Most people still don't know the essence of meditation practice. They think that walking meditation, sitting meditation and listening to Dhamma talks are the practice. That's true too, but these are only the outer forms of practice. The real practice takes place when the mind encounters a sense object. That's the place to practice, where sense contact occurs. When people say things we don't like there is resentment, if they say things we like we experience pleasure. Now this is the place to practice. How are we going to practice with these things? This is the crucial point. If we just run around chasing after happiness and away from suffering all the time we can practice until the day we die and never see the Dhamma. This is useless. When pleasure and pain arise how are we going to use the Dhamma to be free of them? This is the point of practice.

Hầu hết hành giả chưa hiểu bản chất thực sự của việc tu tập thiền định. Họ cho rằng thiền hành, thiền tọa hay lắng nghe các bài pháp thoại chính là sự tu tập. Điều đó đúng, nhưng đó chỉ mới là những hình thức bên ngoài của sự tu tập. Sự tu tập đích thực diễn ra vào khoảnh khắc sát na tâm tiếp xúc với một đối tượng giác quan. Đó chính là nơi để thực hành, nơi mà sự tiếp xúc giác quan đang hiện hữu. Khi người khác nói những điều ta không vừa ý, tâm ta khởi lên sự bất mãn; ngược lại, khi họ nói những điều ta thích, ta lại cảm thấy hoan hỷ. Chính ngay tại những khoảnh khắc sát na này là nơi để ta tu tập. Vậy ta sẽ tu tập như thế nào với những cảm thọ ấy? Đây chính là điểm mấu chốt. Nếu ta cứ mãi chạy đuổi theo hạnh phúc và tìm cách lẩn tránh khổ đau, thì dù ta có tu tập cho đến tận ngày nhắm mắt xuôi tay, ta cũng sẽ chẳng bao giờ thấu ngộ được Chánh Pháp (Dhamma). Sự tu tập như thế hoàn toàn vô ích. Khi những cảm thọ về lạc và khổ khởi sinh, ta sẽ vận dụng giáo pháp như thế nào để có thể giải thoát khỏi chúng? Đó mới chính là mục đích thực sự của sự tu tập.

Usually when people encounter something disagreeable to them they don't open up to it. Such as when people are criticized: "Don't bother me! Why blame me?" This is someone who's closed himself off. Right there is the place to practice. When people criticize us we should listen. Are they speaking the truth? We should be open and consider what they say. Maybe there is a point to what they say, perhaps there is something blame-worthy within us. They may be right and yet we immediately take offense. If people point out our faults we should strive to be rid of them and improve ourselves. This is how intelligent people will practice.

Thường khi gặp phải điều gì đó trái ý, người ta thường không chịu mở lòng đón nhận. Chẳng hạn như khi bị phê bình, họ thường phản ứng: "Đừng làm phiền tôi! Tại sao lại đổ lỗi cho tôi?" Đó chính là biểu hiện của một người đang tự khép kín bản thân. Và chính ngay tại sát na ấy lại là cơ hội để ta thực hành tu dưỡng. Khi người khác phê bình ta nên lắng nghe. Liệu những điều họ nói có đúng sự thật hay không? Ta cần mở lòng và suy xét kỹ những lời họ nói. Có thể những lời ấy có lý, và biết đâu trong chính bản thân ta thực sự có điều gì đó đáng bị chê trách. Có thể họ nói đúng, nhưng ta cảm thấy tự ái và phật ý. Nếu người khác chỉ ra những khuyết điểm của mình, ta nên nỗ lực để loại bỏ chúng và hoàn thiện bản thân. Đó chính là cách những người trí tuệ tu tập.

Where there is confusion is where peace can arise. When confusion is penetrated with understanding what remains is peace. Some people can't accept criticism, they're arrogant. Instead they turn around and argue. This is especially so when adults deal with children. Actually children may say some intelligent things sometimes but if you happen to be their mother, for instance, you can't give in to them. If you are a teacher your students may sometimes tell you something you didn't know, but because you are the teacher you can't listen. This is not right thinking.

Chính nơi sự hoang mang hiện hữu là nơi bình an có thể nảy sinh. Khi sự hoang mang được thấu suốt bằng sự hiểu biết, điều còn lại chính là sự bình an. Một số người không thể chấp nhận lời phê bình; họ là những kẻ kiêu ngạo. Thay vào đó, họ lại quay ra tranh cãi. Điều này đặc biệt thường thấy khi người lớn tương tác với trẻ nhỏ. Thực tế là đôi khi trẻ con cũng có thể nói ra những điều rất sáng suốt, nhưng nếu bạn tình cờ là mẹ của chúng—chẳng hạn—thì bạn lại không thể nào nhượng bộ chúng được. Nếu bạn là một giáo viên, đôi khi học trò có thể nói cho bạn biết những điều mà chính bạn cũng chưa từng biết, nhưng vì bạn là thầy, nên bạn lại không thể lắng nghe. Đó không phải là một lối tư duy đúng đắn.

In the Buddha's time there was one disciple who was very astute. At one time, as the Buddha was expounding the Dhamma, he turned to this monk and asked, "Sariputta, do you believe this?" Venerable Sariputta replied, "No, I don't yet believe it." The Buddha praised his answer. "That's very good, Sariputta, you are one who us endowed with wisdom. One who is wise doesn't readily believe, he listens with an open mind and then weighs up the truth of that matter before believing or disbelieving."

Vào thời Đức Phật, có một vị đệ tử vô cùng minh mẫn. Một lần nọ, khi đang thuyết giảng Pháp, Đức Phật quay sang vị Tỳ-kheo này và hỏi: "Này Xá-lợi-phất, ông có tin điều này không?" Tôn giả Xá-lợi-phất đáp: "Bạch Thế Tôn, con vẫn chưa tin." Đức Phật đã tán thán câu trả lời của Ngài: "Thật rất tốt, này Xá-lợi-phất; ông quả là người được phú bẩm trí tuệ. Người có trí tuệ sẽ không vội vàng tin ngay; họ lắng nghe với một tâm rộng mở, rồi cân nhắc tính chân thực của vấn đề đó trước khi quyết định tin hay không tin."

Now the Buddha here has set a fine example for a teacher. What Venerable Sariputta said was true, he simply spoke his true feelings. Some people would think that to say you didn't believe that teaching would be like questioning the teacher's authority, they'd be afraid to say such a thing. They'd just go ahead and agree. This is how the worldly way goes. But the Buddha didn't take offense. He said that you needn't be ashamed of those things which aren't wrong or bad. It's not wrong to say that you don't believe if you don't believe. That's why Venerable Sariputta said, "I don't yet believe it." The Buddha praised him. "This monk has much wisdom. He carefully considers before believing anything." The Buddha's actions here are a good example for one who is a teacher of others. Sometimes you can learn things even from small children; don't cling blindly to positions of authority.

Trong bối cảnh này Đức Phật đã nêu gương cho một người làm thầy. Những lời Tôn giả Xá-lợi-phất nói hoàn toàn chân thật; Ngài chỉ đơn thuần bày tỏ những cảm nhận thực sự trong lòng mình. Một số người có thể cho rằng việc nói lên sự hoài nghi đối với một lời giáo huấn nào đó chẳng khác nào đang thách thức uy quyền của người thầy, và vì thế họ sẽ e ngại, không dám thốt ra những lời như vậy. Họ sẽ chỉ biết gật đầu đồng thuận cho qua chuyện. Đó chính là thói thường của thế gian. Nhưng, Đức Phật lại không hề cảm thấy phật ý. Ngài dạy rằng, ta chẳng cần phải cảm thấy hổ thẹn về những điều vốn dĩ không sai trái hay xấu xa. Việc nói rằng mình chưa tin, khi thực sự chưa tin, hoàn toàn không phải là điều sai quấy. Chính vì lẽ đó, Tôn giả Xá-lợi-phất đã mạnh dạn thưa rằng: "Con vẫn chưa tin điều ấy." Đức Phật đã dành lời tán thán cho Ngài: "Vị Tỳ-kheo này quả thật giàu trí tuệ. Ngài luôn suy xét thấu đáo trước khi đặt niềm tin vào bất cứ điều gì." Những hành xử của Đức Phật trong tình huống này chính là một tấm gương sáng ngời cho bất kỳ ai đang đảm nhận vai trò người thầy, người dẫn dắt kẻ khác. Đôi khi, ta vẫn có thể học hỏi được những điều hay lẽ phải ngay cả từ những đứa trẻ thơ; chớ nên mù quáng chấp chặt vào cái uy quyền hay địa vị của chính mình.

Whether you are standing, sitting, or walking around in various places, you can always study the things around you. We study in the natural way, receptive to all things, be they sights, sounds, smells, tastes, feelings or thoughts. The wise person considers them all. In the real practice, we come to the point where there are no longer any concerns weighing on the mind.

Dù hành giả đang đứng, đang ngồi hay đang đi lại ở bất cứ nơi đâu, hành giả luôn có thể quan sát và tìm hiểu những sự vật xung quanh mình. Chúng ta học hỏi một cách tự nhiên, sẵn sàng đón nhận mọi sự vật, dù đó là cảnh sắc, âm thanh, mùi hương, vị giác, cảm giác hay những dòng suy nghĩ. Người trí tuệ sẽ quán chiếu tất cả những điều ấy. Trong quá trình thực hành thực tiễn, chúng ta sẽ đạt đến trạng thái tâm không còn bị đè nặng bởi bất kỳ nỗi bận tâm nào.

If we still don't know like and dislike as they arise, there is still some concern in our minds. If we know the truth of these things, we reflect, "Oh, there is nothing to this feeling of liking here. It's just a feeling that arises and passes away. Dislike is nothing more, just a feeling that arises and passes away. Why make anything out of them?" If we think that pleasure and pain are personal possessions, then we're in for trouble, we never get beyond the point of having some concern or other in an endless chain. This is how things are for most people.

Nếu chúng ta vẫn chưa nhận biết được những cảm giác thích hay không thích ngay khi chúng khởi sinh, thì tâm ta vẫn còn những phiền não. Ngược lại, nếu thấu hiểu chân lý về những điều này, ta sẽ tự quán chiếu: "Ồ, cảm giác thích thú này thực ra chẳng có gì to tát cả. Nó chỉ đơn thuần là một cảm thọ sinh rồi diệt. Cảm giác không thích cũng chẳng khác gì, cũng chỉ là một cảm thọ sinh rồi diệt. Cớ gì ta lại phải bận tâm hay chấp trước vào chúng?" Nếu ta cứ lầm tưởng rằng niềm vui và nỗi khổ là những thứ thuộc về sở hữu cá nhân, thì ta sẽ chuốc lấy phiền não; ta sẽ chẳng bao giờ thoát ra khỏi vòng luẩn quẩn của những phiền não nối tiếp nhau trong một chuỗi bất tận. Đó chính là thực trạng của hầu hết mọi người.

But these days they don't often talk about the mind when teaching the Dhamma, they don't talk about the truth. If you talk the truth people even take exception. They say things like, "He doesn't know time and place, he doesn't know how to speak nicely." But people should listen to the truth. A true teacher doesn't just talk from memory, he speaks the truth. People in society usually speak from memory, he speaks the truth. People in the society usually speak from memory, and what's more they usually speak in such a way as to exalt themselves. The true monk doesn't talk like that, he talks the truth, the way things are.

Nhưng ngày nay khi giảng dạy Chánh Pháp, người ta thường ít nói về tâm; họ không nói về chân lý. Nếu bạn nói ra sự thật, có người còn tỏ thái độ bất bình. Họ nói những lời như: "Ông ấy chẳng biết thời biết chỗ gì cả, cũng chẳng biết cách ăn nói cho khéo léo." Nhưng lẽ ra mọi người phải biết lắng nghe chân lý. Một người Thầy chân chính không chỉ nói suông dựa trên trí nhớ; Ngài nói lên sự thật. Người đời thường nói theo trí nhớ, và hơn thế nữa, họ thường ăn nói sao cho bản thân mình được đề cao. Một vị Tỳ-kheo chân chính không nói như vậy; Ngài nói sự thật, nói đúng như bản chất vốn có của tất cả pháp hữu vi.

No matter how much he explains the truth it's difficult for people to understand. It's hard to understand the Dhamma. If you understand the Dhamma you should practice accordingly. It may not be necessary to become a monk, although the monk's life is the ideal form for practice. To really practice, you have to forsake the confusion of the world, give up family and possessions, and take to the forests. These are the ideal places to practice.

Dù Ngài có giải thích chân lý nhiều đến đâu, mọi người vẫn khó thấu hiểu. Thật khó để thấu hiểu Giáo Pháp. Nếu đã thấu hiểu Giáo Pháp, bạn cần phải thực hành theo đúng như vậy. Có lẽ không nhất thiết phải xuất gia làm Tỳ-kheo, mặc dù đời sống xuất gia chính là hình thức lý tưởng nhất cho việc tu tập. Để thực sự tu tập, bạn phải rũ bỏ những phiền não của thế gian, từ bỏ gia đình cùng tài sản, và tìm về chốn rừng sâu. Đó chính là những nơi chốn lý tưởng để tu tập.

But if we still have family and responsibilities how are we to practice? Some people say it's impossible to practice Dhamma as a layperson. Consider, which group is larger, monks or laypeople? There are far more laypeople. Now if only the monks practice and laypeople don't, then that means there's going to be a lot of confusion. This is wrong understanding. "I can't become a monk..." Becoming a monk isn't the point! Being a monk doesn't mean anything if you don't practice. If you really understand the practice of dhamma then no matter what position or profession you hold in life, be it a teacher, doctor, civil servant or whatever, you can practice the Dhamma every minute of the day.

Nhưng nếu chúng ta còn gia đình và những bổn phận phải lo toan, thì làm sao chúng ta có thể tu tập được? Một số người cho rằng việc tu tập Chánh Pháp (Dhamma) đối với một cư sĩ là điều bất khả thi. Hãy thử suy xét xem: nhóm nào đông đảo hơn, chư Tăng hay hàng cư sĩ? Rõ ràng là số lượng cư sĩ đông hơn rất nhiều. Giờ đây, nếu chỉ có chư Tăng tu tập mà hàng cư sĩ thì không, điều đó đồng nghĩa với việc sẽ nảy sinh vô vàn sự hỗn loạn và rối ren. Đó là một sự hiểu lầm sai lệch. "Tôi không thể xuất gia làm Tăng được..." Việc xuất gia làm Tăng không phải là điều cốt yếu! Danh phận một vị Tăng chẳng mang lại ý nghĩa gì cả nếu người đó không thực sự tu tập. Nếu bạn thực sự thấu hiểu con đường tu tập Chánh Pháp, thì bất kể bạn đang nắm giữ vị thế hay đảm nhiệm nghề nghiệp nào trong cuộc sống—dù là giáo viên, bác sĩ, công chức hay bất cứ nghề nào khác—bạn đều có thể thực hành Chánh Pháp ngay trong từng phút giây của mỗi ngày.

To think you can't practice as a layman is to lose track of the path completely. Why is it people can find the incentive to do other things? If they feel they are lacking something they make an effort to obtain it. If there is sufficient desire people can do anything. some say, "I haven't got time to practice the Dhamma." I say, "Then how come you've got time to breathe?" Breathing is vital to people's lives. If they saw Dhamma practice as vital to their lives they would see it as important as their breathing.

Việc cho rằng một người cư sĩ không thể thực hành giáo pháp chính là đánh mất hoàn toàn phương hướng trên con đường tu tập. Tại sao con người lại có thể tìm thấy động lực để thực hiện những việc khác? Nếu cảm thấy bản thân đang thiếu điều gì đó, họ sẽ nỗ lực để đạt được nó. Chỉ cần có đủ khát vọng, con người có thể làm được bất cứ điều gì. Có người nói rằng: "Tôi không có thời gian để thực hành Giáo pháp." Tôi liền đáp: "Vậy thì tại sao bạn lại có thời gian để hít thở?" Hít thở là điều thiết yếu đối với sự sống của con người. Nếu họ nhận thấy việc thực hành Giáo pháp cũng thiết yếu đối với cuộc đời mình, họ sẽ coi trọng việc tu tập ấy ngang với việc hít thở vậy.

The practice of dhamma isn't something you have to go running around for or exhaust yourself over. Just look at the feelings which arise in your mind. When the eye sees form, ear hears sounds, nose smells odors and so on, they all come to this one mind, "the one who knows." Now when the mind perceives these things what happens? If we like that object we experience pleasure, if we dislike it we experience displeasure. That's all there is to it.

Việc tu tập Giáo Pháp không phải là điều mà bạn cần phải chạy vòng quanh tìm kiếm hay khiến bản thân kiệt sức. Chỉ cần quán sát những cảm thọ đang khởi sinh trong tâm bạn. Khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi hương, và cứ thế tiếp diễn, tất cả đều quy về một tâm này, chính là "Người hiểu thấu tất cả các pháp ". Khi tâm nhận biết những đối tượng ấy, điều gì sẽ xảy ra? Nếu ta ưa thích đối tượng đó, ta sẽ cảm nhận niềm lạc thú; nếu ta không ưa thích, ta sẽ cảm nhận sự bất toại. Mọi chuyện chỉ đơn giản là như vậy.

So where are you going to find happiness in this world? Do you expect everybody to say only pleasant things to you all your life? Is that possible? No, it's not. If it's not possible then where are you going to go? The world is simply like this, we must know the world — Lokavidu — know the truth of this world. The world is something we should clearly understand. The Buddha lived in this world, he didn't live anywhere else. He experienced family life, but he saw its limitations and detached himself from them. Now how are you as laypeople going to practice? If you want to practice you must make an effort to follow the path. If you persevere with the practice you too will see the limitations of this world and be able to let go.

Vậy bạn sẽ tìm hạnh phúc ở đâu trên thế giới này? Phải chăng bạn mong đợi rằng suốt cả cuộc đời mình, mọi người sẽ chỉ nói với bạn những lời êm tai, dễ chịu? Điều đó liệu có khả thi chăng? Không, hoàn toàn không thể. Nếu điều đó là bất khả thi, vậy thì bạn biết nương tựa vào đâu? Thế giới này vốn dĩ là như vậy; chúng ta cần phải thấu hiểu thế giới, *Lokavidu* , tức là Người hiểu thấu tất cả các pháp của thế gian. Người thông suốt Tam giới. Thế giới là một thực tại mà chúng ta cần phải thấu triệt một cách rõ ràng. Đức Phật đã sống ngay trong thế giới này, Ngài không hề sống ở một nơi nào khác. Ngài từng trải nghiệm đời sống gia đình, nhưng Ngài đã nhận thấy những giới hạn của nó và tự buông xả, thoát ly khỏi những ràng buộc ấy. Vậy thì, với tư cách là những người cư sĩ tại gia, các bạn sẽ tu tập như thế nào đây? Nếu thực sự muốn tu tập, các bạn buộc phải nỗ lực hết mình để bước đi trên con đường Chánh đạo. Nếu kiên trì bền bỉ trong việc tu tập, chính các bạn cũng sẽ nhận thấy những giới hạn của thế giới này và có thể buông bỏ mọi sự chấp trước.

People who drink alcohol sometimes say, "I just can't give it up." Why can't they give it up? Because they don't yet see the liability in it. If they clearly saw the liability of it they wouldn't have to wait to be told to give it up. If you don't see the liability of something that means you also can't see the benefit of giving it up. Your practice becomes fruitless, you are just playing at practice. If you clearly see the liability and the benefit of something you won't have to wait for others to tell you about it. Consider the story of the fisherman who finds something in his fish-trap. He knows something is in there, he can hear it flapping about inside. Thinking it's a fish, he reaches his hand into the trap, only to find a different kind of animal. He can't yet see it, so he's in two minds about it. On one hand it could be an eel, [13] but then again it could be a snake. If he throws it away he may regret it... it could be an eel. On the other hand, if he keeps holding on to it and it turns out to be a snake it may bite him. He's caught in a state of doubt. His desire is so strong he holds on, just in case it's an eel, but the minute he brings it and sees the striped skin he throws it down straight away. He doesn't have to wait for someone to call out, "It's a snake, it's a snake, let go!" The sight of the snake tells him what to do much more clearly than words could do. Why? Because he sees the danger — snakes can bite! Who has to tell him about it? In the same way, if we practice till we see things as they are we won't meddle with things that are harmful.

Những người uống rượu thường nói: "Tôi không thể bỏ được." Tại sao họ lại không thể bỏ? Bởi vì họ chưa nhìn thấy những tác hại tiềm ẩn trong đó. Nếu họ nhìn thấy những tác hại ấy, họ sẽ chẳng phải đợi có người nhắc nhở mới từ bỏ. Nếu bạn không nhìn thấy tác hại của một điều gì đó cũng đồng nghĩa với việc bạn không thể nhìn thấy được lợi ích của việc từ bỏ nó. Việc tu tập của bạn sẽ không có kết quả; bạn chỉ đang tu tập hời hợt mà thôi. Nếu bạn nhìn thấy rõ tác hại lẫn lợi ích của một điều gì đó, bạn sẽ không cần phải đợi người khác nói. Hãy suy ngẫm về câu chuyện của một người ngư dân, khi ông phát hiện có thứ gì đó mắc trong chiếc lờ bắt cá của mình. Bởi ông có thể nghe thấy tiếng nó quẫy đạp bên trong. Nghĩ rằng đó là một con cá, ông thò tay vào trong lờ, nhưng rồi lại chạm phải một loài vật hoàn toàn khác. Ông vẫn chưa thể nhìn thấy nó, nên tâm trí ông trở nên lưỡng lự, phân vân. Một mặt, đó có thể là một con lươn, [13] mặt khác, cũng có thể là một con rắn. Nếu vứt bỏ nó đi, ông có thể sẽ hối tiếc... biết đâu đó lại là một con lươn. Mặt khác, nếu cứ tiếp tục nắm giữ nó, nếu là một con rắn, thì ông có thể sẽ bị nó cắn. Ông trong trạng thái hoài nghi. Lòng tham của ông mạnh mẽ đến mức ông vẫn cứ nắm chặt lấy cái lờ, chỉ để đề phòng trường hợp đó là một con lươn; thế nhưng, ngay khoảnh khắc ông kéo vật đó ra và nhìn thấy lớp da có những vằn sọc, ông liền buông tay vứt nó xuống ngay lập tức. Ông chẳng cần phải đợi ai đó la lên rằng: "Rắn đấy! Rắn đấy! Buông tay ra mau!" Hình ảnh con rắn hiện ra trước mắt đã mách bảo ông biết phải làm gì một cách rõ ràng và dứt khoát hơn nhiều so với bất kỳ lời nói nào. Tại sao lại như vậy? Bởi vì ông đã nhìn thấy mối nguy hiểm — rắn thì có thể cắn người! Vậy còn cần ai nói cho ông biết về điều đó? Cũng theo cách thức ấy, nếu chúng ta tu tập cho đến khi nhìn thấu sự vật đúng như bản chất vốn có của chúng, thì chúng ta sẽ không còn dính líu hay bận tâm đến những điều gây hại nữa.

People don't usually practice in this way, they usually practice for other things. They don't contemplate things, they don't reflect on old age, sickness and death. They only talk about non-aging and non-death, so they never develop the right feeling for Dhamma practice. They go and listen to Dhamma talks but they don't really listen. Sometimes I get invited to give talks at important functions, but it's a nuisance for me to go. Why so? Because when I look at the people gathered there I can see that they haven't come to listen to the Dhamma. Some are smelling of alcohol, some are smoking cigarettes, some are chatting... they don't look at all like people who have come out of faith in the Dhamma. Giving talks at such places is of little fruit. People who are sunk in heedlessness tend to think things like, "When he's ever going to stop talking?... Can't do this, can't do that..." and their minds just wander all over the place.

Người đời thường không tu tập theo cách này; họ thường tu tập vì những mục đích khác. Họ không quán chiếu sự vật, không suy ngẫm về tuổi già, bệnh tật và cái chết. Họ chỉ bàn luận về sự bất lão và bất tử, nên chẳng bao giờ nuôi dưỡng được một tâm đúng với việc tu tập Chánh Pháp. Họ tìm đến nghe các bài pháp thoại, nhưng thực tâm lại chẳng hề lắng nghe. Đôi khi tôi được mời đến thuyết pháp tại những buổi lễ quan trọng, nhưng việc phải đến đó lại trở thành một điều phiền toái đối với tôi. Tại sao vậy? Bởi khi nhìn vào đám đông tụ họp nơi đó, tôi nhận thấy rằng họ không hề đến để lắng nghe Chánh pháp. Có người nồng nặc mùi rượu, người thì phì phèo thuốc lá, người lại đang rôm rả trò chuyện... trông họ chẳng chút nào giống những người tìm đến đây vì niềm tin nơi Chánh pháp cả. Việc thuyết pháp tại những nơi như thế thường chẳng mang lại lợi ích. Những người đang chìm đắm trong sự phóng dật thường nảy sinh những suy nghĩ kiểu như: "Chẳng biết bao giờ ông ấy mới chịu ngừng nói đây?... Cái này cũng cấm, cái kia cũng cấm..." và tâm họ cứ thế lang thang khắp chốn.

Sometimes they even invite me to give a talk just for the sake of formality: "Please give us just a small Dhamma talk, Venerable Sir." They don't want me to talk too much, it might annoy them! As soon as I hear people say this I know what they're about. These people don't like listening to Dhamma. It annoys them. If I just give a small talk they won't understand. If you take only a little food, is it enough? Of course not.

Đôi khi họ thậm chí còn mời tôi thuyết pháp chỉ cốt để giữ phép xã giao: "Bạch Thầy, xin Thầy hoan hỷ ban cho chúng con đôi lời pháp thoại ngắn gọn." Họ chẳng hề muốn tôi nói quá nhiều, vì điều đó có thể khiến họ cảm thấy phiền toái! Hễ nghe thấy người ta nói như vậy, tôi liền hiểu rõ tâm ý của họ. Những người này vốn chẳng thích nghe pháp; việc đó chỉ làm họ thấy khó chịu. Nếu tôi chỉ thuyết giảng đôi lời ngắn ngủi, họ sẽ chẳng thể nào thấu hiểu được. Cũng giống như việc bạn chỉ ăn một chút thức ăn, liệu chừng đó có đủ no hay không? Dĩ nhiên là không rồi.

Sometimes I'm giving a talk, just warming up to the subject, and some drunkard will call out, "Okay, make way, make way for the Venerable Sir, he's coming out now!" — trying to drive me away! If I meet this kind of person I get a lot of food for reflection, I get an insight into human nature. It's like a person having a bottle full of water and then asking for more. There's nowhere to put it. It isn't worth the time and energy to teach them, because their minds are already full. Pour any more in and it just overflows uselessly. If their bottle was empty there would be somewhere to put the water, and both the giver and the receiver would benefit.

Đôi khi đang lúc tôi thuyết giảng, vừa mới bắt đầu làm nóng chủ đề, thì bỗng có một gã say rượu cất tiếng gọi to: "Nào, dạt ra, dạt hết ra để nhường đường cho Đức Tôn giả nào, ngài đang bước ra đấy!" hắn làm vậy cốt để xua đuổi tôi đi! Khi gặp phải hạng người như thế, tôi lại có thêm thật nhiều điều để suy ngẫm, và nhờ đó mà thấu hiểu sâu sắc hơn về bản chất của con người. Điều này cũng tựa như việc một người đang cầm trên tay một chai đã chứa đầy nước, thế mà lại cứ đòi xin thêm nữa. Thử hỏi còn chỗ nào để chứa thêm được đây? Thật chẳng đáng để ta phí hoài thời gian và tâm sức mà giáo huấn họ, bởi tâm của họ vốn dĩ đã chật ních cả rồi. Nếu ta có cố đổ thêm vào nữa, thì nước cũng chỉ tràn ra ngoài một cách vô ích mà thôi. Ngược lại, nếu chiếc chai ấy đang rỗng, thì sẽ có chỗ để chứa nước; và khi ấy, cả người cho lẫn người nhận đều sẽ cùng được lợi ích.

In this way, when people are really interested in Dhamma and sit quietly, listening carefully, I feel more inspired to teach. If people don't pay attention it's just like the man with the bottle full of water... there's no room to put anymore. It's hardly worth my while talking to them. In situations like this I just don't get any energy arising to teach. You can't put much energy into giving when no-one's putting much energy into receiving.

Cứ như thế, khi mọi người thực sự quan tâm đến Pháp và ngồi tĩnh lặng, lắng nghe chăm chú, tôi cảm thấy càng thêm hứng khởi để giảng dạy. Ngược lại, nếu mọi người không chú tâm, thì cũng chẳng khác nào người đàn ông với chiếc chai đã chứa đầy nước... chẳng còn chút chỗ trống nào để chứa thêm nữa. Khi ấy, việc tôi cất lời nói với họ dường như chẳng còn mấy ý nghĩa. Trong những tình huống như vậy, tôi hoàn toàn không cảm thấy chút năng lượng nào trỗi dậy để giảng dạy cả. Bạn khó lòng dồn nhiều tâm sức vào việc trao đi, khi mà chẳng có ai dồn nhiều tâm sức vào việc đón nhận.

These days giving talks tends to be like this, and it's getting worse all the time. People don't search for truth, they study simply to find the necessary knowledge to make a living, raise families and look after themselves. They study for a livelihood. There may be some study of Dhamma, but not much. Students nowadays have much more knowledge than students of previous times. They have all the requisites at their disposal, everything is more convenient. But they also have a lot more confusion and suffering than before. Why is this? Because they only look for the kind of knowledge used to make a living.

Ngày nay việc thuyết giảng thường diễn ra theo chiều hướng này, và tình trạng ấy ngày càng trở nên tồi tệ hơn. Mọi người không tìm cầu chân lý; họ học tập đơn thuần chỉ để tích lũy những kiến ​​thức cần thiết nhằm mưu sinh, nuôi dạy gia đình và lo cho bản thân. Họ học cốt chỉ để kiếm kế sinh nhai. Dẫu có đôi chút sự học hỏi về Pháp (Dhamma), thì cũng chẳng đáng là bao. Học sinh, sinh viên thời nay sở hữu vốn kiến ​​thức đồ sộ hơn nhiều so với các thế hệ trước. Họ có trong tay mọi điều kiện cần thiết, mọi thứ đều trở nên thuận tiện hơn. Thế nhưng, họ lại phải gánh chịu nhiều sự hoang mang và khổ đau hơn xưa rất nhiều. Vì sao lại như vậy? Chính là bởi lẽ họ chỉ mải miết tìm kiếm những loại kiến ​​thức phục vụ cho mục đích mưu sinh mà thôi.

Even the monks are like this. Sometimes I hear them say, "I didn't become a monk to practice the Dhamma, I only ordained to study." These are the words of someone who has completely cut off the path of practice. There's no way ahead, it's a dead end. When these monks teach it's only from memory. They may teach one thing but their minds are in completely different place. Such teachings aren't true.

Ngay cả các vị Tỳ-kheo cũng có trường hợp như vậy. Đôi khi tôi nghe họ nói: "Tôi xuất gia không phải để tu tập Pháp, tôi chỉ thọ giới để học hỏi mà thôi." Đó là lời nói của một người đoạn tuyệt con đường tu tập. Chẳng còn lối đi nào phía trước, đó là một ngõ cụt. Khi những vị Tỳ-kheo này thuyết giảng, họ chỉ nói dựa trên trí nhớ. Miệng họ có thể giảng một đằng, nhưng tâm lại hoàn toàn ở một nơi khác. Những lời giảng dạy như thế không phải là chân thực.

This is how the world is. If you try to live simply, practicing the Dhamma and living peacefully, they say you are weird and anti-social. They say you're obstructing progress in society. They even intimidate you. Eventually you might even start to believe them and revert to the worldly ways, sinking deeper and deeper into the world until it's impossible to get out. Some people say, "I can't get out now, I've gone in to deeply." This is how society tends to be. It doesn't appreciate the value of Dhamma.

Thế giới này vốn như vậy. Nếu bạn cố gắng sống giản dị, thực hành Chánh Pháp và sống trong an lạc, người ta sẽ bảo bạn thật kỳ quặc và lập dị. Họ cho rằng bạn đang cản trở sự tiến bộ của xã hội. Thậm chí, họ còn tìm cách gây áp lực hay đe dọa bạn. Dần dà, có thể bạn sẽ bắt đầu tin vào những lời đó và quay trở lại với lối sống thế tục; bạn sẽ lún sâu, ngày càng lún sâu hơn vào vòng xoáy trần thế, cho đến khi không còn lối thoát nữa. Có những người đã thốt lên rằng: "Giờ tôi không thể thoát ra được nữa rồi, tôi đã lún quá sâu vào trong đó rồi." Xã hội này thường vận hành theo cách như thế. Nó không hề trân trọng giá trị đích thực của Pháp.

The value of Dhamma isn't to be found in books. those are just the external appearances of Dhamma, they're not the realization of Dhamma as a personal experience. If you realize the Dhamma you realize your own mind, you see the truth there. When the truth becomes apparent it cuts off the stream of delusion.

Giá trị của Chánh Pháp (Dhamma) không nằm ở những cuốn sách. Những cuốn sách ấy chỉ là vẻ bề ngoài của Dhamma, chứ không phải là sự chứng ngộ Dhamma như một trải nghiệm cá nhân. Khi chứng ngộ Dhamma, bạn sẽ thấu suốt chính tâm mình và nhìn thấy chân lý ngay tại đó. Một khi chân lý hiển lộ, nó sẽ cắt đứt dòng chảy của sự si mê.

The teaching of the Buddha is the unchanging truth, whether in the present or in any other time. The Buddha revealed this truth 2,500 years ago and it's been the truth ever since. This teaching should not be added to or taken away from. The Buddha said, "What the Tathagata has laid down should not be discarded, what has not been laid down by the Tathagata should not be added on to the teachings." He "sealed off" the Teachings. Why did the Buddha seal them off? Because these Teachings are the words of one who has no defilements. No matter how the world may change these Teachings are unaffected, they don't change with it. If something is wrong, even if people say it's right doesn't make it any the less wrong. If something is right, it doesn't change any just because people say it's not. Generation after generation may come and go but these things don't change, because these Teachings are the truth.

Giáo lý của Đức Phật là chân lý bất biến, dù ở hiện tại hay bất kỳ thời điểm nào khác. Đức Phật đã giảng chân lý này cách đây 2.500 năm và nó vẫn là chân lý cho đến nay. Giáo lý này không được thêm vào hay bớt đi. Đức Phật nói: "Những gì Như Lai đã truyền dạy không nên loại bỏ, những gì không được Như Lai truyền dạy thì không nên được thêm vào." Ngài đã "bảo vệ" các Giáo lý. Tại sao Đức Phật lại bảo vệ chúng? Bởi vì những Giáo lý này là lời của bậc không có ô nhiễm. Dù thế giới có thay đổi thế nào, những Giáo lý này vẫn không bị ảnh hưởng, chúng không thay đổi theo thế giới. Nếu điều gì đó sai, ngay cả khi người ta nói nó đúng cũng không làm cho nó bớt sai. Nếu điều gì đó đúng, nó không thay đổi chỉ vì người ta nói nó sai. Hết thế hệ này đến thế hệ khác có thể đến rồi đi nhưng những Giáo Lý này không thay đổi, bởi vì những Giáo lý này là chân lý.

