These days people are going all over the place looking for merit.[1] And they always seem to stop over in Wat Ba Pong. If they don't stop over on the way, they stop over on the return journey. Wat Ba Pong has become a stop over point. Some people are in such a hurry I don't even get a chance to see or speak to them. Most of them are looking for merit. I don't see many looking for a way out of wrongdoing. They're so intent on getting merit they don't know where they're going to put it. It's like trying to dye a dirty, unwashed cloth.

Ngày nay mọi người đi khắp nơi tìm kiếm phước đức.[1] Và họ dường như luôn dừng chân ở ngôi chùa Wat Ba Pong. Nếu họ không dừng chân trên đường đi, họ sẽ dừng chân trên đường trở về. Chùa Wat Ba Pong đã trở thành một điểm dừng chân. Một số người đi vội vã đến nỗi tôi thậm chí không có cơ hội nhìn thấy hoặc nói chuyện với họ. Hầu hết họ đều đang tìm kiếm phước đức. Tôi không thấy nhiều người tìm cách không làm điều bất thiện. Họ quá chú tâm vào việc tích đức đến nỗi họ không biết sẽ dùng nó vào việc gì. Nó giống như cố gắng nhuộm một tấm vải bẩn, chưa giặt.

Monks talk straight like this, but it's hard for most people to put this sort of teaching into practice. It's hard because they don't understand. If they understood it would be much easier. Suppose there was a hole, and there was something at the bottom of it. Now anyone who put their hand into the hole and didn't reach the bottom would say the hole was too deep. Out of a hundred or a thousand people putting their hands down that hole, they'd all say the hole was too deep. Not one would say their arm was too short!

Các nhà sư nói thẳng thắn như vậy, nhưng hầu hết mọi người khó có thể áp dụng loại giáo lý này vào việc tu tập. Khó vì họ không hiểu. Nếu họ hiểu thì mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn nhiều. Giả sử có một cái hố, và có một vật gì đó ở dưới đáy hố. Bây giờ bất cứ ai thò tay vào hố mà không chạm tới đáy sẽ nói rằng cái hố quá sâu. Trong số một trăm hoặc một nghìn người thò tay xuống hố đó, tất cả đều sẽ nói rằng cái hố quá sâu. Không một ai nói rằng cánh tay của họ quá ngắn!

There are so many people looking for merit. Sooner or later they'll have to start looking for a way out of wrongdoing. But not many people are interested in this. The teaching of the Buddha is so brief, but most people just pass it by, just like they pass through Wat Ba Pong. For most people that's what the Dhamma is, a stop-over point.

Có rất nhiều người tìm kiếm phước đức. Sớm muộn gì họ cũng phải bắt đầu tìm cách thoát khỏi những việc làm bất thiện. Nhưng không nhiều người quan tâm đến điều này. Giáo lý của Đức Phật rất ngắn gọn, nhưng hầu hết mọi người chỉ lướt qua, giống như họ chỉ đi ngang qua chùa Wat Ba Pong. Đối với hầu hết mọi người, Phật pháp chỉ là một điểm dừng chân tạm thời.

Only three lines, hardly anything to it: Sabba papassa akaranam: refraining from all wrong doing. That's the teaching of all Buddhas. This is the heart of Buddhism. But people keep jumping over it, they don't want this one. The renunciation of all wrongdoing, great and small, from bodily, verbal and mental actions... this is the teaching of the Buddhas.

Chỉ ba cụm từ, hầu như chẳng có gì đáng kể: Sabba-pāpassa akaranam: là từ bỏ mọi điều ác. Đó là giáo lý của tất cả chư Phật. Đây là cốt lõi của Phật giáo. Nhưng mọi người cứ bỏ qua nó, họ không muốn biết điều này. Từ bỏ mọi điều ác, lớn nhỏ, từ hành động thân, khẩu và ý... đây là giáo lý của chư Phật.

If we were to dye a piece of cloth we'd have to wash it first. But most people don't do that. Without looking at the cloth, they dip it into the dye straight away. If the cloth is dirty, dying it makes it come out even worse than before. Think about it. Dying a dirty old rag, would that look good?

Nếu muốn nhuộm một mảnh vải, chúng ta phải giặt sạch trước. Nhưng hầu hết mọi người không làm vậy. Họ nhúng thẳng vào thuốc nhuộm mà không cần nhìn vào vải. Nếu vải bẩn, việc nhuộm sẽ làm cho nó thậm chí còn tệ hơn trước. Hãy nghĩ xem. Nhuộm một miếng giẻ cũ bẩn, liệu nó có đẹp không?

