải cực kỳ cẩn thận, nếu không thì thiền định của hành giả có thể bị thụt lùi. Hành giả nên hiểu rằng tất cả những ý thích và tưởng tượng này đều là nhất thời. Nếu có một lực nào đó muốn rời khỏi chỗ ngồi thiền định của mình phát sinh vào một giờ bất thường, hành giả nên ghi nhớ điều đó và từ chối phản ứng lại. Hành giả nên quyết tâm kiên định trong việc giải quyết những ý tưởng kỳ quặc về việc thay đổi tư thế, vật dụng cần thiết, v.v., cho đến khi vượt qua được sự bồn chồn này — dù nó chỉ kéo dài trong vài phút hay kéo dài trong nhiều giờ hoặc nhiều ngày. |
(page 99) |
(trang 99) |
16. Forthe ejghieen principal insights see Appendix 2; for the forty modes of reflection see p.70.1 |
16. Để hiểu biết hơn về 18 tuệ Minh Sát, hãy xem Phụ lục 2; để biết bốn mươi phương thức quán chiếu, hãy xem trang 70. |
(page 100) At the stage of the Knowledge of Reflection, insight tends to become renewed. Some unusual physical pains may occur when one reaches this stage. One may suffer severe headaches and a feeling of heaviness in the head, clumsiness of body or giddiness or drowsiness. One should, however, mentally note these painful feelings with diligence and try to bear up under them. Then those pains will gradually subside, so much so that one will be relieved of them until one reaches the. very culmination ofinsight meditation. Sometimes pains arise đue to physical causes such as ordinary illnesses. But even such pains, once they are over come by sheer will-power, will not come up again. Sometimes this method even completely cures chronic ailments like headaches. |
(trang 100) Tuệ quán chiếu sự suy tư (patisankhãnupassanäñäna), tuệ giác có xu hướng được đổi mới. Một số cơn đau thân bất thường có thể xảy ra khi một người đạt đến giai đoạn này. Người đó có thể bị đau đầu dữ dội và cảm thấy nặng đầu, cơ thể vụng về hoặc chóng mặt hoặc buồn ngủ. Tuy nhiên, người đó nên ghi nhận những cảm giác đau đớn này một cách siêng năng và cố gắng chịu đựng chúng. Sau đó, những cơn đau đó sẽ dần dần lắng xuống, đến mức người đó sẽ được giải thoát khỏi chúng cho đến khi đạt đến đỉnh cao của thiền tuệ. Đôi khi cơn đau phát sinh do các nguyên nhân vật lý như bệnh tật thông thường. Nhưng ngay cả những cơn đau như vậy, một khi chúng được vượt qua bằng sức mạnh ý chí tuyệt đối, sẽ không tái phát nữa. Đôi khi phương pháp này thậm chí còn chữa khỏi hoàn toàn các bệnh mãn tính như đau đầu. |
(page 101) |
(trang 101) |
(8) Knowledge oƒ Equanimity about Formations. The next in the series of insight knowl- edges is Knowledge of Equanimity about Formations. The equanimity referred to results from a conviction that all the foundational work for uprooting the defilements has been accom- plished and that no further effort is required in this direction. The knowledge of equanimity arises with the understanding of voidness (suññatä): that everything is void of self or what belongs to self. Since the meditator sees that there is neither a self nor anything belonging to. a self in relation to himself as well as others, voidness is discerned in a fourfold manner: |
(8) Tuệ xả về các hành (sankhärupekkhäñäna), còn gọi là Hành xả tuệ. Tiếp theo trong chuỗi trí tuệ minh sát là Trí tuệ về sự bình thản về các hành. Sự bình thản được đề cập đến là kết quả của niềm tin rằng mọi công việc nền tảng để nhổ tận gốc các ô nhiễm đã được hoàn thành và không cần nỗ lực nào nữa theo hướng này. Trí tuệ về sự bình thản phát sinh cùng với sự hiểu biết về tánh không (suññatä): rằng mọi thứ đều không có bản ngã hoặc những gì thuộc về bản ngã. Vì hành giả thấy rằng không có bản ngã cũng không có bất cứ thứ gì thuộc về bản ngã trong mối quan hệ với chính mình cũng như với người khác, nên tánh không được phân biệt theo bốn cách: |
(I) There is no “my self.” |
(I) Không có “cái tôi của tôi”.” |
(page 102) |
trang 102) |
At this stage, called “equanimity about formations,” the meditator experiences no terror over the dissolution of formations, since he has discerned their ultimate voidness. Nor is there any delight regarding the keenness of reflection. As the Visuddhimagsa says: “He abandons both terror and delight and becomes indifferent and neutral towards all formations” (XXI,61). |
Ở giai đoạn này, được gọi là “hành xả tuệ”, hành giả không còn sợ hãi về sự tan rã của các hành, vì đã nhận ra tánh không thật sự của chúng. Cũng không có bất kỳ sự thích thú nào về sự nhạy bén của sự quán chiếu. Như trong Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagsa) nói: “Hành giả xả bỏ cả sự sợi hãi và sự thích thú và trở nên thờ ơ và trung lập đối với mọi hành” (XXI,61) |
Reflection on formations now goes on effortlessly like a well-yoked chariot drawn by welltrained horses. The object presents itself to the reflecting mind without any special effort. It is as if the mind is propping up its objects. Just as waterdrops fallen on a lotus leaf slide off at once, so distracting thoughts of love and hate do. not stick to the meditators mind. Even if an attractive or repulsive object is presented to him just to test his knowledge of equanimity about formations, it will simply roll away from his mind without stimulating greed or hatred. There is equanimity at this stage because the meditator understands objects in terms of the four elements. Owing to the absence of defilements, the meditator's mind seems pure like the mỉnd ofan. Arahant, though at this point the suppression of defilements is only temporary, effected by the “substitution of opposites” through insight. It 'will be a great achievement if the meditator can continue to maintain this state of equanimity. |