Now who created this truth? The truth itself created the truth! Did the Buddha create it? No, he didn't. The Buddha only discovered the truth, the way things are, and then he set out to declare it. The truth is constantly true, whether a Buddha arises in the world or not. The Buddha only "owns" the Dhamma in this sense, he didn't actually create it. It's been here all the time. However, previously no-one had searched for and found the Deathless, then taught it as the Dhamma. He didn't invent it, it was already there.

Bây giờ ai đã tạo ra chân lý này? Chính chân lý tự tạo ra chính nó! Phải chăng Đức Phật đã tạo ra nó? Không, Ngài không hề làm vậy. Đức Phật chỉ khám phá ra chân lý, bản chất thực sự của vạn vật, rồi sau đó Ngài tuyên thuyết chân lý ấy. Chân lý luôn luôn đúng, bất kể một vị Phật có xuất hiện trên thế gian này hay không. Đức Phật chỉ "sở hữu" Giáo Pháp (Dhamma) theo ý nghĩa đó; thực chất, Ngài không hề tạo ra nó. Nó đã luôn hiện hữu ở đây từ thuở nào. Tuy nhiên, trước đó chưa từng có ai tìm cầu và chứng đắc cảnh giới Bất Tử, rồi đem giảng dạy điều ấy như là Giáo Pháp. Ngài không hề sáng tạo ra nó; nó vốn dĩ đã hiện hữu sẵn ở đó rồi.

At some point in time the truth is illuminated and the practice of Dhamma flourishes. As time goes on and generations pass away the practice degenerates until the Teaching fades away completely. After a time the Teaching is re-founded and flourishes once more. As time goes on the adherents of the Dhamma multiply, prosperity sets in, and once more the Teaching begins to follow the darkness of the world. And so once more it degenerates until such a time as it can no longer hold ground. Confusion reigns once more. Then it is time to re-establish the truth. In fact the truth doesn't go anywhere. When Buddhas pass away the Dhamma doesn't disappear with them.

Đến một thời điểm nào đó, chân lý được soi sáng và sự thực hành Chánh Pháp (Dhamma) trở nên hưng thịnh. Cùng với dòng chảy của thời gian và sự luân chuyển của các thế hệ, sự thực hành dần thoái hóa cho đến khi Giáo Pháp hoàn toàn phai mờ. Sau một khoảng thời gian, Giáo Pháp lại được trở lại và một lần nữa trở nên hưng thịnh. Khi thời gian trôi đi, số lượng người tu học Chánh Pháp ngày càng gia tăng, sự phồn thịnh xuất hiện, và một lần nữa, Giáo Pháp lại bắt đầu chìm vào bóng tối của thế gian. Và cứ thế, nó lại thoái hóa cho đến khi không còn đủ sức đứng vững. Sự hỗn loạn lại một lần nữa ngự trị. Khi ấy, chính là lúc cần phải tái lập chân lý. Kỳ thực, chân lý chẳng hề đi đâu cả. Khi các vị Phật nhập Niết-bàn, Giáo Pháp không hề biến mất cùng với các Ngài.

The world revolves like this. It's something like a mango tree. The tree matures, blossoms, and fruits appear and grow to ripeness. They become rotten and the seed goes back into the ground to become a new mango tree. The cycle starts once more. Eventually there are more ripe fruits which proceed to fall, rot, sink into the ground as seeds and grow once more into trees. This is how the world is. It doesn't go very far, it just revolves around the same old things.

Thế giới vận hành theo cách như thế. Nó tựa như một cây xoài. Cây lớn lên, đơm hoa, rồi những quả xoài xuất hiện và lớn dần cho đến khi chín mọng. Chúng đi tới thối rữa, và hạt lại trở về lòng đất để nảy mầm thành một cây xoài mới. Vòng tuần hoàn ấy lại bắt đầu một lần nữa. Ngày càng có thêm nhiều quả chín rụng xuống, thối rữa, chìm sâu vào lòng đất dưới dạng những hạt giống, rồi lại vươn lên thành những thân cây mới. Thế giới này chính là như vậy. Nó chẳng đi đâu xa; nó chỉ xoay vần quanh mãi những điều cũ kỹ ấy.

Our lives these days are the same. Today we are simply doing the same old things we've always done. People think too much. There are so many things for them to get interested in, but none of them leads to completion. There are the sciences like mathematics, physics, psychology and so on. You can delve into any number of them but you can only finalize things with the truth.

Cuộc sống của chúng ta ngày nay giống như vậy. Hôm nay chúng ta đơn thuần chỉ đang làm lại những điều cũ kỹ mà ta vẫn luôn làm từ trước tới nay. Con người thường suy nghĩ quá nhiều. Có biết bao điều để họ tìm thấy hứng thú, nhưng chẳng có điều nào trong số đó dẫn tới sự trọn vẹn. Đó là các bộ môn khoa học như toán học, vật lý, tâm lý học, và vân vân. Bạn có thể đào sâu vào bất kỳ lĩnh vực nào trong số đó, nhưng bạn chỉ có thể tìm thấy sự viên mãn thực sự nơi Chân lý.

Suppose there was a cart being pulled by an ox. The wheels aren't long, but the tracks are. As long as the ox pulls the cart the tracks will follow. The wheels are round yet the tracks are long; the tracks are long yet the wheels are merely circles. Just looking at a stationary cart you can't see anything long about it, but once the ox starts moving you see the tracks stretching out behind you. As long as the ox pulls, the wheels keep on turning... but there comes a day when the ox tires and throws off its harness. The ox walks off and leaves the empty cart sitting there. The wheels no longer turn. In time the cart falls apart, its components go back into the four elements — earth, water, wind and fire.

Giả sử con bò kéo một chiếc xe. Bánh xe thì không dài, nhưng những vết xe in trên đường thì lại dài. Chừng nào con bò còn kéo chiếc xe, thì những vết xe vẫn cứ nối tiếp theo sau. Bánh xe thì tròn, nhưng vết xe lại dài; vết xe thì dài, nhưng bánh xe lại chỉ đơn thuần là những vòng tròn. Chỉ nhìn vào một chiếc xe đang đứng yên, ta chẳng thể thấy bất cứ điều gì dài nơi nó; nhưng một khi con bò bắt đầu kéo chiếc xe, ta sẽ thấy những vết xe trải dài phía sau. Chừng nào con bò còn kéo, bánh xe vẫn cứ tiếp tục lăn... nhưng rồi sẽ đến một ngày, con bò mệt mỏi và rũ bỏ bộ ách trên vai. Con bò bỏ đi, để lại chiếc xe trống rỗng nằm chơ vơ tại đó. Bánh xe không còn lăn nữa. Theo thời gian, chiếc xe dần tan rã, các bộ phận cấu thành nên nó lại trở về với tứ đại — đất, nước, gió và lửa.

Searching for peace within the world you stretch the cart wheel tracks endlessly behind you. As long as you follow the world there is no stopping, no rest. If you simply stop following it, the cart comes to rest, the wheels no longer turn. Following the world turns the wheels ceaselessly. Creating bad kamma is like this. As long as you follow the old ways there is no stopping. If you stop there is stopping. This is how we practice the Dhamma.

Mải tìm kiếm sự an lạc giữa thế gian, bạn cứ thế kéo dài mãi những vết xe lăn phía sau lưng mình. Chừng nào bạn còn chạy theo thế gian, thì chừng đó vẫn chưa có điểm dừng, chưa có phút nghỉ ngơi. Nếu bạn đơn thuần dừng việc chạy theo, thì cỗ xe sẽ đứng yên, và những bánh xe sẽ chẳng còn lăn nữa. Việc chạy theo thế gian khiến những bánh xe cứ thế lăn mãi không ngừng. Việc tạo tác ác nghiệp cũng diễn ra y như vậy. Chừng nào bạn còn bám víu vào những lối mòn cũ kỹ, thì chừng đó vẫn chưa thể dừng lại được. Nếu bạn chịu dừng lại, thì sự dừng lại sẽ thực sự hiện hữu. Đó chính là cách chúng ta tu tập Chánh Pháp.

There are two ways to support Buddhism. One is known as amisapuja, supporting through material offerings. These are the four requisites of food, clothing, shelter and medicine. This is to support Buddhism by giving material offerings to the Sangha of monks and nuns, enabling them to live in reasonable comfort for the practice of Dhamma. This fosters the direct realization of the Buddha's teaching, in turn bringing continued prosperity to the Buddhist religion.

Có hai phương cách để hộ trì Phật giáo. Một phương cách được gọi là *amisapuja* sự hộ trì thông qua các phẩm vật cúng dường. Đó chính là Tứ sự: thực phẩm, y phục, chỗ ở và thuốc men. Đây là việc hộ trì Phật giáo bằng cách dâng cúng các phẩm vật vật chất lên Tăng đoàn gồm chư Tăng và Ni, giúp các vị có được đời sống tương đối đầy đủ để chuyên tâm tu tập Pháp. Việc làm này giúp nuôi dưỡng sự chứng ngộ trực tiếp giáo lý của Đức Phật, và nhờ đó mang lại sự hưng thịnh trường cửu cho đạo Phật.

Buddhism can be likened to a tree. A tree has roots, a trunk, branches, twigs and leaves. All the leaves and branches, including the trunk, depend on the roots to absorb nutriment from the soil and send it out to them. In the same way as the tree depends on the roots to sustain it, our actions and our speech are like "branches" and "leaves," which depend on the mind, the "root," absorbing nutriment, which it then sends it out to the "trunk," "branches" and "leaves." These in turn bear fruit as our speech and actions. Whatever state the mind is in, skillful or unskillful, it expresses that quality outwardly through our actions and speech.

Phật giáo có thể được ví như một cái cây. Một cái cây bao gồm rễ, thân, cành, nhánh và lá. Tất cả lá và cành bao gồm cả phần thân, đều phụ thuộc vào bộ rễ để hấp thụ dưỡng chất từ ​​đất và chuyển tải đến nuôi dưỡng chúng. Cũng giống như việc cái cây phải nương tựa vào bộ rễ để duy trì sự sống, những hành động và lời nói của chúng ta tựa như những "cành" và "lá"; chúng phụ thuộc vào tâm vốn đóng vai trò là "bộ rễ" để hấp thụ dưỡng chất, rồi từ đó chuyển tải nguồn nuôi dưỡng ấy đến "thân", "cành" và "lá". Đến lượt mình, những bộ phận này sẽ kết thành "quả" chính là lời nói và hành động của chúng ta. Bất kể tâm đang ở trong trạng thái nào, thiện hay bất thiện, nó đều biểu hiện phẩm chất ấy ra bên ngoài thông qua những hành động và lời nói của chúng ta.

Therefore the support of Buddhism through the practical application of the teaching is the most important kind of support. For example, in the ceremony of determining the precepts on observance days, the Teacher describes those unskillful actions which should be avoided. But if you simply go through the ceremony of determining the precepts without reflecting on their meaning, progress is difficult. You will be unable to find the true practice. The real support of Buddhism must therefore be done through patipattipuja, the "offering" of practice, cultivating true restraint, concentration and wisdom. Then you will know what Buddhism is all about. If you don't understand through practice you still won't know, even if you learn the whole Tipitaka.

Do vậy việc hộ trì Phật pháp thông qua việc tu tập những lời giáo huấn chính là hình thức hộ trì quan trọng nhất. Chẳng hạn, trong nghi thức thọ giới vào những ngày trai giới, vị Thầy thường chỉ rõ những hành vi bất thiện cần phải tránh. Tuy nhiên, nếu bạn chỉ đơn thuần tham dự nghi thức thọ giới mà không suy ngẫm về ý nghĩa của chúng, thì việc đạt được sự tiến bộ sẽ vô cùng khó khăn; bạn sẽ không thể tìm thấy con đường tu tập chân chính. Vì thế, sự hộ trì Phật pháp đích thực phải được tu tập thông qua *patipattipuja* tức là "cúng dường" bằng sự thực hành, giới, định và tuệ một cách chân thực. Khi ấy, bạn mới thực sự thấu hiểu bản chất của Phật pháp là gì. Nếu không thể thấu hiểu thông qua sự thực hành, bạn vẫn sẽ chẳng thể nào biết được, cho dù bạn có học thuộc lòng toàn bộ Tam Tạng Kinh Điển.

In the time of the Buddha there was a monk known as Tuccho Pothila. Tuccho Pothila was very learned, thoroughly versed in the scriptures and texts. He was so famous that he was revered by people everywhere and had eighteen monasteries under his care. When people heard the name "Tuccho Pothila" they were awe-struck and nobody would dare question anything he taught, so much did they revere his command of the teachings. Tuccho Pothila was one of the Buddha's most learned disciples.

Vào thời Đức Phật có một vị Tỳ-kheo tên là Tuccho Pothila. Tuccho Pothila là người vô cùng uyên bác, thông thạo tường tận các kinh điển và các chú giải Phật học. Ông nổi danh đến mức được mọi người ở khắp nơi tôn kính, và có tới mười tám ngôi tinh xá nằm dưới sự trông coi của mình. Khi nghe đến tên "Tuccho Pothila", mọi người đều tỏ lòng kính phục và không ai dám chất vấn bất cứ điều gì ông giảng dạy, bởi họ vô cùng tôn kính sự am hiểu sâu sắc của ông đối với giáo pháp. Tuccho Pothila là một trong những đệ tử uyên bác nhất của Đức Phật.

One day he went to pay respects to the Buddha. As he was paying his respects, the Buddha said, "Ah, hello, Venerable Empty Scripture!"... just like that! They conversed for a while until it was time to go, and then, as he was taking leave of the Buddha, the Buddha said, "Oh, leaving now, Venerable Empty Scripture?"

Một ngày nọ ông đến đảnh lễ Đức Phật. Khi ông đang đảnh lễ, Đức Phật nói: "À, chào Hòa Thượng Rỗng Tuếch!"... đúng là như thế! Hai người trò chuyện một lúc cho đến khi đến giờ ra về; rồi khi ông đang cáo từ Đức Phật, Đức Phật lại nói: "Ồ, Hòa Thượng Rỗng Tuếch ra về đấy ư?"

That was all the Buddha said. On arriving, "Oh, hello, Venerable Empty Scripture." When it was time to go, "Ah, leaving now, Venerable Empty Scripture?" The Buddha didn't expand on it, that was all the teaching he gave. Tuccho Pothila, the eminent teacher, was puzzled, " Why did the Buddha say that? What did he mean?" He thought and thought, turning over everything he had learned, until eventually he realized..."It's true! "Venerable Empty Scripture" — a monk who studies but doesn't practice." When he looked into his heart he saw that really he was no different from laypeople. Whatever they aspired to he also aspired to, whatever they enjoyed he also enjoyed. There was no real samana [14] within him, no truly profound quality capable of firmly establishing him in the Noble Way and providing true peace.

Đó là tất cả những gì Đức Phật đã nói. Khi ông vừa đến, Ngài nói: "Ồ, xin chào, thưa Tôn giả Kinh điển Rỗng tuếch." Khi đến lúc ông ra về, Ngài lại nói: "À, Tôn giả Kinh điển Rỗng tuếch đang ra về đấy ư?" Đức Phật không nói thêm gì nữa; đó là toàn bộ lời giáo huấn mà Ngài đã ban cho ông. Tuccho Pothila, vị đạo sư danh tiếng ấy cảm thấy vô cùng hoang mang: "Tại sao Đức Phật lại nói như vậy? Ngài muốn ám chỉ điều gì đây?" Ông suy tư, trăn trở, xem xét đi xem xét lại mọi điều mình đã từng học hỏi, cho đến cuối cùng ông chợt bừng tỉnh nhận ra... "Đúng thật rồi! 'Tôn giả Kinh điển Rỗng tuếch' đó chính là hình ảnh một vị Tỳ-kheo chỉ biết học hỏi suông mà chẳng hề thực hành." Khi quán chiếu sâu vào nội tâm mình, ông thấy rằng thực chất ông chẳng khác gì những người cư sĩ tại gia. Những gì họ khao khát, ông cũng khao khát; những gì họ ưa thích, ông cũng ưa thích. Bên trong ông chẳng hề có một phẩm chất chân tu [14] đích thực nào, không hề có một phẩm tính thâm sâu nào đủ sức giúp ông an trụ vững vàng trên Thánh đạo và mang lại sự an lạc chân thực.

So he decided to practice. But there was nowhere for him to go to. All the teachers around were his own students, no-one would dare accept him. Usually when people meet their teacher they become timid and deferential, and so no-one would dare to become his teacher.

Thế là ông quyết định thực tập Pháp Hành. Nhưng chẳng có nơi nào để ông tìm đến. Tất cả những người thầy quanh đó đều chính là học trò của ông; chẳng ai dám nhận ông làm học trò. Thường thì khi gặp lại thầy mình, người ta thường trở nên rụt rè và cung kính; chính vì thế, chẳng ai dám đứng ra làm thầy của ông.

Finally he went to see a certain young novice, who was enlightened, and asked to practice under him. The novice said, "Yes, sure you can practice with me, but only if you're sincere. If you're not sincere then I won't accept you." Tuccho Pothila pledged himself as a student of the novice.

Cuối cùng ông tìm đến gặp một vị sa-di trẻ tuổi đã đắc Alahan, và xin được tu học dưới sự chỉ dẫn của vị ấy. Vị sa-di đáp: "Được chứ, ông hoàn toàn có thể tu học cùng tôi, nhưng chỉ khi ông thực sự chân thành. Nếu thiếu đi sự chân thành, tôi sẽ không thâu nhận ông đâu." Tuccho Pothila liền phát nguyện trở thành đệ tử của vị sa-di ấy.

The novice then told him to put on all his robes. Now there happened to be a muddy bog nearby. When Tuccho Pothila had neatly put on all his robes, expensive ones they were, too, the novice said, "Okay, now run down into this muddy bog. If I don't tell you to stop, don't stop. If I don't tell you to come out, don't come out. Okay... run!"

Vị Sadi nói ông hãy mặc y cà sa vào. Và ngay gần đó lại có một vũng bùn lầy. Khi Tuccho Pothila đã chỉnh tề mặc xong y cà xa vốn là những bộ rất đắt tiền, vị sadi liền nói: "Được rồi, bây giờ hãy chạy xuống vũng bùn lầy này đi. Nếu tôi chưa bảo dừng, thì đừng dừng lại. Nếu tôi chưa bảo bước ra khỏi vũng bùn, thì đừng bước ra. Được rồi... chạy đi!"

Tuccho Pothila, neatly robed, plunged into the bog. The novice didn't tell him to stop until he was completely covered in mud. Finally he said, "You can stop, now." So he stopped. "Okay, come on up!" And so he came out.

Tuccho Pothila, trong bộ y cà sa chỉnh tề, lao mình xuống đầm lầy. Vị Sadi không bảo ông dừng lại cho đến khi ông đã hoàn toàn lấm lem bùn đất. Cuối cùng, vị Sadi nói: "Bây giờ ông có thể dừng lại được rồi." Thế là ông dừng lại. "Được rồi, hãy đi lên đi!" Và thế là ông bước lên bờ.

This clearly showed that Tuccho Pothila had given up his pride. He was ready to accept the teaching. If he wasn't ready to learn he wouldn't have run into the bog like that, being such a famous teacher, but he did it. The young novice, seeing this, knew that Tuccho Pothila was sincerely determined to practice.

Điều này cho thấy Tuccho Pothila đã buông bỏ niềm kiêu hãnh của mình. Ông đã sẵn sàng đón nhận giáo huấn. Nếu chưa sẵn lòng học hỏi, một vị đạo sư lừng danh như ông hẳn sẽ chẳng lao mình xuống vũng lầy như thế; nhưng, ông đã làm điều đó. Chứng kiến ​​cảnh tượng này, vị tiểu Sa-di trẻ tuổi hiểu rằng Tuccho Pothila thực sự đã hạ quyết tâm tu tập một cách chân thành.

When Tuccho Pothila had come out of the bog, the novice gave him the teaching. He taught him to observe the sense objects, to know the mind and to know the sense objects, using the simile of a man catching a lizard hiding in a termite mound. If the mound had six holes in it, how would he catch it? He would have to seal off five of the holes and leave just one open. Then he would have to simply watch and wait, guarding that one hole. When the lizard ran out he could catch it.

Khi Tuccho Pothila bước ra khỏi đầm lầy, vị sa-di đã trao cho ông lời giáo huấn. Vị ấy dạy ông cách quan sát các đối tượng giác quan, cách nhận biết tâm cũng như nhận biết chính các đối tượng, thông qua ví dụ về một người đang bắt con thằn lằn ẩn nấp trong gò mối. Giả sử gò mối ấy có sáu cái lỗ, thì người ấy sẽ bắt con thằn lằn bằng cách nào? Người ấy sẽ phải bịt kín năm cái lỗ và chỉ để hở lại duy nhất một lỗ. Sau đó, người ấy chỉ việc canh chừng và chờ đợi ngay tại cái lỗ duy nhất đó. Khi con thằn lằn chạy ra, người ấy liền bắt được nó.

Observing the mind is like this. Closing off the eyes, ears, nose, tongue and body, we leave only the mind. To "close off" the senses means to restrain and compose them, observing only the mind. Meditation is like catching the lizard. We use sati to note the breath. Sati is the quality of recollection, as in asking yourself, "What am I doing?" Sampajañña is the awareness that "now I am doing such and such." We observe the in and out breathing with sati and sampajañña.

Quan sát tâm diễn ra như thế này: Ta đóng mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, chỉ để lại duy nhất tâm. "đóng" các giác quan ở đây có nghĩa là chế ngự và thu nhiếp chúng lại, chỉ chuyên tâm quan sát tâm. Thiền định cũng tựa như việc bắt một con thằn lằn vậy. Ta sử dụng chánh niệm (sati) để ghi nhận hơi thở. *Sati* là sự chánh niệm, tức là sự nhớ lại, thể hiện qua việc tự vấn bản thân: "Ta đang làm gì đây?" Còn *sampajañña* là sự tỉnh giác, tức là nhận thức rõ rằng: "Ngay lúc này, ta đang thực hiện hành động này hay hành động kia." Ta quan sát hơi thở đi vào và đi ra bằng cả chánh niệm (sati) lẫn tỉnh giác (sampajañña).

This quality of recollection is something that arises from practice, it's not something that can be learned from books. Know the feelings that arise. The mind may be fairly inactive for a while and then a feeling arises. Sati works in conjunction with these feelings, recollecting them. There is sati, the recollection that "I will speak," "I will go," "I will sit" and so on; and then there is sampajañña, the awareness that "now I am walking," "I am lying down," "I am experiencing such and such a mood." With these two things, sati and sampajañña, we can know our minds in the present moment. We will know how the mind reacts to sense impressions.

Phẩm chất chánh niệm này là điều nảy sinh từ sự tu tập, chứ không phải là thứ có thể học được qua sách vở. Hãy nhận biết những cảm thọ đang khởi sinh. Tâm có thể ở trạng thái khá tĩnh lặng trong một khoảng thời gian, rồi bỗng nhiên một cảm thọ xuất hiện. Sati (chánh niệm) hoạt động song hành với những cảm thọ này, giúp ta ghi nhận và nhớ lại chúng. Có Sati – sự ghi nhớ rằng: "Tôi sẽ nói," "Tôi sẽ đi," "Tôi sẽ ngồi," và cứ thế tiếp diễn; và rồi có Sampajañña (tỉnh giác) sự nhận thức rằng: "Hiện tại tôi đang đi," "Tôi đang nằm," "Tôi đang trải nghiệm tâm trạng này hay tâm trạng kia." Nhờ hai yếu tố này; Chánh Niệm (Sati) và Tỉnh Giác (Sampajañña) chúng ta có thể thấu hiểu tâm mình ngay trong sát na hiện tại. Chúng ta sẽ nhận biết được cách tâm phản ứng trước những tiếp xúc từ các giác quan.

That which is aware of sense objects is called "mind." Sense objects "wander in" to the mind. For instance, there is a sound, like the electric planer here. It enters through the ear and travels inwards to the mind, which acknowledges that it is the sound of an electric planer. That which acknowledges the sound is called "mind."

Tâm nhận biết các đối tượng giác quan. Các đối tượng giác quan "đi lạc vào" trong tâm. Chẳng hạn, có một âm thanh, giống như tiếng máy bào điện ở đây. Nó đi vào qua tai và chuyển sâu vào bên trong tâm; chính tâm này nhận biết rằng đó là tiếng của một chiếc máy bào điện. Cái nhận biết âm thanh ấy được gọi là "tâm."

Now this mind which acknowledges the sound is still quite basic. It's just the average mind. Perhaps annoyance arises within this one who acknowledges. We must further train "the one who acknowledges" to become "the one who knows" in accordance with the truth — known as Buddho. If we don't clearly know in accordance with the truth then we get annoyed at sounds of people, cars, electric planer and so on. This is just the ordinary, untrained mind acknowledging the sound with annoyance. It knows in accordance with its preferences, not in accordance with the truth. We must further train it to know with vision and insight, ñanadassana, [15]the power of the refined mind, so that it knows the sound as simply sound. If we don't cling to sound there is annoyance. The sound arises and we simply note it. This is called truly knowing the arising of sense objects. If we develop the Buddho, clearly realizing the sound as sound, then it doesn't annoy us. It arises according to conditions, it is not a being, an individual, a self, an "us" or "them." It's just sound. The mind lets go.

Bây giờ tâm nhận biết âm thanh này còn thô sơ. Đó chỉ là tâm bình thường. Có lẽ sự phiền toái sẽ nảy sinh trong chính chủ thể đang nhận biết này. Chúng ta cần tiếp tục rèn luyện "kẻ nhận biết" ấy để trở thành "kẻ thấu triệt" theo đúng chân lý, điều được gọi là *Buddho*. Nếu chúng ta không thấu triệt rõ ràng theo đúng chân lý, thì ta sẽ cảm thấy phiền toái trước những âm thanh của con người, xe cộ, máy bào điện, và vân vân. Đây chỉ đơn thuần là tâm phàm phu, chưa qua sự tu tập, đang nhận biết âm thanh kèm theo sự phiền toái. Nó nhận biết theo những sở thích chủ quan của mình, chứ không phải theo đúng chân lý thực tại. Chúng ta phải tiếp tục tu tập tâm để nó nhận biết bằng tuệ nhãn và sự thấu suốt “Chánh tri kiến” (ñāṇadassana) [15] sức mạnh của tâm đã được tinh luyện; nhờ đó, nó nhận biết âm thanh chỉ đơn thuần là âm thanh. Nếu chúng ta không bám chấp vào âm thanh, thì sẽ không còn sự phiền toái. Âm thanh khởi lên, và ta chỉ đơn thuần ghi nhận nó. Đây được gọi là sự thấu triệt đích thực về sự khởi sinh của các đối tượng giác quan. Nếu chúng ta phát triển được *Buddho* tức là nhận diện rõ ràng âm thanh chỉ là âm thanh, thì nó sẽ không còn gây phiền toái cho ta nữa. Nó khởi sinh theo các điều kiện nhân duyên; nó không phải là một chúng sinh, một cá thể, một cái ngã, hay một "ta" hoặc "người". Nó chỉ đơn thuần là âm thanh. Khi ấy tâm sẽ buông xả.

This knowing is called Buddho, the knowledge that is clear and penetrating. With this knowledge we can let the sound be simply sound. It doesn't disturb us unless we disturb it by thinking, "I don't want to hear that sound, it's annoying." Suffering arises because of this thinking. Right here is the cause of suffering, that we don't know the truth of this matter, we haven't developed the Buddho. We are not yet clear, not yet awake, not yet aware. This is the raw, untrained mind. This mind is not yet truly useful to us.

Sự nhận biết này được gọi là Buddho, một tri kiến ​​sáng suốt và thấu suốt. Nhờ có tri kiến ​​này, ta có thể để cho âm thanh đơn thuần chỉ là âm thanh. Nó sẽ không làm ta xao động, trừ khi chính ta tự làm xao động nó bằng những suy nghĩ như: "Ta không muốn nghe âm thanh đó, thật phiền toái." Khổ đau nảy sinh chính từ những suy nghĩ như vậy. Ngay tại đây chính là nguyên nhân của khổ đau, bởi ta chưa thấu rõ chân lý của sự việc này, ta chưa phát triển được Buddho. Ta vẫn chưa đạt đến sự sáng suốt, chưa thực sự tỉnh thức, chưa thực sự nhận biết. Đây chính là tâm thô sơ, chưa qua sự tu tập. Một tâm như thế vẫn chưa thực sự hữu ích với chúng ta.

Therefore the Buddha taught that this mind must be trained and developed. We must develop the mind just like we develop the body, but we do it in different way. To develop the body we must exercise it, jogging in the morning and evening and so on. This is exercising the body. As a result the body becomes more agile, stronger, the respiratory and nervous systems become more efficient. To exercise the mind we don't have to move it around, but bring it to a halt, bring it to rest.

Vì vậy Đức Phật đã dạy rằng tâm này cần phải được tu tập và phát triển. Chúng ta cần phát triển tâm cũng giống như việc phát triển thân, nhưng lại thực hiện theo một phương cách khác. Để phát triển thân, chúng ta cần phải tập luyện, chẳng hạn như chạy bộ vào buổi sáng, buổi tối, v.v. Đó chính là cách rèn luyện thân. Nhờ đó, thân trở nên linh hoạt và cường tráng hơn; hệ hô hấp và hệ thần kinh cũng hoạt động hiệu quả hơn. Còn để rèn luyện tâm, chúng ta không cần phải khiến nó chuyển động, mà thay vào đó phải đưa nó về trạng thái dừng lại, đưa nó vào trạng thái nghỉ ngơi.

For instance, when practicing meditation, we take an object, such as the in and out breathing, as our foundation. This becomes the focus of our attention and reflection. We note the breathing. To note the breathing means to follow the breathing with awareness, noting its rhythm, its coming and going. We put awareness into the breath, following the natural in and out breathing and letting go of all else. As a result of staying on one object of awareness, our mind becomes refreshed. If we let the mind think of this, that and the other there are many objects of awareness, the mind doesn't unify, it doesn't come to rest.

Chẳng hạn, khi thực hành thiền định, chúng ta chọn một đối tượng, như hơi thở ra vào làm nền tảng. Đối tượng này trở thành tâm điểm cho sự chú ý và quán chiếu của chúng ta. Chúng ta ghi nhận hơi thở. Ghi nhận hơi thở nghĩa là theo dõi hơi thở bằng sự tỉnh giác, nhận biết nhịp điệu cũng như sự đến và đi của nó. Chúng ta đặt trọn sự tỉnh giác vào hơi thở, dõi theo nhịp thở ra vào tự nhiên và buông bỏ mọi thứ khác. Nhờ việc duy trì sự chú tâm vào duy nhất một đối tượng, tâm chúng ta trở nên tươi mới. Ngược lại, nếu ta để tâm chạy nhảy, suy nghĩ vẩn vơ về đủ thứ chuyện khiến xuất hiện quá nhiều đối tượng nhận thức thì tâm sẽ không thể hợp nhất và cũng chẳng thể tìm thấy sự an nghỉ.

To say the mind stops means that it feels as if it's stopped, it doesn't go running here and there. It's like having a sharp knife. If we use the knife to cut at things indiscriminately, such as stones, bricks and grass, our knife will quickly become blunt. We should use it for cutting only the things it was meant for. Our mind is the same. If we let the mind wander after thoughts and feelings which have no value or use, the mind becomes tired and weak, If the mind has no energy, wisdom will not arise, because the mind without energy is the mind without samadhi.

Nói rằng tâm dừng lại nghĩa là ta cảm nhận như thể nó đã thực sự ngừng nghỉ, không còn chạy nhảy tán loạn hết chỗ này sang chỗ khác nữa. Điều này cũng tựa như việc ta sở hữu một con dao sắc bén. Nếu ta dùng con dao ấy để chặt chém bừa bãi mọi thứ, chẳng hạn như đá, gạch hay cỏ dại, thì lưỡi dao sẽ nhanh chóng trở nên cùn mòn. Thay vào đó, ta chỉ nên dùng nó để cắt những thứ đúng với công dụng vốn có của nó mà thôi. Tâm của chúng ta cũng vận hành theo nguyên tắc tương tự. Nếu ta để tâm chạy đuổi theo những suy nghĩ và cảm xúc vô bổ, chẳng mang lại chút giá trị hay lợi ích nào, thì tâm sẽ trở nên mệt mỏi và suy yếu. Một khi tâm đã cạn kiệt năng lượng, thì trí tuệ sẽ không thể nảy sinh; bởi lẽ, một tâm thiếu vắng năng lượng chính là một tâm thiếu vắng định lực (Samadhi).

If the mind hasn't stopped you can't clearly see the sense objects for what they are. The knowledge that the mind is the mind, sense objects are merely sense objects, is the root from which Buddhism has grown and developed. This is the heart of Buddhism.

Nếu tâm chưa lắng đọng, bạn sẽ không thể thấy rõ các đối tượng giác quan đúng với bản chất thực sự của chúng. Sự thấu hiểu tâm là tâm, và các đối tượng giác quan chỉ đơn thuần là các đối tượng giác quan, chính là cội rễ mà từ đó Phật giáo đã nảy mầm và phát triển. Đây chính là cốt lõi của Phật giáo.

We must cultivate this mind, develop it, training it in calm and insight. We train the mind to have restraint and wisdom by letting the mind stop and allowing wisdom to arise, by knowing the mind as it is.

Chúng ta phải vun bồi tâm này, phát triển nó, rèn luyện nó trong sự tĩnh lặng và tuệ quán. Chúng ta rèn luyện tâm để có sự tiết chế và trí tuệ bằng cách để tâm dừng lại và cho phép trí tuệ khởi sinh, bằng cách nhận biết tâm đúng như bản chất của nó.

You know, the way we human beings are, the way we do things, are just like little children. A child doesn't know anything. To an adult observing the behavior of a child, the way it plays and jumps around, its actions don't seem to have much purpose. If our mind is untrained it is like a child. We speak without awareness and act without wisdom. We may fall to ruin or cause untold harm and not even know it. A child is ignorant, it plays as children do. Our ignorant mind is the same.