You see? This is how Buddhism teaches, but most people just pass it by. They just want to perform good works, but they don't want to give up wrongdoing. It's just like saying "the hole is too deep." Everybody says the hole is too deep, nobody says their arm is too short. We have to come back to ourselves. With this teaching you have to take a step back and look at yourself.

Bạn thấy không? Phật Pháp dạy như vậy, nhưng hầu hết mọi người lại bỏ qua. Họ chỉ muốn làm việc thiện, nhưng không muốn từ bỏ điều bất thiện. Giống như câu nói "cái hố quá sâu". Ai cũng nói cái hố quá sâu, nhưng không ai nói tay mình quá ngắn. Chúng ta phải nhìn vào chính mình. Với giáo lý này, bạn phải lùi lại một bước và nhìn nhận bản thân.

Sometimes they go looking for merit by the busload. Maybe they even argue on the bus, or they're drunk. Ask them where they're going and they say they're looking for merit. They want merit but they don't give up vice. They'll never find merit that way.

Đôi khi họ rủ nhau đi tìm kiếm phước đức cả một đoàn xe buýt. Có thể họ còn cãi nhau trên xe, hoặc say xỉn. Hỏi họ đi đâu, họ sẽ nói là đi tìm phước đức. Họ muốn có phước đức nhưng không từ bỏ được thói hư tật xấu. Bằng cách đó, họ sẽ chẳng bao giờ tìm thấy phước đức được.

This is how people are. You have to look closely, look at yourselves. The Buddha taught about having recollection and self- awareness in all situations. Wrongdoing arises in bodily, verbal and mental actions. The source of all good, evil, weal and harm lies with actions, speech and thoughts. Did you bring your actions, speech and thoughts with you today? Or have you left them at home? This is where you must look, right here. You don't have to look very far away. Look at your actions, speech and thoughts. Look to see if your conduct is faulty or not.

Đây là bản chất của con người. Bạn phải nhìn kỹ, nhìn vào chính mình. Đức Phật dạy có chánh niệm và tỉnh giác trong mọi hoàn cảnh. Sai trái phát sinh từ hành động thân, khẩu và ý. Nguồn gốc của mọi điều thiện, điều bất thiện, hạnh phúc và tai hại đều nằm ở hành động, lời nói và sự suy nghĩ. Hôm nay bạn có mang theo hành động, lời nói và suy nghĩ của mình không? Hay bạn đã để chúng ở nhà? Đây là nơi bạn phải nhìn, ngay tại đây. Bạn không cần phải nhìn quá xa. Hãy nhìn vào hành động, lời nói và suy nghĩ của bạn. Hãy xem hành vi của bạn có sai trái hay không.

People don't really look at these things. Like the housewife washing the dishes with a scowl on her face. She's so intent on cleaning the dishes, she doesn't realize her own mind's dirty! Have you ever seen this? She only sees the dishes. She's looking too far away, isn't she? Some of you have probably experienced this, I'd say. This is where you have to look. People concentrate on cleaning the dishes but they let their minds go dirty. This is not good, they're forgetting themselves.

Mọi người thường không để ý đến những điều này. Ví dụ như người nội trợ rửa bát với vẻ mặt cau có. Bà ấy mải mê rửa bát đến nỗi không nhận ra tâm mình đang vẩn đục! Bạn đã từng thấy cảnh này chưa? Bà ấy chỉ nhìn thấy bát đĩa. Bà ấy đang nhìn quá xa vời, phải không? Tôi nghĩ một số người trong các bạn chắc hẳn đã từng trải qua điều này. Đây là lúc bạn cần phải chú ý. Mọi người tập trung vào việc rửa bát nhưng lại để tâm mình vẩn đục. Điều này không tốt, họ đang quên mất chính mình.

Because they don't see themselves people can commit all sorts of bad deeds. They don't look at their own minds. When people are going to do something bad they have to look around first to see if anyone is looking... "Will my mother see me?" "Will my husband see me?" "Will my children see me?" "Will my wife see me?" If there's no-one watching then they go right ahead and do it. This is insulting themselves. They say no-one is watching, so they quickly finish the job before anyone will see. And what about themselves? Aren't they a "somebody"?