Sự quán chiếu về các pháp hành bây giờ diễn ra dễ dàng như một cỗ xe ngựa được kéo bởi những chú ngựa được huấn luyện thuần thục. Đối tượng tự hiện ra với tâm quán chiếu mà không cần bất kỳ nỗ lực đặc biệt nào. Giống như tâm đang quán chiếu các đối tượng của nó. Giống như những giọt nước rơi trên lá sen trượt đi ngay lập tức, những suy nghĩ phân tâm về tình yêu và lòng căm ghét cũng vậy. không bám vào tâm của hành giả. Ngay cả khi một đối tượng hấp dẫn hoặc ghê tởm hiện bày với hành giả chỉ để kiểm tra kiến thức về sự bình thản của hành giả về các pháp hành, nó sẽ chỉ đơn giản trôi đi khỏi tâm của hành giả mà không kích thích sự ham muốn hay sự căm thù. Có sự bình thản ở giai đoạn này vì hành giả hiểu các đối tượng theo bốn yếu tố. Do không có ô nhiễm, tâm của hành giả có vẻ trong sáng như tâm của một vị A-la-hán, mặc dù ở thời điểm này sự ức chế ô nhiễm chỉ là tạm thời, được thực hiện bằng cách "thay thế các mặt đối lập" thông qua sự hiểu biết. Sẽ là một thành tựu lớn nếu hành giả có thể tiếp tục duy trì trạng thái hành xả này. |
(page 103) |
(Trang 103) |
Some meditators are unable to go beyond the Knowledge of Equanimity about Formations due to some powerful aspirations they have made in the past, such as for Buddhahood, or Pacceka- buddhahood, Chief Discipleship, etc. In fact, it is at this stage that one can ascertain whether one. has made any such aspiration in the past. Some- times when he has reached this stage the medita- tor himself comes to feel that he is cherishing a powerful aspiration. However, even for an aspir- ant to Buddhahood or Paccekabuddhahood, the Knowledge of Equanimity about Formations will be an asset towards his fulfilment of the perfec- tion of wisdom (paññä-pärami). This Equanimity of Formations is of no small signifiicance when. one takes into account the high degree of devel- opment in knowledge at this stage. |
Một số thiền sinh không thể vượt qua Tuệ xả về các hành (Saṅkhārupekkhā ñāṇa) do một số nguyện vọng mạnh mẽ mà họ đã phát khởi trong quá khứ, chẳng hạn như quả vị Chánh Đẳng Giác, hoặc Quả vị Phật Độc Giác (Pacceka), Đại Thinh Văn Giác Đệ tử chính, v.v. Trên thực tế, chính ở giai đoạn này, hành giả có thể xác định liệu mình đã phát khởi bất kỳ nguyện vọng nào như vậy trong quá khứ hay không. Đôi khi đã đạt đến giai đoạn này, bản thân hành giả cảm thấy rằng mình đang ấp ủ một nguyện vọng mạnh mẽ. Tuy nhiên, ngay cả đối với một người khao khát đạt đến quả vị Chánh Đẳng Giác hoặc quả vị Độc Giác Phật (Paccekabuddha), Trí tuệ về sự bình thản về các hành sẽ là một tài sản hướng đến sự hoàn thiện của Trí Tuệ Balamật (paññä-pärami) của người đó. Tuệ xả về các hành này có ý nghĩa không nhỏ khi hành giả đến mức độ phát triển cao về kiến thức ở giai đoạn này. |
(page 104) |
(trang 104) |
17. The thiny-seven requisites of enlighteament comprise: the four foundations of mindfulness, the (our right endeavours, the four bases of' spiritual power, the ive spiritual faeoldes, the ive spiritual powers, the “seven enlightenment factors, and the eight noble path factors. For detaÏls csee Ledi Sayadaw, The Requisiesoƒ Enlightenment (Wheel No. 171/174). |
17. Bảy điều kiện tiên quyết của sự giác ngộ bao gồm: Để biết thêm chi tiết, hãy xem 7 Nhóm Yếu Tố Cần Thiết Cho Sự Giác Ngộ – Ledi Sayadaw |
(page 105) |
(trang 105) |
'Though Knowledge of Equanimity about Formations is generally regarded as the culmination of Purification by Knowledge and Vision of the 'Way, it is Conformity Knowledge that imparts completeness to the Way. Purification by Knowledge and Vision of the Way may be said to have eight knowledges only in a qualified sense, sỉnce the last of them, Knowledge of Equanimity about Formations, includes Conformity Know- ledge as well. |
Tuệ xả về các hành (sankhärupekkhäñäna) thường được coi là đỉnh cao của Sự thanh lọc kiến thức về 'Con đường Đạo, nhưng Tuệ Thuận Thứ mới truyền đạt sự hoàn thiện cho Con đường Đạo. Sự thanh lọc bằng Tri Kiến Thanh Tịnh có thể được cho là có tám tuệ chỉ theo nghĩa hạn định, vì tuệ cuối cùng trong số chúng, Tuệ xả về các hành (sankhärupekkhäñäna), bao gồm luôn cả Tuệ Thuận Thứ (Saccānulomika ñāṇa) |
(page 106) CHAPTER VII |
(page 106) CHƯƠNG VII |
'With the completion of Knowledge of Equanimity about Formations, six stages of purification. are complete. Purification by Knowledge and 'Vision, the seventh and final stage, comes next. This purification consists in the knowledge of the four supramundane paths. But before we discuss this directly, it is necessary to say a few. things about the process immediately leading up to it. |
Với sự đạt đến Tuệ xả về các hành (sankhärupekkhäñäna), sáu giai đoạn thanh lọc. được hoàn thành. Tri Kiến Thanh Tịnh (Ñāṇadassanavisuddhi) là giai đoạn thứ bảy và cuối cùng, tiếp theo. Sự thanh lọc này bao gồm kiến thức về Tứ Diệu Đế. Nhưng trước khi chúng ta thảo luận trực tiếp về điều này, cần phải nói một vài điều về quá trình dẫn đến nó ngay lập tức. |
1. Leading to Emergence
(Vutthänagamini Vipassana) |
1. Sự Hiện Khởi Tiếp Dẫn Minh Sát Tuệ
(Vutthänagamini Vipassana) |
(page 107) |
(trang 107 |
Tf the meditator is well acquainted with the Dhamma and has discriminative wisdom, he will understand what has happened. Then he can again reflect on formations and go up to Conformity Knowledge. |
Nếu hành giả quen thuộc với Giáo pháp và có trí tuệ phân biệt, hành giả sẽ hiểu được điều gì đã xảy ra. Sau đó, hành giả có thể lại suy ngẫm về các hành và tiến lên đến Tuệ Thuận Thứ (Saccānulomika ñāṇa). |
(page 108) |
(trang 108) |
Regarding the first of these, the meditator thinks: “Compounded things are bound up with impediments. Nibbãna, which I am seeking, is free from impediments.” By “impediment” is meant something that has the nature of impeding. The impediments have the nature of causing. a moral person to violate his moral precepts and of making him unrestrained; the nature of disrupting the concentration of one who is bent on attaining concentration and of driving him to distraction; and the nature of obscuring the wisdom of one who is developing wisdom and of casting him into delusion. Compounded thỉngs impede by way of lust, hatred, delusion, conceit, jealousy, views, and so on. In the Uncompounded there is no impediment whatsoever. |