Bạn biết đấy, bản tính của con người chúng ta, cách chúng ta sống và hành xử, thật chẳng khác nào những đứa trẻ thơ. Một đứa trẻ vốn dĩ chẳng biết gì cả. Đối với một người lớn khi quan sát hành vi của một đứa trẻ, cách nó vui đùa hay chạy nhảy lung tung, thì những hành động ấy dường như chẳng hề mang một mục đích rõ ràng nào. Nếu tâm của chúng ta chưa được tu tập, nó cũng sẽ giống hệt như một đứa trẻ vậy. Chúng ta nói năng mà thiếu đi sự tỉnh giác, và hành động mà thiếu đi trí tuệ. Chúng ta có thể tự đẩy mình vào cảnh suy tàn, hoặc gây ra những tổn hại khôn lường mà ngay cả bản thân cũng chẳng hề hay biết. Một đứa trẻ vốn dĩ ngây thơ, nó vui đùa theo đúng bản tính của trẻ thơ. Tâm vô minh của chúng ta cũng giống như vậy.

So we should train this mind. The Buddha taught to train the mind, to teach the mind. Even if we support Buddhism with the four requisites, our support is still superficial, it reaches only the "bark" or "sapwood" of the tree. The real support of Buddhism must be done through the practice, nowhere else, training our actions, speech and thoughts according to the teachings. This is much more fruitful. If we are straight and honest, possessed of restraint and wisdom, our practice will bring prosperity. There will be no cause for spite and hostility. This is how our religion teaches us.

Vì vậy chúng ta cần tu tập tâm. Đức Phật đã dạy rằng phải tu tập tâm, phải giáo hóa tâm. Ngay cả khi chúng ta hộ trì Phật giáo bằng cúng dường tứ sự, phần cúng dường ấy chỉ mang tính bề nổi; nó mới chỉ chạm đến phần "vỏ" hay "lớp gỗ non" của cái cây mà thôi. Sự hộ trì Phật giáo đích thực phải được thực hiện thông qua việc tu tập, chứ không phải ở bất cứ nơi nào khác, bằng cách rèn luyện thân, khẩu và ý của chúng ta sao cho phù hợp Giáo Pháp. Cách làm này sẽ mang lại kết quả lợi ích to lớn. Nếu chúng ta sống ngay thẳng, chân thật, đồng thời biết giữ gìn sự chừng mực và vận dụng trí tuệ, thì sự tu tập của chúng ta sẽ mang lại sự hưng thịnh. Khi ấy, sẽ chẳng còn bất cứ nguyên do nào dẫn đến sự hiềm khích hay thù hận nữa. Đó chính là những gì giáo pháp dạy dỗ chúng ta.

If we determine the precepts simply out of tradition, then even though the Master teaches the truth our practice will be deficient. We may be able to study the teachings and repeat them, but we have to practice them if we really want to understand. If we do not develop the practice, this may well be an obstacle to our penetrating to the heart of Buddhism for countless lifetimes to come. We will not understand the essence of the Buddhist religion.

Nếu chúng ta cho rằng các giới luật chỉ đơn thuần dựa trên truyền thống, thì dẫu cho Đức Phật có giảng dạy chân lý, sự tu tập của chúng ta vẫn sẽ khiếm khuyết. Chúng ta có thể học hỏi giáo lý và nhắc lại những lời dạy ấy, nhưng chúng ta buộc phải thực hành chúng nếu thực sự muốn thấu hiểu. Nếu chúng ta không phát triển việc thực hành, điều này rất có thể sẽ trở thành chướng ngại ngăn trở chúng ta thâm nhập vào cốt lõi của Phật giáo trong vô số kiếp về sau. Chúng ta sẽ không thể thấu hiểu được bản chất của đạo Phật.

Therefore the practice is like a key, the key of meditation. If we have the right key in our hand, no matter how tightly the lock is closed, when we take the key and turn it the lock falls open. If we have no key we can't open the lock. We will never know what it is in the trunk.

Vì vậy việc thực hành tựa như một chiếc chìa khóa, chiếc chìa khóa của thiền định. Nếu ta nắm trong tay đúng chiếc chìa khóa ấy, thì dù ổ khóa có đóng chặt đến đâu chăng nữa, chỉ cần ta đưa chìa vào và xoay, ổ khóa sẽ lập tức mở ra. Ngược lại, nếu không có chìa khóa, ta sẽ chẳng thể nào mở được ổ khóa ấy; và ta sẽ chẳng bao giờ biết được bên trong chiếc rương kia chứa đựng điều gì.

Actually there are two kinds of knowledge. One who knows the Dhamma doesn't simply speak from memory, he speaks the truth. Worldly people usually speak with conceit. For example, suppose there were two people who hadn't seen each other for a long time, maybe they had gone to live in different provinces or countries for a while, and then one day they happened to meet on the train..."Oh! What a surprise. I was just thinking of looking you up!"... Actually it's not true. Really they hadn't thought of each other at all, but they say so out of excitement. And so it becomes a lie. Yes, it's lying out of heedlessness. This is lying without knowing it. It's a subtle form of defilement, and it happens very often.

Thực ra có hai loại tri thức. Người thấu hiểu Chánh Pháp không chỉ đơn thuần nói dựa trên trí nhớ, mà họ nói lên sự thật. Người thế tục thường nói với tâm kiêu mạn. Chẳng hạn, giả sử có hai người đã lâu không gặp mặt, có thể họ đã chuyển đến sinh sống ở những tỉnh thành hay quốc gia khác nhau trong một thời gian, rồi một ngày nọ, tình cờ họ lại gặp nhau trên một chuyến tàu... "Ồ! Thật là một sự trùng hợp bất ngờ. Tôi cũng vừa định tìm gặp bạn!"... Kỳ thực, điều đó không đúng sự thật. Trong thâm tâm, họ chẳng hề nghĩ đến nhau chút nào, nhưng lại nói như vậy chỉ vì sự phấn khích nhất thời. Và thế là, lời nói ấy trở thành một lời nói dối. Đúng vậy, đó là sự nói dối xuất phát từ tâm vô ý thức. Đó là hành vi nói dối mà chính người nói cũng không hay biết. Đây là một dạng phiền não rất vi tế, và nó diễn ra vô cùng thường xuyên.

So with regard to the mind, Tuccho Pothila followed the instructions of the novice: breathing in, breathing out... mindfully aware of each breath... until he saw the liar within him, the lying of his own mind. He saw the defilements as they came up, just like the lizard coming out of the termite mound. He saw them and perceived their true nature as soon as they arose. He noticed how one minute the mind would concoct one thing, the next moment something else.

Do vậy đối với tâm, Tuccho Pothila đã làm theo lời chỉ dẫn của vị Sa-di: hít vào, thở ra... chánh niệm nhận biết từng hơi thở... cho đến khi ông nhìn thấy kẻ dối trá ẩn sâu bên trong mình, chính là sự dối trá của tâm ông. Ông nhìn thấy những phiền não khởi sinh, hệt như con thằn lằn chui ra từ gò mối vậy. Ông nhìn thấy chúng và thấu rõ bản chất thực sự của chúng ngay khi chúng vừa trỗi dậy. Ông nhận thấy rằng chỉ mới phút trước, tâm còn thêu dệt nên chuyện này; thì ngay phút sau đó, nó lại bịa đặt ra một chuyện hoàn toàn khác.

Thinking is a sankhata dhamma, something which is created or concocted from supporting conditions. It's not asankhata dhamma, the unconditioned. The well-trained mind, one with perfect awareness, does not concoct mental states. This kind of mind penetrates to the Noble Truths and transcends any need to depend on externals. To know the Noble Truths is to know the truth. The proliferating mind tries to avoid this truth, saying, "that's good" or "this is beautiful," but if there is Buddho in the mind it can no longer deceive us, because we know the mind as it is. The mind can no longer create deluded mental states, because there is the clear awareness that all mental states are unstable, imperfect, and a source of suffering to one who clings to them.

Tư duy là một pháp hữu vi (saṅkhārā dhamma), là một điều gì đó được tạo tác hay cấu thành từ các điều kiện duyên. Nó không phải là pháp vô vi (asaṅkhārā dhamma), tức là cái vô điều kiện. Một tâm được tu dưỡng kỹ lưỡng, một tâm đạt đến sự tỉnh thức trọn vẹn, sẽ không còn tạo tác ra các trạng thái tâm nữa. Loại tâm này thấu triệt Tứ Diệu Đế và vượt lên trên mọi nhu cầu phải nương tựa vào các yếu tố bên ngoài. Hiểu thấu Tứ Diệu Đế chính là thấu hiểu chân lý. Tâm hay vọng tưởng thường tìm cách lẩn tránh chân lý này, bằng cách tự nhủ rằng "điều kia thật tốt" hay "điều này thật đẹp"; nhưng nếu Phật tánh (Buddho) đã hiện hữu trong tâm, thì tâm ấy sẽ không thể đánh lừa chúng ta được nữa, bởi lẽ ta đã nhận biết tâm đúng như bản chất thực sự của nó. Tâm sẽ không còn tạo tác ra những trạng thái tâm đầy vọng tưởng, bởi vì lúc ấy đã hiện hữu một sự tỉnh thức sáng suốt rằng: mọi trạng thái tâm đều vô thường, bất toàn, và là nguồn gốc của khổ đau đối với bất cứ ai còn bám chấp vào chúng.

Wherever he went, the one who knows was constantly in Tuccho Pothila's mind. He observed the various creations and proliferation of the mind with understanding. He saw how the mind lied in so many ways. He grasped the essence of the practice, seeing that "This lying mind is the one to watch — this is the one which leads us into extremes of happiness and suffering and causes us to endlessly spin around in the cycle of Samsara, with its pleasure and pain, good and evil — all because of this one." Tuccho Pothila realized the truth, and grasped the essence of the practice, just like a man grasping the tail of the lizard. He saw the workings of the deluded mind.

Bất cứ nơi nào ông đi đến, hình ảnh của "bậc hiểu thấu tất cả các pháp của thế gian" vẫn luôn trong tâm của Tuccho Pothila. Ông quán sát những sự kiến ​​tạo và sự sinh và diệt của tâm với một sự thấu hiểu sâu sắc. Ông nhận thấy tâm đã dối gạt mình trong nhiều cách khác nhau. Ông nắm bắt được cốt lõi của sự tu tập, khi nhận ra rằng: "Chính tâm dối trá này mới là đối tượng cần phải quán chiếu, chính nó là kẻ dẫn dắt ta vào những thái cực của hạnh phúc và khổ đau, khiến ta cứ mãi xoay vần không dứt trong vòng luân hồi sinh tử, với đủ mọi hỉ nộ ái ố, thiện ác, tất cả đều chỉ vì cái tâm này mà ra." Tuccho Pothila đã chứng ngộ chân lý và nắm bắt được tinh yếu của pháp tu, tựa như một người nắm chặt lấy đuôi của con thằn lằn vậy. Ông đã thấu rõ cơ chế vận hành của tâm đầy si mê, vọng tưởng.

For us it's the same. Only this mind is important. That's why they say to train the mind. Now if the mind is the mind, what are we going to train it with? By having continuous sati and sampajañña we will be able to know the mind. This one who knows is a step beyond the mind, it is that which knows the state of the mind. The mind is the mind. That which knows the mind as simply mind is the one who knows. It is above the mind. The one who knows is above the mind, and that is how it is able to look after the mind, to teach the mind to know what is right and what is wrong. In the end everything comes back to this proliferating mind. If the mind is caught up in its proliferations there is no awareness and the practice is fruitless.

Chúng ta cũng vậy. Chỉ có tâm này là quan trọng. Đó là lý do người ta khuyên phải tu dưỡng tâm. Bây giờ nếu tâm chính là tâm, thì ta sẽ dùng gì để tu dưỡng? Nhờ duy trì sự chánh niệm (sati) và tỉnh giác (sampajañña) liên tục, ta sẽ có khả năng thấu hiểu tâm mình. Cái biết này nằm ở một bậc cao hơn tâm; đó chính là thực thể nhận biết trạng thái của tâm. Tâm vẫn chỉ là tâm. Cái biết nhận diện tâm chỉ đơn thuần là tâm, đó chính là "người biết". Nó nằm ở vị trí vượt trên tâm. Người biết này đứng trên tâm, và chính nhờ thế, nó mới có thể trông nom, dẫn dắt tâm nhận diện được đâu là điều đúng và đâu là điều sai. Rốt cuộc, mọi sự đều quy về cái tâm vốn dĩ hay vọng tưởng, phóng dật này. Nếu tâm bị mắc kẹt trong những vọng tưởng, phóng dật ấy, thì sẽ chẳng còn sự tỉnh thức nào nữa, và công phu tu tập sẽ trở nên vô ích.

So we must train this mind to hear the Dhamma, to cultivate the Buddho, the clear and radiant awareness, that which exists above and beyond the ordinary mind and knows all that goes on within it. This is why we meditate on the word Buddho, so that we can know the mind beyond the mind. Just observe all the mind's movements, whether good or bad, until the one who realizes that the mind is simply mind, not a self or a person. This is called cittanupassana, Contemplation of Mind. [16] Seeing in this way we will understand that the mind is Transient, Imperfect and Ownerless. This mind doesn't belong to us.

Vì vậy chúng ta phải tu tập tâm này để lắng nghe Pháp, để tu dưỡng sự tỉnh thức "Buddho" sự sáng suốt và rạng rỡ, một trạng thái hiện hữu vượt trên tâm thông thường và thấu rõ mọi diễn biến đang diễn ra bên trong nó. Chính vì lẽ đó, chúng ta tu tập thiền định với từ vựng "Buddho", để có thể nhận biết được tâm nằm ngoài phạm vi của tâm thông thường. Hãy đơn thuần quan sát mọi sự sinh diệt của tâm, dù là thiện hay bất thiện, cho đến khi ta nhận ra rằng tâm chỉ đơn thuần là tâm, chứ không phải là một cái "ngã" hay một "con người" cụ thể nào cả. Pháp tu này được gọi là Quán Tâm (cittanupassana). [16] Khi quán chiếu theo cách này, chúng ta sẽ thấu hiểu rằng tâm là vô thường, bất toàn và vô chủ. Tâm này không thực sự thuộc về chúng ta.

We can summarize thus: The mind is that which acknowledges sense objects; sense objects are sense objects as distinct from the mind; the one who knows both the mind and the sense objects for what they are. We must use sati to constantly cleanse the mind. Everybody has sati, even a cat has it when it's going to catch a mouse. A dog has it when it barks at people. This is a form of sati, but it's not sati according to the Dhamma. Everybody has sati, but there are different levels of it, just as there are different levels of looking at things. Like when I say to contemplate the body, some people say, "What is there to contemplate in the body? Anybody can see it. Kesa we can see already, loma we can see already... hair, nails, teeth and skin we can see already. So what?"

Chúng ta có thể tóm tắt như sau: Tâm là thứ nhận biết các đối tượng giác quan; các đối tượng giác quan là những đối tượng riêng biệt, tách rời khỏi tâm; và người biết chính là kẻ thấu rõ cả tâm lẫn các đối tượng giác quan đúng với bản chất thực của chúng. Chúng ta phải vận dụng chánh niệm (sati) để luôn thanh lọc tâm. Ai ai cũng đều có chánh niệm (sati); ngay cả một con mèo cũng có khi nó đang rình bắt chuột. Một con chó cũng có khi nó sủa vào người lạ. Đây quả là một dạng của chánh niệm (sati), nhưng lại không phải là chánh niệm (sati) theo đúng tinh thần của Chánh Pháp (Dhamma). Ai cũng có chánh niệm (sati), nhưng lại có những cấp độ khác nhau, cũng giống như việc nhìn nhận sự vật hiện tượng vậy. Chẳng hạn, khi tôi khuyên hãy quán chiếu thân, một số người liền thắc mắc: "Có gì đâu mà phải quán chiếu nơi thân này? Ai mà chẳng nhìn thấy được. *Kesa* (tóc) thì ta đã thấy rồi, *loma* (lông) ta cũng đã thấy rồi... tóc, móng, răng và da thịt, tất cả ta đều đã thấy cả rồi. Vậy thì sao?"

This is how people are. They can see the body alright but their seeing is faulty, they don't see with the Buddho, the one who knows, the awakened one. They only see the body in the ordinary way, they see it visually. Simply to see the body is not enough. If we only see the body there is trouble. You must see the body within the body, then things become much clearer. Just seeing the body you get fooled by it, charmed by its appearance. Not seeing Transience, Imperfection and Ownerlessness, kamachanda [17] arises. You become fascinated by forms, sounds, odors, flavors and feelings. Seeing in this way is to see with the mundane eye of the flesh, causing you to love and hate and discriminate into pleasing and unpleasing.

Con người là như vậy. Họ nhìn thấy thân rất rõ, nhưng cái thấy của họ lại khiếm khuyết; họ không nhìn bằng con mắt của *Buddho*—Đấng Hiểu biết, Đấng Giác ngộ. Họ chỉ nhìn thân theo cách thông thường, chỉ nhìn bằng con mắt vật lý bên ngoài. Chỉ nhìn thấy thân thôi thì chưa đủ. Nếu chỉ nhìn thấy thân đơn thuần, phiền não sẽ nảy sinh. Bạn phải nhìn thấy "thân ngay trong thân", khi ấy, mọi sự mới trở nên sáng tỏ hơn nhiều. Nếu chỉ nhìn thấy thân bên ngoài, bạn sẽ bị nó đánh lừa, bị vẻ bề ngoài của nó mê hoặc. Vì không quán thấy tính Vô thường, tính Bất toại nguyện và tính Vô ngã, nên *kamachanda* (dục ái) [17] sẽ khởi sinh. Bạn trở nên đắm nhiễm vào các sắc, thinh, hương, vị và Pháp (xúc trần). Cái thấy như vậy chính là cái thấy bằng con mắt phàm tục của xác thịt, cái thấy khiến bạn nảy sinh tâm yêu ghét, phân biệt rạch ròi giữa những điều vừa ý và những điều bất toại.

The Buddha taught that this is not enough. You must see with the "mind's eye." See the body within the body. If you really look into the body... Ugh! It's so repulsive. There are today's things and yesterday's things all mixed up in there, you can't tell what's what. Seeing in this way is much clearer than to see with the carnal eye. Contemplate, see with the eye of the mind, with the wisdom eye.

Đức Phật dạy rằng chừng đó vẫn chưa đủ. Ngươi phải nhìn bằng con mắt của tâm. Hãy nhìn thấy cái thân ngay bên trong chính cái thân này. Nếu ngươi thực sự quán chiếu vào bên trong thân xác... Ôi chao! Thật vô cùng ghê tởm. Trong đó là sự hỗn độn của những thứ thuộc về hôm nay và những thứ thuộc về hôm qua, trộn lẫn vào nhau đến mức chẳng thể nào phân định rạch ròi cái gì ra cái gì. Cách nhìn nhận như thế này sáng suốt hơn nhiều so với việc nhìn bằng con mắt thịt phàm trần. Hãy quán chiếu, hãy nhìn bằng con mắt của tâm, bằng con mắt trí tuệ.

People's understandings differ like this. Some people don't know what there is to contemplate in the Five Meditations, head hair, body hair, nails, teeth and skin. They say they can see all those things already, but they can only see them with the carnal eye, with this "crazy eye" which only looks at the things it wants to look at. To see the body in the body you have to look much clearer than that.

Sự thấu hiểu của mỗi người thường khác biệt: Một số người không hiểu rốt cuộc có gì đáng để quán chiếu trong Năm Pháp Quán là : tóc, lông, móng, răng và da. Họ cho rằng mình đã nhìn thấy rõ tất cả những thứ ấy rồi; thế nhưng, họ chỉ nhìn thấy chúng bằng con mắt phàm trần, cái "con mắt điên loạn" vốn chỉ chăm chăm nhìn vào những gì nó muốn nhìn mà thôi. Để có thể thực sự "quán thân ngay trong chính thân này", bạn cần phải nhìn nhận một cách thấu suốt và sáng suốt hơn thế nhiều.

This is the practice that can uproot clinging to the Five Khandhas. [18] To uproot attachment is to uproot suffering, because attaching to the Five Khandhas is the cause of suffering. If suffering arises it is here, at the attachment to the Five Khandhas. It's not that the Five Khandhas are in themselves suffering, but the clinging to them as being one's own... that's suffering.

Đây chính là pháp tu có thể nhổ tận gốc sự chấp thủ vào Ngũ Uẩn. [18] Nhổ tận gốc sự chấp thủ chính là nhổ tận gốc khổ đau, bởi lẽ sự chấp thủ vào Ngũ Uẩn chính là nguyên nhân của khổ đau. Nếu khổ đau khởi sinh, thì nó khởi sinh ngay tại đây, tại chính sự chấp thủ vào Ngũ Uẩn. Không phải bản thân Ngũ Uẩn là khổ đau, mà chính sự bám víu vào chúng như thể chúng là "của ta"... đó mới chính là khổ đau.

If you clearly see the truth of these things through meditation practice, then suffering becomes unwound, like a screw or a bolt. When the bolt is unwound, it withdraws. The mind unwinds in the same way, letting go, withdrawing from the obsession with good and evil, possessions, praise and status, happiness and suffering.

Nếu bạn nhìn thấu chân lý của những điều này một cách rõ ràng thông qua việc tu tập thiền định, thì sự khổ đau sẽ dần được tháo gỡ, tựa như một chiếc đinh vít hay một con bu-lông vậy. Khi con bu-lông được tháo ra, nó sẽ rút lại. Tâm cũng tháo gỡ theo cách tương tự: buông bỏ, và rút lui khỏi sự chấp trước vào thiện – ác, vật sở hữu, lời tán dương – địa vị, cũng như hạnh phúc và khổ đau.

If we don't know the truth of these things it's like tightening the screw all the time. It gets tighter and tighter until it's crushing you and you suffer over everything. When you know how things are then you unwind the screw. In Dhamma language we call this the arising of nibbida, disenchantment. You become weary of things and lay down the fascination with them. If you unwind in this way you will find peace.

Nếu ta không thấu rõ chân tướng của các Pháp, thì cảm giác ấy tựa như việc cứ mãi siết chặt một con ốc vít. Nó ngày càng thắt chặt hơn, cho đến khi nghiền ép lấy ta, khiến ta phải chịu đựng khổ đau vì mọi lẽ. Khi đã thấu suốt bản chất của sự vật, ta sẽ bắt đầu nới lỏng con ốc ấy ra. Trong ngôn ngữ của Đạo Pháp, trạng thái này được gọi là sự khởi sinh của *Nibbida*, tức là sự nhàm chán, sự xả ly. Ta trở nên chán ngán đối với vạn Pháp, và buông bỏ mọi sự mê đắm vào chúng. Nếu biết cách nới lỏng như thế, ta sẽ tìm thấy sự an lạc.

The cause of suffering is to cling to things. So we should get rid of the cause, cut off its root and not allow it to cause suffering again. People have only one problem — the problem of clinging. Just because of this one thing people will kill each other. All problems, be they individual, family or social, arise from this one root. Nobody wins... they kill each other but in the end no-one gets anything. I don't know why people keep on killing each other so pointlessly.

Nguyên nhân khổ đau là sự tham dục. Vì thế chúng ta cần loại bỏ nguyên nhân này, chặt đứt tận gốc rễ của nó để không còn gây ra khổ đau. Con người chỉ có duy nhất một vấn đề, đó là tham dục. Chỉ vì điều duy nhất này mà người ta sẵn sàng tàn sát lẫn nhau. Mọi vấn đề, dù là của cá nhân, gia đình hay xã hội, đều nảy sinh từ chính cái gốc rễ này. Chẳng có ai là kẻ chiến thắng cả... họ giết hại lẫn nhau, nhưng rốt cuộc thì chẳng ai đạt được bất cứ điều gì. Tôi thực sự không hiểu tại sao con người cứ mãi giết hại lẫn nhau một cách vô nghĩa.

Power, possessions, status, praise, happiness and suffering... these are the worldly dhammas. These worldly dhammas engulf worldly beings. Worldly beings are led around by the worldly dhammas: gain and loss, acclaim and slander, status and loss of status, happiness and suffering. These dhammas are trouble makers, if you don't reflect on their true nature you will suffer. People even commit murder for the sake of wealth, status or power. Why? Because they take them too seriously. They get appointed to some position and it goes to their heads, like the man who became headman of the village. After his appointment he became "power-drunk." If any of his old friends came to see he'd say, "Don't come around so often. Things aren't the same anymore."

Quyền lực, tài sản, địa vị, lời tán dương, hạnh phúc và khổ đau... đây chính là những pháp thế gian. Những pháp thế gian này bao trùm lấy chúng sinh thế tục. Chúng sinh thế tục bị những pháp thế gian này dẫn dắt xoay vần: được và mất, khen và chê, thăng tiến và suy thoái địa vị, hạnh phúc và khổ đau. Những pháp này chính là nguồn cơn rắc rối; nếu bạn không quán chiếu bản chất thực sự của chúng, bạn sẽ phải chịu khổ đau. Con người thậm chí còn sẵn sàng phạm tội giết người chỉ vì tiền tài, địa vị hay quyền lực. Tại sao? Bởi vì họ quá coi trọng những thứ đó. Khi được bổ nhiệm vào một chức vụ nào đó, họ liền trở nên kiêu ngạo, tự đắc, giống như câu chuyện về người đàn ông được bầu làm trưởng thôn vậy. Sau khi nhậm chức, ông ta trở nên "say sưa trong quyền lực". Nếu có người bạn cũ nào đến thăm, ông ta liền nói: "Đừng có lui tới đây nữa. Mọi chuyện giờ đã khác xưa rồi."

The Buddha taught to understand the nature of possessions, status, praise and happiness. Take these things as they come but let them be. Don't let them go to your head. If you don't really understand these things you become fooled by your power, your children and relatives... by everything! If you understand them clearly you know they're all impermanent conditions. If you cling to them they become defiled.

Đức Phật đã dạy chúng ta thấu hiểu bản chất của tài sản, địa vị, lời tán dương và hạnh phúc. Hãy đón nhận những điều này khi chúng đến, nhưng đừng cố níu giữ chúng; chớ để chúng làm bạn trở nên kiêu ngạo hay mê muội. Nếu không thực sự thấu hiểu bản chất của những điều này, bạn sẽ dễ dàng bị lừa gạt bởi chính quyền lực, con cái, người thân... và bởi tất cả mọi thứ xung quanh! Ngược lại, nếu thấu hiểu chúng một cách tường tận, bạn sẽ nhận ra rằng tất cả chỉ là pháp hữu vi vô thường. Nếu bạn cứ mãi chấp trước vào chúng, chúng sẽ trở thành những nguồn gốc của sự ô nhiễm và phiền não.

All of these things arise afterwards. When people are first born there are simply nama and rupa, that's all. We add on the business of "Mr. Jones," "Miss Smith" or whatever later on. This is done according to convention. Still later there are the appendages of "Colonel," "General" and so on. If we don't really understand these things we think they are real and carry them around with us. We carry possessions, status, name and rank around. If you have power you can call all the tunes..."Take this one and execute him. Take that one and throw him in jail"... Rank gives power. This word "rank" here is where clinging takes hold. As soon as people get rank they start giving orders; right or wrong, they just act on their moods. So they go on making the same old mistakes, deviating further and further from the true path.

Tất cả những điều này đều khởi sinh sau khi chào đời. Khi con người mới chào đời, chỉ đơn thuần là *danh* và *sắc* , chỉ có vậy thôi. Việc gán thêm những danh xưng như "Ông Jones", "Cô Smith" hay bất cứ tên gọi nào khác là điều do chúng ta làm về sau này. Việc này được thực hiện theo các chế định của xã hội. Thậm chí về sau nữa, lại xuất hiện thêm những danh hiệu phụ đính kèm như "Đại tá", "Tướng quân", v.v. Nếu không thực sự thấu hiểu bản chất của những điều này, chúng ta sẽ lầm tưởng rằng chúng là thật và cứ thế mang chúng theo bên mình. Chúng ta mang theo cả tài sản, địa vị, tên tuổi và chức tước. Nếu nắm trong tay quyền lực, bạn có thể tự tung tự tác, muốn gì được nấy... "Hãy bắt kẻ này đi hành quyết. Hãy tống kẻ kia vào ngục"... Chức tước mang lại quyền lực. Chính tại chữ "chức tước" này là nơi sự chấp thủ bắt đầu bám rễ. Ngay khi vừa có được chức tước, người ta liền bắt đầu ra lệnh; bất kể đúng hay sai, họ chỉ hành động theo cảm hứng và tâm trạng nhất thời của mình. Cứ thế, họ tiếp tục lặp lại những sai lầm cũ rích, ngày càng đi chệch xa khỏi con đường Đạo chân chính.

One who understands the Dhamma won't behave like this. Good and evil have been in the world since who knows when. If possessions and status come your way then let them simply be the possessions and status, don't let them become your identity. Just use them to fulfill your obligations and leave it at that. You remain unchanged. If we have meditated on these things, no matter what comes our way we will not be fooled by it. We will be untroubled, unaffected, constant. Everything is pretty much the same, after all.

Người hiểu Chánh Pháp sẽ không hành xử như thế. Thiện và ác đã hiện hữu trên đời từ thuở nào chẳng ai hay. Nếu tài sản và địa vị tìm đến với bạn, hãy cứ để chúng đơn thuần là tài sản và địa vị; đừng để chúng trở thành bản ngã của chính bạn. Hãy chỉ sử dụng chúng để chu toàn bổn phận rồi dừng lại ở đó. Bạn vẫn vẹn nguyên, không hề thay đổi. Nếu ta đã quán chiếu sâu sắc những điều này, thì bất kể điều gì xảy đến, ta cũng sẽ không bị chúng đánh lừa. Ta sẽ luôn an nhiên, không bị tác động, và giữ vững sự bất biến. Suy cho cùng, vạn sự trên đời đều gần như là một.

This is how the Buddha wanted us to understand things. No matter what you receive, the mind adds nothing on to it. They appoint you a city councilor..."Okay, so I'm a city councilor... but I'm not." They appoint you head of the group..."Sure I am, but I'm not." Whatever they make of you..."Yes I am, but I'm not!" In the end what are we anyway? We all just die in the end. No matter what they make you, in the end it's all the same. What can you say? If you can see things in this way you will have a solid abiding and true contentment. Nothing is changed.

Đây chính là cách Đức Phật muốn chúng ta thấu hiểu mọi sự. Dù bạn đón nhận điều gì đi nữa, tâm cũng không hề thêm bất cứ điều gì vào. Người ta bổ nhiệm bạn làm ủy viên hội đồng thành phố ư... "Được thôi, vậy thì tôi là ủy viên hội đồng... nhưng thực ra tôi lại không phải." Người ta cử bạn làm trưởng nhóm ư... "Phải đấy, tôi là trưởng nhóm... nhưng thực ra tôi lại không phải." Dù người ta gán cho bạn bất cứ danh vị nào... "Đúng vậy, tôi là thế... nhưng thực ra tôi lại không phải!" Rốt cuộc thì chúng ta là gì chứ? Sau cùng, tất cả chúng ta rồi cũng sẽ chết. Dù người ta có đặt bạn vào vị trí nào đi nữa, thì chung cuộc mọi sự cũng đều như nhau. Bạn còn có thể nói gì được nữa? Nếu bạn có thể nhìn nhận mọi việc theo cách này, bạn sẽ tìm được một điểm tựa vững chãi và một niềm an lạc chân thực. Chẳng có gì thay đổi cả.

This is not to be fooled by things. Whatever comes your way, it's just conditions. There's nothing which can entice a mind like this to create or proliferate, to seduce it into greed, aversion or delusion.

Đây chính là trạng thái không bị đánh lừa bởi các pháp. Bất cứ điều gì xảy đến với bạn, tất cả chỉ là những điều kiện duyên khởi. Chẳng có gì có thể lôi cuốn một tâm khiến nó khởi sinh hay lan rộng thêm, cũng chẳng thể dụ dỗ nó vào tham, sân hay si.

Now this is to be a true supporter of Buddhism. Whether you are among those who are being supported (i.e., the Sangha) or those who are supporting (the laity) please consider this thoroughly. Cultivate the Sila-Dhamma [19] within you. This is the surest way to support Buddhism. To support Buddhism with the offerings of food, shelter and medicine is good also, but such offerings only reach the "sapwood" of Buddhism. Please don't forget this. A tree has bark, sapwood and heartwood, and these three parts are interdependent. The heartwood must rely on the bark and the sapwood. The sapwood relies on the bark and the heartwood. They all exist interdependently, just like the teachings of Moral Discipline, Concentration and Wisdom. [20] Moral Discipline is to establish your speech and actions in rectitude. Concentration is to firmly fix the mind. Wisdom is the thorough understanding of the nature of all conditions. Study this, practice this, and you will understand Buddhism in the most profound way.

Đây chính là trở thành một người hộ trì chân chính cho Phật giáo. Dù quý vị thuộc nhóm người được hộ trì (tức là Tăng đoàn) hay nhóm người đang thực hiện hộ trì (tức là hàng cư sĩ), xin hãy suy ngẫm điều này một cách thấu đáo. Hãy vun bồi Giới-Pháp (Giới, Định và Tuệ) [19] ngay trong chính bản thân quý vị. Đây là phương cách chắc chắn nhất để hộ trì Phật giáo. Việc hộ trì Phật giáo bằng cách cúng dường thực phẩm, chỗ ở và thuốc men cũng là điều tốt, nhưng những sự cúng dường như vậy mới chỉ chạm đến phần "dát gỗ" của Phật giáo mà thôi. Xin đừng quên điều này. Một cái cây bao gồm ba phần: vỏ cây, dát gỗ và lõi gỗ; và ba phần này luôn nương tựa lẫn nhau. Lõi gỗ phải nương tựa vào vỏ cây và dát gỗ. Dát gỗ lại nương tựa vào vỏ cây và lõi gỗ. Cả ba phần đều tồn tại trong sự nương tựa lẫn nhau, cũng giống như ba pháp Giới, Định và Tuệ [20] . Giới là việc thiết lập lời nói và hành động của quý vị sao cho ngay thẳng, đoan chính. Định là việc an trú tâm một cách vững vàng. Tuệ là sự thấu hiểu tường tận về bản chất của mọi hiện tượng, mọi pháp hữu vi. Hãy nghiên cứu điều này, thực hành điều này, và quý vị sẽ thấu hiểu Phật giáo theo cách sâu sắc nhất.

If you don't realize these things you will be fooled by possessions, fooled by rank, fooled by anything you come into contact with. Simply supporting Buddhism in the external way will never put an end to the fighting and squabbling, the grudges and animosity, the stabbing and shooting. If these things are to cease we must reflect on the nature of possessions, rank, praise, happiness and suffering. We must consider our lives and bring them in line with the Teaching. We should reflect that all beings in the world are part of one whole. We are like them, they are like us. They have happiness and suffering just like we do. It's all much the same. If we reflect in this way, peace and understanding will arise. This is the foundation of Buddhism.