Vì không nhìn nhận bản thân, con người có thể phạm đủ loại tội ác. Họ không nhìn vào tâm của chính mình. Khi định làm điều bất thiện, người ta phải nhìn xung quanh xem có ai đang nhìn không... "Mẹ mình có thấy không?" "Chồng mình có thấy không?" "Con mình có thấy không?" "Vợ mình có thấy không?" Nếu không có ai nhìn thì họ cứ thế mà làm. Điều này là tự sỉ nhục chính mình. Họ nói không ai nhìn, nên họ nhanh chóng hoàn thành việc trước khi ai đó phát hiện ra. Còn bản thân họ thì sao? Chẳng phải họ cũng là "ai đó" sao?

You see? Because they overlook themselves like this, people never find what is of real value, they don't find the Dhamma. If you look at yourselves you will see yourselves. Whenever you are about to do something bad, if you see yourself in time you can stop. If you want to do something worthwhile then look at your mind. If you know how to look at yourself then you'll know about right and wrong, harm and benefit, vice and virtue. These are the things we should know about.

Bạn thấy không? Bởi vì họ thường bỏ qua chính mình như vậy, nên họ không bao giờ tìm thấy điều gì thực sự có giá trị, họ không tìm thấy Chánh pháp. Nếu bạn nhìn vào chính mình, bạn sẽ thấy chính mình. Bất cứ khi nào bạn sắp làm điều gì bất thiện, nếu bạn nhìn vào chính mình kịp thời, bạn có thể dừng lại. Nếu bạn muốn làm điều gì đó có ích, hãy nhìn vào tâm của bạn. Nếu bạn biết cách nhìn vào chính mình, bạn sẽ biết điều đúng và điều sai, điều có hại và điều có lợi, điều xấu và điều tốt. Đó là những điều chúng ta nên biết.

If I don't talk of these things you won't know about them. You have greed and delusion in the mind but don't know it. You won't know anything if you are always looking outside. This is the trouble with people not looking at themselves. Looking inwards you will see good and evil. Seeing goodness, we can take it to heart and practice accordingly.

Nếu tôi không nói về những điều này, bạn sẽ không biết đến chúng. Trong tâm bạn có lòng tham và sự si mê nhưng bạn không nhận ra điều đó. Bạn sẽ chẳng biết gì nếu cứ mãi nhìn ra bên ngoài. Đó là vấn đề của những người không chịu nhìn vào bản thân mình. Nhìn vào bên trong, bạn sẽ thấy được thiện và bất thiện. Thấy được điều thiện, ta có thể khắc ghi vào lòng và tu tập theo đó.

Giving up the bad, practicing the good... this is the heart of Buddhism. Sabba papassa akaranam — Not committing any wrongdoing, either through body, speech or mind. That's the right practice, the teaching of the Buddhas. Now "our cloth" is clean.

Không làm điều ác, làm các hạnh lành... đó là cốt lõi của Phật Pháp. Sabba-pāpassa akaranam:— Không phạm bất kỳ điều ác nào, dù bằng thân, khẩu hay ý. Đó là con đường đúng đắn, là giáo giới của chư Phật. Giờ thì "tấm vải" của chúng ta đã sạch.

Then we have kusalassupasampada — making the mind virtuous and skillful. If the mind is virtuous and skillful we don't have to take a bus all over the countryside looking for merit. Even sitting at home we can attain to merit. But most people just go looking for merit all over the countryside without giving up their vices. When they return home it's empty-handed they go, back to their old sour faces. There they are washing the dishes with a sour face, so intent on cleaning the dishes. This is where people don't look, they're far away from merit.

Và rồi chúng ta có làm các hạnh lành (Kusalassu upasampadà), — làm cho tâm trở nên có giới hạnh và khéo léo. Nếu tâm có giới hạnh và khéo léo, chúng ta không cần phải đi khắp nơi tìm phước đức. Ngay cả khi ngồi ở nhà, chúng ta cũng có thể đạt được phước đức. Nhưng hầu hết mọi người lại đi tìm phước đức khắp nơi mà không từ bỏ thói xấu của mình. Khi trở về nhà, họ về tay không, lại trở về với vẻ mặt cau có cũ kỹ. Họ vẫn rửa bát với vẻ mặt cau có, chỉ chăm chăm vào việc rửa bát. Đây là nơi mà mọi người không nhìn tới, họ ở rất xa phước đức.