Về điều đầu tiên, hành giả nghĩ rằng: “Những pháp hữu vi bị ràng buộc với những ràng buộc. Niết bàn, mà ta đang tìm kiếm, thì thoát khỏi những bị tạo sinh.” “trạng thái bị tạo sinh” có nghĩa là một cái gì đó có bản chất là chướng ngại. Những chướng ngại có bản chất là khiến một người có đạo đức vi phạm các giới luật đạo đức của mình và khiến người đó không kiềm chế được; bản chất là phá vỡ sự tập trung của hành giả đang cố gắng đạt được sự tập trung và khiến hành giả bị phân tâm; và bản chất là che khuất trí tuệ của hành giả đang phát triển trí tuệ và khiến hành giả rơi vào ảo tưởng. Những thứ hữu vi cản trở bằng cách tham lam, sân hận, ảo tưởng, kiêu ngạo, ghen tị, thân kiến, v.v. Trong cái Không hợp thành không có chướng ngại nào cả. |
The main impediment is the personality view. One who is deceived by this view must abandon it. The impediment brought about by views can be eliminated only by getting rid of views. Nibbãna is free from the impediment of views. It is free from the impediment of uncer- tainty. In fact, it is free from all the impediments brought about by defilements. |
Chướng ngại chính là thân kiến. Người nào bị thân kiến này lừa dối thì phải từ bỏ nó. Chướng ngại do thân kiến gây ra chỉ có thể được loại bỏ bằng cách loại bỏ thân kiến. Niết bàn không có chướng ngại của thân kiến. Nó không có chướng ngại của sự không chắc chắn. Trên thực tế, nó không có mọi chướng ngại do phiền não gây ra. |
(page 109) |
(trang 109) |
As to the signifying quality, the meditator understands that all compounded things become manifest through signs and modes. Everything in mind-and-matter (nãma-rũpa) is defined by 'way of various modes, such as tỉme, place, direc- tion, occasion, colour, shape, etc. As the Buddha. Says: |
Về phẩm chất biểu thị, hành giả hiểu rằng tất cả các pháp hữu vi đều biểu hiện qua các dấu hiệu và phương thức. Mọi thứ trong danh-và-sắc (nãma-rũpa) được định nghĩa bằng 'cách thức của nhiều phương thức khác nhau, chẳng hạn như Tỷ lệ, địa điểm, hướng, dịp, màu sắc, hình dạng, v.v. Như Đức Phật đã nói: |
“If, Änanda, all those modes, character- istics, siøns and exponents by which there comes to be a designation of mind-and- matter were absent, would there be manifest any contact?” |
Này Ananda, những hình, những sắc, những tướng, những mạo nhờ đó mà danh thân và sắc thân được thi thiết, nếu những hình, những sắc, những tướng, những mạo ấy không có, thời danh mục xúc hay hữu đối xúc có thể hiện hữu được không ? |
“There would not, Lord.” |
Bạch Thế Tôn, không ! |
“Wherefore, Ananda, this itself is the
cause, this is the origin, this is the condition
for contact. That is to say, mind-and-matter.” |
Do vậy, này Ananda, như vậy là nhơn, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như vậy là nhơn duyên của xúc, tức là danh sắc. |
Everything compounded rests on a mass of Suffering: “The world rests on suffering” (S.1,40). The meditator understands that Nibbäna is free from suffering. Compounded things are liable to decay and death. In the Uncompounded there is no decay and death. The idea that Nibbãna is a tranquillization also occurs to the meditator now.. |
Tất cả các hành đều dựa trên một khối Khổ đau: “Thế gian dựa trên khổ đau” (S.1,40). Người hành thiền hiểu rằng Nibbāna thoát khỏi khổ đau. Tất cả các hành dễ bị suy tàn và mất đi. Trong cái Không hợp thành không có suy tàn và mất đi. Ý tưởng rằng Nibbāna là sự an tĩnh cũng xuất hiện với người hành giả lúc này.. |
(page 110) |
(trang 110) |
'When the meditator is in a position to infer that the Uncompounded is free from this characteristic, he is much relieved at heart. So he turns his attention to the Uncompounded, trying his best to attain it. Knowing well that the com- pounded is fraught with suffering, and that the Uncompounded is free from suffering, he puts forth the necessary effort with the determination: “Somehow I will attain it.” It is when he makes such an endeavour that insight leading to. emergence develops within him. |
Khi hành giả ở vị trí có thể suy ra rằng pháp Vô Vi (Uncompounded - Asaṅkhatadhamma là pháp không do duyên tạo tác, tức níp-bàn), với đặc điểm này, hành giả cảm thấy nhẹ nhõm trong lòng. Vì vậy, hành giả hướng sự chú ý của mình đến Vô Vi, cố gắng hết sức để đạt được nó. Biết rõ rằng pháp Hữu vi đầy rẫy đau khổ, và Vô Vi không có đau khổ, hành giả nỗ lực cần thiết với quyết tâm: "Bằng cách nào đó tôi sẽ đạt được nó." Khi hành giả nỗ lực như vậy, sự hiểu biết dẫn đến sẽ xuất hiện phát triển bên trong hành giả. |
(page 111) |
(trang 111) |
(page 112) |
(trang 112) |
2. Change-of-Lineage Knowledge
(Gotrabhū ñāṇa) |
2. Tuệ Chuyển Tộc
(Gotrabhū ñāṇa) |
(page 113) |
(trang 113) |
(page 114) |
(trang 114) |
(page 114 - 115) |
(trang 114 - 115) |
(page 116) 3. _ The Supramundane Paths and Fruits |
(page 116) 3. _ Các Đạo và Quả Siêu Thế |
(pager 116 - 117) |
(trang 116 - 117) |
It is for the attainment of this supramundane. path that the meditator has done all his prac- tice. The aim of all his endeavours in fulfilling. virtue and in developing meditation was the arousing of this path-consciousness. The path- consciousness accomplishes four functions in a single moment, one regarding each of the Four Noble Truths: |
Chính vì để đạt được con đường siêu thế này hành giả đã thực hiện mọi sự thực hành của mình. Mục đích của mọi nỗ lực của mình trong việc hoàn thành đạo đức và phát triển thiền định là khơi dậy Tâm Đạo này. Tâm Đạo thực hiện bốn chức năng trong một sát na, mỗi chức năng liên quan đến một trong Tứ Thánh Đế: |
(page 118) |
(trang 118) |
(2) it penetrates the truth of suffering's origin (craving) by abandoning it; |