Nếu không nhận thức được những điều này, bạn sẽ bị mê hoặc bởi của cải tài sản, bởi danh vọng, và bởi bất cứ điều gì mà bạn tiếp xúc. Việc chỉ hộ trì Phật giáo theo hình thức bên ngoài sẽ chẳng bao giờ chấm dứt được những cuộc tranh giành, cãi vã, những mối oán thù, hiềm khích, hay những hành vi bạo lực như đâm chém, bắn giết. Muốn những điều này chấm dứt, chúng ta buộc phải quán chiếu về bản chất của vật chất, danh vọng, lời tán dương, cũng như hạnh phúc và khổ đau. Chúng ta cần suy ngẫm về cuộc đời mình và điều chỉnh lối sống sao cho phù hợp với Giáo Pháp. Chúng ta nên quán chiếu rằng mọi chúng sinh trên thế gian này đều là một phần của một tổng thể duy nhất. Chúng ta cũng giống như họ, và họ cũng giống như chúng ta; họ cũng có hạnh phúc và khổ đau y hệt như chúng ta vậy. Tất cả đều tương đồng như nhau. Nếu biết quán chiếu theo cách này, sự an lạc và thấu hiểu sẽ tự nhiên nảy sinh. Đây chính là nền tảng của Phật giáo.

Now please pay attention, not allowing your mind to wander off after other things. Create the feeling that right now you are sitting on a mountain or in a forest somewhere, all by yourself. What do you have sitting here right now? There are body and mind, that's all, only these two things. All that is contained within this frame sitting here now is called "body." The "mind" is that which is aware and is thinking at this very moment. These two things are also called "nama" and "rupa." "Nama" refers to that which has no "rupa," or form. All thoughts and feelings, or the four mental khandhas of feeling, perception, volition and consciousness, are nama, they are all formless. When the eye sees form, that form is called rupa, while the awareness is called nama. Together they are called nama and rupa, or simply body and mind.

Bây giờ xin hãy chú tâm, đừng để tâm phóng dật chạy theo các ảo tưởng. Hãy tạo dựng cho mình cảm giác ngay lúc này, bạn đang ngồi một mình trên một ngọn núi hay giữa một khu rừng nào đó. Ngay tại đây, lúc này, bạn đang có những gì? Vỏn vẹn chỉ có thân và tâm mà thôi. Tất cả những gì nằm trọn vẹn trong cái khung đang ngồi yên tại đây lúc này được gọi là "thân". Còn "tâm" chính là cái đang có sự nhận biết và đang tư duy ngay trong sát na hiện tại này. Hai thực thể này còn được gọi là danh (Nama) và sắc (rupa). "Danh" dùng để chỉ những gì không có "sắc", tức là không có hình tướng cụ thể. Mọi suy nghĩ, cảm thọ, hay chính là bốn uẩn thuộc về tâm là thọ, tưởng, hành và thức đều thuộc về "danh"; tất cả chúng đều là những thực thể vô hình, không có hình tướng. Khi con mắt nhìn thấy một hình tướng nào đó, thì hình tướng ấy được gọi là "sắc", trong khi chính sự nhận biết về hình tướng ấy lại được gọi là "danh". Khi kết hợp lại, chúng được gọi chung là "danh và sắc", hay đơn giản hơn là "thân và tâm".

Understand that sitting here in this present moment are only body and mind. But we get these two things confused with each other. If you want peace you must know the truth of them. The mind in its present state is still untrained; it's dirty, not clear. It is not yet the pure mind. We must further train this mind through the practice of meditation.

Hãy hiểu rằng ngay lúc này khi đang ngồi tại đây chỉ có thân và tâm hiện hữu. Tuy nhiên, chúng ta lại thường nhầm lẫn hai thực thể này với nhau. Nếu mong cầu sự an lạc, bạn buộc phải thấu rõ chân tướng của chúng. Tâm ở trạng thái hiện tại vẫn còn chưa được tu tập; nó vẫn còn vẩn đục, chưa đạt được sự trong sáng. Đó vẫn chưa phải là một tâm thanh tịnh. Vì thế, chúng ta cần phải tiếp tục tu tập tâm thông qua việc thực hành thiền định.

Some people think that meditation means to sit in some special way, but in actual fact standing, sitting, walking and reclining are all vehicles for meditation practice. You can practice at all times. Samadhi literally means "the firmly established mind." To develop samadhi you don't have to go bottling the mind up. Some people try to get peaceful by sitting quietly and having nothing disturb them at all, but that's just like being dead. The practice of samadhi is for developing wisdom and understanding.

Một số người cho rằng thiền định đồng nghĩa với việc phải ngồi theo một tư thế đặc biệt nào đó; tuy nhiên, trên thực tế, đứng, ngồi, đi và nằm đều là những phương tiện để thực hành thiền định. Bạn có thể thực hành vào bất cứ lúc nào. Samadhi (Định) theo nghĩa đen có nghĩa là "tâm được an định vững chắc". Để phát triển Samadhi, bạn không nhất thiết phải cố kìm nén hay giam hãm tâm. Một số người tìm cách đạt được sự an bình bằng việc ngồi yên tĩnh và tránh để bất cứ điều gì quấy nhiễu, nhưng trạng thái đó chẳng khác nào cái chết. Việc thực hành Samadhi cốt là để phát triển trí tuệ và sự thấu hiểu.

Samadhi is the firm mind, the one-pointed mind. On which point is it fixed? It's fixed onto the point of balance. That's its point. But people practice meditation by trying to silence their minds. They say, "I try to sit in meditation but my mind won't be still for a minute. One instant it flies off one place, the next instant it flies off somewhere else... How can I make it stop still?" You don't have to make it stop, that's not the point. Where there is movement is where understanding can arise. People complain, "It runs off and I pull it back again; then it goes off again and I pull it back once more..." So they just sit there pulling back and forth like this.

Định (Samadhi) là tâm vững vàng, là tâm chuyên nhất. Nó tập trung vào điểm nào? Nó tập trung vào điểm cân bằng. Đó chính là trọng tâm của nó. Thế nhưng, mọi người lại thực hành thiền bằng cách cố gắng làm cho tâm mình trở nên tĩnh lặng. Họ than rằng: "Tôi cố gắng ngồi thiền, nhưng tâm tôi chẳng chịu yên dù chỉ một phút. Thoáng chốc nó bay vút đến nơi này, thoáng chốc sau lại bay vút sang nơi khác... Làm sao tôi có thể khiến nó dừng lại và đứng yên được đây?" Bạn không cần phải ép buộc nó dừng lại; đó không phải là mục đích chính. Chính tại nơi có sự chuyển động, sự thấu hiểu mới có thể nảy sinh. Mọi người lại tiếp tục than vãn: "Nó chạy đi mất, rồi tôi lại kéo nó về; rồi nó lại chạy đi lần nữa, và tôi lại kéo nó về thêm một lần nữa..." Cứ thế, họ chỉ ngồi đó và loay hoay kéo qua kéo lại như vậy.

They think their minds are running all over the place, but actually it only seems like the mind is running around. For example, look at this hall here..."Oh, it's so big!," you say... actually it's not big at all. Whether or not it seems big depends on your perception of it. In fact this hall is just the size it is, neither big nor small, but people run around after their feelings all the time.

Họ nghĩ tâm họ đang chạy nhảy lung tung khắp nơi, nhưng thực ra, đó chỉ là cảm giác dường như tâm đang chạy nhảy mà thôi. Chẳng hạn, hãy nhìn vào hội trường này đây... "Ồ, nó rộng lớn quá!", bạn thốt lên... nhưng thực tế thì nó chẳng hề rộng lớn chút nào cả. Việc nó có vẻ rộng lớn hay không hoàn toàn phụ thuộc vào nhận thức của chính bạn. Trên thực tế, hội trường này chỉ có kích thước vốn có của nó, chẳng rộng cũng chẳng hẹp, nhưng con người lại cứ mãi chạy đuổi theo những cảm xúc của chính mình.

Meditating to find peace... You must understand what peace is. If you don't understand it you won't be able to find it. For example, suppose today you brought a very expensive pen with you to the monastery. Now suppose that, on your way here, you put the pen in your front pocket, but at a later time you took it out and put it somewhere else, such as the back pocket. Now when you search your front pocket... It's not there! You get a fright. You get a fright because of your misunderstanding, you don't see the truth of the matter. Suffering is the result. Whether standing, walking, coming and going, you can't stop worrying about your lost pen. Your wrong understanding causes you to suffer. Understanding wrongly causes suffering..."Such a shame! I'd only bought that pen a few days ago and now it's lost."

Thiền định để tìm kiếm sự bình an... Bạn cần phải hiểu bình an thực sự là gì. Nếu không hiểu, bạn sẽ chẳng thể nào tìm thấy nó. Chẳng hạn, giả sử hôm nay bạn mang theo một cây bút rất đắt tiền khi đến tu viện. Rồi giả sử rằng, trên đường đi, bạn đã bỏ cây bút vào túi trước; nhưng sau đó, bạn lại lấy nó ra và chuyển sang một chỗ khác, chẳng hạn như túi sau. Giờ đây, khi bạn lục tìm trong túi trước... Nó không còn ở đó nữa! Bạn hoảng hốt. Sự hoảng hốt ấy nảy sinh từ chính sự hiểu lầm của bạn, bởi bạn đã không nhìn thấy sự thật của vấn đề. Và đau khổ chính là hệ quả tất yếu. Dù đang đứng, đang đi, hay đang đi tới, bạn vẫn không thể ngừng lo lắng về cây bút đã "mất" kia. Chính sự hiểu biết sai lệch đã khiến bạn phải chịu đựng khổ đau. Hiểu sai chính là nguồn gốc của khổ đau... "Thật đáng tiếc làm sao! Mình mới chỉ mua cây bút đó vài ngày trước thôi, vậy mà giờ nó đã mất rồi."

But then you remember, "Oh, of course! When I went to bathe I put the pen in my back pocket." As soon as you remember this you feel better already, even without seeing your pen. You see that? You're happy already, you can stop worrying about your pen. You're sure about it now. As you're walking along you run your hand over your back pocket and there it is. Your mind was deceiving you all along. The worry comes from your ignorance. Now, seeing the pen, you are beyond doubt, your worries are calmed. This sort of peace comes from seeing the cause of the problem, samudaya, the cause of suffering. As soon as you remember that the pen is in your back pocket there is nirodha, the cessation of suffering.

Nhưng rồi bạn chợt nhớ: "Ồ, phải rồi! Lúc đi tắm, mình đã bỏ cây bút vào túi sau." Ngay khi nhớ lại điều này, bạn cảm thấy nhẹ nhõm hẳn lên, ngay cả khi chưa nhìn thấy cây bút của mình. Bạn thấy đấy? Bạn đã cảm thấy vui vẻ rồi, bạn có thể thôi lo lắng về cây bút của mình. Giờ đây, bạn hoàn toàn chắc chắn về điều đó. Khi đang bước đi, bạn đưa tay sờ vào túi sau, và cây bút nằm ngay ở đó. Hóa ra, tâm đã đánh lừa bạn suốt bấy lâu nay. Nỗi lo ấy bắt nguồn từ sự vô minh của bạn. Giờ đây, khi đã nhìn thấy cây bút, mọi nghi ngờ trong bạn đều tan biến, những nỗi lo âu cũng lắng dịu. Sự bình an này nảy sinh từ việc nhận diện được nguyên nhân của vấn đề samudaya tức là nguyên nhân của khổ đau. Ngay khi bạn nhớ ra rằng cây bút đang nằm trong túi sau, thì nirodha sự chấm dứt của khổ đau liền hiện hữu.

So you must contemplate in order to find peace. What people usually refer to as peace is simply the calming of the mind, not the calming of the defilements. The defilements are simply being temporarily subdued, just like grass covered by a rock. In three or four days you take the rock off the grass and in no long time it grows up again. The grass hadn't really died, it was simply being suppressed. It's the same when sitting in meditation: the mind is calmed but the defilements are not really calmed. Therefore, samadhi is not a sure thing. To find real peace you must develop wisdom. Samadhi is one kind of peace, like the rock covering the grass... in a few days you take the rock away and the grass grows up again. This is only a temporary peace. The peace of wisdom is like putting the rock down and not lifting it up, just leaving it where it is. The grass can't possibly grow again. This is real peace, the calming of the defilements, the sure peace which results from wisdom.

Vì vậy bạn cần phải quán chiếu để tìm thấy sự an lạc. Điều mà mọi người thường gọi là an lạc thực chất chỉ là sự lắng dịu của tâm, chứ không phải là sự lắng dịu của các phiền não. Các phiền não lúc này chỉ tạm thời bị trấn áp, giống như đám cỏ bị một tảng đá đè lên. Sau ba hoặc bốn ngày, khi bạn dỡ tảng đá ra khỏi đám cỏ, chẳng bao lâu sau cỏ sẽ mọc lên trở lại. Đám cỏ ấy thực sự chưa chết, nó chỉ đơn thuần bị đè nén. Khi ngồi thiền cũng diễn ra tương tự: tâm được lắng dịu, nhưng các phiền não thì chưa thực sự lắng dịu. Do đó, Định (Samadhi) không phải là một sự an lạc vững bền tuyệt đối. Để tìm thấy sự an lạc chân thực, bạn cần phải trau dồi Trí tuệ. Định là một dạng an lạc, tựa như tảng đá đè lên đám cỏ kia... chỉ sau vài ngày, khi bạn dỡ tảng đá đi, cỏ lại mọc lên như cũ. Đây chỉ là sự an lạc mang tính tạm thời. Sự an lạc của Trí tuệ lại giống như việc đặt tảng đá xuống và không bao giờ nhấc nó lên nữa, cứ để yên nó nằm tại chỗ đó. Khi ấy, đám cỏ sẽ không thể nào mọc lên trở lại. Đây chính là sự an lạc chân thực, sự lắng dịu hoàn toàn của các phiền não, một sự an lạc vững bền tuyệt đối được sinh khởi từ Trí tuệ.

We speak of wisdom (pañña) and samadhi as separate things, but in essence they are one and the same. Wisdom is the dynamic function of samadhi; samadhi is the passive aspect of wisdom. They arise from the same place but take different directions, different functions, like this mango here. A small green mango eventually grows larger and larger until it is ripe. It is all the same mango, the larger one and the ripe one are all the same mango, but its condition changes. In Dhamma practice, one condition is called samadhi, the later condition is called pañña, but in actuality sila, samadhi, and pañña are all the same thing, just like the mango.

Chúng ta thường nói về trí tuệ (pañña) và định (samadhi) như là hai thực thể riêng biệt, nhưng về bản chất, chúng là một và đồng nhất. Trí tuệ là khía cạnh năng động của định; định là khía cạnh tĩnh lặng của trí tuệ. Chúng khởi sinh từ cùng một nguồn gốc nhưng lại phát triển theo những hướng khác nhau, đảm nhiệm những chức năng khác nhau, tựa như quả xoài này đây. Một quả xoài xanh nhỏ bé dần dần lớn lên, to dần cho đến khi chín muồi. Tất cả vẫn chỉ là một quả xoài duy nhất, dù là khi đã lớn hay khi đã chín, chúng đều là cùng một quả xoài ấy, chỉ có trạng thái của nó là thay đổi. Trong sự tu tập Pháp (Dhamma), trạng thái này được gọi là định, còn trạng thái sau đó được gọi là Tuệ; nhưng trên thực tế, Giới (sila), Định (samadhi) và Tuệ (pañña) đều là một thể thống nhất, cũng giống như quả xoài kia.

In any case, in our practice, no matter what aspect you refer to, you must always begin from the mind. Do you know what this mind is? What is the mind like? What is it? Where is it?... Nobody knows. All we know is that we want to go over here or over there, we want this and we want that, we feel good or we feel bad... but the mind itself seems impossible to know. What is the mind? The mind hasn't any form. that which receives impressions, both good and bad, we call "mind." It's like the owner of a house. The owner stays put at home while visitors come to see him. He is the one who receives the visitors. Who receives sense impressions? What is it that perceives? Who lets go of sense impressions? That is what we call "mind." But people can't see it, they think themselves around in circles..."What is the mind, what is the brain?"... Don't confuse the issue like this. What is it that receives impressions? Some impressions it likes and some it doesn't like... Who is that? Is there one who likes and dislikes? Sure there is, but you can't see it. That is what we call "mind."

Dù trong bất cứ trường hợp nào, trong quá trình tu tập của chúng ta, bất kể bạn đề cập đến khía cạnh nào, bạn luôn phải bắt đầu từ tâm. Bạn có biết tâm này là gì không? Tâm trông như thế nào? Bản chất của nó là gì? Nó nằm ở đâu?... Chẳng ai biết cả. Tất cả những gì chúng ta biết chỉ là việc ta muốn đi đến chỗ này hay chỗ kia, ta muốn điều này hay điều nọ, ta cảm thấy vui vẻ hay buồn bã... nhưng chính bản thân cái tâm thì dường như lại không thể nào nắm bắt hay thấu hiểu được. Tâm là gì? Tâm vốn không có hình tướng. Cái gì tiếp nhận những ấn tượng, dù tốt hay xấu, thì ta gọi đó là "tâm". Nó giống như người chủ của một ngôi nhà vậy. Người chủ ấy cứ an nhiên ở yên trong nhà, trong khi những vị khách lần lượt tìm đến thăm ông. Chính ông là người tiếp đón những vị khách ấy. Vậy, ai là kẻ tiếp nhận những ấn tượng từ các giác quan? Cái gì là thứ đang tri giác? Ai là kẻ buông bỏ những ấn tượng giác quan ấy? Cái đó ta gọi là "tâm". Nhưng người đời lại chẳng thể nhìn thấy nó; họ cứ loay hoay suy nghĩ vòng quanh mãi... "Tâm là gì? Não bộ là gì?"... Đừng làm cho vấn đề trở nên rối rắm như thế. Cái gì là thứ đang tiếp nhận những ấn tượng kia? Có những ấn tượng nó thích, lại có những ấn tượng nó không thích... Cái đó là gì vậy? Có thực sự tồn tại một "kẻ" biết thích và ghét hay sao? Chắc chắn là có, nhưng bạn lại chẳng thể nhìn thấy nó. Đó chính là cái mà ta gọi là "tâm".

In our practice it isn't necessary to talk of samatha (concentration) or vipassana (insight), just call it the practice of Dhamma, that's enough. And conduct this practice from your own mind. What is the mind? The mind is that which receives, or is aware of, sense impressions. With some sense impressions there is a reaction of like, with others the reaction is dislike. That receiver of impressions leads us into happiness and suffering, right and wrong. But it doesn't have any form. We assume it to be a self, but it's really only namadhamma. Does "goodness" have any form? Does evil? Do happiness and suffering have any form? You can't find them. Are they round or are they square, short or long? Can you see them. These things are namadhamma, they can't be compared to material things, they are formless... but we know that they do exist.

Trong phương pháp tu tập của chúng ta, không nhất thiết phải nói về samatha (thiền định) hay vipassana (thiền quán); chỉ cần gọi đó là sự tu tập Chánh Pháp (Dhamma). Và hãy thực hành điều này ngay từ chính tâm của bạn. Tâm là gì? Tâm là cái tiếp nhận, hoặc nhận biết các cảm thọ từ giác quan. Đối với một số cảm thọ, tâm phản ứng bằng sự ưa thích; đối với những cảm thọ khác, tâm lại phản ứng bằng sự không ưa thích. Chính cái thực thể tiếp nhận cảm thọ ấy dẫn dắt chúng ta vào hạnh phúc hay khổ đau, vào điều đúng hay điều sai. Tuy nhiên, nó không có hình tướng. Chúng ta thường lầm tưởng nó là một "cái ngã", nhưng thực chất nó chỉ là namadhamma (Danh Pháp). Liệu "cái thiện" có hình tướng nào chăng? Cái ác có hình tướng không? Hạnh phúc và khổ đau có hình tướng không? Bạn sẽ chẳng thể tìm thấy chúng đâu. Chúng có hình tròn hay hình vuông? Cao hay thấp, dài hay ngắn? Bạn có thể nhìn thấy chúng chăng? Những điều này thuộc về Danh Pháp (namadhamma) chúng không thể được so sánh với các vật chất hữu hình, chúng vốn vô hình tướng... nhưng chúng ta vẫn biết chắc rằng chúng thực sự hiện hữu.

Therefore it is said to begin the practice by calming the mind. Put awareness into the mind. If the mind is aware it will be at peace. Some people don't go for awareness, they just want to have peace, a kind of blanking out. So they never learn anything. If we don't have this "one who knows" what is there to base our practice on?

Vì thế người ta thường khuyên rằng hãy bắt đầu việc tu tập bằng cách làm lắng dịu tâm. Hãy đặt sự nhận biết vào trong tâm. Nếu tâm có sự nhận biết, nó sẽ trở nên an bình. Một số người không chú trọng đến sự nhận biết; họ chỉ muốn đạt được sự an bình, một trạng thái trống rỗng, vô tri. Vì vậy, họ chẳng bao giờ học hỏi được điều gì cả. Nếu chúng ta không là "người biết" này, thì ta còn dựa vào đâu để làm nền tảng cho việc tu tập của mình?

If there is no long, there is no short, if there is no right there can be no wrong. People these days study away, looking for good and evil. But that which is beyond good and evil they know nothing of. All they know is the right and the wrong — "I'm going to take only what is right. I don't want to know about the wrong. Why should I?" If you try to take only what is right in a short time it will go wrong again. Right leads to wrong. People keep searching among the right and wrong, they don't try to find that which is neither right nor wrong. They study about good and evil, they search for virtue, but they know nothing of that which is beyond good and evil. They study the long and the short, but that which is neither long nor short they know nothing of.

Nếu không có cái dài thì chẳng có cái ngắn; nếu không có cái đúng thì chẳng có cái sai. Người đời ngày nay cứ mải miết học hỏi, tìm kiếm giữa thiện và ác. Nhưng cái nằm ngoài thiện và ác, họ lại chẳng hề hay biết gì. Tất cả những gì họ biết chỉ là đúng và sai, "Ta sẽ chỉ đón nhận những gì là đúng. Ta chẳng muốn cái sai. Tại sao ta phải bận tâm?" Nếu bạn chỉ cố gắng đón nhận riêng cái đúng, thì chẳng bao lâu sau, nó sẽ lại hóa thành cái sai. Cái đúng dẫn đến cái sai. Người ta cứ mãi loay hoay tìm kiếm giữa cái đúng và cái sai, mà chẳng chịu tìm về cái không thuộc về đúng hay sai. Họ nghiên cứu về thiện và ác, họ tìm cầu đức hạnh, nhưng lại hoàn toàn mù mờ về cái vượt lên trên cả thiện lẫn ác. Họ nghiên cứu về cái dài và cái ngắn, nhưng về cái không dài cũng chẳng ngắn, họ lại chẳng hề hay biết gì.

This knife has a blade, a rim and a handle. Can you lift only the blade? Can you lift only the rim of the blade, or the handle? The handle, the rim and the blade are all parts of the same knife: when you pick up the knife you get all three parts together.

Con dao này có một lưỡi dao, một cạnh dao và một cán dao. Bạn có thể nhấc riêng phần lưỡi dao lên được không? Bạn có thể nhấc riêng phần cạnh của lưỡi dao, hay phần cán dao lên được không? Cán dao, cạnh dao và lưỡi dao đều là các bộ phận của cùng một con dao: khi bạn nhấc con dao lên, bạn sẽ nhấc cả ba bộ phận đó cùng một lúc.

In the same way, if you pick up that which is good, the bad must follow. People search for goodness and try to throw away evil, but they don't study that which is neither good nor evil. If you don't study this there can be no completion. If you pick up goodness, badness follows. If you pick up happiness, suffering follows. The practice of clinging to goodness and rejecting evil is the Dhamma of children, it's like a toy. Sure, it's alright, you can take just this much, but if you grab onto goodness, evil will follow. The end of this path is confused, it's not so good.

Cũng theo cách đó, nếu bạn nắm bắt cái thiện, thì cái ác ắt sẽ theo sau. Người đời tìm kiếm điều thiện và cố gắng loại bỏ điều ác, nhưng họ lại không chịu quán chiếu về cái không thiện cũng chẳng ác. Nếu bạn không quán chiếu điều này, thì sẽ chẳng thể nào đạt được sự viên mãn. Nếu bạn nắm bắt lấy cái thiện, thì cái ác sẽ theo sau. Nếu bạn nắm bắt lấy hạnh phúc, thì khổ đau sẽ theo sau. Việc thực hành bám chấp vào điều thiện và chối bỏ điều ác chính là Pháp của những đứa trẻ; nó chẳng khác nào một món đồ chơi. Tất nhiên, điều đó cũng chẳng sao cả, bạn có thể chỉ thực hành đến mức độ ấy thôi, nhưng nếu bạn cứ bám chặt lấy cái thiện, thì cái ác ắt sẽ bám theo bạn. Cái kết của con đường này thật mờ mịt, nó thì không tốt đẹp.

Take a simple example. You have children — now suppose you want to only love them and never experience hatred. This is the thinking of one who doesn't know human nature. If you hold onto love, hatred will follow. In the same way, people decide to study the Dhamma to develop wisdom, studying good and evil as closely as possible. Now, having known good and evil, what do they do? They try to cling to the good, and evil follows. They didn't study that which is beyond good and evil. This is what you should study.

Hãy lấy một ví dụ đơn giản. Bạn có những người con, bây giờ giả sử bạn chỉ muốn yêu thương chúng mà không bao giờ phải trải qua cảm giác thù ghét. Đây là lối tư duy của kẻ chưa thấu hiểu bản chất con người. Nếu bạn cứ bám chấp vào tình yêu thương, thì sự thù ghét ắt sẽ theo sau. Cũng theo cách đó, người ta quyết định tu học Phật pháp để phát triển trí tuệ, tìm hiểu tường tận về thiện và ác. Thế rồi, khi đã nhận biết được thiện và ác, họ làm gì? Họ lại cố bám chấp vào cái thiện, và thế là cái ác lại đeo bám theo sau. Họ đã không chịu tìm hiểu về cái nằm vượt trên cả thiện lẫn ác. Đó chính là điều mà bạn thực sự cần phải tu học.

"I'm going to be like this," "I'm going to be like that,"... but they never say "I'm not going to be anything because there really isn't any 'I'"... This they don't study. All they want is goodness. If they attain goodness, they lose themselves in it. If things get too good they'll start to go bad, and so people end up just swinging back and forth like this.

"Tôi sẽ trở thành thế này," "Tôi sẽ trở thành thế kia"... nhưng họ chẳng bao giờ nói rằng: "Tôi sẽ chẳng trở thành gì cả, bởi thực sự chẳng hề có một cái 'Tôi' nào tồn tại"... Điều này thì họ lại không chịu tìm hiểu. Tất cả những gì họ khao khát chỉ là sự tốt đẹp. Nếu đạt được sự tốt đẹp ấy, họ lại đánh mất chính mình trong đó. Khi mọi thứ trở nên quá đỗi tốt đẹp, chúng sẽ bắt đầu chuyển sang chiều hướng xấu; và cứ thế, con người rốt cuộc chỉ biết chao đảo qua lại như vậy.

In order to calm the mind and become aware of the perceiver of sense impressions, we must observe it. Follow the "one who knows." Train the mind until it is pure. How pure should you make it? If it's really pure the mind should be above both good and evil, above even purity. It's finished. That's when the practice is finished.

Để tâm tĩnh lặng và nhận biết được tâm đang cảm nhận các ấn tượng giác quan, ta phải quan sát chính nó (tâm). Hãy đi theo "kẻ biết". Hãy rèn luyện tâm cho đến khi nó trở nên thanh tịnh. Bạn cần làm cho nó thanh tịnh đến mức nào? Nếu thực sự thanh tịnh, tâm sẽ vượt lên trên cả thiện lẫn ác, thậm chí vượt lên trên cả sự thanh tịnh. Khi ấy, mọi sự đã hoàn tất. Đó chính là lúc công phu tu tập đạt đến sự viên mãn.

What people call sitting in meditation is merely a temporary kind of peace. But even in such a peace there are experiences. If an experience arises there must be someone who knows it, who looks into it, queries it and examines it. If the mind is simply blank then that's not so useful. You may see some people who look very restrained and think they are peaceful, but the real peace is not simply the peaceful mind. It's not the peace which says, "May I be happy and never experience any suffering." With this kind of peace, eventually even the attainment of happiness becomes unsatisfying. Suffering results. Only when you can make your mind beyond both happiness and suffering will you find true peace. That's the true peace. This is the subject most people never study, they never really see this one.

Điều mà người ta gọi là ngồi thiền thực chất chỉ là một dạng bình an nhất thời. Tuy nhiên, ngay cả trong trạng thái bình an ấy, vẫn luôn có những trải nghiệm nảy sinh. Khi một trải nghiệm xuất hiện, ắt hẳn phải có một chủ thể (tâm) nhận biết nó, quán chiếu nó, đặt câu hỏi về nó và thẩm định nó. Nếu tâm chỉ đơn thuần là một khoảng trống rỗng, thì điều đó chẳng mang lại lợi ích. Bạn có thể bắt gặp những người trông có vẻ rất điềm tĩnh và lầm tưởng rằng họ đang an lạc; thế nhưng, sự bình an đích thực không chỉ đơn thuần là một tâm tĩnh lặng. Đó không phải là thứ bình an mang tư tưởng: "Cầu mong cho ta luôn được hạnh phúc và chẳng bao giờ phải nếm trải bất kỳ nỗi khổ đau nào." Với kiểu bình an như thế, rốt cuộc thì ngay cả việc đạt được hạnh phúc cũng trở nên thiếu thỏa mãn, và hệ quả tất yếu là khổ đau sẽ phát sinh. Chỉ khi nào bạn có thể đưa tâm mình vượt lên trên cả hạnh phúc lẫn khổ đau, khi ấy bạn mới tìm thấy sự bình an chân thực. Đó chính là sự bình an đích thực. Đây là chủ đề mà hầu hết mọi người chưa từng thực sự nghiên cứu; họ chưa bao giờ thực sự thấu suốt được bản chất của điều này.

The right way to train the mind is to make it bright, to develop wisdom. Don't think that training the mind it simply sitting quietly. That's the rock covering the grass. People get drunk over it. They think that samadhi is sitting. That's just one of the words for samadhi, but really, if the mind has samadhi in the sitting posture, in the walking posture, in the standing and reclining postures. It's all practice.

Cách đúng đắn để tu tập tâm là làm cho tâm trở nên sáng suốt, là phát triển trí tuệ. Đừng lầm tưởng rằng việc tu tập tâm chỉ đơn thuần là ngồi yên tĩnh. Điều đó chẳng khác nào tảng đá đè lên cỏ. Người ta thường bị mê đắm vào điều đó; họ cho rằng định (samadhi) chính là việc ngồi thiền. Đó chỉ là một trong những cách gọi của định mà thôi; thực chất, nếu tâm thực sự đạt được định, thì định ấy sẽ hiện hữu trong mọi tư thế: ngồi, đi, đứng và cả khi nằm. Tất cả đều là sự tu tập.

Some people complain, "I can't meditate, I'm too restless. Whenever I sit down I think of this and that... I can't do it. I've got too much bad kamma. I should use up my bad kamma first and then come back and try meditating." Sure, just try it. Try using up your bad kamma...

Một số người than: "Tôi không thể thiền được, tâm tôi quá xao động. Hễ ngồi xuống là tôi lại nghĩ hết chuyện này đến chuyện kia... Tôi không làm nổi. Tôi mang quá nhiều ác nghiệp. Tôi nên tiêu trừ hết ác nghiệp trước đã, rồi sau đó mới quay lại thử tập thiền." Được thôi, cứ thử xem sao. Hãy thử tiêu trừ hết ác nghiệp của bạn đi...

This is how people think. Why do they think like this? These so called hindrances are the things we must study. Whenever we sit, the mind immediately goes running off. We follow it and try to bring it back and observe it once more... then it goes off again. This is what you're supposed to be studying. Most people refuse to learn their lessons from nature... like a naughty schoolboy who refuses to do his homework. They don't want to see the mind changing. How are you going to develop wisdom? We have to live with change like this. When we know that the mind is just this way, constantly changing... when we know that this is its nature, we will understand it. We have to know when the mind is thinking good and bad, changing all the time, we have to know these things. If we understand this point, then even while we are thinking we can be at peace.

Đó chính là cách con người tư duy. Tại sao họ lại suy nghĩ như vậy? Những thứ được gọi là "chướng ngại" này chính là những điều mà chúng ta cần phải nghiên cứu. Bất cứ khi nào chúng ta ngồi xuống tĩnh tâm, tâm lập tức chạy tán loạn. Chúng ta chạy theo cố gắng kéo nó trở về để quan sát một lần nữa... rồi nó lại tiếp tục chạy đi mất. Đây chính là điều mà bạn cần phải học hỏi và nghiên cứu. Hầu hết mọi người đều từ chối tiếp nhận những bài học từ quy luật tự nhiên... hệt như một cậu học trò nghịch ngợm nhất quyết không chịu làm bài tập mang về nhà. Họ không muốn nhìn nhận sự thay đổi của tâm mình. Vậy thì làm sao bạn có thể phát triển trí tuệ được? Chúng ta buộc phải sống chung và chấp nhận những sự thay đổi. Khi chúng ta nhận thức được rằng tâm vốn dĩ là như thế, luôn luôn thay đổi không ngừng, chúng ta hiểu rằng đó chính là bản chất tự nhiên của nó, thì khi ấy chúng ta mới thực sự thấu hiểu được tâm. Chúng ta cần phải nhận biết được khi nào tâm khởi sinh những suy nghĩ thiện hay ác, nhận biết rằng nó luôn thay đổi từng sát na; chúng ta buộc phải thấu rõ những điều này. Nếu thấu hiểu được điểm mấu chốt này, thì ngay cả khi tâm đang miên man suy nghĩ, chúng ta vẫn có thể giữ được sự an lạc.

For example, suppose at home you have a pet monkey. Monkeys don't stay still for long, they like to jump around and grab onto things. That's how monkeys are. Now you come to the monastery and see the monkey here. This monkey doesn't stay still either, it jumps around just the same. But it doesn't bother you, does it? Why doesn't it bother you? Because you've raised a monkey before, you know what they're like. If you know just one monkey, no matter how many provinces you go to, no matter how many monkeys you see, you won't be bothered by them, will you? This is one who understands monkeys.