We may know of these things, but we don't really know if we don't know within our own minds. Buddhism doesn't enter our heart. If our mind is good and virtuous it is happy. There's a smile in our heart. But most of us can hardly find time to smile, can we? We can only manage to smile when things go our way. Most people's happiness depends on having things go to their liking. They have to have everybody in the world say only pleasant things. Is that how you find happiness? Is it possible to have everybody in the world say only pleasant things? If that's how it is when will you ever find happiness?

Chúng ta có thể biết về những điều này, nhưng thực sự chúng ta không biết nếu không hiểu rõ trong chính tâm mình. Phật giáo không đi vào trái tim chúng ta. Nếu tâm ta thiện lành và trì giới, ta sẽ hạnh phúc. Có một nụ cười trong trái tim ta. Nhưng hầu hết chúng ta khó mà tìm được thời gian để mỉm cười, phải không? Chúng ta chỉ có thể mỉm cười khi mọi việc diễn ra theo ý mình. Hạnh phúc của hầu hết mọi người phụ thuộc vào việc mọi việc diễn ra theo ý họ. Họ phải muốn mọi người trên thế giới chỉ nói những điều dễ chịu. Đó có phải là cách bạn tìm thấy hạnh phúc không? Liệu có thể khiến mọi người trên thế giới chỉ nói những điều dễ chịu? Nếu vậy thì bao giờ bạn mới tìm thấy hạnh phúc?

We must use Dhamma to find happiness. Whatever it may be, whether right or wrong, don't blindly cling to it. Just notice it then lay it down. When the mind is at ease then you can smile. The minute you become averse to something the mind goes bad. Then nothing is good at all.

Chúng ta phải dùng Chánh Pháp để tìm kiếm hạnh phúc. Dù là gì đi nữa, dù đúng hay sai, đừng mù quáng bám víu vào nó. Chỉ cần nhận biết nó rồi buông bỏ. Khi tâm thanh thản, bạn có thể mỉm cười. Ngay khi bạn trở nên ác cảm với điều gì đó, tâm sẽ trở nên xấu đi. Khi đó, chẳng có gì tốt đẹp cả.

Sacittapariyodapanam: Having cleared away impurities the mind is free of worries... peaceful, kind and virtuous. When the mind is radiant and has given up evil, there is ease at all times. The serene and peaceful mind is the true epitome of human achievement.

Giữ tâm ý trong sạch (Sacittapariyodapanam): Khi tâm đã được thanh lọc khỏi những tạp niệm, thì sẽ không còn phiền não... trở nên bình an, nhân hậu và giới hạnh. Khi tâm rạng rỡ và đã từ bỏ điều bất thiện, thì sẽ luôn có sự an lạc. Tâm thanh thản và bình an chính là đỉnh cao đích thực sự thành tựu của con người.

When others say things to our liking, we smile. If they say things that displease us we frown. How can we ever get others to say things only to our liking every single day? Is it possible? Even your own children... have they ever said things that displease you? Have you ever upset your parents? Not only other people, but even our own minds can upset us. Sometimes the things we ourselves think of are not pleasant. What can you do? You might be walking along and suddenly kick a tree stump... Thud!..."Ouch!"... Where's the problem? Who kicked who anyway? Who are you going to blame? It's your own fault. Even our own mind can be displeasing to us. If you think about it, you'll see that this is true. Sometimes we do things that even we don't like. All you can say is "Damn!", there's no-one else to blame.

Khi người khác nói những điều làm mình vui lòng, ta mỉm cười. Nếu họ nói những điều làm ta khó chịu, ta cau mày. Làm sao ta có thể khiến người khác chỉ nói những điều làm mình vui lòng mỗi ngày? Điều đó có khả thi không? Ngay cả con cái của bạn... chúng đã bao giờ nói điều gì làm bạn khó chịu chưa? Bạn đã bao giờ làm bố mẹ mình buồn chưa? Không chỉ người khác, mà ngay cả chính suy nghĩ của chúng ta cũng có thể làm chúng ta khó chịu. Đôi khi những điều chúng ta nghĩ đến không hề dễ chịu. Bạn có thể làm gì? Có thể bạn đang đi bộ và đột nhiên đá phải gốc cây... Rầm!... "Ái!"... Vấn đề ở đâu? Ai đá ai vậy? Bạn sẽ đổ lỗi cho ai? Đó là lỗi của chính bạn. Ngay cả suy nghĩ của chúng ta cũng có thể làm chúng ta khó chịu. Nếu bạn suy nghĩ kỹ, bạn sẽ thấy điều này là đúng. Đôi khi chúng ta làm những việc mà ngay cả chính mình cũng không thích. Tất cả những gì bạn có thể nói là "Chết tiệt!", chẳng có ai khác để đổ lỗi.