(2) Thứ hai, Tâm Đạo thấu hiểu chân lý về nguồn gốc của đau khổ (tham ái) bằng cách từ bỏ nó; |
(3) it penetrates the truth of the path (the 'Noble Eightfold Path) by developing it; |
(3) Thứ ba, Tâm Đạo thấu hiểu chân lý của con đường (Bát Chánh Đạo) bằng cách phát triển nó; |
(4) it penetrates the truth of suffering's cessation (Nibbãna) by realizing it. |
(4)Thứ tư, Tâm Đạo thấu hiểu chân lý chấm dứt đau khổ (Nibbãna) bằng cách nhận ra nó. |
This exercise of four functions simultaneously can be illustrated by the sunrise. With the rising. of the sun, visible objects are illuminated, darkness is dispelled, light appears and cold is allayed. As the sun illuminates visible objects, so Path-Knowledge fully understands suffering; as the sun dispels darkness, so Path-Knowledge abandons the origin of suffering; as the sun causes light to be seen, so Path-Knowledge (as right view) develops the (other) path factors; as the sun allays cold, so Path-Knowledge realizes the cessation which is the tranquillization of defilements. |
Bài tập bốn chức năng này cùng lúc có thể được minh họa bằng mặt trời mọc. Khi mặt trời mọc, các vật thể hữu hình được chiếu sáng, bóng tối bị xua tan, ánh sáng xuất hiện và cái lạnh giảm xuống. Khi mặt trời chiếu sáng các vật thể hữu hình, thì Đạo Tuệ (Magga ñāṇa) hiểu rõ đau khổ; khi mặt trời xua tan bóng tối, thì Đạo Tuệ (Magga ñāṇa) từ bỏ nguồn gốc của đau khổ; khi mặt trời khiến ánh sáng được nhìn thấy, thì Đạo Tuệ (Magga ñāṇa) (như là chánh kiến) phát triển các yếu tố đạo (khác); khi mặt trời làm dịu cái lạnh, thì Đạo Tuệ (Magga ñāṇa) nhận ra sự chấm dứt, tức là sự làm lắng dịu các phiền não. |
There are four supramundane paths which must be passed through to reach full purification and liberation: the path of Stream-entry (sotāpattimagga), the path of Once-return (sakadāgāmimagga), the path of Non-return (anāgāmimagga) and the path of Arahantship (arahantamagga). These four paths have to be attained in sequence. Attainment of all four can occur in a single life, or it can be spread out over several lifetimes; but once the first path is reached, the meditator is assured of never falling away and is bound to reach the final goal in at most seven lives. |
Có bốn con đường siêu thế phải đi qua để đạt được sự thanh lọc và giải thoát hoàn toàn: |
(page 119) |
(trang 119) |
The second path, the path of Once-return, does not eradicate any defilements completely but greatly reduces the roots-greed, hatred and delusion. One who dies as a Once-returner (sakadäsami) will be reborn in the human world only one more time before attaining deliverance. |
Con đường thứ hai, con đường Nhất lai, không diệt trừ hoàn toàn bất kỳ ô nhiễm nào nhưng làm giảm đáng kể gốc rễ của tham lam, sân hận và si mê. Bậc Nhất lai (sakadäsami) sẽ chỉ tái sinh trong thế giới loài người thêm một lần nữa trước khi đạt được sự giải thoát. |
The third path, the path of Non-return, bursts the two fetters of sensual desire and aversion. One who passes away as a Non returner (anagãmi) will not be reborn at all in the sense-sphere realm; he is reborn only in the higher Brahma worlds where he attains final deliverance. |
Con đường thứ ba, Bất Lai Đạo, phá vỡ hai xiềng xích của tham dục và sân hận. Bậc Bất Lai (anagãmi) sẽ không tái sinh ở cõi dục giới; người đó chỉ tái sinh ở các thế giới Phạm thiên cao hơn, nơi người đó đạt được sự giải thoát cuối cùng. |
(page 120) |
(trang 120) |
Purification by Knowledge and Vision, the seventh and last purification, consists in the knowledge of the four supramundane paths. Fol- lowing each path, its own respective fruition OCCurs as its immediate result. Whereas the path. performs the task of breaking up deflements, fruition experiences the bliss of Nibbãna when. this demanding exertion subsides: “The under- standing of the relaxation of endeavour is Knowledge of Fruition” (Ps.I,71). |
Thanh lọc Tri Kiến Thanh Tịnh (Ñāṇadassanavisuddhi), sự thanh lọc thứ bảy và cuối cùng, bao gồm tri thức về bốn con đường siêu thế. Theo từng con đường, quả riêng của nó xảy ra như kết quả tức thời của nó. Trong khi con đường thực hiện nhiệm vụ diệt trừ sự ô nhiễm, quả trải nghiệm hạnh phúc của Niết bàn khi nỗ lực đòi hỏi này lắng xuống: “Hiểu biết về sự thư giãn của nỗ lực là Tuệ của Quả” (Ps.I,71). |
Since the fruition-consciousness immediately follows the knowledge of the path without a time-lag, the path-concentration is called “concentration-with-immediate-result” (Ānantarika-samādhi,). This indescribably keen concentration enables wisdom to cut through the range of defilements and purify the mental continuum. The Pafisambhidãmagga states: “The understanding of the eradication of defilements owing to the purity of non-distraction is knowledge of concentration-with-immediate- result” (Ps.I,2). The commentaries record that some held the view that Fruition-Knowledge arises a number of hours or days after Path- Knowledge; however, the term “with-immediate- result” (ānantarika) irrefutably conveys the sense of immediacy (literally, “without an inter- val”). Hence that dissentient view is groundless. |
Vì Tâm Quả ngay lập tức theo sau tâm thức về con đường mà không có độ trễ thời gian, nên định đạo được gọi là “Định có kết quả tức thời” (Ānantarika-samādhi). Sự định tâm sâu sắc không thể diễn tả này cho phép trí tuệ diệt trừ phạm vi của các ô nhiễm và thanh lọc dòng tâm thức. Vô ngại giải đạo (Patisambhidämagga) cho rằng: “Hiểu biết về sự diệt trừ các ô nhiễm do sự thanh tịnh của không phân tâm là tri thức về Định có kết quả tức thời” (Ps.I,2). Các chú giải ghi lại rằng một số người cho rằng Tuệ Quả phát sinh sau Tri thức về Con đường một số giờ hoặc nhiều ngày; tuy nhiên, thuật ngữ “có kết quả tức thời” (ānantarika) truyền tải không thể chối cãi ý nghĩa của tính tức thời (theo nghĩa đen là “không có khoảng cách”). Do đó, quan điểm bất đồng đó là vô căn cứ |