Chẳng hạn, giả sử ở nhà bạn có nuôi một chú khỉ làm thú cưng. Khỉ vốn chẳng bao giờ chịu ngồi yên lâu; chúng thích nhảy nhót lung tung và hay vồ lấy mọi thứ. Bản tính của loài khỉ là như vậy. Giờ đây, khi bạn đến tu viện và nhìn thấy một chú khỉ ở đây, chú khỉ này cũng chẳng chịu ngồi yên chút nào, nó cũng nhảy nhót lung tung y hệt như thế. Nhưng điều đó lại chẳng hề làm bạn phiền chút nào, phải không? Tại sao bạn lại không thấy phiền? Bởi vì bạn đã từng nuôi khỉ rồi, bạn hiểu rõ bản tính của chúng như thế nào. Một khi bạn đã thấu hiểu về một chú khỉ, thì cho dù bạn có đi qua bao nhiêu tỉnh thành, hay có nhìn thấy bao nhiêu chú khỉ đi nữa, bạn cũng sẽ chẳng bao giờ cảm thấy phiền vì chúng nữa, đúng không? Đó chính là người đã thực sự thấu hiểu về loài khỉ.

If we understand monkeys then we won't become a monkey. If you don't understand monkeys you may become a monkey yourself! Do you understand? When you see it reaching for this and that, you shout, "Hey!" You get angry..."That damned monkey!" This is one who doesn't know monkeys. One who knows monkeys sees that the monkey at home and the monkey in the monastery are just the same. Why should you get annoyed by them? When you see what monkeys are like that's enough, you can be at peace.

Nếu ta hiểu loài khỉ, ta sẽ không trở thành một con khỉ. Còn nếu không hiểu về loài khỉ, chính bạn lại có thể biến thành một con khỉ đấy! Bạn có hiểu không? Khi thấy nó thò tay chộp lấy thứ này, thứ nọ, bạn liền quát lên: "Này!" Bạn nổi cơn thịnh nộ... "Con khỉ chết tiệt đó!" Đó chính là biểu hiện của kẻ chẳng hiểu gì về loài khỉ. Ngược lại, người thực sự hiểu về loài khỉ sẽ nhận thấy rằng: con khỉ ở nhà hay con khỉ trong tu viện thì cũng đều giống nhau. Cớ gì mà bạn lại phải bực mình vì chúng? Chỉ cần nhận diện đúng bản chất của loài khỉ, thế là đủ; khi ấy, bạn sẽ tìm thấy sự an nhiên tự tại.

Peace is like this. We must know sensations. Some sensations are pleasant, some are unpleasant, but that's not important. That's just their business. Just like the monkey. all monkeys are the same. We understand sensations as sometimes agreeable, sometimes not — that's just their nature. We should understand them and know how to let them go. Sensations are uncertain. They are Transient, Imperfect and Ownerless. Everything that we perceive is like this. When eyes, ears, nose, tongue, body and mind receive sensations, we know them, just like knowing the monkey. Then we can be at peace.

Sự an lạc là như vậy. Chúng ta cần nhận biết các cảm thọ. Có những cảm thọ dễ chịu, có những cảm thọ khó chịu, nhưng điều đó không quan trọng. Đó chỉ là bản chất riêng của chúng. Cũng giống như con khỉ vậy; mọi con khỉ đều như nhau cả. Chúng ta hiểu rằng cảm thọ đôi khi dễ chịu, đôi khi không, đó đơn thuần là bản chất tự nhiên của chúng. Chúng ta cần thấu hiểu chúng và biết cách buông bỏ chúng. Các cảm thọ vốn vô thường. Chúng là những thứ thoáng qua, bất toàn và vô chủ. Mọi sự vật mà chúng ta cảm nhận đều là như vậy. Khi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý tiếp nhận các cảm thọ, chúng ta hãy nhận biết chúng, cũng giống như việc nhận biết con khỉ vậy. Khi ấy, chúng ta mới có thể tìm thấy sự an lạc.

When sensations arise, know them. Why do you run after them? Sensations are uncertain. One minute they are one way, the next minute another. They exist dependent on change. And all of us here exist dependent on change. The breath goes out then it must come in. It must have this change. Try only breathing in, can you do that? Or try just breathing out without taking in another breath... can you do it? If there was no change like this how long could you live for? There must be both the in breath and the out breath.

Khi các cảm thọ khởi sinh, hãy nhận biết chúng. Tại sao bạn lại cứ chạy đuổi theo chúng? Các cảm thọ vốn vô thường. Phút này chúng biểu hiện thế này, phút sau lại thay đổi sang một dạng khác. Sự tồn tại của chúng phụ thuộc vào sự thay đổi. Và tất cả chúng ta ở đây cũng đều tồn tại dựa trên sự thay đổi ấy. Hơi thở đi ra, rồi nhất định phải đi vào. Nó buộc phải có sự thay đổi này. Hãy thử chỉ hít vào thôi xem bạn có làm được không? Hoặc thử chỉ thở ra mà không hít vào thêm hơi nào nữa xem... bạn có làm được chăng? Nếu không có sự thay đổi như thế này, thì bạn có thể sống được bao lâu? Nhất thiết phải có cả hơi hít vào lẫn hơi thở ra.

Sensations are the same. There must be these things. If there were sensations you could develop no wisdom. If there is no wrong there can be no right. You must be right first before you can see what is wrong, and you must understand the wrong first to be right. This is how things are.

Các cảm giác đều như nhau. Nhất thiết phải có những điều này. Nếu không có các cảm giác, bạn sẽ chẳng thể nào phát triển được trí tuệ. Nếu không có cái sai, thì cũng chẳng thể có cái đúng. Trước hết, bạn phải đứng trên lập trường đúng thì mới có thể nhận diện được cái sai; và bạn cũng phải thấu hiểu cái sai trước tiên thì mới có thể trở nên đúng. Sự việc vốn dĩ là như vậy.

For the really earnest student, the more sensations the better. But many meditators shrink away from sensations, they don't want to deal with them. This is like the naughty schoolboy who won't go to school, won't listen to the teacher. These sensations are teaching us. When we know sensations then we are practicing Dhamma. The peace within sensations is just like understanding the monkey here. When you understand what monkeys are like you are no longer troubled by them.

Đối với người hành giả thực sự nghiêm túc, càng có nhiều cảm thọ thì càng tốt. Thế nhưng, nhiều thiền giả lại thường né tránh các cảm thọ; họ không muốn phải đối diện hay giải quyết chúng. Thái độ này chẳng khác nào một cậu học trò nghịch ngợm, nhất quyết không chịu đến trường và cũng chẳng chịu nghe lời thầy cô. Chính những cảm thọ này đang dạy dỗ chúng ta. Khi ta nhận biết được các cảm thọ, ấy chính là lúc ta đang thực hành Pháp (Dhamma). Sự an lạc hiện hữu ngay trong lòng các cảm thọ cũng tựa như việc ta thấu hiểu bản chất của chú khỉ ở đây vậy: một khi đã hiểu rõ loài khỉ là như thế nào, ta sẽ chẳng còn cảm thấy phiền nhiễu vì chúng nữa.

The practice of Dhamma is like this. It's not that the Dhamma is very far away, it's right with us. The Dhamma isn't about the angels on high or anything like that. It's simply about us, about what we are doing right now. Observe yourself. Sometimes there is happiness, sometimes suffering, sometimes comfort, sometimes pain, sometimes love, sometimes hate... this is Dhamma. Do you see it? You should know this Dhamma, you have to read your experiences.

Sự tu tập Pháp là như thế. Không phải Pháp ở đâu xa xôi, mà nó hiện hữu ngay cùng với chúng ta. Pháp không phải là chuyện về các thiên thần trên cao hay bất cứ điều gì đại loại như thế. Nó đơn thuần chỉ là chuyện về chính chúng ta, về những gì chúng ta đang làm ngay trong sát na hiện tại. Hãy quán sát chính mình. Đôi khi có hạnh phúc, đôi khi có khổ đau; đôi khi có sự thoải mái, đôi khi có nỗi đau đớn; đôi khi có tình thương, đôi khi có sự thù ghét...đây chính là Pháp. Bạn có nhận thấy điều đó không? Bạn cần phải thấu hiểu Pháp; bạn phải biết đọc hiểu chính những trải nghiệm của bản thân mình.

You must know sensations before you can let them go. When you see that sensations are impermanent you will be untroubled by them. As soon as a sensation arises, just say to yourself, "Hmmm... this is not a sure thing." When your mood changes..."Hmmm, not sure." You can be at peace with these things, just like seeing the monkey and not being bothered by it. If you know the truth of sensations, that is knowing the Dhamma. You let go of sensations, seeing that they are all invariably uncertain.

Bạn phải thấu hiểu các cảm thọ trước khi có thể buông bỏ chúng. Khi nhận thấy rằng các cảm thọ vốn vô thường, bạn sẽ không còn bị chúng làm cho xao động nữa. Ngay khi một cảm thọ vừa khởi sinh, hãy tự nhủ: "Hừm... điều này chẳng có gì là chắc chắn cả." Khi tâm trạng bạn thay đổi... "Hừm, cũng chẳng chắc chắn gì." Bạn hoàn toàn có thể sống an nhiên với những điều này, cũng giống như việc nhìn thấy một chú khỉ mà chẳng hề cảm thấy phiền nhiễu vậy. Nếu thấu hiểu được chân tướng của các cảm thọ, đó chính là thấu hiểu Pháp (Dhamma). Bạn buông bỏ các cảm thọ, bởi nhận thấy rằng tất cả chúng đều luôn luôn thay đổi.

What we call uncertainty here is the Buddha. The Buddha is the Dhamma. The Dhamma is the characteristic of uncertainty. Whoever sees the uncertainty of things sees the unchanging reality of them. That's what the Dhamma is like. And that is the Buddha. If you see the Dhamma you see the Buddha, seeing the Buddha, you see the Dhamma. If you know aniccam, uncertainty, you will let go of things and not grasp onto them.

Điều mà chúng ta gọi là sự vô thường ở đây chính là Đức Phật. Đức Phật chính là Pháp. Pháp chính là đặc tính của sự vô thường. Bất cứ ai nhìn thấy sự vô thường của vạn vật, người ấy sẽ nhìn thấy thực tại bất biến của chúng. Bản chất của Pháp là như vậy. Và đó chính là Đức Phật. Nếu bạn thấy Pháp, bạn sẽ thấy Phật; bạn sẽ thấy Pháp. Nếu bạn thấu hiểu anicca tức sự vô thường bạn sẽ buông bỏ vạn vật và không còn chấp thủ vào chúng nữa.

You say, "Don't break my glass!" Can you prevent something that's breakable from breaking? If it doesn't break now it will break later on. If you don't break it, someone else will. If someone else doesn't break it, one of the chickens will! The Buddha says to accept this. He penetrated the truth of these things, seeing that this glass is already broken. Whenever you use this glass you should reflect that it's already broken. Do you understand this? The Buddha's understanding was like this. He saw the broken glass within the unbroken one. Whenever its time is up it will break. Develop this kind of understanding. Use the glass, look after it, until when, one day, it slips out of your hand... "Smash!"... no problem. Why is there no problem? Because you saw its brokenness before it broke!

Bạn nói: "Đừng làm vỡ chiếc ly của tôi!" Bạn có thể ngăn cản một vật vốn dĩ dễ vỡ khỏi bị vỡ chăng? Nếu nó không vỡ lúc này, thì rồi cũng sẽ vỡ vào một lúc nào đó sau này. Nếu bạn không làm vỡ nó, thì người khác sẽ làm vỡ. Và nếu người khác cũng không làm vỡ, thì một trong những chú gà sẽ làm vỡ nó! Đức Phật dạy chúng ta hãy chấp nhận sự thật này. Ngài đã thấu triệt chân lý của vạn vật, khi nhận thấy rằng chiếc ly này ngay từ đầu vốn dĩ đã là một chiếc ly vỡ rồi. Mỗi khi sử dụng chiếc ly này, bạn hãy quán chiếu rằng nó vốn dĩ đã vỡ rồi. Bạn có hiểu điều này chăng? Đó chính là tuệ giác của Đức Phật. Ngài nhìn thấy hình ảnh chiếc ly vỡ ngay bên trong chiếc ly vẫn còn nguyên vẹn. Khi thời điểm của nó đã đến, thì nó ắt sẽ vỡ. Hãy nuôi dưỡng và phát triển một sự thấu hiểu như thế. Hãy cứ sử dụng chiếc ly, hãy gìn giữ nó, cho đến một ngày kia khi nó vô tình tuột khỏi tay bạn... "Xoảng!"... thì cũng chẳng có vấn đề gì cả. Tại sao lại không có vấn đề gì ư? Bởi vì bạn đã nhìn thấy sự "vỡ tan" của chiếc ly ấy ngay cả trước khi nó thực sự vỡ rồi!

But usually people say, "I love this glass so much, may it never break." Later on the dog breaks it..."I'll kill that damn dog!" You hate the dog for breaking your glass. If one of your children breaks it you'll hate them too. Why is this? Because you've dammed yourself up, the water can't flow. You've made a dam without a spillway. The only thing the dam can do is burst, right? When you make a dam you must make a spillway also. When the water rises up too high, the water can flow off safely. When it's full to the brim you open your spillway. You have to have a safety valve like this. Impermanence is the safety valve of the Noble Ones. If you have this "safety valve" you will be at peace.

Nhưng thường thì người ta hay nói: "Tôi yêu chiếc ly này quá đỗi, ước gì nó đừng bao giờ vỡ." Thế rồi lát sau, con chó làm vỡ chiếc ly ấy... "Ta sẽ giết chết con chó!" Bạn căm ghét con chó vì nó đã làm vỡ chiếc ly của bạn. Nếu một trong những đứa con của bạn làm vỡ nó, bạn cũng sẽ căm ghét chúng. Tại sao lại như vậy? Bởi vì bạn đã tự đắp cái đập ngăn dòng cảm xúc của chính mình lại, khiến cho dòng nước không thể lưu thông. Bạn đã xây một con đập mà không chừa lối xả nước khi nó đầy tràn. Điều duy nhất con đập có thể làm là vỡ tung ra, đúng không? Khi xây đập, bạn nhất thiết phải tạo thêm một lối xả khi nước tràn. Khi mực nước dâng lên quá cao, dòng nước có thể theo đó mà thoát ra một cách an toàn. Khi nước đã đầy tràn đến miệng đập, bạn sẽ mở lối xả tràn ấy ra. Bạn cần phải có một "van an toàn" như thế. Sự vô thường chính là chiếc van an toàn của các bậc Thánh nhân. Nếu sở hữu chiếc "van an toàn" này, bạn sẽ tìm thấy sự an lạc.

Standing, walking, sitting, lying down, practice constantly, using sati to watch over and protect the mind. This is samadhi and wisdom. They are both the same thing, but they have different aspects.

Đứng, đi, ngồi, nằm, hãy thực hành liên tục, sử dụng chánh niệm để trông giữ và bảo vệ tâm. Đây chính là Định và Tuệ. Cả hai thực chất là một, nhưng lại biểu hiện dưới những khía cạnh khác nhau.

If we really see uncertainty clearly, we will see that which is certain. The certainty is that things must inevitably be this way, they cannot be otherwise. Do you understand? Knowing just this much you can know the Buddha, you can rightly do reverence to him.

Nếu ta thực sự nhìn thấu sự vô thường, ta sẽ thấy được cái bất biến. Cái bất biến ấy chính là: vạn pháp tất yếu phải diễn ra theo lẽ này, không thể nào khác được. Bạn có hiểu không? Chỉ cần thấu hiểu được chừng ấy thôi, bạn đã có thể thấu hiểu Đức Phật, và có thể dâng lên Ngài lòng tôn kính một cách chân chính.

As long as you don't throw out the Buddha you won't suffer. As soon as you throw out the Buddha you will experience suffering. As soon as you throw out the reflections on Transience, Imperfection and Ownerlessness you'll have suffering. If you can practice just this much it's enough; suffering won't arise, or if it does arise you can settle it easily, and it will be a cause for suffering not arising in the future. This is the end of our practice, at the point where suffering doesn't arise. And why doesn't suffering arise? because we have sorted out the cause of suffering, samudaya.

Chừng nào bạn chưa buông bỏ Đức Phật, bạn sẽ không phải chịu khổ đau. Ngay khi bạn buông bỏ Đức Phật, bạn sẽ nếm trải sự khổ đau. Ngay khi bạn ngừng quán chiếu về sự Vô thường, sự Bất toàn và sự Vô ngã, bạn sẽ phải chịu khổ đau. Nếu bạn chỉ thực hành chừng ấy thôi là đủ; khổ đau sẽ không khởi sinh, hoặc nếu có khởi sinh, bạn cũng có thể hóa giải nó một cách dễ dàng, và điều đó sẽ trở thành nguyên nhân để khổ đau không còn khởi sinh trong tương lai nữa. Đây chính là đích đến của sự tu tập nơi chúng ta, tại điểm mà khổ đau không còn khởi sinh. Và tại sao khổ đau lại không khởi sinh? Bởi vì chúng ta đã thấu triệt được nguyên nhân của khổ đau, tức là samudaya.

samudaya-sacca: 'truth of the origin: 'Tập Đế', nguyên nhân của khổ, là Thánh Đế thứ 2 trong Tứ Thánh Đế (sacca, q.v.)

For instance, if this glass were to break, normally you would experience suffering. We know that this glass will be a cause for suffering, so we get rid of the cause. All dhammas arise because of a cause. They must also cease because of a cause. Now if there is suffering on account of this glass here, we should let go of this cause. If we reflect beforehand that this glass is already broken, even when it hasn't, the cause ceases. When there is no longer any cause, that suffering is no longer able to exist, it ceases. This is cessation.

Chẳng hạn, nếu chiếc ly này vỡ, thông thường bạn sẽ cảm thấy khổ đau. Chúng ta biết rằng chiếc ly này sẽ là nguyên nhân dẫn đến khổ đau, vì thế chúng ta loại bỏ nguyên nhân ấy. Mọi pháp đều khởi sinh nhờ có nguyên nhân; chúng nhất định phải diệt cũng nhờ có nguyên nhân. Giờ đây, nếu khổ đau nảy sinh vì chiếc ly này, chúng ta cần buông bỏ nguyên nhân ấy. Nếu ta quán chiếu từ trước rằng chiếc ly này vốn dĩ đã vỡ rồi, ngay cả khi thực tế nó chưa vỡ, thì nguyên nhân ấy sẽ chấm dứt. Khi không còn nguyên nhân nào nữa, khổ đau kia cũng không thể tồn tại, và nó sẽ chấm dứt. Đó chính là sự chấm dứt.

You don't have to go beyond this point, just this much is enough. Contemplate this in your own mind. Basically you should all have the Five Precepts [21] as a foundation for behavior. It's not necessary to go and study the Tipitaka, just concentrate on the Five Precepts first. At first you'll make mistakes. When you realize it, stop, come back and establish your precepts again. Maybe you'll go astray and make another mistake. When you realize it, re-establish yourself.

Bạn không cần phải đi xa hơn điểm này; chỉ chừng đó thôi là đủ. Hãy chiêm nghiệm điều này ngay trong tâm. Về cơ bản, các bạn cần thọ trì Năm Giới [21] làm nền tảng cho hành vi của mình. Không nhất thiết phải đi nghiên cứu Tam Tạng Kinh điển; trước hết, hãy cứ tập trung vào Năm Giới đã. Ban đầu, chắc chắn bạn sẽ mắc sai lầm. Khi nhận ra điều đó, hãy dừng lại, quay về và thọ trì lại giới hạnh của mình. Có thể bạn sẽ lại lạc lối và mắc thêm một sai lầm khác nữa; khi nhận ra điều đó, hãy tự chấn chỉnh và tu tập lại bản thân.

Practicing like this, your sati will improve and become more consistent, just like the drops of water falling from a kettle. If we tilt the kettle just a little, the drops fall out slowly... plop!... plop!... plop!... If we tilt the kettle up a little bit more, the drops become more rapid... plop, plop, plop!!... If we tilt the kettle up even further the "plops" go away and the water flows into a steady stream. Where do the "plops" go to? They don't go anywhere, they change into a steady stream of water.

Khi tu tập như vậy, chánh niệm (sati) của bạn sẽ được cải thiện và trở nên liên tục hơn, hệt như những giọt nước đang rơi xuống từ một chiếc ấm. Nếu ta chỉ nghiêng chiếc ấm một chút thôi, những giọt nước sẽ rơi xuống thật chậm rãi... tách!... tách!... tách!... Nếu ta nghiêng chiếc ấm lên thêm một chút nữa, nhịp rơi của những giọt nước sẽ trở nên nhanh hơn... tách, tách, tách!!... Và nếu ta nghiêng chiếc ấm lên cao hơn nữa, những tiếng "tách" kia sẽ biến mất, nhường chỗ cho dòng nước chảy thành một dòng liên tục, không ngắt quãng. Vậy thì, những tiếng "tách" ấy đã đi đâu mất? Chúng chẳng đi đâu cả; chúng chỉ đơn thuần chuyển hóa thành một dòng nước chảy liền mạch mà thôi.

We have to talk about the Dhamma like this, using similes, because the Dhamma has no form. Is it square or is it round? You can't say. The only way to talk about it is through similes like this. Don't think that the Dhamma is far away from you. It lies right with you, all around. Take a look... one minute happy, the next sad, the next angry... it's all Dhamma. Look at it and understand. Whatever it is that causes suffering you should remedy. If suffering is still there, take another look, you don't yet see clearly. If you could see clearly you wouldn't suffer, because the cause would no longer be there. If suffering is still there, if you're still having to endure, then you're not yet on the right track. Wherever you get stuck, whenever you're suffering too much, right there you're wrong. whenever you're so happy you're floating in the clouds... there... wrong again!

Chúng ta phải nói về Pháp (Dhamma) như vậy, bằng cách dùng các ví dụ, bởi lẽ Pháp vốn không có hình tướng. Nó vuông hay tròn? Bạn không thể nói được. Cách duy nhất để diễn tả về Pháp là thông qua những ví dụ. Đừng nghĩ rằng Pháp là xa vời với bạn. Pháp hiện hữu ngay trong chính con người bạn nó bao trùm khắp xung quanh bạn. Hãy thử nhìn xem... phút trước còn vui vẻ, phút sau đã phiền não, rồi lại chuyển sang giận dữ... tất cả những điều đó đều chính là Pháp. Hãy quán chiếu và hiểu điều đó. Bất cứ điều gì gây ra khổ đau, bạn đều cần phải tìm cách hóa giải. Nếu khổ đau vẫn còn, hãy quán chiếu lại lần nữa; vì bạn vẫn chưa nhìn sự việc rõ ràng. Nếu nhìn nhận rõ ràng, bạn sẽ không phải chịu khổ đau nữa, bởi vì nguyên nhân gây ra khổ đau đã không còn tồn tại. Nếu khổ đau vẫn còn đó, nếu bạn vẫn đang phải gồng mình chịu đựng, thì chứng tỏ bạn vẫn chưa đi đúng hướng. Bất cứ khi nào bạn cảm thấy bế tắc, bất cứ khi nào bạn phải chịu đựng quá nhiều khổ đau, thì ngay tại sát na đó, bạn đang đi sai đường. Và bất cứ khi nào bạn cảm thấy vui sướng tột độ, cứ ngỡ như đang bay bổng trên mây... thì ngay tại sát na ấy... bạn cũng lại đang đi sai đường!

If you practice like this you will have sati at all times, in all postures. With sati, recollection, and sampajañña, self awareness, you will know right and wrong, happiness and suffering. Knowing these things, you will know how to deal with them.

Nếu tu tập theo cách này, bạn sẽ luôn duy trì Chánh niệm (Sati) ở mọi lúc, mọi nơi. Nhờ có Chánh niệm và Tỉnh Giác (Sampajañña), bạn sẽ phân biệt được điều đúng và sai, cũng như nhận được hạnh phúc hay đau khổ. Khi đã xác định rõ những điều này, bạn sẽ biết cách ứng dụng chúng.

I teach meditation like this. When it's time to sit in meditation then sit, that's not wrong. You should practice this also. But meditation is not only sitting. You must allow your mind to fully experience things, allow them to flow and consider their nature. How should you consider them? See them as Transient, Imperfect and Ownerless. It's all uncertain. "This is so beautiful, I really must have it." That's not a sure thing. "I don't like this at all"... tell yourself right there, "Not sure!" Is this true? Absolutely, no mistake. But just try taking things for real..."I'm going to get this thing for sure"... You've gone off the track already. Don't do this. No matter how much you like something, you should reflect that it's uncertain.

Tôi hướng dẫn tu tập thiền theo cách này. Khi đến giờ ngồi thiền, hãy cứ ngồi; điều đó không hề sai. Bạn cũng nên thực hành như vậy. Tuy nhiên, thiền không chỉ đơn thuần là việc ngồi yên. Bạn phải cho phép tâm mình trải nghiệm mọi hiện tượng một cách trọn vẹn; hãy để chúng tự nhiên trôi chảy và quán chiếu về bản chất của chúng. Bạn nên quán chiếu chúng như thế nào? Hãy nhìn chúng là vô thường, bất toàn và vô chủ. Tất cả đều là những điều bất định. "Thứ này thật đẹp, tôi nhất định phải có được nó." Đó không phải là một điều chắc chắn. "Tôi chẳng thích thứ này chút nào cả"... ngay tại sát na ấy, hãy tự nhủ với chính mình rằng: "Chưa chắc đâu!" Điều này có đúng không? Hoàn toàn đúng, không sai chút nào cả. Nhưng nếu bạn cứ khăng khăng coi mọi thứ là thật: "Tôi chắc chắn sẽ có được thứ này", thì bạn đã đi chệch khỏi con đường đúng rồi. Đừng làm như vậy. Cho dù bạn có yêu thích một điều gì đó, bạn vẫn nên quán chiếu rằng bản chất của nó là thay đổi.

Some kinds of food seem so delicious, but still you should reflect that it's not a sure thing. It may seem so sure, it's so delicious, but still you must tell yourself, "not sure!" If you want to test out whether it's sure or not, try eating your favorite food every day. Every single day, mind you. Eventually you'll complain, "This doesn't taste so good anymore." Eventually you'll think, "Actually I prefer that kind of food." That's not a sure thing either! You must allow things to flow, just like the in and out breaths. There has to be both the in breath and the out breath, the breathing depends on change. Everything depends on change like this.

Một số món ăn thoạt trông có vẻ vô cùng ngon miệng, nhưng bạn vẫn nên tự nhắc nhở rằng đó không phải là một điều chắc chắn. Dù trông có vẻ chắc chắn đến đâu, dù có ngon lành đến đâu, bạn vẫn phải tự nhủ: "Chưa chắc!" Nếu muốn kiểm chứng xem điều đó có thực sự chắc chắn hay không, hãy thử ăn món ăn yêu thích của mình vào mỗi ngày. Nhớ là phải ăn vào *mỗi một ngày* . Rồi đến một lúc nào đó, bạn sẽ phải than phiền rằng: "Món này chẳng còn ngon như trước nữa." Rồi bạn sẽ lại nghĩ: "Thực ra, mình lại thích món kia hơn." Nhưng món kia cũng chẳng phải là điều chắc chắn! Bạn phải để mọi sự vận hành theo dòng chảy tự nhiên, hệt như hơi thở vào và hơi thở ra. Phải có cả hơi thở vào lẫn hơi thở ra; quá trình hô hấp vốn phụ thuộc vào sự thay đổi. Mọi sự trên đời đều vận hành dựa trên sự thay đổi theo cách này.

These things lie with us, nowhere else. If we no longer doubt whether sitting, standing, walking, or reclining, we will be at peace. Samadhi isn't just sitting. some people sit until they fall into a stupor. They might as well be dead, they can't tell north from south. Don't take it to such an extreme. If you feel sleepy then walk, change your posture. Develop wisdom. If you are really tired then have a rest. As soon as you wake up then continue the practice, don't let yourself drift into a stupor. You must practice like this. Have reason, wisdom, circumspection.

Những điều này nằm nơi chúng ta, chứ không ở nơi nào khác. Nếu chúng ta không còn hoài nghi, dù đang ngồi, đứng, đi hay nằm, thì tâm ta sẽ được an lạc. Samadhi (Định) không chỉ là ngồi thiền. Có những người ngồi mãi cho đến khi rơi vào hôn trầm, thụy miên. Họ chẳng khác nào người đã chết; họ không còn phân biệt nổi đâu là phương Bắc, đâu là phương Nam. Đừng đẩy sự việc đến mức cực đoan như thế. Nếu cảm thấy buồn ngủ, hãy đứng dậy đi kinh hành; hãy thay đổi tư thế của mình. Hãy trau dồi trí tuệ. Nếu thực sự cảm thấy mệt mỏi, hãy nghỉ ngơi đôi chút. Ngay khi vừa thức dậy, hãy tiếp tục việc tu tập; đừng để bản thân lại rơi vào trạng thái hôn trầm, mê mờ. Bạn phải thực hành theo cách như vậy: luôn giữ sự tỉnh táo, vận dụng trí tuệ và sự thận trọng.

Start the practice for your own mind and body, seeing them as impermanent. Everything else is the same. Keep this in mind when you think the food is so delicious... you must tell yourself..."Not a sure thing!" You have to slug it first. But usually it just slugs you every time, doesn't it? If you don't like anything you just suffer over it. This is how things slug us. "If she likes me, I like her," they slug us again. You never get a punch in! You must see it like this. Whenever you like anything just say to yourself, "This is not a sure thing!" You have to go against the grain somewhat in order to really see the Dhamma.

Bắt đầu tu tập với chính tâm và thân của hành giả, quán chiếu chúng là vô thường. Mọi sự vật, hiện tượng khác cũng đều y như vậy. Hãy luôn ghi nhớ điều này mỗi khi bạn cảm thấy món ăn nào đó thật ngon tuyệt... bạn phải tự nhủ rằng: "Chưa chắc!" Bạn phải tung cú đấm phủ đầu nó trước đã. Nhưng thường thì lần nào nó cũng lại đấm bạn, phải không? Nếu bạn không thích điều gì đó, bạn sẽ chỉ chuốc lấy khổ đau. Đó chính là cách mà mọi sự vật đánh vào chúng ta. "Nếu cô ấy thích mình, thì mình cũng thích cô ấy" thế là chúng lại giáng cho ta một đòn nữa. Bạn chẳng bao giờ có được cú đấm nào đáp trả! Bạn buộc phải nhìn nhận sự việc theo cách này. Bất cứ khi nào bạn cảm thấy thích thú với điều gì đó, hãy tự nhủ ngay rằng: "Chuyện này chưa chắc chắn!" Bạn cần phải đi ngược lại với những khuynh hướng tự nhiên của tâm một chút, thì mới có thể thực sự thấu đạt được Giáo Pháp (Dhamma).

Practice in all postures. Sitting, standing, walking, lying... you can experience anger in any posture, right? You can be angry while walking, while sitting, while lying down. You can experience desire in any posture. So our practice must extend to all postures; standing, walking, sitting and lying down. It must be consistent. Don't just put on a show, really do it.

Hãy thực hành trong mọi tư thế. Ngồi, đứng, đi, nằm... hành giả có thể cảm nhận sự giận dữ ở bất kỳ oai nghi nào, đúng không? Hành giả có thể nổi giận khi đang đi, khi đang ngồi, hay khi đang nằm. Bạn cũng có thể cảm nhận sự ham muốn ở bất kỳ oai nghi nào. Vì thế, sự tu tập của chúng ta phải bao trùm lên mọi oai nghi: đứng, đi, ngồi và nằm. Sự tu tập ấy phải thật nhất quán. Đừng chỉ làm cho có hình thức, hãy thực sự tu tập.

While sitting in meditation, some incident might arise. Before that one is settled another one comes racing in. Whenever these things come up, just tell yourself, "not sure, not sure." Just slug it before it gets a chance to slug you.

Trong lúc ngồi thiền, có thể sẽ có một sự việc nào đó nảy sinh. Khi sự việc này còn chưa kịp lắng xuống, thì một sự việc khác lại ập tới dồn dập. Bất cứ khi nào những điều này xuất hiện, hãy cứ tự nhủ: "Chưa chắc, chưa chắc." Hãy đấm gục nó ngay trước khi nó kịp ra tay đấm gục hành giả.

Now this is the important point. If you know that all things are impermanent, all your thinking will gradually unwind. When you reflect on the uncertainty of everything that passes, you'll see that all things go the same way. Whenever anything arises, all you need to say is, "Oh, another one!"

Đây chính là điểm quan trọng. Nếu hành giả hiểu rằng vạn vật đều vô thường, thì mọi suy nghĩ trong tâm bạn sẽ dần dần lắng dịu. Khi quán chiếu về sự vô định của mọi sự vật hiện tượng đang trôi qua, hành giả sẽ nhận thấy rằng tất cả đều đi theo cùng một quy luật. Bất cứ khi nào một điều gì đó khởi sinh, tất cả những gì bạn cần nói chỉ là: "Ồ, lại thêm một điều nữa!"

Have you ever seen flowing water?... have you ever seen still water?... If your mind is peaceful it will be just like still, flowing water. Have you ever seen still, flowing water? There! You've only ever seen flowing water and still water, haven't you? But you've never seen still, flowing water. Right there, right where your thinking cannot take you, even though it's peaceful you can develop wisdom. Your mind will be like flowing water, and yet it's still. It's almost as if it were still, and yet it's flowing. So I call it "still, flowing water." Wisdom can arise here.

Bạn đã bao giờ nhìn thấy dòng nước đang chảy?... Bạn đã bao giờ nhìn thấy mặt nước tĩnh lặng?...Nếu tâm bạn an bình, nó sẽ tựa như dòng nước vừa chảy lại vừa tĩnh lặng. Bạn đã bao giờ nhìn thấy dòng nước như thế chưa? Đó! Bạn mới chỉ từng thấy dòng nước đang chảy và mặt nước tĩnh lặng mà thôi, đúng không? Nhưng bạn chưa bao giờ thấy một dòng nước vừa chảy lại vừa tĩnh lặng cả. Ngay tại sát na đó, ngay tại nơi mà tư duy của bạn không thể vươn tới, ngay cả trong sự an bình, bạn vẫn có thể khai mở trí tuệ. Tâm bạn sẽ tựa như dòng nước đang chảy, nhưng đồng thời lại hoàn toàn tĩnh lặng. Cảm giác cứ như thể nó đang đứng yên, nhưng thực chất lại vẫn đang tuôn chảy. Vì thế, tôi gọi đó là "dòng nước vừa chảy lại vừa tĩnh lặng." Trí tuệ có thể nảy sinh ngay tại nơi đây.

Today is the day on which we Buddhists come together to observe the Uposatha [22] precepts and listen to the Dhamma, as is our custom. The point of listening to the Dhamma is firstly to create some understanding of the things we don't yet understand, to clarify them, and secondly, to improve our grasp of the things we understand already. We must rely on Dhamma talks to improve our understanding, and listening is the crucial factor.