Merit or boon in Buddhism is giving up that which is wrong. When we abandon wrongness then we are no longer wrong. When there is no stress there is calm. The calm mind is a clean mind, one which harbors no angry thoughts, which is clear.

Trong Phật giáo, Phước đức hay phước lành là từ bỏ làm điều bất thiện. Khi ta từ bỏ điều bất thiện thì ta không còn sai trái nữa. Khi không có phiền não thì sẽ có sự tĩnh lặng. Tâm tĩnh lặng là tâm thanh tịnh, một tâm không chứa đựng những ý nghĩ giận dữ, một tâm minh mẫn.

How can you make the mind clear? Just by knowing it. For example, you might think, "Today I'm in a really bad mood, everything I look at offends me, even the plates in the cupboard." You might feel like smashing them up, every single one of them. Whatever you look at looks bad, the chickens, the ducks, the cats and dogs... you hate them all. Everything your husband says is offensive. Even looking into your own mind you aren't satisfied. What can you do in such a situation? Where does this suffering come from? This is called "having no merit." These days in Thailand they have a saying that when someone dies his merit is finished. But that's not the case. There are plenty of people still alive who've finished their merit already... those people who don't know merit. The bad mind just collects more and more badness.

Làm sao để tâm được thanh tịnh? Đó là bạn chỉ cần nhận biết nó. Ví dụ, bạn có thể nghĩ: "Hôm nay tâm trạng mình tệ quá, nhìn cái gì cũng thấy khó chịu, ngay cả mấy cái đĩa trong tủ cũng vậy." Bạn có thể muốn đập vỡ chúng, từng cái một. Nhìn cái gì cũng thấy xấu, gà, vịt, mèo, chó... bạn ghét hết. Tất cả những lời chồng bạn nói đều khó nghe. Ngay cả khi nhìn vào chính tâm mình, bạn cũng không thấy hài lòng. Trong tình huống như vậy, bạn phải làm gì? Nỗi khổ này đến từ đâu? Đó gọi là "không có phước đức." Dạo này ở Thái Lan có câu nói rằng khi ai đó chết thì phước đức của người đó cũng chấm dứt. Nhưng không phải vậy. Vẫn còn rất nhiều người sống mà phước đức của họ đã chấm dứt rồi... những người không biết đến phước đức. Tâm xấu chỉ tích lũy thêm nhiều điều xấu xa.

Going on these merit-making tours is like building a beautiful house without preparing the area beforehand. In no long time the house will collapse, won't it? The design was no good. Now you have to try again, try a different way. You have to look into yourself, looking at the faults in your actions, speech and thoughts. Where else are you going to practice, other than at your actions, speech and thoughts? People get lost. They want to go and practice Dhamma where it's really peaceful, in the forest or at Wat Ba Pong. Is Wat Ba Pong peaceful? No, it's not really peaceful. Where it's really peaceful is in your own home.

Những chuyến đi hành hương tạo phước đức này giống như xây một ngôi nhà đẹp mà không chuẩn bị nền móng trước. Chẳng mấy chốc ngôi nhà sẽ sụp đổ, phải không? Thiết kế đã không tốt. Giờ bạn phải thử lại, thử một cách khác. Bạn phải tự nhìn vào bản thân, xem xét những lỗi lầm trong hành động, lời nói và suy nghĩ của mình. Bạn còn định tu tập ở đâu khác ngoài hành động, lời nói và suy nghĩ của mình? Mọi người bị lạc lối. Họ muốn đi tu tập Phật pháp ở những nơi thực sự yên bình, trong rừng hoặc ở chùa Wat Ba Pong. Vậy chùa Wat Ba Pong có yên bình không? Không, nó không thực sự yên bình. Nơi thực sự yên bình là ở chính ngôi nhà của bạn.