(page 121 - 122) 4. Reviewing Knowledge
(Paccavekkhanañäna) |
(page 121 - 122) 4.Tuệ Ôn Duyệt
(Paccavekkhanañäna) |
(page 122) |
(trang 122) |
(page 123) CONCLUSION |
(page 123) PHẦN KẾT LUẬN |
A meditator should not disclose to others his level of progress, for to proclaim one's attainments is normally due to defilements. However, for the purpose of getting instructions, one may disclose one's experiences to a suitable person, such as a teacher or an advanced practitioner. |
Người hành giả không nên cho người khác biết trình độ tiến bộ của mình, vì việc tuyên bố thành tựu của mình thường là phiền não. Tuy nhiên, để có được chỉ dẫn, hành giả có thể tiết lộ kinh nghiệm của mình cho một người phù hợp, chẳng hạn như một vị thiền sư hoặc một hành giả đã có kinh nghiệm trong việc hành thiền. |
In ancient times, to kindle a fire one had to. go on rubbing two kindling-sticks together for a long time, unceasingly. If, after rubbing the sticks together a few times until they became a little warm, one stopped to rest, one had to start the process all over again. Therefore, to make a fire with kindling-sticks, one has to go on rubbing ceaselessly however long it might take until fire is produced. The meditator has to proceed in the same way. He cannot succeed i£ he practises by fits and starts. He must apply himself to meditation without a break until the Supreme Goal of his endeavour is realized. |
Vào thời xa xưa, để nhóm lửa, người ta phải liên tục cọ xát hai thanh củi vào nhau trong một thời gian dài, không ngừng nghỉ. Nếu sau khi cọ xát hai thanh củi vào nhau vài lần cho đến khi chúng có hơi ấm, người ta dừng lại để nghỉ, người ta phải bắt đầu lại toàn bộ quá trình. Do đó, để nhóm lửa bằng thanh củi, người ta phải liên tục cọ xát không ngừng nghỉ cho đến khi lửa cháy. Người thiền định cũng phải tiến hành theo cách tương tự. Hành giả không thể thành công nếu thực hành theo từng đợt. Hành giả phải chuyên tâm vào thiền định không ngừng nghỉ cho đến khi đạt được Mục tiêu Tối cao của nỗ lực của mình. |
(page 124) |
(trang 124) |
And for him as he abides unattached, un- fettered, uninfatuated, contemplating the peril (in the eye, etc.), the five agsregates Of grasping go on to future diminution. That craving which makes for re-becom ing, which is accompanied by delight and lust, ñnding delight here and there, decreases in him. |
Khi vị ấy trú, quán sát vị ngọt, không bị ái trước, hệ lụy và tham đắm, nên năm thủ uẩn đi đến tàn diệt trong tương lai. Và ái của vị ấy, đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm sự hoan lạc chỗ này chỗ kia; ái ấy được đoạn tận; những thân ưu não của vị ấy được đoạn tận; những tâm ưu não được đoạn tận; những thân nhiệt não được đoạn tận; những tâm nhiệt não được đoạn tận; những thân khổ não được đoạn tận; những tâm khổ não được đoạn tận; vị ấy cảm thọ thân lạc và tâm lạc. . |
(page 125) |
(trang 125) |
(page 126) |
(trang 126) |
(page 127) The intrinsic value of the life of a meditative monk is beyond estimation. There are various marvellous ways of life in this world. But there can hardly be a more marvellous way of life than that of a meditative monk. When you come to think about this, you have reason to congratu- late yourself on taking up this way of life. This life of a meditative monk is not only invaluable, but pure and clean. All the other marvellous ways of life in this world are concerned with. external things. They have to do with thỉngs external — with external mechanics. The life of a meditator, on the other hand, is concerned with the internal mechanics — the mechanics of mind-control. The Buddha was the greatest meditator of all times. The life of the meditative monk originated with him. The bỉrth of a Buddha is an extremely rare phenomenon in the world. Not all who listen to his Dhamma take to this life of meditation; only a few of them take up the meditative life in earnest. Be happy that you are counted among these fortunate few. |
(page 127) Giá trị nội tại của cuộc sống của một vị tu sĩ thiền định là không thể ước lượng được. Có nhiều cách sống kỳ diệu trên thế giới này. Nhưng khó có thể có cách sống nào kỳ diệu hơn cách sống của một tu sĩ thiền định. Khi bạn nghĩ về điều này, bạn có lý do để tự chúc mừng mình vì đã theo đuổi cách sống này. Cuộc sống của một tu sĩ thiền định không chỉ vô giá mà còn trong sáng và thanh tịnh. Tất cả những cách sống kỳ diệu khác trên thế giới này đều liên quan đến những thứ bên ngoài. Chúng liên quan đến thế giới bên ngoài — với thế gian bên ngoài. Ngược lại, cuộc sống của một thiền giả liên quan đến thế giới nội tại — một cơ chế kiểm soát tâm trí. Đức Phật là thiền giả vĩ đại nhất mọi thời đại. Cuộc sống của một tu sĩ thiền định bắt nguồn từ ngài. Sự ra đời của một vị Phật là một hiện tượng cực kỳ hiếm hoi trên thế giới. Không phải tất cả những người lắng nghe Giáo pháp của ngài đều theo đuổi cuộc sống thiền định này; chỉ một số ít trong số họ thực sự theo đuổi cuộc sống thiền định. Hãy vui mừng vì bạn được coi là một trong số ít người may mắn này. |
(page 128 - 129) |
(trang 128 - 129) |
Now, a householder or a householder's son
or someone born in some family or other
listens to the Dhamma. And on hearing the
Dhamma, he conceives faith in the Perfect
One. When he is possessed of that faith he
reflects: “Full of hindrances is the house
hold life — a path for the dust of passions.
The 'going forth is like being in the open
air. It is not easy for one living the house
hold life to live the holy life in all its full-
ness, in all its purity, with the spotless
perfection of a polished conch-shell. Let
me, then, cut off my hair and beard; let me
clothe myself in saffron robes and let me
go forth from home to homelessness.”