Hôm nay là ngày quí Phật tử tề tựu về đây để thọ trì Bồ Tát giới Uposatha [22] và lắng nghe Pháp, theo đúng truyền thống của chúng ta. Mục đích của việc lắng nghe Pháp, trước hết, là để kiến ​​tạo sự thấu hiểu đối với những điều ta chưa tường tận, giúp làm sáng tỏ những điều ấy; và thứ hai, để củng cố thêm sự am hiểu của ta đối với những điều ta đã nắm rõ. Chúng ta cần lắng nghe những bài pháp thoại để trau dồi sự hiểu biết của mình, và việc lắng nghe chính là yếu tố then chốt.

For today's talk please pay special attention, first of all straightening up your posture to make it suitable for listening. Don't be too tense. Now, all that remains is to establish your minds, making your minds firm in samadhi. The mind is the important ingredient. The mind is that which perceives good and evil, right and wrong. If we are lacking in sati for even one minute, we are crazy for that minute; if we are lacking in sati for half an hour we will be crazy for half an hour. However much our mind is lacking in sati, that's how crazy we are. That's why it's especially important to pay attention when listening to the Dhamma.

Xin quí Phật tử đặc biệt chú tâm cho buổi pháp thoại hôm nay; trước hết, hãy chỉnh đốn lại tư thế ngồi sao cho thật thích hợp để lắng nghe. Đừng quá căng thẳng. Giờ đây, điều duy nhất còn lại là an định tâm, giúp tâm trở nên vững chãi trong trạng thái định (Samadhi). Tâm chính là yếu tố then chốt. Tâm là thứ nhận biết được thiện và ác, đúng và sai. Nếu chúng ta thiếu vắng chánh niệm (Sati) dù chỉ trong một phút, thì trong phút giây ấy, chúng ta chẳng khác nào kẻ điên; nếu chúng ta thiếu vắng chánh niệm trong nửa giờ, thì trong suốt nửa giờ ấy, chúng ta sẽ trở nên điên loạn. Tâm chúng ta thiếu vắng chánh niệm bao nhiêu, thì chúng ta trở nên điên loạn bấy nhiêu. Chính vì lẽ đó, việc chú tâm lắng nghe Pháp (Dhamma) là điều vô cùng quan trọng.

All creatures in this world are plagued by nothing other than suffering. There is only suffering disturbing the mind. Studying the Dhamma is for the purpose of utterly destroying this suffering. If suffering arises it's because we don't really know it. No matter how much we try to control it through will power, or through wealth and possessions, it is impossible. If we don't thoroughly understand suffering and its cause, no matter how much we try to "trade it off" with our deeds, thoughts or worldly riches, there's no way we can do so. Only through clear knowledge and awareness, through knowing the truth of it, can suffering disappear. And this applies not only to homeless ones, the monks and novices, but also to householders: for anybody who knows the truth of things, suffering automatically ceases.

Tất cả chúng sinh trên thế gian này đều bị vây hãm bởi không gì khác hơn ngoài sự khổ đau. Chỉ có sự khổ đau mới làm xáo động tâm. Việc tu học Phật pháp cốt là để tận diệt hoàn toàn nỗi khổ đau này. Nếu khổ đau khởi sinh, đó là bởi vì chúng ta chưa thực sự thấu hiểu nó. Dù ta có nỗ lực đến đâu để kiểm soát nó bằng ý chí, hay bằng của cải và vật chất, thì điều đó cũng là bất khả thi. Nếu ta không thấu triệt khổ đau cùng nguyên nhân sinh khởi của nó, thì dù ta có cố gắng "đánh đổi" nó bằng những hành động, tư tưởng hay những phú quý trần thế, ta cũng chẳng thể nào làm được. Chỉ thông qua sự hiểu biết minh mẫn và chánh niệm, thông qua việc thấu đạt chân lý về bản chất của khổ đau, thì khổ đau mới có thể tiêu tan. Và điều này không chỉ đúng đối với những bậc xuất gia, chư Tăng và Sa-di, mà còn đúng cả với hàng cư sĩ tại gia: đối với bất cứ ai thấu đạt chân lý của vạn pháp, thì khổ đau sẽ tự nhiên chấm dứt.

Now the states of good and evil are constant truths. Dhamma means that which is constant, which maintains itself. Turmoil maintains its turmoil, serenity maintains its serenity. Good and evil maintain their respective conditions — like hot water: it maintains its hotness, it doesn't change for anybody. Whether a young person or an old person drink it, it's hot. It's hot for every nationality of people. So Dhamma is defined as that which maintains its condition. In our practice we must know heat and coolness, right and wrong, good and evil. Knowing evil, for example, we will not create the causes for evil, and evil will not arise.

Giờ đây, các trạng thái thiện và ác là những chân lý không thay đổi. Dhamma (Pháp) có nghĩa là cái gì đó hằng hữu, tự duy trì bản chất của chính nó. Sự xáo động tự duy trì tính xáo động của nó; sự tĩnh lặng tự duy trì tính tĩnh lặng của nó. Thiện và ác tự duy trì những trạng thái riêng biệt của chúng, tựa như nước nóng vậy: nó duy trì độ nóng của mình, không hề thay đổi vì bất cứ ai. Dù người trẻ hay người già uống vào, nó vẫn nóng. Nó nóng đối với mọi sắc tộc trên thế giới. Vì thế, Dhamma được định nghĩa là cái tự duy trì trạng thái vốn có của mình. Trong quá trình tu tập, chúng ta phải thấu hiểu sự nóng và lạnh, điều đúng và sai, thiện và ác. Chẳng hạn, khi thấu hiểu bản chất của cái ác, chúng ta sẽ không tạo ra những nhân duyên dẫn đến cái ác, và nhờ đó, cái ác sẽ không khởi sinh.

Dhamma practitioners should know the source of the various dhammas. By quelling the cause of heat, heat cannot arise. The same with evil: it arises from a cause. If we practice the Dhamma till we know the Dhamma, we will know the source of things, their causes. If we extinguish the cause of evil, evil is also extinguished, we don't have to go running after evil to put it out.

Người tu tập Chánh Pháp (Dhamma) cần thấu rõ cội nguồn của vạn pháp. Khi dập tắt được nguyên nhân sinh nhiệt, thì sức nóng sẽ không thể khởi sinh. Đối với cái ác cũng vậy: nó luôn nảy sinh từ một nguyên nhân. Nếu ta tinh tấn tu tập Chánh Pháp (Dhamma) cho đến khi thực sự thấu hiểu Chánh Pháp (Dhamma), ta sẽ nhận biết được cội nguồn của vạn pháp, cũng như những nguyên nhân sinh khởi của chúng. Một khi ta đã dập tắt được nguyên nhân của cái ác, thì cái ác cũng tự khắc tiêu tan; ta sẽ chẳng còn phải chạy theo đuổi bắt cái ác để tìm cách dập tắt nó nữa.

This is the practice of Dhamma. But many are those who study the Dhamma, learn it, even practice it, but who are not yet with the Dhamma, and who have not yet quenched the cause of evil and turmoil within their own hearts. As long as the cause of heat is still present, we can't possibly prevent heat from being there. In the same way, as long as the cause of confusion is within our minds, we cannot possibly prevent confusion from being there, because it arises from this source. As long as the source is not quenched, confusion will arise again.

Đây chính là sự thực hành Pháp. Tuy nhiên, có rất nhiều người nghiên cứu Pháp, học hỏi Pháp, thậm chí thực hành Pháp, nhưng lại chưa thực sự sống cùng với Pháp, và cũng chưa dập tắt được cội nguồn của cái ác cùng sự xáo động ngay trong chính tâm mình. Chừng nào nguyên nhân gây ra sức nóng vẫn còn hiện hữu, chúng ta hoàn toàn không thể ngăn chặn sự hiện diện của sức nóng đó. Tương tự như vậy, chừng nào cội nguồn của sự mê loạn vẫn còn ẩn chứa trong tâm, chúng ta hoàn toàn không thể ngăn chặn sự mê loạn ấy nảy sinh, bởi lẽ nó khởi phát chính từ nguồn gốc này. Chừng nào cội nguồn ấy chưa được dập tắt, sự mê loạn sẽ lại tiếp tục trỗi dậy.

Whenever we create good actions goodness arises in the mind. It arises from its cause. This is called kusala. [23] If we understand causes in this way, we can create those causes and the results will naturally follow.

Bất cứ khi nào chúng ta làm những hành động thiện, sự thiện lành sẽ khởi sinh trong tâm. Nó khởi sinh từ chính nguyên nhân của nó. Điều này được gọi là thiện, là tốt (kusala). [23] Nếu thấu hiểu các nguyên nhân theo cách này, chúng ta có thể tạo ra những nguyên nhân ấy, và các kết quả sẽ tự nhiên nối tiếp khởi sinh.

But people don't usually create the right causes. They want goodness so much, and yet they don't work to bring it about. All they get are bad results, embroiling the mind in suffering. All people want these days is money. They think that is they just get enough money everything will be alright; so they spend all their time looking for money, they don't look for goodness. This is like wanting meat, but not wanting salt to preserve it: you just leave the meat around the house to rot. Those who want money should know not only how to find it, but also how to look after it. If you want meat, you can't expect to buy it and then just leave it laying around in the house. It'll just go rotten. This kind of thinking is wrong. The result of wrong thinking is turmoil and confusion. The Buddha taught the Dhamma so that people would put it into practice, in order to know it and see it, and to be one with it, to make the mind Dhamma. When the mind is Dhamma it will attain happiness and contentment. The restlessness of samsara is in this world, and the cessation of suffering is also in this world.

Nhưng người ta thường không tạo ra những nhân duyên đúng. Họ khao khát có điều thiện biết bao, nhưng lại chẳng chịu nỗ lực để hiện thực. Tất cả những gì họ nhận lại chỉ là những kết quả tồi tệ, khiến tâm chìm đắm trong khổ đau. Mọi người ngày nay khao khát chính là tiền bạc. Họ nghĩ rằng có tiền là mọi chuyện rồi sẽ ổn thỏa; nên họ dành trọn thời gian để chạy theo tiền tài, mà chẳng hề tìm kiếm những giá trị thiện lành. Điều này cũng tựa như muốn có thịt trong bữa ăn, nhưng lại chẳng dùng muối để bảo quản nó: bạn chỉ để mặc miếng thịt nằm lăn lóc trong nhà cho đến khi thối rữa. Những ai muốn có tiền cần phải hiểu rằng, không chỉ biết cách kiếm ra tiền, mà còn phải biết cách gìn giữ và quản lý nó. Nếu muốn có thịt để dùng, bạn không thể chỉ mua về rồi cứ thế vứt lăn lóc trong nhà; làm vậy nó sẽ hư thối. Lối tư duy như thế là sai. Và hệ quả của lối tư duy sai ấy chính là sự xáo động và hoang mang trong tâm. Đức Phật thuyết giảng Chánh pháp (Dhamma) cốt để chúng sinh thực hành theo, nhờ đó thấu hiểu và chứng ngộ Pháp, để hòa làm một với Pháp, và để biến tâm trí mình trở thành Pháp. Khi tâm đã hòa nhập cùng Chánh pháp, nó sẽ đạt được niềm hạnh phúc và sự mãn nguyện chân thực. Sự bất an, xáo động của vòng luân hồi (Samsara) hiện hữu ngay trong thế giới này; và sự chấm dứt mọi khổ đau cũng hiện hữu ngay trong chính thế giới này.

The practice of Dhamma is therefore for leading the mind to the transcendence of suffering. The body can't transcend suffering — having been born it must experience pain and sickness, aging and death. Only the mind can transcend clinging and grasping. All the teachings of the Buddha, which we call pariyatti, [24] are a skillful means to this end. For instance, the Buddha taught about upadinnakasankhara and anupadinnakasankhara — mind-attended conditions and non-mind- attended conditions. Non-mind-attended conditions are usually defined as such things as trees, mountains, rivers and so on — inanimate things. Mind-attended conditions are defined as animate things — animals, human beings and so on. Most students of Dhamma take this definition for granted, but if you consider the matter deeply, how the human mind gets so caught up in sights, sounds, smells, tastes, feelings, and mental states, you might see that really there isn't anything which is not mind-attended. As long as there is craving in the mind everything becomes mind-attended.

Do đó việc thực hành Chánh Pháp (Dhamma) để dẫn dắt tâm vượt thoát khổ đau. Thân không thể vượt thoát khổ đau, một khi đã sinh ra nó buộc phải trải qua những nỗi đau đớn, bệnh tật, sự già nua và cái chết. Chỉ có tâm có thể vượt thoát khỏi sự dính mắc và chấp thủ. Tất cả những lời dạy của Đức Phật chúng ta gọi là Pháp Học (pariyatti) [24], đều là những phương tiện thiện xảo nhằm đạt được mục đích này. Chẳng hạn, Đức Phật đã giảng dạy về sự tái sinh có tâm thức (upadinnaka-sankhara) và tái sinh không có tâm thức (anupadinnaka-sankhara), tức là các pháp hữu vi có sự hiện diện của tâm và các pháp vô tâm tức là những pháp hữu vi không có sự hiện diện của tâm. Các pháp hữu vi không có sự hiện diện của tâm là những sự vật như cây cối, núi non, sông ngòi, v.v. tức là những vật vô tri. Các pháp hữu vi có tâm được định nghĩa là những sinh vật như loài vật, con người, v.v. Hầu hết những người học Pháp Học đều chấp nhận định nghĩa này; tuy nhiên, nếu suy xét vấn đề một cách thâm sâu, xét xem tâm con người đã bị tham đắm vào các cảnh sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, cảm thọ và các trạng thái tâm lý như thế nào, thì bạn có thể sẽ nhận thấy rằng, thực ra chẳng có bất cứ điều gì lại không phải là pháp hữu vi có tâm hiện diện. Chừng nào trong tâm vẫn còn tồn tại sự tham ái, thì mọi sự vật đều sẽ trở thành pháp hữu vi có tâm hiện diện.

Studying the Dhamma without practicing it, we will be unaware of its deeper meanings. For instance, we might think that the pillars of this meeting hall, the tables, benches and all inanimate things are "not mind-attended." We only look at one side of things. But just try getting a hammer and smashing some of these things and you'll see whether they're mind-attended or not!

Nếu chỉ nghiên cứu Pháp Học mà không thực hành Pháp Hành, chúng ta sẽ không thể thấu hiểu những ý nghĩa sâu xa của nó. Chẳng hạn, ta có thể cho rằng những chiếc cột trong hội trường này, bàn ghế cùng vạn vật vô tri khác đều là những thứ "không được tâm lưu ý". Ta chỉ nhìn nhận sự vật từ một khía cạnh phiến diện. Nhưng hãy thử cầm một chiếc búa lên và đập phá vài thứ trong số đó xem sao; khi ấy, bạn sẽ thấy ngay liệu chúng có thực sự "không được tâm lưu ý" hay không!

It's our own mind, clinging to the tables, chairs and all of our possessions, which attends these things. Even when one little cup breaks it hurts, because our mind is "attending" that cup. Be they trees, mountains or whatever, whatever we feel to be ours, they have a mind attending them — if not their own then someone else's. These are all "mind-attended conditions," not "non-mind-attended."

Tâm của chúng ta, vốn chấp vào bàn ghế và mọi vật thuộc sở hữu, nên chúng ta chú tâm vào những sự vật này. Ngay cả khi một chiếc tách nhỏ bị vỡ, ta cũng cảm thấy đau lòng, bởi lẽ tâm ta đang "chú tâm" vào chính chiếc tách ấy. Dù là cây cối, núi non hay bất cứ thứ gì khác, bất cứ điều gì ta cảm nhận thuộc về mình, thì tâm đều "chăm chú" vào chúng; nếu không phải là tâm của chính chúng, thì cũng là của một ai đó khác. Tất cả những điều này đều là "những trạng thái được tâm chăm chú", chứ không phải là "những trạng thái không được tâm chăm chú".

It's the same for our body. Normally we would say that the body is mind-attended. The "mind" which attends the body is none other than upadana, clinging, latching onto the body and clinging to it as being "me" and "mine."

Đối với thân chúng ta cũng vậy. Thông thường, ta vẫn nói rằng thân được tâm chăm chú. Cái "tâm" đang chăm chú vào thân ấy không gì khác hơn chính là *upadana* sự chấp thủ, sự bám víu vào thân và khư khư coi nó là "tôi" và "của tôi".

Just as a blind man cannot conceive of colors — no matter where he looks, no colors can be seen — just so for the mind blocked by craving and delusion, all objects of consciousness become mind-attended. For the mind tainted with craving and obstructed by delusion, everything becomes mind-attended... tables, chairs, animals and everything else. If we understand that there is an intrinsic self, the mind attaches to everything. All of nature becomes mind-attended, there is always clinging and attachment.

Giống như người mù không thể hình dung ra màu sắc — bất cứ nhìn nơi đâu, họ cũng chẳng thể thấy được màu sắc — đối với tâm bị che lấp bởi tham ái và si mê, mọi đối tượng của ý thức đều trở thành những đối tượng được tâm chú mục. Đối với tâm bị nhiễm ô bởi tham ái và bị ngăn trở bởi si mê, vạn vật đều trở thành đối tượng được tâm chú mục... từ bàn ghế, loài vật cho đến mọi thứ khác. Nếu ta chấp rằng có một cái "ngã" hiện hữu, thì tâm sẽ bám chấp vào mọi sự vật. Toàn bộ thế giới tự nhiên đều trở thành đối tượng được tâm chú mục; lúc nào cũng hiện hữu sự bám víu và chấp trước.

The Buddha talked about sankhata dhammas and asankhata dhammas — conditioned and unconditioned things. Conditioned things are innumerable — material or immaterial, big or small — if our mind is under the influence of delusion, it will proliferate about these things, dividing them up into good and bad, short and long, coarse and refined. Why does the mind proliferate like this? Because it doesn't know determined reality, [25] it doesn't see the Dhamma. Not seeing the Dhamma, the mind is full of clinging. As long as the mind is held down by clinging there can be no escape, there is confusion, birth, old age, sickness and death, even in the thinking processes. This kind of mind is called the sankhata dhamma (conditioned mind).

Đức Phật đã nói về các pháp hữu vi (sankhata dhammas) và các pháp vô vi (asankhata dhammas), dù là vật chất hay phi vật chất, to lớn hay nhỏ bé — hễ tâm ta còn chịu sự chi phối của sự si mê, nó sẽ khởi sinh sự phân biệt và phóng dật về những sự vật này, chia cắt chúng thành tốt và xấu, ngắn và dài, thô và tế. Tại sao tâm lại khởi sinh sự phân biệt như thế? Bởi vì nó không thấu rõ thực tại chân lý,[25] nó không nhìn thấy Pháp (Dhamma). Vì không nhìn thấy Pháp, tâm trở nên tràn đầy sự chấp thủ. Chừng nào tâm còn bị sự chấp thủ trói buộc, thì không thể nào thoát ly được; khi ấy chỉ còn lại sự mê loạn, sự sinh, già, bệnh và chết, ngay cả trong chính những tiến trình tư duy. Một tâm thức như vậy được gọi là *sankhata dhamma* (tâm hữu vi).

Asankhata dhamma, the unconditioned, refers to the mind which has seen the Dhamma, the truth, of the Five Khandhas as they are — as Transient, Imperfect and Ownerless. All ideas of "me" and "them," "mine" and "theirs," belong to the determined reality. Really they are all conditions. When we know the truth of conditions, as neither ourselves nor belonging to us, we let go of conditions and the determined. When we let go of conditions we attain the Dhamma, we enter into and realize the Dhamma. When we attain the Dhamma we know clearly. What do we know? We know that there are only conditions and determinations, no being, no self, no "us" nor "them." This is knowledge of the way things are.

Asankhata dhamma Pháp vô vi, hay cái vô điều kiện, dùng để chỉ tâm đã thấu suốt Dhamma (Pháp), tức chân lý về Năm Uẩn, đúng như bản chất thực của chúng: vô thường, khổ và vô ngã. Mọi ý niệm về "tôi" và "người khác", "của tôi" và "của họ", đều thuộc về phạm trù thực tại của hữu vi (có điều kiện). Thực chất, tất cả những điều đó chỉ là các pháp hữu vi. Khi thấu hiểu chân lý về các pháp hữu vi, rằng chúng chẳng phải là chính ta, cũng chẳng thuộc về ta — ta sẽ buông bỏ các pháp hữu vi và mọi sự hữu vi. Khi buông bỏ được các pháp hữu vi, ta đạt ngộ Dhamma; ta thâm nhập và chứng đắc Dhamma. Khi đã đạt ngộ Dhamma, ta thấy biết một cách tường tận. Ta thấy biết điều gì? Ta thấy biết rằng ở đây chỉ có các pháp hữu vi và những sự định hình, chứ không hề có một thực thể, một cái ngã, hay một "chúng ta" hay "họ" nào cả. Đây chính là sự thấy biết đúng như bản chất thực của vạn pháp.

Seeing in this way the mind transcends things. The body may grow old, get sick and die, but the mind transcends this state. When the mind transcends conditions, it knows the unconditioned. the mind becomes the unconditioned, the state which no longer contains conditioning factors. The mind is no longer conditioned by the concerns of the world, conditions no longer contaminate the mind. Pleasure and pain no longer affect it. Nothing can affect the mind or change it, the mind is assured, it has escaped all constructions. Seeing the true nature of conditions and the determined, the mind becomes free.

Quán chiếu theo cách này, tâm sẽ vượt lên trên vạn pháp. Thân có thể già đi, ốm đau rồi chết, nhưng tâm lại vượt lên trên trạng thái này. Khi tâm vượt lên trên các pháp hữu vi, nó thấu triệt được trạng thái Vô Vi; tâm trở thành Vô Vi, một trạng thái không còn chứa đựng bất kỳ yếu tố hữu vi nào nữa. Tâm không còn bị chi phối bởi những mối bận tâm thế tục, và các điều kiện ngoại cảnh cũng không còn làm ô nhiễm tâm. Vui và khổ không còn tác động đến nó nữa. Không gì có thể ảnh hưởng hay làm thay đổi tâm; tâm trở nên vững vàng, thoát ly khỏi mọi sự kiến ​​tạo của tư duy. Khi thấu triệt được bản chất chân thực của các hữu vi và những hiện tượng, tâm sẽ đạt được sự tự do giải thoát.

This freed mind is called the Unconditioned, that which is beyond the power of constructing influences. If the mind doesn't really know conditions and determinations, it is moved by them. Encountering good, bad, pleasure, or pain, it proliferates about them. Why does it proliferate? Because there is still a cause. What is the cause? The cause is the understanding that the body is one's self or belongs to the self; that feelings are self or belonging to self; that perception is self or belonging to self; that conceptual thought is self or belonging to self; that consciousness is self or belonging to self. The tendency to conceive things in terms of self is the source of happiness, suffering, birth, old age, sickness and death. This is the worldly mind, spinning around and changing at the directives of worldly conditions. This is the conditioned mind.

Tâm được giải thoát này được gọi là trạng thái Vô Vi, thực tại nằm ngoài tầm ảnh hưởng của các trạng thái tạo tác. Nếu tâm không thực sự thấu hiểu các pháp hữu vì và sự chi phối, nó sẽ bị chúng lôi cuốn và sai khiến. Khi đối diện với điều thiện hay ác, niềm vui hay nỗi khổ, tâm liền khởi lên vọng tưởng xoay quanh những điều ấy. Tại sao nó lại khởi lên những vọng tưởng như vậy? Bởi vì vẫn còn tồn tại một nguyên nhân. Nguyên nhân đó là gì? Nguyên nhân là nó vẫn còn cho rằng (sắc) thân này là ‘ta’, là ‘ của ta’; rằng những cảm giác (thọ) này là ‘ta’, là ‘của ta’; rằng những nhận thức (tưởng) này là ‘ta’, là ‘của ta’’ rằng những ý nghĩ (hành) này là ‘ta’, là ‘của ta’; rằng tâm thức (thức) này là ‘ta’, là ‘của ta’. Khuynh hướng nhìn nhận mọi sự vật dưới lăng kính của "Ta" chính là cội nguồn của hạnh phúc, khổ đau, cũng như của sinh, lão, bệnh, tử. Đây chính là tâm thế tục, luôn quay cuồng và biến chuyển theo sự dẫn dắt của các pháp hữu vi thế gian. Đây chính là tâm hữu vi.

If we receive some windfall our mind is conditioned by it. That object influences our mind into a feeling of pleasure, but when it disappears, our mind is conditioned by it into suffering. The mind becomes a slave of conditions, a slave of desire. No matter what the world presents to it, the mind is moved accordingly. This mind has no refuge, it is not yet assured of itself, not yet free. It is still lacking a firm base. This mind doesn't yet know the truth of conditions. Such is the conditioned mind.

Nếu ta nhận được một khoản lợi lộc bất ngờ, tâm ta sẽ bị nó chi phối. Đối tượng ấy tác động lên tâm, khơi dậy cảm giác khoái lạc; nhưng khi nó tan biến, tâm ta lại bị chính điều đó chi phối, dẫn đến khổ đau. Tâm trở thành nô lệ của các điều kiện, nô lệ của dục vọng. Bất kể thế giới bày ra điều gì, tâm đều phản ứng và xao động theo đó. Tâm này chưa tìm được nơi nương tựa, chưa vững vàng nơi chính mình, và chưa đạt được tự do. Nó vẫn còn thiếu vắng một nền tảng vững chắc. Tâm này vẫn chưa thấu hiểu chân lý về các pháp hữu vi. Đó chính là tâm hữu vi.

All of you listening to the Dhamma here, reflect for a while... even a child can make you get angry, isn't that so? Even a child can trick you. He could trick you into crying, laughing — he could trick you into all sorts of things. Even old people get duped by these things. For a deluded person who doesn't know the truth of conditions, they are always shaping the mind into countless reactions, such as love, hate, pleasure and pain. They shape our minds like this because we are enslaved by them. We are slaves of tanha, craving. Craving gives all the orders, and we simply obey.

Tất cả quý vị đang lắng nghe Pháp ở đây, hãy thử suy ngẫm một chút xem... ngay cả một đứa trẻ cũng có thể khiến quý vị nổi giận, phải không nào? Ngay cả một đứa trẻ cũng có thể đánh lừa quý vị. Nó có thể đánh lừa để khiến quý vị khóc, khiến quý vị cười — nó có thể đánh lừa quý vị vào đủ mọi cung bậc cảm xúc. Ngay cả những người lớn tuổi cũng bị những điều này đánh lừa. Đối với một người còn si mê, chưa thấu hiểu chân lý về các pháp hữu vi, tâm họ luôn tạo nên vô số phản ứng khác nhau, chẳng hạn như yêu, ghét, khổ và lạc. Chúng định hình tâm chúng ta theo cách ấy bởi vì chúng ta đã trở thành nô lệ của chúng. Chúng ta là nô lệ của *tanha* tức sự tham ái. Chính sự tham ái ban ra mọi mệnh lệnh, và chúng ta chỉ biết răm rắp tuân theo.

I hear people complaining..."Oh, I'm so miserable. Night and day I have to go to the fields, I have no time at home. In the middle of the day I have to work in the hot sun with no shade. No matter how cold it is I can't stay at home, I have to go to work. I'm so oppressed."

Tôi nghe mọi người than: "Ôi, tôi khổ sở quá. Suốt ngày tôi phải ra làm việc ngoài đồng, chẳng có chút thời gian nào ở nhà. Giữa trưa, tôi phải làm việc dưới cái nắng gay gắt mà chẳng có bóng râm che. Dù trời có lạnh đến đâu, tôi cũng chẳng thể ở nhà mà vẫn cứ phải đi làm. Tôi cảm thấy thật bị đè nén."

If I ask them, "Why don't you just leave home and become a monk?", they say, "I can't leave, I have responsibilities." Tanha pulls them back. Sometimes when you're doing the plowing you might be bursting to urinate so much you just have to do it while you're plowing, like the buffaloes! This is how much craving enslaves them.

Nếu tôi hỏi họ: "Tại sao các anh không dứt bỏ đời sống gia đình để xuất gia làm tu sĩ?", họ sẽ đáp: "Tôi không thể bỏ đi được, tôi còn phải gánh vác trách nhiệm." Chính *Tanha* (sự tham ái) đã níu chân họ lại. Đôi khi, đang lúc cày bừa, cơn buồn tiểu có thể ập đến dữ dội đến mức bạn buộc phải giải quyết ngay khi vẫn đang cày, hệt như những chú trâu vậy! Đó chính là mức độ mà sự tham ái đã nô dịch hóa con người họ.

When I ask, "How are you going? Haven't you got time to come to the monastery?", they say, "Oh, I'm really in deep." I don't know what it is they're stuck in so deeply! These are just conditions, concoctions. The Buddha taught to see appearances as such, to see conditions as they are. This is seeing the Dhamma, seeing things as they really are. If you really see these two things then you must throw them out, let them go.

Khi tôi hỏi: "Dạo này bạn thế nào? Bạn không có thời gian ghé thăm tu viện sao?", họ đáp: "Ôi, tôi đang bị lún sâu quá rồi!" Tôi chẳng hiểu rốt cuộc họ đang bị mắc kẹt sâu trong cái gì nữa! Những điều này thực chất chỉ là các pháp hữu vi, là những sự tạo tác. Đức Phật đã dạy rằng hãy nhìn nhận các hiện tượng đúng như bản chất của chúng, nhìn nhận các điều kiện đúng như thực tại của chúng. Đó chính là thấy được Pháp, thấy sự vật đúng như chúng thực sự là. Nếu bạn thực sự thấu suốt hai điều này, thì bạn nhất định phải vứt bỏ chúng đi, phải buông xả chúng.

No matter what you may receive it has no real substance. At first it may seem good, but it will eventually go bad. It will make you love and make you hate, make you laugh and cry, make you go whichever way it pulls you. Why is this? Because the mind is undeveloped. Conditions become conditioning factors of the mind, making it big and small, happy and sad.

Bất kể bạn nhận được điều gì, nó đều không có thực chất. Lúc đầu, nó có vẻ tốt đẹp, nhưng rốt cuộc rồi cũng sẽ trở nên tồi tệ. Nó khiến bạn yêu rồi lại ghét, khiến bạn cười rồi lại khóc, khiến bạn xoay vần theo bất cứ hướng nào mà nó lôi kéo. Tại sao vậy? Bởi vì tâm chưa được phát triển trọn vẹn. Những hoàn cảnh bên ngoài trở thành các yếu tố định hình tâm, khiến nó lúc thì phồng to, lúc lại thu nhỏ; lúc thì vui vẻ, lúc lại buồn đau.

In the time of our forefathers, when a person died they would invite the monks to go and recite the recollections on impermanence: Anicca vata sankhara / Uppadavaya dhammino / Uppajjitva nirujjhan'ti / Tesam vupasamo sukho [26] — All conditions are impermanent. The body and the mind are both impermanent. They are impermanent because they do not remain fixed and unchanging. All things that are born must necessarily change, they are transient — especially our body. What is there that doesn't change within this body? Hair, nails, teeth, skin... are they still the same as they used to be? The condition of the body is constantly changing, so it is impermanent. Is the body stable? Is the mind stable? Think about it. How many times is there arising and ceasing even in one day? Both body and mind are constantly arising and ceasing, conditions are in a state of constant turmoil.

Vào thời của tổ tiên chúng ta, khi một người qua đời, người ta thường thỉnh các vị Tăng đến tụng niệm bài kệ quán về sự vô thường: *Anicca vata sankhara / Uppadavaya dhammino / Uppajjitva nirujjhan'ti / Tesam vupasamo sukho* [26] Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường. Thân và tâm cả hai đều vô thường. Chúng vô thường bởi lẽ chúng không hề đứng yên hay bất biến. Mọi sự vật đã sinh ra thì nhất định phải diệt, chúng chỉ là thoáng qua, đặc biệt là thân của chúng ta. Có điều gì trong thân này là không thay đổi chăng? Tóc, móng, răng, da... liệu chúng có còn y nguyên như trước nữa không? Trạng thái của thân luôn biến đổi không ngừng, vì thế nó là vô thường. Thân này có ổn định chăng? Tâm này có ổn định chăng? Hãy thử suy ngẫm xem. Chỉ trong vỏn vẹn một ngày, sự sinh và diệt đã diễn ra biết bao lần? Cả thân lẫn tâm đều liên tục sinh rồi diệt; các pháp hữu vi luôn ở trong trạng thái biến động không ngừng.

Aniccà vata sankhàrà --
uppàda vaya dhammino
Uppajjitvà nirujjhanti --
tesam vùpasamo sukho.
--(Mahàparinibbàna Sutta)

"Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường,
Phát sanh và hoại diệt, đó là bản chất của chúng;
Chúng ra đời rồi tan biến,
Thoát ra khỏi chúng là hạnh phúc tối thượng."
--(Kinh Ðại Niết Bàn) [1]

The reason you can't see these things in line with the truth is because you keep believing the untrue. It's like being guided by a blind man. How can you travel in safety? A blind man will only lead you into forests and thickets. How could he lead you to safety when he can't see? In the same way our mind is deluded by conditions, creating suffering in the search for happiness, creating difficulty in the search for ease. Such a mind only makes for difficulty and suffering. Really we want to get rid of suffering and difficulty, but instead we create those very things. All we can do is complain. We create bad causes, and the reason we do is because we don't know the truth of appearances and conditions.

Lý do bạn không thể nhìn mọi sự việc đúng với chân lý là bởi bạn tin vào những điều không có thật. Điều này cũng tựa như được dẫn dắt bởi một người mù. Làm sao bạn có thể đi lại an toàn được? Một người mù chỉ dẫn bạn lạc vào chốn rừng sâu hay những bụi rậm. Làm sao ông ấy có thể dẫn bạn đến nơi an toàn khi chính bản thân ông ấy còn chẳng nhìn thấy gì? Cũng theo cách đó, tâm chúng ta bị mê lầm bởi các cảnh duyên, tạo ra khổ đau ngay trong lúc tìm kiếm hạnh phúc, và gây ra khó khăn ngay trong lúc mưu cầu sự an nhàn. Một tâm như thế chỉ mang lại những khó khăn và khổ đau. Thực ra tâm chúng ta muốn thoát khỏi khổ đau và khó khăn, nhưng chúng ta lại tạo ra những điều ấy. Tất cả những gì chúng ta làm được chỉ là than trách. Chúng ta gieo những nhân xấu; và lý do khiến chúng ta làm vậy chính là vì chúng ta không thấu rõ chân tướng của các hiện tượng và các cảnh duyên.