If you have wisdom wherever you go you will be carefree. The whole world is already just fine as it is. All the trees in the forest are already just fine as they are: there are tall ones, short ones, hollow ones... all kinds. They are simply the way they are. Through ignorance of their true nature we go and enforce our opinions onto them..."Oh, this tree is too short! This tree is hollow!" Those trees are simply trees, they're better off than we are.

Nếu bạn có trí tuệ thì ở bất cứ nơi nào bạn đến, bạn sẽ sống vô tư. Cả thế giới này vốn dĩ đã rất tốt đẹp rồi. Tất cả cây cối trong rừng cũng đều rất tốt đẹp như vốn có: có cây cao, cây thấp, cây rỗng ruột... đủ loại. Chúng đơn giản là như vậy. Vì thiếu hiểu biết về bản chất thực sự của chúng, chúng ta lại áp đặt ý kiến ​​của mình lên chúng... "Ôi, cây này thấp quá! Cây này rỗng ruột!" Những cây đó chỉ đơn giản là cây, chúng tốt hơn chúng ta nhiều.

That's why I've had these little poems written up in the trees here. Let the trees teach you. Have you learned anything from them yet? You should try to learn at least one thing from them. There are so many trees, all with something to teach you. Dhamma is everywhere, in everything in Nature. You should understand this point. Don't go blaming the hole for being too deep... turn around and look at your own arm! If you can see this you will be happy.

Đó là lý do tại sao tôi đã viết những bài thơ nhỏ trên những thân cây ở đây. Hãy để cây cối dạy bạn. Bạn đã học được gì từ chúng chưa? Bạn nên cố gắng học ít nhất một điều từ chúng. Có rất nhiều cây, mỗi cây đều có điều gì đó để dạy bạn. Chánh pháp ở khắp mọi nơi, trong mọi thứ của thiên nhiên. Bạn nên hiểu điều này. Đừng đổ lỗi cho cái hố quá sâu... hãy quay lại và nhìn vào cánh tay của chính mình! Nếu bạn có thể nhìn thấy điều này, bạn sẽ hạnh phúc.

If you make the merit or virtue, preserve it in your mind. that's the best place to keep it. Making merit as you have done today is good, but it's not the best way. Constructing buildings is good, but it's not the best thing. Building your own mind into something good is the best way. This way you will find goodness whether you come here or stay at home. Find this excellence within your mind. Outer structures like this hall here are just like the "bark" of the "tree," they're not the "heartwood."

Nếu bạn làm việc thiện hay một phước báu nào, hãy giữ nó trong tâm. Đó là nơi tốt nhất để cất giữ. Tạo phước đức như bạn đã làm hôm nay là tốt, nhưng không phải là cách tốt nhất. Xây dựng công trình là tốt, nhưng không phải là điều tốt nhất. Xây dựng tâm của chính mình thành điều tốt đẹp mới là cách tốt nhất. Bằng cách này, bạn sẽ tìm thấy điều tốt đẹp dù bạn đến đây hay ở nhà. Hãy tìm kiếm sự phước báu này trong tâm của bạn. Những công trình bên ngoài như hội trường này chỉ giống như "vỏ cây", chứ không phải là "lõi cây".

If you have wisdom, wherever you look there will be Dhamma. If you lack wisdom, then even the good things turn bad. Where does this badness come from? Just from our own minds, that's where. Look how this mind changes. Everything changes. Husband and wife used to get on all right together, they could talk to each other quite happily. But there comes a day when their mood goes bad, everything the spouse says seems offensive. The mind has gone bad, it's changed again. This is how it is.

Nếu bạn có trí tuệ, thì dù nhìn đâu bạn cũng sẽ thấy Chánh pháp. Nếu thiếu trí tuệ, ngay cả những điều tốt đẹp cũng trở nên xấu xa. Sự xấu xa này đến từ đâu? Chính từ tâm của chúng ta mà thôi. Hãy xem tâm thay đổi như thế nào. Mọi thứ đều thay đổi. Vợ chồng trước đây rất hòa thuận, họ có thể nói chuyện với nhau rất vui vẻ. Nhưng rồi có một ngày tâm trạng họ trở nên tồi tệ, mọi điều người bạn đời nói ra đều có vẻ xúc phạm. Tâm đã trở nên xấu đi, nó lại thay đổi. Mọi chuyện là như vậy.