'Then, before long, leaving behind his prop-
erty, be it small or great, leaving behind his
circle of relatives, be it small or great, he
cuts off his hair and beard, he clothes
himself in the saffron robes and goes forth
from home to homelessness. |
Người gia trưởng, hay con vị gia trưởng, hay một người sanh ở giai cấp (hạ tiện) nào nghe pháp ấy. Sau khi nghe pháp, người ấy sanh lòng tín ngưỡng Như Lai. Khi có lòng tín ngưỡng ấy, vị này suy nghĩ: "Đời sống gia đình đầy những triền phược, con đường đầy những bụi đời. Đời sống xuất gia phóng khoáng như hư không. Thật rất khó cho một người sống ở gia đình có thể sống theo phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh, trắng bạch như vỏ ốc. Vậy ta nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, xuất gia, từ bỏ gia đình". Một thời gian sau, người ấy bỏ tài sản nhỏ hay tài sản lớn, bỏ bà con quyến thuộc nhỏ hay bà con quyến thuộc lớn, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà sa, và xuất gia từ bỏ gia đình, sống không gia đình. |
(page 129) |
(trang 129) |
(1) the occasion of going forth from the house- hold life; |
(1) Lý do trực tiếp cho việc xuất gia là từ đời sống gia đình |
(2) the preliminary stage in his meditative life 'when he starts taming his mind in solitude with the help of a meditation subject; |
(2) giai đoạn đầu tiên trong cuộc sống thiền định của người hành giả 'khi bắt đầu thuần hóa tâm mình trong sự đơn độc với sự an trú trong một đối tượng thiền định; |
(3) the encountering of dangers in the course of meditation in solitude; |
(3) gặp phải nguy hiểm trong quá trình thiền định một mình; |
(4) the stage of enjoying the results of his meditation. |
(4) giai đoạn hưởng thụ kết quả của sự thiền định. |
(page 130 - 131) |
(trang 130 - 131) |
(page 131) |
Cuộc sống thiền định này cần được thực hành với sự cẩn thận và thận trọng, tránh những cám dỗ của sự sai lệch. Nếu sức mạnh tư tưởng đó, vốn đã từng tiến triển theo đúng hướng, lại sa vào sự sai lệch giữa chừng, thì nó sẽ mất đi động lực. Do đó, bạn nên xây dựng một sự nhiệt tình mãnh liệt hơn và nạp lại sức mạnh tư tưởng đó, cắt đứt mọi khả năng sa sút. . |
(page 132) APPENDIX 2 |
(page 132) Phụ Lục 2 |
1. The contemplation of impermanence (anniccãnupassanä): |
1- Aniccānupassanā: Trí tuệ thiền tuệ theo dõi thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp có trạng thái vô thường, nên diệt được tâm lầm tưởng cho là thường (niccasaññā). |
2. The contemplation of suffering (dukkhãnupassanä): |
2- Dukkhānupassanā: Trí tuệ thiền tuệ theo dõi thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp có trạng thái khổ, nên diệt được tâm lầm tưởng cho là lạc (sukhasaññā). |
3. The contemplation of non-self (anattãnupassan8): |
3- Anattānupassanā: Trí tuệ thiền tuệ theo dõi thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp có trạng thái vô ngã, nên diệt được tâm lầm tưởng cho là ngã (attasaññā). |
4. The contemplation of disenchantment (Nibbidānupassanā): abandons delighting. |
4- Nibbidānupassanā: Trí tuệ thiền tuệ theo dõi thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp đáng nhàm chán, nên diệt được tham tâm hài lòng trong danh pháp, sắc pháp (nandi). |
5. The contemplation of fading away (virägãnupassanä): |
5- Virāgānupassanā: Trí tuệ thiền tuệ theo dõi thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp không đáng say mê, nên diệt được tham tâm say mê trong danh pháp, sắc pháp (rāga). |
6. The contemplation of cessation (nirodhãnupassanä): abandons originating. |
6- Nirodhānupassanā: Trí tuệ thiền tuệ theo dõi thấy rõ, biết rõ sự diệt của danh pháp, sắc pháp, nên diệt được sự sanh của tham ái (samudaya). |
7. The contemplation of relinquishment (Paṭinissaggānupassanā): |
7- Paṭinissaggānupassanā: Trí tuệ thiền tuệ theo dõi thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp đáng xả bỏ, nên diệt được sự chấp thủ nơi danh pháp, sắc pháp (ādāna). |
8. The contemplation of destruction (Khayānupassanā): abandons the perception of compactness. |
8- Khayānupassanā: Trí tuệ thiền tuệ theo dõi thấy rõ, biết rõ sự tận diệt của danh pháp, sắc pháp, nên diệt được tâm lầm tưởng cho là ngã tưởng đồng nhất (ghanasaññā). |
9. The contemplation of passing away (Vayānupassanā): |
9- Vayānupassanā: Trí tuệ thiền tuệ theo dõi thấy rõ, biết rõ sự hoại diệt của danh pháp, sắc pháp, nên diệt được tham tâm tích luỹ (āyūhana). |
)10. The contemplation of change (Vipariṇāmānupassanā): |
10- Vipariṇāmānupassanā: Trí tuệ thiền tuệ theo dõi thấy rõ, biết rõ sự biến đổi của danh pháp, sắc pháp, nên diệt được tâm lầm tưởng cho là bền vững lâu dài (dhuvasaññā). |
11. The contemplation of the signless (Animittānupassanā): |
11- Animittānupassanā: Trí tuệ thiền tuệ theo dõi thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp không hiện tượng, nên diệt được chấp thủ hiện tượng danh pháp, sắc pháp (nimitta). |
12. The contemplation of the desireless (Appaṇihitānupassanā) abandons the desire |
12- Appaṇihitānupassanā: Trí tuệ thiền tuệ theo dõi thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp, không đáng tham muốn, nên diệt được tâm tham muốn (paṇidhi). |
13. The contemplation of voidness (Suññatānupassanā): abandons adherence (to the notion of self). |
13- Suññatānupassanā: Trí tuệ thiền tuệ theo dõi thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp không phải ta, không phải của ta, nên diệt được tà kiến theo chấp ngã (abhinivesa). |
14. The higher wisdom of insight into phenomena (Adhipaññādhammavipassanā): abandons adherence due to grasping at a core. |
14- Adhipaññādhammavipassanā: Trí tuệ thiền tuệ siêu việt thấy rõ, biết rõ danh pháp, sắc pháp rõ ràng vô dụng, nên diệt được tâm chấp thủ cho là lợi ích (sārādānābhinivesa). |
15. Correct knowledge and vision (Yathābhūtañāṇadassanā): |
15- Yathābhūtañāṇadassanā: Trí tuệ thiền tuệ tri kiến nơi danh pháp, sắc pháp đúng như thật chân lý, nên diệt được chấp thủ bởi si mê (sammohābhinivesa). |