Conditions are impermanent, both the mind-attended ones and the non-mind-attended. In practice, the non-mind-attended conditions are non-existent. What is there that is not mind- attended? Even your own toilet, which you would think would be non-mind-attended... try letting someone smash it with a sledge hammer! He would probably have to contend with the "authorities." The mind attends everything, even feces and urine. Except for the person who sees clearly the way things are, there are no such things as non-mind-attended conditions.

Tất cả pháp hữu vi đều vô thường, cả hai những pháp được tâm chú ý hay những pháp không được tâm chú ý. Trên thực tế, những pháp hữu vi không được tâm chú ý vốn dĩ không hề tồn tại. Có điều gì trên đời này mà lại không được tâm chú ý? Ngay cả chiếc bồn cầu của nhà bạn, thứ mà bạn tưởng chừng như chẳng hề được tâm chú ý, hãy thử để cho ai đó dùng búa tạ đập tan nó xem sao! Hẳn là người đó sẽ phải đối mặt với "các cơ quan chức năng" ngay lập tức. Tâm chú ý đến mọi thứ, ngay cả phân và nước tiểu. Ngoại trừ những người đã thấu suốt tường tận bản chất thực của vạn pháp, thì đối với những người còn lại, hoàn toàn không hề tồn tại cái gọi là những pháp hữu vi không được tâm chú ý.

Appearances are determined into existence. Why must we determine them? Because they don't intrinsically exist. For example, suppose somebody wanted to make a marker. He would take a piece of wood or a rock and place it on the ground, and then call it a marker. Actually it's not a marker. There isn't any marker, that's why you must determine it into existence. In the same way we "determine" cities, people, cattle — everything! Why must we determine these things? Because originally they do not exist.

Các hiện tượng được chế định (được đặt tên) để trở nên hiện hữu. Tại sao chúng ta lại phải chế định chúng? Bởi vì tự thân chúng vốn không hiện hữu. Chẳng hạn, giả sử có người muốn tạo ra một vật đánh dấu. Người ấy sẽ nhặt một khúc gỗ hoặc một hòn đá, đặt nó xuống đất, rồi gọi đó là vật đánh dấu. Thực chất, đó không phải là một vật đánh dấu. Vốn dĩ chẳng có vật đánh dấu nào cả; chính vì thế, bạn buộc phải chế định để nó trở nên hiện hữu. Cũng theo cách thức ấy, chúng ta "chế định" nên các thành phố, con người, gia súc — và mọi thứ khác! Tại sao chúng ta lại phải chế định những điều này? Bởi vì ngay từ nguyên thủy, chúng vốn không hề hiện hữu.

Concepts such as "monk" and "layperson" are also "determinations." We determine these things into existence because intrinsically they aren't here. It's like having an empty dish — you can put anything you like into it because it's empty. This is the nature of determined reality. Men and women are simply determined concepts, as are all the things around us.

Những khái niệm như "tu sĩ" và "cư sĩ" cũng chính là những "sự chế định." Chúng ta chế định để những điều này hiện hữu, bởi lẽ tự thân chúng vốn dĩ không hề hiện diện ở đó. Điều này tựa như việc sở hữu một chiếc đĩa trống — bạn có thể đặt bất cứ thứ gì mình muốn vào đó, chính vì nó vốn dĩ trống rỗng. Đây chính là bản chất của thực tại được chế định. Nam giới và nữ giới đơn thuần chỉ là những khái niệm được chế định, cũng giống như tất cả mọi sự vật đang bao quanh chúng ta vậy.

If we know the truth of determinations clearly, we will know that there are no beings, because "beings" are determined things. Understanding that these things are simply determinations, you can be at peace. But if you believe that the person, being, the "mine," the "theirs," and so on are intrinsic qualities, then you must laugh and cry over them. These are the proliferation of conditioning factors. If we take such things to be ours there will always be suffering. This is micchaditthi, Wrong View. Names are not intrinsic realities, they are provisional truths. Only after we are born do we obtain names, isn't that so? Or did you have your name already when you were born? The name comes afterwards, right? Why must we determine these names? Because intrinsically they aren't there.

Nếu chúng ta thấu rõ chân lý về các sự định danh (được đặt tên), chúng ta sẽ nhận ra rằng không hề có "chúng sinh" nào cả; bởi lẽ, cái gọi là "chúng sinh" thực chất chỉ là những sự vật được định danh mà thôi. Khi thấu hiểu rằng những sự vật này đơn thuần chỉ là các sự định danh, bạn sẽ tìm thấy sự an lạc trong tâm hồn. Ngược lại, nếu bạn tin rằng "con người", "chúng sinh", hay những khái niệm như "của tôi", "của họ", v.v., là những thực thể hay bản chất cố định, thì bạn sẽ buộc phải cười, phải khóc và phải bận tâm day dứt vì chúng. Đó chính là sự tăng trưởng và lan tràn của các yếu tố duyên sinh. Nếu chúng ta chấp thủ những điều ấy là "của ta", thì khổ đau sẽ mãi mãi hiện hữu. Đây chính là tà kiến (micchaditthi). Danh xưng không phải là những thực tại tự thân hay bản chất cố định; chúng chỉ là những chân lý chế định, mang tính quy ước. Chỉ sau khi chúng ta chào đời, chúng ta mới có được tên gọi? Hay là ngay khi vừa lọt lòng mẹ, bạn đã mang sẵn tên của mình rồi? Tên gọi chỉ xuất hiện sau đó, đúng không? Tại sao chúng ta lại phải đặt ra những tên gọi này? Chính là bởi vì xét về bản chất tự thân, chúng vốn dĩ không hề hiện hữu.

We should clearly understand these determinations. Good, evil, high, low, black and white are all determinations. We are all lost in determinations. This is why at the funeral ceremonies the monks chant, Anicca vata sankhara... Conditions are impermanent, they arise and pass way. That's the truth. What is there that, having arisen, doesn't cease? Good moods arise and then cease. Have you ever seen anybody cry for three or four years? At the most, you may see people crying a whole night, and then the tears dry up. Having arisen, they cease...

Chúng ta cần thấu hiểu rõ ràng những chế định này. Thiện, ác, cao, thấp, đen và trắng, tất cả đều là những chế định. Tất cả chúng ta đều đang lạc lối giữa những sự chế định ấy. Chính vì lẽ đó mà trong các lễ tang, chư Tăng thường tụng rằng: "Anicca vata sankhara... Vạn pháp hữu vi đều vô thường; chúng sinh rồi lại diệt". Đó chính là sự thật. Có điều gì mà một khi đã sinh khởi lại không đi đến chỗ chấm dứt? Những cảm xúc vui buồn sinh khởi rồi cũng sẽ tan biến. Bạn đã bao giờ thấy ai khóc ròng rã suốt ba hay bốn năm trời chưa? Cùng lắm, bạn có thể thấy người ta khóc suốt cả một đêm dài, rồi sau đó nước mắt cũng sẽ cạn khô. Đã sinh khởi thì ắt sẽ có diệt...

Tesam vupasamo sukho... [27] If we understand sankharas, proliferations, and thereby subdue them, this is the greatest happiness. This is true merit, to be calmed of proliferations, calmed of "being," calmed of individuality, of the burden of self. Transcending these things one sees the Unconditioned. This means that no matter what happens, the mind doesn't proliferate around it. There's nothing that can throw the mind off its natural balance. What else could you want? This is the end, the finish.

Tesam vupasamo sukho. Những vật do duyên hợp bản tính vốn vô thường, sinh ra rồi diệt mất ... [27] Nếu ta thấu hiểu các hành (sankhara), những sự phóng dật, sự sinh khởi của tâm) và nhờ đó chế ngự được chúng, thì đó chính là niềm hạnh phúc tối thượng. Đây mới thực sự là công đức: sự lắng dịu của những phóng dật, sự lắng dịu của "cái hiện hữu", sự lắng dịu của cái ngã riêng biệt, và của gánh nặng về bản ngã. Khi vượt lên trên những điều này, người ta sẽ chứng kiến ​​được cái Vô vi. Điều này có nghĩa là, bất kể chuyện gì xảy ra, tâm cũng không còn phóng dật hay bám víu quanh sự việc đó nữa. Không còn bất cứ điều gì có thể làm xáo trộn sự quân bình tự nhiên của tâm. Bạn còn có thể mong cầu điều gì hơn thế? Đây chính là điểm kết thúc, là sự viên mãn trọn vẹn.

The Buddha taught the way things are. Our making offerings and listening to Dhamma talks and so on is in order to search for and realize this. If we realize this, we don't have to go and study vipassana (insight meditation), it will happen of itself. Both samatha (calm) and vipassana are determined into being, just like other determinations. The mind which knows, which is beyond such things, is the culmination of the practice.

Đức Phật đã giảng dạy về bản chất thực tại của vạn pháp. Việc chúng ta dâng cúng, lắng nghe các bài pháp thoại, và thực hành những điều tương tự, đều nhằm mục đích tìm cầu và thấu đạt chân lý này. Nếu chúng ta thấu đạt được điều ấy, thì ta sẽ không cần phải chuyên tâm tu tập thiền Vipassana (thiền quán) nữa; bởi lẽ, sự quán chiếu ấy sẽ tự nhiên hiển lộ. Cả Samatha (thiền định) lẫn Vipassana (thiền quán) đều là những pháp hữu vi, được hình thành bởi sự định đoạt của các điều kiện nhân duyên, cũng giống như mọi pháp hữu vi khác. Tâm biết rõ thực tại, tâm vượt thoát lên trên mọi pháp hữu vi, chính là đỉnh cao tối thượng của con đường tu tập.

Our practice, our inquiry, is in order to transcend suffering. When clinging is finished with, states of being are finished with. When states of being are finished with, there is no more birth or death. When things are going well , the mind does not rejoice, and when things are going badly, the mind does not grieve. The mind is not dragged all over the place by the tribulations of the world, and so the practice is finished. This is the basic principle for which the Buddha gave the teaching.

Sự tu tập, sự quán chiếu của chúng ta là nhằm mục đích vượt thoát khổ đau. Khi sự chấp thủ chấm dứt, thì các trạng thái hiện hữu cũng chấm dứt. Khi các trạng thái hiện hữu chấm dứt, thì không còn sinh hay tử nữa. Khi mọi việc diễn ra suôn sẻ, tâm không hoan hỷ; và khi mọi việc diễn ra bất lợi, tâm không sầu khổ. Tâm không còn bị lôi kéo xáo động bởi những thăng trầm của thế gian, và như thế, sự tu tập đã viên mãn. Đây chính là nguyên lý căn bản mà Đức Phật đã truyền dạy.

The Buddha taught the Dhamma for use in our lives. Even when we die there is the teaching Tesam vupasamo sukho... but we don't subdue these conditions, we only carry them around, as if the monks were telling us to do so. We carry them around and cry over them. This is getting lost in conditions. Heaven, Hell and nibbana are all to be found at this point.

Đức Phật đã thuyết giảng Giáo Pháp để chúng ta ứng dụng vào cuộc sống của mình. Ngay cả khi ta lâm chung, có lời dạy rằng: *Tesam vupasamo sukho* (Sự chấm dứt của các pháp hữu vi đó chính là hạnh phúc)... nhưng, thay vì làm lắng dịu những trạng thái này, ta lại cứ ôm giữ chúng bên mình, cứ như thể các vị Tỳ-kheo đã bảo ta phải làm như vậy vậy. Ta cứ mãi ôm giữ rồi than khóc vì chúng. Đó chính là sự lạc lối giữa các pháp hữu vi. Thiên đàng, Địa ngục và Niết-bàn, tất cả đều hiện hữu ngay tại chính điểm này.

Practicing the Dhamma is in order to transcend suffering in the mind. If we know the truth of things as I've explained here we will automatically know the Four Noble Truths — Suffering, the Cause of Suffering, the Cessation of Suffering and the Way leading to the Cessation of Suffering.

Việc thực hành Pháp nhằm mục đích vượt thoát khổ đau trong tâm. Nếu chúng ta thấu hiểu chân lý của vạn pháp như tôi đã giải thích ở đây, chúng ta sẽ tự nhiên thấu hiểu Tứ Diệu Đế — Khổ, Nguyên nhân Khổ, Sự chấm dứt Khổ và Con đường dẫn đến sự chấm dứt Khổ.

People are generally ignorant when it comes to determinations, they think they all exist of themselves. When the books tell us that trees, mountains and rivers are non-mind-attended conditions, this is simplifying things. This is just the superficial teaching, there's no reference to suffering, as if there was no suffering in the world. This is just the shell of Dhamma. If we were to explain things in terms of ultimate truth, we would see that it's people who go and tie all these things down with their attachments. How can you say that things have no power to shape events, that they are not mind-attended, when people will beat their children even over one tiny needle? One single plate or cup, a plank of wood... the mind attends all these things. Just watch what happens if someone goes and smashes one of them up and you'll find out. Everything is capable of influencing us in this way. Knowing these things fully is our practice, examining those things which are conditioned, unconditioned, mind-attended, and non-mind-attended.

Người ta thường thiếu hiểu biết khi nói đến các pháp hữu vi; họ tưởng rằng vạn vật đều tự thân hiện hữu một cách độc lập. Khi sách vở dạy rằng cây cối, núi non và sông ngòi là những "pháp vô tâm sở" những điều kiện không có tâm thức đi kèm, thì đó chỉ là cách nói đơn giản hóa sự việc. Đó mới chỉ là lời dạy ở bề mặt; trong đó không hề đề cập đến khổ đau, như thể trên đời này chẳng hề tồn tại khổ đau. Đó mới chỉ là cái vỏ của Giáo pháp (Dhamma). Nếu xét sự việc dưới góc độ của Chân đế (sự thật tối hậu), ta sẽ thấy chính con người mới là kẻ đã trói buộc tất cả những sự vật ấy bằng chính những sự chấp thủ của mình. Làm sao ta có thể khẳng định rằng vạn vật không có năng lực chi phối các sự kiện, hay rằng chúng là những "pháp vô tâm sở", khi con người sẵn sàng đánh đập con cái mình chỉ vì một cây kim nhỏ bé? Chỉ một chiếc đĩa hay một cái tách, một tấm ván gỗ... tâm thức đều hiện diện và bám víu vào tất cả những vật ấy. Hãy thử quan sát xem điều gì sẽ xảy ra nếu có ai đó đập phá một trong những vật ấy, và bạn sẽ thấy rõ sự thật. Mọi sự vật đều có khả năng tác động và chi phối chúng ta theo cách như vậy. Việc thấu hiểu trọn vẹn những điều này chính là sự tu tập của chúng ta, đó là việc quán chiếu và phân định rõ ràng giữa những pháp hữu vi và vô vi, giữa những pháp có tâm sở đi kèm và những pháp không có tâm sở đi kèm.

This is part of the "external teaching," as the Buddha once referred to them. At one time the Buddha was staying in a forest. Taking a handful of leaves, He asked the bhikkhus, "Bhikkhus, which is the greater number, the leaves I hold in my hand or the leaves scattered over the forest floor?"

Đây là một phần của "những lời dạy bên ngoài," như Đức Phật đã từng đề cập đến. Một lần nọ, Đức Phật đang lưu trú trong một khu rừng. Ngài nắm một nắm lá trong tay và hỏi các vị Tỳ-kheo: "Này các Tỳ-kheo, số lượng nào nhiều hơn: những chiếc lá Ta đang nắm trong tay, hay những chiếc lá đang rải rác trên nền rừng?"

The bhikkhus answered, "The leaves in the Blessed One's hand are few, the leaves scattered around the forest floor are by far the greater number."

Các Tỳ-kheo đáp: "Những chiếc lá trong tay của Đức Thế Tôn thì ít ỏi, còn những chiếc lá rải rác trên nền rừng thì rất nhiều."

"In the same way, bhikkhus, the whole of the Buddha's teaching is vast, but these are not the essence of things, they are not directly related to the way out of suffering. There are so many aspects to the Teaching, but what the Tathagata really wants you to do is to transcend suffering, to inquire into things and abandon clinging and attachment to form, feeling, perception, volition and consciousness." [28] Stop clinging to these things and you will transcend suffering. These teachings are like the leaves in the Buddha's hand. You don't need so much, just a little is enough. As for the rest of the Teaching, you needn't worry yourselves over it. It is just like the vast earth, abundant with grasses, soil, mountains, forests. There's no shortage of rocks and pebbles, but all those rocks are not as valuable as one single jewel. The Dhamma of the Buddha is like this, you don't need a lot.

"Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, toàn bộ giáo lý của Đức Phật thật rộng lớn bao la; tuy nhiên, những điều ấy không phải là cốt lõi của vạn pháp, chúng không trực tiếp dẫn đến con đường thoát khỏi khổ đau. Có nhiều khía cạnh để giảng dạy, nhưng điều mà Đức Như Lai thực sự mong mỏi các con thực hiện chính là vượt thoát khổ đau, hãy quán chiếu vạn pháp để buông bỏ mọi sự chấp thủ và dính mắc vào sắc, thọ, tưởng, hành và thức." [28] Hãy chấm dứt sự chấp thủ vào những điều này, và các con sẽ vượt thoát khỏi khổ đau. Những lời giáo huấn cốt lõi này tựa như nắm lá trong tay Đức Phật. Các con không cần phải nắm giữ quá nhiều; chỉ cần một chút thôi là đã đủ rồi. Còn đối với phần còn lại của Giáo lý, các con chẳng cần phải bận tâm lo nghĩ làm gì. Phần ấy tựa như mặt đất bao la rộng lớn, nơi chứa đựng vô vàn cỏ cây, đất đá, núi non và rừng thẳm. Nơi đó chẳng thiếu gì đá sỏi hay cuội, nhưng tất cả những hòn đá ấy cũng chẳng thể sánh bằng giá trị của dù chỉ một viên ngọc quý. Giáo Pháp (Dhamma) của Đức Phật cũng chính là như vậy; các con không cần phải nắm giữ quá nhiều.

So whether you are talking about the Dhamma or listening to it, you should know the Dhamma. You needn't wonder where the Dhamma is, it's right here. No matter where you go to study the Dhamma, it is really in the mind. The mind is the one who clings, the mind is the one who speculates, the mind is the one who transcends, who lets go. All this external study is really about the mind. No matter if you study the Tipitaka, [29] the Abhidhamma [30] or whatever, don't forget where it came from.

Vì vậy dù bạn đang nói về Pháp hay đang lắng nghe Pháp, bạn đều cần phải thấu hiểu Pháp. Bạn chẳng cần phải tự hỏi Pháp đang ở đâu; Pháp hiện hữu ngay tại đây. Dù bạn đi đến bất cứ nơi đâu để học Pháp, thì thực chất, Pháp vẫn nằm ngay trong tâm bạn. Chính tâm là kẻ chấp thủ; chính tâm là kẻ suy diễn; và cũng chính tâm là kẻ vượt qua, kẻ buông xả. Tất cả những sự học hỏi từ bên ngoài này, suy cho cùng, đều quy về việc thấu hiểu tâm. Dù bạn có nghiên cứu Tam Tạng Kinh Điển [29], Vi Diệu Pháp [30] hay bất cứ điều gì khác, xin đừng quên rằng chúng khởi nguồn từ đâu.

When it comes to the practice, the only things you really need to make a start are honesty and integrity, you don't need to make a lot of trouble for yourself. None of you laypeople have studied the Tipitaka, but you are still capable of greed, anger and delusion, aren't you? Where did you learn about these things from? Did you have to read the Tipitaka or the Abhidhamma to have greed, hatred and delusion? Those things are already there in your mind, you don't have to study books to have them. But the Teachings are for inquiring into and abandoning these things.

Khi tu tập, điều duy nhất bạn thực sự cần để bắt đầu chính là sự chân thật và lòng chính trực; bạn không cần phải tự gây thêm rắc rối cho chính mình. Không ai trong số các vị cư sĩ ở đây từng nghiên cứu Tam Tạng Kinh Điển, thế nhưng các vị vẫn có đủ tham, sân và si, phải không nào? Các vị đã học những điều này từ đâu vậy? Liệu các vị có cần phải đọc Tam Tạng hay Vi Diệu Pháp mới có được tham, sân và si hay không? Những thứ ấy vốn dĩ đã hiện hữu ngay trong tâm các vị rồi; các vị chẳng cần phải đọc sách vở mới có được chúng. Nhưng Giáo Pháp được giảng dạy là để giúp chúng ta quán chiếu và đoạn trừ tham, sân, si.

Let the knowing spread from within you and you will be practicing rightly. If you want to see a train, just go the central station, you don't have to go traveling all the way up the Northern line, the Southern Line, the Eastern Line and the Western Line to see all the trains. If you want to see trains, every single one of them, you'd be better off waiting at Grand Central Station, that's where they all terminate.

Hãy để sự thấu hiểu lan tỏa từ sâu bên trong bạn, bạn sẽ tu tập một cách đúng đắn. Nếu muốn nhìn thấy một đoàn tàu, bạn chỉ cần đến nhà ga trung tâm; bạn không nhất thiết phải lặn lội đi khắp các tuyến phía Bắc, phía Nam, phía Đông và phía Tây để ngắm nhìn tất cả các đoàn tàu. Nếu thực sự muốn nhìn thấy mọi đoàn tàu, dù là bất kỳ chiếc nào, thì tốt hơn hết là bạn hãy chờ đợi tại Nhà ga Trung tâm (Grand Central Station), bởi đó chính là nơi tất cả các chuyến tàu đều dừng chân.

Now some people tell me, "I want to practice but I don't know how. I'm not up to studying the scriptures, I'm getting old now, my memory's not good..." Just look right here, at "Central Station." Greed arises here, anger arises here, delusion arises here. Just sit here and you can watch as all these things arise. Practice right here, because right here is where you're stuck. Right here is where the determined arises, where conventions arise, and right here is where the Dhamma will arise.

Bây giờ, một số người nói với tôi rằng: "Tôi muốn tu tập, nhưng lại chẳng biết phải làm thế nào. Tôi không đủ sức để nghiên cứu kinh điển; tôi đã lớn tuổi, trí nhớ cũng chẳng còn minh mẫn..." Bạn chỉ cần nhìn ngay tại đây, tại "Trạm Trung tâm". Tham lam khởi sinh tại đây; sân hận khởi sinh tại đây; si mê cũng khởi sinh tại đây. Bạn chỉ cần ngồi yên ngay tại đây, và bạn sẽ có thể quan sát thấy tất cả những điều ấy khởi sinh. Hãy tu tập ngay tại chính nơi này, bởi lẽ chính tại nơi đây là chỗ mà bạn đang bị mắc kẹt. Chính tại nơi đây, những định kiến ​​khởi sinh; những quy ước khởi sinh; và cũng chính tại nơi đây, Pháp (Dhamma) sẽ hiển lộ.

Therefore the practice of Dhamma doesn't distinguish between class or race, all it asks is that we look into, see and understand. At first, we train the body and speech to be free of taints, which is sila. Some people think that to have sila you must memorize Pali phrases and chant all day and all night, but really all you have to do is make your body and speech blameless, and that's sila. It's not so difficult to understand, just like cooking food... put in a little bit of this and a little bit of that, till it's just right... and it's delicious! You don't have to add anything else to make it delicious, it's delicious already, if only you add the right ingredients. In the same way, taking care that our actions and speech are proper will give us sila.

Vì thế việc tu tập Pháp không phân biệt giai cấp hay chủng tộc; điều duy nhất Pháp đòi hỏi ở chúng ta là hãy quán chiếu, nhìn nhận và thấu hiểu. Trước hết, chúng ta rèn luyện thân và khẩu sao cho thanh tịnh, không còn những cấu uế, đó chính là Giới (Sila). Một số người lầm tưởng rằng để giữ Giới, ta phải học thuộc lòng các câu kệ tiếng Pali và tụng niệm suốt ngày đêm; nhưng thực ra, tất cả những gì bạn cần làm chỉ là giữ cho thân và khẩu của mình trở nên trong sạch, và đó chính là Giới. Điều này không hề khó hiểu chút nào; nó cũng tựa như việc nấu ăn vậy... bạn chỉ cần nêm nếm một chút thứ này, một chút thứ kia, cho đến khi hương vị vừa vặn... thế là món ăn trở nên thật ngon miệng! Bạn chẳng cần phải thêm bất cứ thứ gì khác để làm cho món ăn ngon hơn nữa, bởi lẽ nó vốn dĩ đã ngon sẵn rồi, chỉ cần bạn biết thêm vào đúng những nguyên liệu cần thiết. Cũng theo cách thức ấy, việc luôn chú tâm gìn giữ sao cho mọi hành động và lời nói của mình được đoan chính sẽ giúp chúng ta đạt được Giới hạnh.

Dhamma practice can be done anywhere. In the past I traveled all over looking for a teacher because I didn't know how to practice. I was always afraid that I was practicing wrongly. I'd be constantly going from one mountain to another, from one place to another, until I stopped and reflected on it. Now I understand. In the past I must have been quite stupid, I went all over the place looking for places to practice meditation — I didn't realize it was already there, in my heart. All the meditation you want is right there inside you. There is birth, old age, sickness, death right here within you. that's why the Buddha said Paccatam veditabbo viññuhi: The wise must know for themselves. I'd said the words before but I still didn't know their meaning. I traveled all over looking for it until I was ready to drop dead from exhaustion — only then, when I stopped, did I find what I was looking for, inside of me. So now I can tell you about it.

Có thể tu tập Pháp ở bất cứ đâu. Trước đây, tôi đã đi khắp nơi để tìm kiếm một vị Thầy, bởi lẽ tôi không biết cách tu tập như thế nào. Tôi luôn lo sợ rằng mình đang tu tập sai đường. Tôi cứ liên tục đi từ ngọn núi này sang ngọn núi khác, từ nơi này sang nơi khác, cho đến khi tôi dừng lại và suy ngẫm về điều đó. Giờ đây tôi đã hiểu. Thuở trước hẳn là tôi đã vô minh; tôi cứ đi khắp chốn để tìm kiếm những nơi chốn thích hợp cho việc thiền định — mà chẳng hề nhận ra rằng nó đã hiện hữu ngay tại đó, ngay trong chính tâm mình. Tất cả những gì bạn mong cầu trong việc thiền định đều nằm ngay bên trong chính bạn. Sinh, lão, bệnh, tử, tất cả đều hiện hữu ngay tại đây, ngay trong chính con người bạn. Chính vì lẽ đó mà Đức Phật đã dạy rằng: "Paccatam veditabbo viññuhi" — Người trí tuệ phải tự mình thấu hiểu lấy. Tôi đã từng thốt lên những lời ấy, nhưng khi đó tôi vẫn chưa thực sự thấu hiểu ý nghĩa sâu xa của chúng. Tôi đã đi khắp nơi để tìm kiếm điều ấy, cho đến khi kiệt sức tưởng chừng như sắp ngã quỵ , chỉ đến khi ấy, khi tôi chịu dừng lại, tôi mới tìm thấy điều mà mình hằng tìm kiếm: nó nằm ngay bên trong chính con người tôi. Và giờ đây, tôi đã có thể chia sẻ điều ấy cùng các bạn.

So in your practice of sila, just practice as I've explained here. Don't doubt the practice. Even though some people may say you can't practice at home, that there are too many obstacles... if that's the case then even eating and drinking are going to be obstacles. If these things are obstacles to practice then don't eat! If you stand on a thorn, is that good? Isn't not standing on a thorn better? Dhamma practice brings benefit to all people, irrespective of class. However much you practice, that's how much you will know the truth.

Do đó trong việc thọ trì giới (sila) của mình, hãy cứ thực hành đúng như những gì tôi đã giải thích ở đây. Đừng hoài nghi về việc thực hành này. Cho dù có người nói rằng bạn không thể tu tập tại nhà vì có quá nhiều chướng ngại... thì nếu đúng là như vậy, ngay cả việc ăn uống cũng sẽ trở thành chướng ngại mà thôi. Nếu những điều này thực sự là chướng ngại cho việc tu tập, vậy thì bạn đừng ăn nữa! Nếu bạn dẫm phải gai, liệu điều đó có tốt không? Chẳng phải việc không dẫm phải gai sẽ tốt hơn sao? Việc tu tập Pháp mang lại lợi ích cho tất cả mọi người, bất kể giai cấp nào. Bạn tu tập được bao nhiêu, thì bạn sẽ thấu hiểu chân lý bấy nhiêu.

Some people say they can't practice as a lay person, the environment is too crowded. If you live in a crowded place, then look into crowdedness, make it open and wide. The mind has been deluded by crowdedness, train it to know the truth of crowdedness. The more you neglect the practice, the more you neglect going to the monastery and listening to the teaching, the more your mind will sink down into the bog, like a frog going into a hole. Someone comes along with a hook and the frog's done for, he doesn't have a chance. All he can do is stretch out his neck and offer it to them. So watch out you don't work yourself into a tiny corner — someone may just come along with a hook and scoop you up. At home, being pestered by your children and grandchildren, you are even worse off than the frog! You don't know how to detach from these things. When old age, sickness and death come along, what will you do? This is the hook that's going to get you. Which way will you turn?

Có người nói rằng họ không thể tu tập khi còn là cư sĩ, bởi môi trường sống quá đông đúc. Nếu bạn đang sống ở một nơi đông đúc, hãy quán chiếu ngay vào sự đông đúc ấy; hãy mở rộng tâm để thấy sự thênh thang và khoáng đạt Tâm vốn đã bị sự xô bồ, chật chội kia làm cho mê mờ; hãy tu tập tâm để thấu rõ bản chất chân tướng của chính sự xô bồ ấy. Bạn càng lơ là việc tu tập, càng bỏ bê việc đến chùa và lắng nghe giáo pháp, thì tâm bạn sẽ càng lún sâu vào vũng lầy tăm tối, tựa như một con ếch chui tọt vào trong hang sâu vậy. Chỉ cần có người cầm chiếc móc đi ngang qua, là con ếch ấy coi như đã hết đời; nó chẳng còn chút cơ hội nào để thoát thân nữa. Tất cả những gì nó có thể làm chỉ là rướn cổ lên và dâng nạp thân mình cho người ta bắt đi. Vì thế, hãy cẩn trọng kẻo bạn tự dồn mình vào một góc kẹt chật hẹp— bất cứ lúc nào cũng có thể có người cầm chiếc móc đến và tóm gọn lấy bạn. Khi ở nhà, bị con cháu quấy rầy, làm phiền, tình cảnh của bạn thậm chí còn bi đát hơn cả con ếch! Bạn không biết cách buông xả những sự ràng buộc ấy. Khi tuổi già, bệnh tật và cái chết ập đến, bạn sẽ phải làm gì? Đó chính là chiếc móc sẽ tóm lấy bạn. Khi ấy bạn biết xoay về hướng nào?

This is the predicament our minds are in. Engrossed in the children, the relatives, the possessions... and you don't know how to let them go. Without morality or understanding to free things up there is no way out for you. When feeling, perception, volition and consciousness produce suffering you always get caught up in it. Why is there this suffering? If you don't investigate you won't know. If happiness arises you simply get caught up in happiness, delighting in it. You don't ask yourself, "where does this happiness come from?'

Đây chính là vấn đề tâm chúng ta đang mắc phải. Chìm đắm vào con cái, người thân, tài sản... mà bạn lại chẳng biết làm sao để buông bỏ chúng. Nếu thiếu vắng đạo đức hay sự thấu hiểu để giải tỏa những ràng buộc ấy, thì sẽ chẳng có lối thoát nào dành cho bạn cả. Khi cảm thọ, tri giác, ý chí và thức tạo ra khổ đau, bạn luôn bị cuốn vào trong đó. Tại sao lại có nỗi khổ này? Nếu không chịu quán chiếu, bạn sẽ chẳng thể nào biết được. Nếu niềm hạnh phúc chợt khởi sinh, bạn lại đơn thuần bị cuốn vào trong niềm hạnh phúc ấy, đắm say tận hưởng nó. Bạn chẳng hề tự vấn lòng mình rằng: "Niềm hạnh phúc này đến từ đâu?"

So change your understanding. You can practice anywhere because the mind is with you everywhere. If you think good thoughts while sitting, you can be aware of them; if you think bad thoughts you can be aware of them also. These things are with you. While lying down, if you think good thoughts or bad thoughts, you can know them also, because the place to practice is in the mind. Some people think you have to go to the monastery every single day. That's not necessary, just look at your own mind. If you know where the practice is you'll be assured.

Vậy hãy thay đổi nhận thức của bạn. Bạn có thể tu tập ở bất cứ đâu, vì lẽ tâm luôn hiện hữu cùng bạn ở mọi nơi. Nếu khởi lên những ý nghĩ thiện lành khi đang ngồi, bạn có thể nhận biết chúng; và nếu khởi lên những ý nghĩ bất thiện, bạn cũng có thể nhận biết chúng. Những điều này luôn hiện hữu cùng bạn. Khi đang nằm nghỉ, dù bạn khởi lên ý nghĩ thiện hay bất thiện, bạn cũng đều có thể nhận biết được, vì nơi để tu tập chính là ở tâm bạn. Một số người cho rằng họ phải đến tu viện mỗi ngày. Điều đó không thực sự cần thiết; bạn chỉ cần quán chiếu ngay chính tâm của mình. Nếu thấu hiểu được nơi chốn của sự tu tập, bạn sẽ cảm thấy hoàn toàn an tâm.

The Buddha's teaching tells us to watch ourselves, not to run after fads and superstitious. That's why he said, Silena sugatim yanti, Silena bhogasampada, Silena nibbutim yanti, Tasma silam visodhaye: [31] Sila refers to our actions. Good actions bring good results, bad actions bring bad results. Don't expect the gods to do things for you, or the angels and guardian deities to protect you, or the auspicious days to help you. These things aren't true, don't believe in them. If you believe in them you will suffer. You'll always be waiting for the right day, the right month, the right year, the angels and guardian deities... you'll suffer that way. Look into your own actions and speech, into your own kamma. Doing good you inherit goodness, doing bad you inherit badness.

Lời dạy của Đức Phật khuyên chúng ta hãy tự quán chiếu chính mình, chứ không nên chạy theo xu hướng hay những điều mê tín dị đoan. Chính vì thế, Ngài đã dạy rằng: Silena sugatim yanti , Silena bhogasampada , Silena nibbutim yanti, , Tasma silam visodhaye [31] : *Sila* (Giới) ở đây chính là đề cập đến những hành động của chúng ta. Hành động thiện sẽ mang lại kết quả tốt đẹp; hành động bất thiện sẽ mang lại kết quả xấu xa. Đừng trông chờ các vị thần linh sẽ làm thay mọi việc cho bạn; cũng đừng mong đợi các thiên thần hay hộ pháp sẽ che chở cho bạn, hay tin những ngày giờ tốt lành sẽ mang lại sự trợ giúp cho bạn. Những điều này đều không có thật; chớ nên tin vào chúng. Nếu bạn tin vào những điều đó, bạn sẽ phải chịu khổ đau. Bạn sẽ mãi cứ phải chờ đợi ngày lành, tháng tốt, năm đẹp, hay trông chờ vào các thiên thần và hộ pháp... và chính vì thế, bạn sẽ phải chịu đựng sự khổ đau. Hãy quán chiếu vào chính những hành động và lời nói của bản thân; hãy quán chiếu vào nghiệp (kamma) của chính mình. Gieo nhân thiện, bạn sẽ gặt hái được quả thiện; gieo nhân bất thiện, bạn sẽ gặt hái lấy quả bất thiện.