So in order to give up evil and cultivate the good you don't have to go looking anywhere else. If your mind has gone bad, don't go looking over at this person and that person. Just look at your own mind and find out where these thoughts come from. Why does the mind think such things? Understand that all things are transient. Love is transient, hate is transient. Have you ever loved your children? Of course you have. Have you ever hated them? I'll answer that for you, too... Sometimes you do, don't you? Can you throw them away? No, you can't throw them away. Why not? Children aren't like bullets, are they? [2] Bullets are fired outwards, but children are fired right back to the parents. If they're bad it comes back to the parents. You could say children are your kamma. There are good ones and bad ones. Both good and bad are right there in your children. But even the bad ones are precious. One may be born with polio, crippled and deformed, and be even more precious than the others. Whenever you leave home for a while you have to leave a message, "Look after the little one, he's not so strong." You love him even more than the others.

Do đó để từ bỏ cái bất thiện và vun đắp cái thiện, bạn không cần phải tìm kiếm ở bất cứ nơi nào khác. Nếu tâm bạn đã trở nên xấu xa, đừng nhìn sang người này người kia. Chỉ cần nhìn vào tâm của chính bạn và tìm ra nguồn gốc của những phiền não này. Tại sao tâm lại nghĩ những điều như vậy? Hãy hiểu rằng tất cả mọi thứ đều vô thường. Tình yêu là vô thường, hận thù cũng vô thường. Bạn đã bao giờ yêu thương con cái của mình chưa? Tất nhiên là có rồi. Bạn đã bao giờ ghét chúng chưa? Tôi cũng sẽ trả lời câu hỏi đó cho bạn... Đôi khi bạn làm vậy, phải không? Bạn có thể vứt bỏ chúng không? Không, bạn không thể vứt bỏ chúng. Tại sao không? Trẻ em không giống như đạn, phải không? [2] Đạn được bắn ra ngoài, nhưng trẻ em lại được bắn ngược trở lại cha mẹ. Nếu chúng xấu thì nghiệp sẽ quay trở lại cha mẹ. Bạn có thể nói rằng con cái là nghiệp của bạn. Có những đứa con tốt và những đứa con xấu. Cả tốt và xấu đều hiện hữu trong con cái của bạn. Nhưng ngay cả những đứa con xấu cũng quý giá. Một đứa trẻ có thể sinh ra bị bại liệt, tàn tật và dị dạng, nhưng lại càng quý giá hơn những đứa khác. Mỗi khi bạn rời nhà một thời gian, bạn đều phải để lại lời nhắn, "Hãy trông chừng đứa bé, nó không còn khỏe nữa." Bạn yêu thương nó hơn cả những đứa con khác.

You should, then, set your minds well — half love, half hate. Don't take only one or the other, always have both sides in mind. Your children are your kamma, they are appropriate to their owners. They are your kamma, so you must take responsibility for them. If they really give you suffering, just remind yourself, "It's my kamma." If they please you, just remind yourself, "It's my kamma." Sometimes it gets so frustrating at home you must just want to run away. It gets so bad some people even contemplate hanging themselves! It's kamma. We have to accept the fact. Avoid bad actions, then you will be able to see yourself more clearly.

Do vậy, bạn nên giữ tâm mình thật tốt – một nửa yêu thương, một nửa căm ghét. Đừng chỉ chọn một trong hai, hãy luôn cân nhắc cả hai mặt. Con cái là nghiệp của bạn, chúng thuộc về chủ nhân của chúng. Chúng là nghiệp của bạn, vì vậy bạn phải chịu trách nhiệm về chúng. Nếu chúng thực sự gây đau khổ cho bạn, hãy tự nhủ: "Đó là nghiệp của mình." Nếu chúng làm bạn hài lòng, hãy tự nhủ: "Đó là nghiệp của mình." Đôi khi, sự bực bội ở nhà khiến bạn chỉ muốn bỏ chạy. Thậm chí có người còn nghĩ đến việc tự tử! Đó là nghiệp. Chúng ta phải chấp nhận sự thật. Tránh những hành động xấu, bạn sẽ có thể nhìn nhận bản thân mình rõ ràng hơn.

This is why contemplating things is so important. usually when they practice meditation they use a meditation object, such as Bud-dho, Dham-mo or Sang-gho. But you can make it even shorter than this. Whenever you feel annoyed, whenever your mind goes bad, just say "So!" When you feel better just say "So!... It's not a sure thing." If you love someone, just say "So!" When you feel you're getting angry, just say "So!" Do you understand? You don't have to go looking into the Tipitaka. [3] Just "So!" This means "it's transient." Love is transient, hate is transient, good is transient, evil is transient. How could they be permanent? Where is there any permanence in them?