16. The contemplation of danger (Ādīnavānupassanā): |
16- Ādīnavānupassanā: Trí tuệ thiền tuệ theo dõi thấy rõ, biết rõ tội lỗi của danh pháp, sắc pháp, nên diệt được tâm chấp thủ do tham ái quyến luyến (ālayābhinivesa). |
17. The contemplation of reflection (Paṭisaṅkhānupassanā): |
17- Paṭisaṅkhānupassanā: Trí tuệ thiền tuệ theo dõi quán xét con đường giải thoát khổ, nên diệt được tâm không muốn tìm con đường giải thoát khổ (appaṭisaṅkhā). |
18. The contemplation of turning away (Vivaṭṭānupassanā): abandons adherence due to bondage. |
18- Vivaṭṭānupassanā: Trí tuệ thiền tuệ theo dõi thấy rõ, biết rõ Niết Bàn, pháp giải thoát khổ luân hồi, nên diệt được tâm chấp thủ do ràng buộc (samyogābhinivesa). |
Characteristic of Impermanenee: Nos.1,6,8,9,10,11,14 |
Đặc tướng của Vô Thường: số 1,6,8,9,10,11,14 |
(page 134) APPENDIX 3 |
(page 134) PHỤ LỤC 3 |
(page 135) |
(trang 135) |
In a complete reflective series of the usual kind, in which the object is a reflectively consid- ered sense-impression, a mental image or an idea, the process is less diversified. After emerg- ing from the continuum, the mind adverts to the object, then enters the javana phase where it forms a volitional response; finally it registers the object and lapses once more into the life- continuum. |
Trong một chuỗi phản chiếu hoàn chỉnh theo kiểu thông thường, trong đó đối tượng là một ấn tượng giác quan được xem xét một cách phản chiếu, một hình ảnh tinh thần hoặc một ý tưởng, quá trình này ít đa dạng hơn. Sau khi thoát khỏi sự liên tục, tâm hướng đến đối tượng, sau đó đi vào giai đoạn tâm Tốc Hành (javana), nơi nó hình thành một phản ứng có ý chí; cuối cùng nó ghi nhận đối tượng và một lần nữa rơi vào bhavanga là hữu phần là sự liên tục của cuộc sống. |
(page 136) |
(trang 136) |
In the case of jhanic attainment, following the moment of adverting, the javana phase moves through five stages: preliminary work (parikamma); access (upacära); conformity (anuloma); change-of-lineage (gotrabhi); full absorption (appana). Some meditators start from the access stage itself without preliminary work. They are those whose spiritual faculties have already been well-prepared. Conformity is the application of the mind in accordance with the work already done, thus stabilizing ones gains. With change-of-lineage, the “lineage” in this context is the sense-desire sphere. This refers to the surpassing of the lineage of the sense-desire sphere and growing into (or devel- oping) the “exalted lineage” (ie. the fine- material and the immaterial spheres). The absorption stage is the jhäna itself, which can last from a single mind-moment to a long series of such moments; depending on the meditator's skill. The object of all the javana moments is the same, the counterpart sign (patibhäganimitta). 'We can depict the jhanic process as follows: |
Trong trường hợp chứng đắc jhanic, sau sát na chú ý, giai đoạn javana di chuyển qua năm giai đoạn: sát na thứ nhất là tâm chuẩn bị (parikamma); sát na thứ hai là tâm cận hành (upacära); sát na thứ ba là tâm thuận thứ (anuloma); sát na thứ tư là tâm chuyển dòng (gotrabhi); nhập định hoàn toàn (appana). Một số thiền sinh bắt đầu từ chính giai đoạn cận định mà không cần tâm chuẩn bị. Họ là những người có các khả năng tâm linh đã được chuẩn bị tốt. Tuân thủ là việc áp dụng tâm trí theo công việc đã làm, do đó ổn định những thành quả của mình. Với sự thay đổi dòng, "dòng" trong bối cảnh này là phạm vi dục vọng. Điều này ám chỉ sự vượt qua dòng của phạm vi dục vọng và phát triển thành (hoặc phát triển) "dòng cao quý" (tức là các phạm vi vật chất tinh tế và vô chất). Giai đoạn nhập định là chính jhäna, có thể kéo dài từ một sát na tâm duy nhất đến một chuỗi dài các sát na như vậy; tùy thuộc vào kỹ năng của thiền sinh. Đối tượng của tất cả các sát na đổng lực (javana) đều giống nhau, ấn tượng khái niệm (patibhäganimitta). 'Chúng ta có thể mô tả quá trình jhanic như sau: |
(page 137) LC MD PW ACC CON CHL ABS |
(page 137) LC MD PW ACC CON CHL ABS |
LC — Life-continuum |
LC — Life-continuum (bhavanga-citta) tâm hữu phần |
The three asterisks in each case indicate that cach mind-moment has three sub-moments: arising, persisting and dissolution. |
Ba dấu hoa thị trong mỗi trường hợp chỉ ra rằng mỗi sát na tâm đều có ba tiểu sát na: sinh, trụ, diệt. |
In the case of path-attainment, the prelimi- nary stages are similar to those for jhãna, but here change-of-lineage involves surpassing the mundane plane to develop the supramundane. The culmination of the process is the path and fruit. The path invariably lasts only for one moment. The fruit lasts two moments when preliminary work is included, three moments when preliminary work is omitted. A full path- attainment can be depicted thus: |
Trong trường hợp chứng Đạo, các giai đoạn sơ khởi tương tự như các giai đoạn sơ khởi của jhãna, nhưng ở đây, sự Chuyển Tộc bao gồm việc vượt qua cõi thế gian để phát triển cõi siêu thế gian. Đỉnh cao của quá trình là Đạo và Quả. Đạo luôn chỉ kéo dài trong một sát na. Quả kéo dài hai sát na khi công việc chuẩn bị được đưa vào, ba sát na khi công việc chuẩn bị bỏ qua. Một sự chứng đạo đầy đủ có thể được mô tả như sau: |
LC MD PW ACC Con Chl P F F LC |
LC MD PW ACC Con Chl P F F LC (xem ở trên) |
(page 138) APPENDIX 4 |
(page 138) PHỤ LỤC 4 |
(page 139) |
(trang 139) |
"The second type of oneness is the concentra- tion leading to the exalted meditations which. are still on the mundane level. It is also called absorption concentration. This comprises the four jhãnas (absorptions) pertaining to the fine- material realms and the four meditative attain- ments of the four immaterial realms. |
"Loại nhất thể thứ hai là sự tập trung dẫn đến các thiền định cao quý vẫn còn ở cấp độ thế tục nó cũng được gọi là sự tập trung toàn triệt. Điều này bao gồm bốn tầng jhãnas (sự tập trung kiên cố) liên quan đến các cõi Sắc Giới và bốn thành tựu thiền định của bốn cõi Vô Sắc Giới. |