Silena sugatim yanti (Giữ giới dẫn đến sự an lạc)
, Silena bhogasampada (Giữ giới dẫn đến sự giàu có),
Silena nibbutim yanti, (Giữ giới dẫn đến Niết-bàn),
Tasma silam visodhaye (Vậy, hãy giữ giới của mình cho trong sạch)

If you understand that good and bad, right and wrong all lie within you, then you won't have to go looking for those things somewhere else. Just look for these things where they arise. If you lose something here, you must look for it here. Even if you don't find it at first, keep looking where you dropped it. But usually, we lose it here then go looking over there. When will you ever find it? Good and bad actions lie within you. One day you're bound to see it, just keep looking right there.

Nếu bạn hiểu thiện và ác, đúng và sai, tất cả đều nằm ngay trong chính con người bạn, thì bạn sẽ chẳng cần phải đi tìm ở bất cứ nơi nào khác. Hãy cứ tìm kiếm những điều này ngay tại nơi chúng khởi sinh. Nếu bạn đánh mất thứ gì đó ở nơi này, thì nhất định phải tìm nó ngay tại nơi ấy. Dẫu cho thoạt đầu bạn chưa tìm thấy, hãy cứ kiên trì tìm kiếm ngay tại chính nơi bạn đã đánh rơi nó. Thế nhưng thói thường của chúng ta lại là: đánh mất thứ gì đó ở nơi này, rồi lại đi tìm kiếm tận nơi khác. Như vậy thì biết đến bao giờ bạn mới có thể tìm lại được? Những hành vi thiện hay ác, tất cả đều nằm ngay trong chính con người bạn. Sẽ có một ngày bạn nhận ra điều đó; hãy cứ kiên trì tìm kiếm ngay tại chính nơi ấy.

All beings fare according to their kamma. What is kamma? People are too gullible. If you do bad actions, they say Yama, the King of the Underworld, will write it all down in a book. When you go there he takes out his accounts and looks you up... You're all afraid of the Yama in the after-life, but you don't know the Yama within your own minds. If you do bad actions, even if you sneak off and do it by yourself, this Yama will write it all down. Among you people sitting here and there are probably many who have secretly done bad things, not letting anyone else see. But you see it don't you? This Yama sees it all. Can you see it for yourself? All of you, think for a while... Yama has written it all down, hasn't he? There's no way you can escape it. Whether you do it alone or in a group, in a field or wherever...

Tất cả chúng sinh đều thọ nhận quả báo tùy theo nghiệp của chính mình. Nghiệp là gì? Con người thường quá nhẹ dạ cả tin. Người ta thường nói rằng, nếu bạn làm điều ác, Diêm Vương, vị Vua của cõi Âm, sẽ ghi chép lại tất cả vào một cuốn sổ. Khi bạn lìa đời và đến đó, Ngài sẽ lật mở sổ sách ra để tra cứu về bạn... Các bạn ai nấy đều khiếp sợ Diêm Vương ở thế giới bên kia, nhưng lại chẳng hề hay biết về vị Diêm Vương đang ngự trị ngay trong tâm của chính mình. Nếu bạn làm điều ác, cho dù bạn có lén lút thực hiện một mình, thì Diêm Vương vẫn biết và sẽ ghi chép lại tất cả. Trong số những người đang ngồi đây, có lẽ có rất nhiều người đã từng lén lút làm những điều xấu xa mà không bất kỳ ai thấy. Nhưng chính bạn lại nhìn thấy điều đó, phải không? Diêm Vương này nhìn thấy tất cả. Bạn có tự mình nhìn thấy điều đó không? Tất cả các bạn, hãy thử suy ngẫm một chút xem... Diêm Vương đã ghi chép lại tất cả rồi, phải không? Bạn hoàn toàn không thể nào trốn tránh được điều đó. Cho dù bạn làm điều ấy một mình hay làm cùng với tập thể, giữa cánh đồng hay bất cứ nơi đâu đi nữa...

Is there anybody here who has ever stolen something? There are probably a few of us who are ex-thieves. Even if you don't steal other people's things you still may steal your own. I myself have that tendency, that's why I reckon some of you may be the same. Maybe you have secretly done bad things in the past, not letting anyone else know about it. But even if you don't tell anyone else about it, you must know about it. This is the Yama who watches over you and writes it all down. Wherever you go he writes it all down in his account book. We know our own intention. When you do bad actions badness is there, if you do good actions, goodness is there. There's nowhere you can go to hide. Even if others don't see you, you must see yourself. Even if you go into a deep hole you'll still find yourself. Even if you go into a deep hole you'll still find yourself there. There's no way you can commit bad actions and get away with it. In the same way, why shouldn't you see your own purity? You see it all — the peaceful, the agitated, the liberation or the bondage — we see all these for ourselves.

Có ai trong số các bạn ở đây từng trộm cắp thứ gì chưa? Có lẽ trong chúng ta cũng có một vài người từng là kẻ trộm. Ngay cả khi bạn không trộm cắp đồ đạc của người khác, bạn vẫn có thể đang tự đánh cắp chính mình. Bản thân tôi cũng có khuynh hướng đó; chính vì thế, tôi cho rằng một số bạn ở đây cũng có thể giống như vậy. Có lẽ trong quá khứ, bạn đã từng lén lút làm những điều xấu mà không để cho bất kỳ ai hay biết. Nhưng dù bạn không kể cho ai nghe, thì chính bạn phải biết. Đó chính là Diêm Vương, đấng luôn dõi theo và ghi chép lại tất cả những hành vi của bạn. Dù bạn đi đến bất cứ đâu, Ngài cũng đều ghi chép lại tất cả vào cuốn sổ nghiệp của mình. Chúng ta thấu rõ nhất tâm ý của mình. Khi bạn có những hành vi xấu, sự xấu sẽ hiện hữu; khi bạn có những hành vi thiện, sự tốt đẹp sẽ hiện hữu. Chẳng có nơi nào để bạn có thể trốn tránh. Ngay cả khi người khác không nhìn thấy bạn, thì chính bạn vẫn phải tự nhìn thấy. Dù bạn có chui xuống một cái hố sâu hun hút, bạn vẫn sẽ thấy chính mình đang ở đó. Bạn thực hiện hành vi xấu thì không thể thoát khỏi được hậu quả của chúng. Cũng theo lẽ đó, tại sao bạn lại không thể nhìn thấy sự thanh tịnh của chính mình? Bạn nhìn thấy tất cả, từ sự an lạc cho đến sự xao động, từ sự giải thoát cho đến sự trói buộc , tất cả những điều ấy, chính chúng ta đều tự mình nhìn thấy rõ.

In this Buddhist religion you must be aware of all your actions. We don't act like the Brahmans, who go into your house and say, "May you be well and strong, may you live long." The Buddha doesn't talk like that. How will the disease go away with just talk? The Buddha's way of treating the sick was to say, "Before you were sick what happened? What led up to your sickness?" Then you tell him how it came about. "Oh, it's like that, is it? Take this medicine and try it out." If it's not the right medicine he tries another one. If it's right for the illness, then that's the right one. This way is scientifically sound. As for the Brahmans, they just tie a string around your wrist and say, "Okay, be well, be strong, when I leave this place you just get right on up and eat a hearty meal and be well." No matter how much you pay them, your illness won't go away, because their way has no scientific basis. But this is what people like to believe.

Trong đạo Phật, bạn phải luôn ý thức về mọi hành động của mình. Chúng ta không hành xử như các Bà-la-môn, họ thường bước vào nhà bạn và nói rằng: "Cầu chúc bạn được khỏe mạnh và cường tráng; cầu chúc bạn sống thọ." Đức Phật không nói như vậy. Làm sao bệnh có thể diệt trừ chỉ bằng những lời nói suông? Phương cách chữa bệnh của Đức Phật là hỏi rằng: "Trước khi lâm bệnh, chuyện gì đã xảy ra với bạn? Điều gì đã dẫn đến căn bệnh này?" Khi đó, bạn sẽ kể lại cho Ngài nghe ngọn ngành sự việc. "Ồ, hóa ra là như vậy sao? Hãy dùng thử loại thuốc này xem sao." Nếu loại thuốc đó không phù hợp, Ngài sẽ thử dùng một loại khác. Nếu nó thực sự công hiệu đối với căn bệnh, thì đó chính là thuốc đúng. Cách làm này hoàn toàn có cơ sở khoa học vững chắc. Đối với các Bà-la-môn, họ chỉ đơn thuần buộc một sợi dây vào cổ tay bạn rồi nói: "Được rồi, hãy khỏe mạnh, hãy cường tráng nhé; ngay khi ta rời khỏi nơi này, con hãy đứng dậy ngay, ăn một bữa thật ngon miệng và trở lại khỏe mạnh bình thường." Dù bạn có trả cho họ bao nhiêu tiền đi nữa, bệnh tình của bạn cũng sẽ chẳng thuyên giảm, bởi vì phương pháp của họ hoàn toàn thiếu vắng cơ sở khoa học. Thế nhưng, đó lại chính là điều mà mọi người vẫn thích tin theo.

The Buddha didn't want us to put too much store in these things, he wanted us to practice with reason. Buddhism has been around for thousands of years now, and most people have continued to practice as their teachers have taught them, regardless of whether it's right or wrong. That's stupid. They simply follow the example of their forebears.

Đức Phật không muốn chúng ta quá coi trọng những điều này; Ngài muốn chúng ta tu tập có lý trí. Đạo Phật đã tồn tại suốt hàng ngàn năm nay, và phần lớn mọi người vẫn tiếp tục tu tập theo đúng những gì thầy mình đã dạy, bất kể điều đó đúng hay sai. Thật là ngớ ngẩn. Họ chỉ đơn thuần làm theo gương của những bậc tiền nhân.

The Buddha didn't encourage this sort of thing. He wanted us to do things with reason. For example, at one time when he was teaching the monks, he asked Venerable Sariputta, "Sariputta, do you believe this teaching? Venerable Sariputta replied, "I don't yet believe it." The Buddha praised his answer: "Very good, Sariputta. A wise person doesn't believe too readily. He looks into things, into their causes and conditions, and sees their true nature before believing or disbelieving."

Đức Phật không khuyến khích những việc làm như thế. Ngài mong muốn chúng ta hành động dựa trên lý trí. Chẳng hạn, có lần khi đang thuyết pháp cho các vị Tỳ-kheo, Ngài đã hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất: "Này Xá-lợi-phất, ông có tin vào lời giáo huấn này không?" Tôn giả Xá-lợi-phất đáp: "Con vẫn chưa tin." Đức Phật đã tán thán câu trả lời của Ngài Xá-lợi-phất : "Rất tốt, này Xá-lợi-phất. Một người trí không vội vàng tin ngay. Họ quán xét sự vật, tìm hiểu nguyên nhân và điều kiện của chúng, để thấy rõ bản chất chân thực trước khi quyết định tin hay không tin."

But most teachers these days would say, "What?!!! You don't believe me? Get out of here!" Most people are afraid of their teachers. Whatever their teachers do they just blindly follow. The Buddha taught to adhere to the truth. Listen to the teaching and then consider it intelligently, inquire into it. It's the same with my dhamma talks — go and consider it. Is what I say right? Really look into it, look within yourself.

Nhưng ngày nay hầu hết các vị thầy sẽ thốt lên rằng: "Cái gì cơ?!!! Ngươi không tin ta sao? Cút ngay khỏi đây!" Đa phần mọi người đều cảm thấy sợ hãi trước thầy của mình; bất kể thầy dạy điều gì hay làm gì, họ cũng chỉ biết mù quáng nghe theo. Đức Phật đã dạy rằng chúng ta phải luôn bám sát vào chân lý. Hãy lắng nghe những lời giáo huấn, rồi sau đó dùng trí tuệ để suy xét và thẩm nghiệm kỹ càng. Đối với những bài pháp thoại của Như Lai cũng vậy, hãy cứ nghe rồi đem ra suy ngẫm. Những điều Như Lai nói có đúng chăng? Hãy thực sự quán chiếu sâu sắc, hãy quay về quán chiếu ngay trong chính nội tâm của các bạn.

So it is said to guard your mind. Whoever guards his mind will free himself from the shackles of Mara. It's just this mind which goes and grabs onto things, know things, sees things, experiences happiness and suffering... just this very mind. When we fully know the truth of determinations and conditions we will naturally throw off suffering.

Do đó người ta thường dạy rằng hãy gìn giữ tâm của mình. Bất cứ ai biết gìn giữ tâm, người ấy sẽ tự giải thoát mình khỏi những xiềng xích của Ma Vương. Chính cái tâm này, cái tâm đi nắm bắt vạn vật, nhận biết sự vật, nhìn thấy mọi thứ, và cảm thọ cả hạnh phúc lẫn khổ đau... chính là cái tâm ấy vậy. Khi chúng ta thấu triệt trọn vẹn chân lý về các định luật và duyên khởi, chúng ta sẽ tự nhiên rũ bỏ được mọi khổ đau.

All things are just as they are. They don't cause suffering in themselves, just like a thorn, a really sharp thorn. Does it make you suffer? No, it's just a thorn, it doesn't bother anybody. But if you go and stand on it, then you'll suffer. Why is there this suffering? Because you stepped on the thorn. The thorn is just minding its own business, it doesn't harm anybody. Only if you step on the thorn will you suffer over it. It's because of we ourselves that there's pain. Form, feeling, perception, volition, consciousness... all things in this world are simply there as they are. It's we who pick fights with them. And if we hit them they're going to hit us back. If they're left on their own they won't bother anybody, only the swaggering drunkard gives them trouble. All conditions fare according to their nature. That's why the Buddha said, Tesam vupasamo sukho: If we subdue conditions, seeing determinations and conditions as they really are, as neither "me" nor "mine," "us" nor "them," when we see that these beliefs are simply sakkayaditthi, the conditions are freed of the self-delusion.

Vạn pháp đều hiện hữu đúng như chính chúng là. Tự thân chúng không gây ra khổ đau, cũng giống như một cái gai, một cái gai thật sắc nhọn vậy. Liệu nó có khiến bạn đau khổ không? Không, nó chỉ là một cái gai thôi; tự nó chẳng hề làm phiền đến ai. Nhưng nếu bạn bước tới và giẫm phải nó, thì khi ấy bạn sẽ phải chịu đau khổ. Tại sao lại có nỗi khổ này? Bởi vì chính bạn đã giẫm lên cái gai đó. Cái gai vẫn cứ nằm yên đó, làm tròn bổn phận của nó, chứ chẳng hề làm hại ai cả. Chỉ khi bạn giẫm lên cái gai, bạn mới phải chịu đau khổ vì nó. Chính là do tự thân chúng ta mà nỗi đau mới phát sinh. Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức... tất cả mọi sự vật trên thế gian này đều đơn thuần hiện hữu đúng như bản chất của chúng. Chính chúng ta mới là kẻ đi gây sự với chúng. Và nếu ta đánh vào chúng, thì chúng sẽ đáp trả lại ta. Nếu cứ để mặc chúng tự nhiên, chúng sẽ chẳng làm phiền ai cả; chỉ có kẻ say rượu ngông nghênh mới đi gây rắc rối với chúng mà thôi. Mọi pháp hữu vi đều vận hành theo đúng bản tánh của chúng. Chính vì lẽ đó mà Đức Phật đã dạy rằng: "Tesam vupasamo sukho - Sự chấm dứt của các pháp hữu vi đó chính là hạnh phúc". Nếu ta biết chế ngự các pháp hữu vi, nhìn nhận những định luật và điều kiện ấy đúng như bản chất thực sự của chúng, rằng chúng chẳng phải là "tôi" hay "của tôi", chẳng phải là "chúng ta" hay "họ"—và khi ta nhận ra rằng những niềm tin ấy chỉ đơn thuần là thân kiến (sakkāyadiṭṭhi), thì khi ấy, các pháp hữu vi sẽ được giải thoát khỏi sự mê lầm về cái ngã.

If you think "I'm good," "I'm bad," "I'm great," "I'm the best," then you are thinking wrongly. If you see all these thoughts as merely determinations and conditions, then when others say, "good" or "bad" you can leave it be with them. As long as you still see it as "me" and "you" it's like having three hornets nests — as soon as you say something the hornets come buzzing out to sting you. The three hornets nests are sakkayaditthi, viccikiccha, and silabbataparamasa. [32]

Nếu bạn nghĩ "tôi tốt," "tôi dở," "tôi tuyệt vời," hay "tôi là nhất," thì đó là bạn đang tư duy sai lầm. Nếu bạn xem tất cả những suy nghĩ này chỉ đơn thuần là những sự định đoạt và điều kiện nhất định, thì khi người khác nhận xét là "tốt" hay "dở," bạn có thể để những lời đó lại nơi họ. Chừng nào bạn vẫn còn phân biệt giữa "tôi" và "người," thì điều đó cũng tựa như việc đang ôm giữ ba tổ ong bắp cày vậy, hễ bạn vừa thốt lời, lũ ong sẽ lập tức bay ùa ra và chích vào bạn. Ba tổ ong bắp cày ấy chính là: Thân kiến (Sakkayaditthi), Hoài Nghi (Viccikiccha) và Giới Cấm Thủ ( Silabbataparamasa). [32]

Once you look into the true nature of determinations and conditions, pride cannot prevail. Other people's fathers are just like our father, their mothers are just like ours, their children are just like ours. We see the happiness and suffering of other beings as just like ours.

Một khi đã thấu suốt bản chất thực sự của các định luật và hành, lòng kiêu mạn sẽ không còn. Cha của người khác cũng hệt như cha của ta; mẹ của họ cũng hệt như mẹ của ta; con cái của họ cũng hệt như con cái của ta. Ta nhìn nhận niềm hạnh phúc và nỗi khổ đau của những chúng sinh khác cũng hệt như của chính mình.

If we see in this way we can come face to face with the future Buddha, it's not so difficult. Everyone is in the same boat. Then the world will be as smooth as a drumskin. If you want to wait around to meet Phra Sri Ariya Mettiya, the future Buddha, then just don't practice... you'll probably be around long enough to see him. But He's not crazy that he'd take people like that for disciples! Most people just doubt. If you no longer doubt about the self, then no matter what people may say about you, you aren't concerned, because your mind has let go, it is at peace. Conditions become subdued. Grasping after the forms of practice... that teacher is bad, that place is no good, this is right, that's wrong... No. There's none of these things. All this kind of thinking is all smoothed over. You come face to face with the future Buddha. Those who only hold up their hands and pray will never get there.

Nếu nhìn nhận theo cách này chúng ta có thể diện kiến ​​vị Phật tương lai; điều đó không hề khó khăn chút nào. Tất cả mọi người đều đang ở trên cùng một con thuyền. Khi ấy thế giới sẽ trở nên êm đềm, phẳng lặng tựa mặt trống. Nếu bạn muốn cứ ngồi chờ đợi để được gặp Phra Sri Ariya Mettiya – Phật Di La Lặc, vị Phật tương lai, thì cứ việc không tu tập đi... có lẽ bạn sẽ sống thọ đủ để được nhìn thấy Ngài đấy. Nhưng Ngài đâu có điên mà lại nhận những kẻ như thế làm đệ tử! Đa phần mọi người chỉ biết hoài nghi mà thôi. Nếu bạn không còn hoài nghi về cái "ngã" nữa, thì bất kể người đời có nói gì về bạn đi chăng nữa, bạn cũng chẳng bận tâm; bởi lẽ tâm bạn đã buông xả, đã đạt được sự an lạc. Mọi cảnh duyên đều trở nên lắng dịu. Cái thói chấp chặt vào các hình thức tu tập rằng "vị thầy kia dở", "nơi này chẳng tốt", "điều này đúng", "điều kia sai"... – sẽ không còn nữa. Những thứ ấy hoàn toàn không còn tồn tại. Tất cả những lối tư duy kiểu đó đều được gột sạch và trở nên phẳng lặng. Bạn sẽ diện kiến ​​vị Phật tương lai. Còn những kẻ chỉ biết chắp tay cầu nguyện suông thì sẽ chẳng bao giờ đạt tới cảnh giới ấy được.

So here is the practice. If I talked any more it would just be more of the same. Another talk would just be the same as this. I've brought you this far, now you think about it. I've brought you to the path, whoever's going to go, it's there for you. Those who aren't going can stay. The Buddha only sees you to the beginning of the path. Akkhataro Tathagata — the Tathagata only points the way. For my practice he only taught this much. The rest was up to me. Now I teach you, I can tell you just this much. I can bring you only to the beginning of the path, whoever wants to go back can go back, whoever wants to travel on can travel on. It's up to you, now.

Do vậy đây chính là sự tu tập. Nếu tôi nói thêm nữa, thì cũng chỉ là những lời lặp lại mà thôi. Một bài nói chuyện khác cũng sẽ chẳng khác gì bài này. Tôi đã chỉ dạy các bạn đến mức này rồi; giờ đây, chính các bạn hãy tự suy ngẫm lấy. Tôi đã đưa các bạn đến tận con đường rồi; bất cứ ai muốn bước đi, con đường ấy luôn sẵn đó chờ đón các bạn. Những ai không muốn đi tiếp thì cứ việc ở lại. Đức Phật chỉ dẫn dắt các bạn đến điểm khởi đầu của con đường mà thôi. Akkhataro Tathagata, Đức Như Lai chỉ là người chỉ lối dẫn đường. Trong quá trình tu tập của chính tôi, Ngài cũng chỉ dạy cho tôi vỏn vẹn chừng ấy. Phần còn lại hoàn toàn phụ thuộc vào chính tôi. Giờ đây, khi tôi giảng dạy cho các bạn, tôi cũng chỉ có thể nói với các bạn chừng ấy điều thôi. Tôi chỉ có thể đưa các bạn đến điểm khởi đầu của con đường; ai muốn quay lại thì cứ quay lại, ai muốn tiếp tục bước tới thì cứ bước tới. Giờ đây, mọi sự hoàn toàn tùy thuộc vào chính các bạn.

Notes  

1.
"Looking for merit" is a commonly-used Thai phrase. It refers to the custom in Thailand of going to monasteries, or "wats," paying respect to venerated teachers and making offerings.
2.
There is a play on words here between the Thai words "look," meaning children, and "look bpeun," meaning literally "gun children"... that is, bullets.
3.
The Buddhist Pali Canon.
4.
There is a play on words in the Thai language here based on the word for family — Krorp krua — which literally means "kitchen-frame" or "roasting circle." In the English translation we have opted for a corresponding English word rather than attempt a literal translation of the Thai.
5.
Saccadhamma.
6.
A chant traditionally recited at funeral ceremonies.
7.
At the time of printing this book (1992), there are about one hundred branch monasteries, big and small, of Wat Nong Ba Pong.
8.
Dukkha: "Suffering" is a most inadequate translation, but it is the one most commonly found. "Dukkha" literally means "intolerable," "unsustainable," "difficult to endure," and can also mean "imperfect," "unsatisfying," or "incapable of providing perfect happiness."
9.
Samsara: The world of delusion.
10.
One of the Four Bases of Clinging:
1. Kamupadana, clinging to sense objects;
2.silabbatupadana: clinging to rites and rituals;
3.ditthupadana: clinging to views, and
4.attavadupadana, clinging to the idea of self.
11.
Soon after his enlightenment, the Buddha was walking on his way to Benares and was approached by a wandering ascetic, who said, "Your features are clear, friend, your bearing serene... who is your teacher?" The Buddha answered that there was no-one in this world who could claim to be his teacher, because he was completely self-enlightened. The Brahman could not understand his answer, and walked off, muttering, "Well, good for you, friend, good for you."
12.
Dukkha.
13.
Considered a delicacy in some parts of Thailand.
14.
One who lives devoted to religious practices. The term is used also to refer to one who has developed a certain amount of virtue from such practices. Ajahn Chah usually translates the term as "one who is peaceful."
15.
Literally, "knowledge and insight (into the Four Noble Truths)."
16.
One of the Four Foundations of Mindfulness: Body, Feelings, Mind, and Dhamma.
17.
Kamachanda: Sensual desire, one of the Five Hindrances, the other four being ill will, doubt, restlessness and worry, and doubt.
18.
The Five Khandhas, or "heaps": Form, feeling, perception, conception, and consciousness.
19.
Sila-Dhamma: The Teaching and Discipline, another name for the teaching of Buddhism, but on the personal level meaning "virtue and (knowledge of) truth."
20.
Sila, samadhi, pañña.
21.
The basic moral code for practicing Buddhists: To refrain from intentional killing, stealing, sexual misconduct, lying and imbibing of intoxicants.
22.
Uposatha, or Observance, days, are the days on which practicing Buddhists usually go to the monastery to practice meditation, listen to a Dhamma talk and keep the eight uposatha precepts — To refrain from killing, stealing, all sexual activity, lying, taking intoxicants, eating food after midday, enjoying entertainments and dressing up, and sitting or sleeping on luxurious seats or beds.
23.
Kusala: wholesome or skillful actions or mental states.
24.
Pariyatti, the teachings as laid down in the scriptures, or as passed down from one person to another in some form or another; the "theoretical" aspect of Buddhism. "Pariyatti" is often referred to in reference to two other aspects of Buddhism — Patipatti, the practice, and Pativedhi, the realization. Thus: Study — Practice — Realization.
25.
Sammutti sacca, a difficult term to translate. It refers to the dualistic, or nominal reality, the reality of names, determinations. For instance, a cup is not intrinsically a cup, it is only determined to be so.
26.
Impermanent are all conditioned things, / Of the nature to arise and pass away / Having been born, they all must perish / The cessation of conditions is true happiness.
27.
"Cessation is true happiness," or "the calming of conditions is true happiness."
28.
The Five Khandhas.
29.
The Buddhist Pali Canon.
30.
The third of the "Three Baskets," the Tipitaka, being the section on the higher philosophy of Buddhism.
31.
Moral rectitude leads to well being, leads to wealth, leads to nibbana. Therefore, maintain your precepts purely" — a Pali phrase said at the end the traditional giving of the precepts.
32.
Self view, doubt, and attachment to rites and practices.

Chú Thích  

1.
""Đi tìm phước đức" là một cụm từ thông dụng trong tiếng Thái. Đề cập đến phong tục ở Thái Lan là đến các tu viện, hay "wat", để tỏ lòng kính trọng đối với các vị sư thầy và cúng dường lễ vật. .
2.
Ở đây có một lối chơi chữ giữa hai từ tiếng Thái "look" (nhìn), nghĩa là trẻ em, và "look bpeun", nghĩa đen là "súng trẻ em"... tức là đạn.
3.
Kinh Điển Phật Pháp.
4.
Trong ngôn ngữ Thái có sử dụng một cụm từ dựa trên từ chỉ "gia đình" — *Krorp krua* — vốn mang nghĩa đen là "khung bếp" hay "vòng tròn nướng". Trong bản dịch sang tiếng Anh, chúng tôi đã lựa chọn một từ ngữ tương ứng thay vì cố gắng dịch sát nghĩa từ ngôn ngữ tiếng Thái.
5.
Saccadhamma là là sự thật, là diệu pháp và là giáo lý không thay đổi của Đức Phật.
6.
Một bài tụng truyền thống thường được đọc trong các tang lễ..
7.
Vào thời điểm cuốn sách này được in (năm 1992), Wat Nong Ba Pong có khoảng một trăm chi nhánh thiền viện, lớn nhỏ.
8.
Dukkha: dịch là "Khổ đau" thì vô cùng khiếm khuyết, tuy nhiên lại là cách dịch phổ biến nhất. Theo nghĩa đen, "Dukkha" có nghĩa là "không thể chịu đựng nổi," "không thể duy trì," "khó bề chịu đựng," và cũng có thể mang nghĩa là "khiếm khuyết," "không thỏa mãn," hoặc "không có khả năng mang lại hạnh phúc trọn vẹn." hoặc "Bất toại nguyện"
9.
Samsara: Thế giới của ảo tưởng.
10.
Bốn thủ trong đạo Phật là:
1. Dục thủ (kamupadana): sự quyến luyến những thứ trên thế giới một cách lặp đi lặp lại.
2. Kiến thủ (ditthupadana): sự bám chặt vào những quan điểm sai lầm, như là quan điểm thường hằng (cụ thể, “Thế giới và ngã là vĩnh cửu”) hoặc là quan điểm đoạn diệt (“Với cái chết, tất cả đều đoạn diệt”).
3. Giới cấm thủ (silabbatupadana): sự tin vào việc chỉ dựa vào những lễ nghi thì có thể trực tiếp dẫn đến sự giải thoát, điển hình theo kinh điển là các lễ nghi của “thực hành hạnh con bò” hay “thực hành hạnh con chó”.
4. Ngã luận thủ (attavadupadana): sự bám chặt vào ý niệm “ngã” và “của ngã”, như là “tôi là ai”, “tôi có gì”, “tôi muốn gì”.
Đức Phật đã dạy rằng, nếu muốn đạt được niết bàn, người tu hành phải đoạn diệt bốn thủ này
11.
Không lâu sau khi đắc đạo, Đức Phật đi về Benares thì gặp một vị tu khổ hạnh đang đi lang thang. Vị này tiến lại gần và thưa rằng: "Dung mạo của Ngài thật thanh thoát, thưa Ngài; phong thái của Ngài thật an nhiên... xin hỏi ai là thầy của Ngài?" Đức Phật đáp rằng trên thế gian này không một ai có thể xưng là thầy của Ngài, bởi lẽ Ngài đã tự mình giác ngộ hoàn toàn. Vị Bà-la-môn kia không thể thấu hiểu lời đáp ấy; ông bèn bỏ đi, miệng lầm bầm: "Chà, tốt cho Ngài đấy, thưa Ngài; tốt cho Ngài thật đấy."
12.
Dukkha: là khổ, là bất toại nguyện.
13.
Được coi là một món đặc sản tại một số vùng của Thái Lan.
14.
Người sống chuyên tâm vào sự tu tập giáo pháp. Thuật ngữ này cũng được dùng để chỉ những người đã tu tập đức hành ở mức độ nhất định thông qua các sự thực hành đó. Ngài Ajahn Chah thường dịch thuật ngữ này là "người có sự an bình".
15.
Theo chú giải là: "tri thức và tuệ giác (về Tứ Diệu Đế)"."
16.
Một trong Tứ Niệm Xứ: Thân, Thọ, Tâm và Pháp.
17.
Kamachanda:là Dục tham — một trong Năm Triền cái; bốn triền cái còn lại là sân hận, trạo hối, và hoài nghi
18.
The Five Khandhas, Ngũ uẩn, hay "các khối": Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức.
19.
Sila-Dhamma: Giáo pháp (Dhamma) và Giới luật (Sila) một tên gọi khác của giáo lý Phật giáo; tuy nhiên, xét trên phương diện cá nhân, thuật ngữ này mang ý nghĩa là "đức hạnh và (sự thấu hiểu) chân lý."
20.
Sila = Giới, samadhi = Định, pañña = Tuệ.
21.
Những quy tắc đạo đức cơ bản dành cho Phật tử tu tập: Kiêng sát sinh, trộm cắp, tà hạnh, nói dối và sử dụng các chất gây say. .
22.
Uposatha, Các ngày Bồ Tát Giới Uposatha, hay còn gọi là ngày Trai giới, là những ngày các Phật tử thường đến tu viện để thực hành thiền định, lắng nghe pháp thoại và thọ trì tám giới Uposatha: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dục, không nói dối, không sử dụng các chất gây say, không ăn sau giờ ngọ, không tham gia các hoạt động giải trí hay trang điểm, và không ngồi hoặc nằm trên những chỗ ngồi hay giường ngủ sang trọng.
23.
Kusala:Kusala: những hành động hoặc trạng thái tâm thiện lành hay khôn léo..
24.
Pariyatti, là Pháp Học, là những giáo lý được ghi chép trong kinh điển, hoặc được lưu truyền từ người này sang người khác dưới nhiều hình thức khác nhau; đây chính là khía cạnh "lý thuyết" của Phật giáo. Thuật ngữ "Pariyatti" thường được nhắc đến trong mối tương quan với hai khía cạnh khác của Phật giáo, đó là Patipatti (Pháp hành) và Pativedhi (sự chứng đắc). Tóm lại: Pháp Học— Pháp hành — Chứng đắc.
25.
Sammutti sacca, một thuật ngữ khó dịch. Nó đề cập đến thực tại nhị nguyên, hay thực tại quy ước, thực tại của danh xưng và sự chế định. Chẳng hạn, một chiếc cốc tự thân nó không phải là cốc; nó chỉ được chế định là cốc.
26.
Mọi pháp hữu vi đều vô thường, / Có bản chất sinh rồi diệt; / Đã sinh ra, tất thảy đều phải diệt vong; / Sự chấm dứt các điều kiện là hạnh phúc chân thật..
27.
""Sự chấm dứt là hạnh phúc chân thực," hay "sự lắng dịu của các pháp hữu vi là hạnh phúc chân thực." "
28.
The Five Khandhas là Ngũ uẩn (pañca-khandhas).
29.
The Buddhist Pali Canon là Kinh điển Pali của Phật giáo.
30.
Giỏ thứ ba trong "Tam Tạng" — Tipitaka — là phần chuyên về triết lý cao thâm của Phật giáo..
31.
"Giữ Giới dẫn đến an lạc, dẫn đến phú túc, dẫn đến Niết-bàn. Vì vậy, hãy giữ gìn giới luật của bạn một cách thanh tịnh" , một câu kệ tiếng Pali thường được xướng lên vào cuối nghi thức truyền giới truyền thống.
Sīlena sugatiṃ yanti,
Sīlena bhogasampadā,
Sīlena nibbutiṃ yanti,
Tasmā sīlaṃ visodhaye.
Các chúng sanh được sanh về cõi Trời cũng nhờ giữ giới, các chúng sanh được giàu sang cũng nhờ giữ giới, các chúng sanh được giải thoát nhập Niết-Bàn cũng nhờ giữ giới. Bởi các cớ ấy, nên Thiện tín (hoặc chư Thiện tín) phải ráng thọ trì giới luật cho trong sạch, đừng để lấm nhơ. .
32.
Tự ngã kiến, hoài nghi, và chấp thủ vào giới cấm, và nghi lễ..



 | Trang I| trở về đầu trang | Home page |