The third type of oneness is the concentra- tỉon arisen in the course of insight meditation by way of reflection on the nature of sankhäras, or formations. Even without attaining a concentra- tion of mind by means of any serenity medita- tion as such, a meditator practising insight meditation directs his mind to a particular section of formations. Now, if he goes on reflect- ing with perseverance, he will reach this oneness — this concentration. Ultimately, even this con- centration wil gather the same degree of strength as absorption concentration. As the meditator equipped with this kind of concentration continues to reflect on the formations, insight knowledges will develop. And at what- ever moment he attains the supramundane path, that path-consciousness comes to be reckoned as a jhãna in itself, since it has some affinity with. the factors proper to jhãnas, such as the first jhãna. What are known as transcendental medi- tations in Buddhism are these supramundane levels of concentration within reach of the pure insight meditator. |
Loại thứ ba là sự tập trung phát sinh trong quá trình thiền minh sát thông qua sự quán chiếu về bản chất của các hành, hay các pháp hữu vi. Ngay cả khi không đạt được sự tập trung của tâm thông qua bất kỳ thiền định thanh tịnh nào, một hành giả thực hành thiền minh sát vẫn hướng tâm mình đến một phần cụ thể của các pháp hữu vi. Bây giờ, nếu hành giả tiếp tục quán chiếu với sự kiên trì, hành giả sẽ đạt được sự nhất thể này — sự tập trung này. Cuối cùng, ngay cả sự tập trung này cũng sẽ tập hợp cùng một mức độ sức mạnh như sự tập trung của Thiền An Chỉ. Khi hành giả được trang bị loại tập trung này tiếp tục quán chiếu về các pháp hữu vi, các trí tuệ minh sát sẽ phát triển. Và tại bất kỳ sát na nào hành giả đạt được con đường siêu thế, thì tâm thức đạo đó sẽ được coi là một tầng thiền jhãna trong chính nó, vì nó có một số mối quan hệ với các yếu tố thích hợp với các tầng thiền jhãna, chẳng hạn như tầng thiền jhãna đầu tiên. Những gì được gọi là thiền siêu thế trong Phật giáo là những mức độ tập trung siêu thế nằm trong tầm với của hành giả tuệ giác thuần túy. |
(page 140 - 141) |
(trang 140 - 141) |
One thỉng worth mentioning in this connec- tion is that if the meditators practising insight meditation have already obtained either an access concentration or an absorption concentration through some kind of serenity medita tion, it will be comparatively easy for them to achieve the desired results. On the other hand, one who takes up the practice of pure insight meditation without any prior experience in con- centration will have to put forth, from the very start, an unremiting endeavour until the desired results are attained. He should, in fact, give up all expectations for his body and life in an all-out struggle to reach the Supreme Goal. |
Một điều đáng đề cập trong mối liên hệ này là nếu những người hành thiền thực hành Thiền Minh Sát đã đạt được một mức độ tập trung cận định hoặc một mức độ tập trung toàn triệt thông qua một số loại thiền định thanh tịnh, thì họ sẽ dễ dàng đạt được kết quả mong muốn. Mặt khác, một người thực hành Thiền Minh Sát thuần túy mà không có bất kỳ kinh nghiệm nào trước đó về sự tập trung sẽ phải nỗ lực không ngừng nghỉ ngay từ đầu cho đến khi đạt được kết quả mong muốn. Trên thực tế, họ nên từ bỏ mọi kỳ vọng đối với cơ thể và cuộc sống của mình trong một cuộc đấu tranh toàn diện để đạt được Mục tiêu Tối cao. |
18... Sotäpanne (Stream-entere); Sakadögđmi (Once-returner); AnđgamÏ (Non-returner); Arahant (the Aecompli-hed One). |
18... Sotäpanne (Stream-entere quả vị Nhập Lưu); Sakadögđmi (Once-returner - quả vị Nhất Lai); AnđgamÏ (Non-returner - quả vị Bất Lai); Arahant A La Hán (the Accompli-hed One). |
(page 142) |
(page 142) |
(page 143) |
(trang 143) |
An opportunity to apply this training and skill towards the guidance of others came in 1967, when he was invited to become the resident meditation master of the newly opened Mitiri- gala Nissarana Vanaya, an austere meditation monastery founded by Mr. Asoka Weeraratne (now Venerable Bhikkhu Dhammanisanthi). As the meditation master of Mitirigala Nissarana Vanaya, the venerable author gave instructions in meditation to a wide circle of meditators, including monks from Western countries. |
Vào năm 1967, một cơ hội để áp dụng sự đào tạo và kỹ năng này vào việc hướng dẫn người khác đã đến, khi ông được mời làm thiền sư thường trú của Mitirigala Nissarana Vanaya mới khai trương, một tu viện thiền khổ hạnh do ngài Asoka Weeraratne (nay là vị Trưởng Lão Dhammanisanthi) sáng lập. Với tư cách là thiền sư của Mitirigala Nissarana Vanaya, tác giả đã hướng dẫn thiền cho một nhóm lớn các thiền sinh, bao gồm cả các nhà sư từ các nước phương Tây. |
The Venerable Ñãnãrãma passed away in April 1992, in his 92nd year, after a brief illness. |
Trưởng Lão Ñãnãrãma viên tịch vào tháng 4 năm 1992, thọ 92 tuổi, sau một thời gian ngắn lâm bệnh. |
In addition to the present work the venerable author has four other publications in Sinhala to. his credit, Bhãvanã Mãrgaya, an exposition of the path of meditation, Vidarshanã Parapura, a work on instruction and practice in the lineage of ¡insight meditaton, Samatha-vidarsana Bhãvanã Mãrgaya, on meditation for calm and insight, and Sapta Anupassana, on the seven. contemplations of insight. |
Ngoài tác phẩm này, Ngài còn có bốn ấn phẩm khác bằng tiếng Sinhala, bao gồm Bhãvanã Mãrgaya, một bài trình bày về con đường thiền định, Vidarshanã Parapura, một tác phẩm về hướng dẫn và thực hành theo dòng thiền tuệ, Samatha-vidarsana Bhãvanã Mãrgaya, về thiền để đạt được sự tĩnh lặng và tuệ giác, và Sapta Anupassana, về bảy phép quán chiếu về tuệ giác. |
The Buddhist Publication Society |
The Buddhist Publication Society |
webmasters: Nguyễn Văn Hoà & Minh Hạnh |