Đây là lý do tại sao sự quán chiếu mọi thứ lại quan trọng đến vậy. Thông thường khi họ tu tập thiền định, họ sử dụng một đối tượng thiền định, chẳng hạn như Bud-đho, Dham-mo hoặc Sang-gho. Nhưng bạn có thể làm cho nó ngắn gọn hơn thế nữa. Bất cứ khi nào bạn cảm thấy khó chịu, bất cứ khi nào tâm bạn trở nên tồi tệ, chỉ cần nói "Thế à!" Khi bạn cảm thấy tốt hơn, chỉ cần nói "Thế à!... Nó không phải là điều chắc chắn." Nếu bạn yêu ai đó, chỉ cần nói "thế à!" Khi bạn cảm thấy mình đang tức giận, chỉ cần nói "thế à!" Bạn hiểu chứ? Bạn không cần phải tìm kiếm trong Kinh Điển Tipitaka. [3] Chỉ cần "thế à!" Điều này có nghĩa là "nó là vô thường." Tình yêu là vô thường, hận thù là vô thường, thiện là vô thường, bất thiện là vô thường. Làm sao chúng có thể vĩnh cửu? Có bất kỳ sự vĩnh cửu nào trong chúng không?

You could say that they are permanent insofar as they are invariably impermanent. They are certain in this respect, they never become otherwise. One minute there's love, the next hate. That's how things are. In this sense they are permanent. That's why I say whenever love arises, just tell it "So!" It saves a lot of time. You don't have to say "Aniccam, dukkham, anatta." If you don't want a long meditation theme, just take this simple word... If love arises, before you get really lost in it, just tell yourself "So!" This is enough.

Bạn có thể nói rằng chúng trường tồn ở chỗ chúng luôn luôn bất biến. Chúng chắc chắn ở khía cạnh này, chúng không bao giờ thay đổi. Phút trước còn yêu, phút sau đã là hận thù. Mọi thứ là như vậy. Theo nghĩa này, chúng trường tồn. Đó là lý do tại sao tôi nói rằng bất cứ khi nào tình yêu nảy sinh, chỉ cần nói với nó "Thế à!". Điều đó tiết kiệm rất nhiều thời gian. Bạn không cần phải nói "Vô thường, khổ đau, vô ngã" (Aniccam, dukkham, anatta)." Nếu bạn không muốn một chủ đề thiền định dài dòng, chỉ cần dùng từ đơn giản này... Nếu tình yêu nảy sinh, trước khi bạn thực sự lạc lối trong nó, chỉ cần nói với chính mình "Thế à!". Thế là đủ.

Everything is transient, and it's permanent in that it's invariably that way. Just to see this much is to see the heart of the Dhamma, the True Dhamma.

Mọi thứ đều thoáng qua, nhưng cũng vĩnh hằng ở chỗ nó không bao giờ là như vậy. Chỉ cần nhận ra điều này thôi cũng đã thấy được cốt lõi của Pháp, là Chánh Pháp.

Now if everybody said "So!" more often, and applied themselves to training like this, clinging would become less and less. People would not be so stuck on love and hate. They would not cling to things. They would put their trust in the truth, not with other things. Just to know this much is enough, what else do you need to know?

Nếu mọi người thường xuyên nói "Thế À!" và chuyên tâm rèn luyện như thế này, thì sự bám chấp sẽ ngày càng giảm đi. Mọi người sẽ không còn bị mắc kẹt trong tình yêu và thù hận. Họ sẽ không bám víu vào vật chất. Họ sẽ đặt niềm tin vào chân lý, chứ không phải vào những thứ khác. Chỉ cần biết điều này thôi là đủ rồi, bạn còn cần biết thêm gì nữa?

Having heard the teaching, you should try to remember it also. What should you remember? Meditate... Do you understand? If you understand, the Dhamma clicks with you, the mind will stop. If there is anger in the mind, just "So!"... and that's enough, it stops straight away. If you don't yet understand then look deeply into the matter. If there is understanding, when anger arises in the mind you can just shut it off with "So! It's impermanent!"

Được nghe Phật Pháp, bạn cũng nên cố gắng ghi nhớ. Bạn nên ghi nhớ điều gì? Thiền định... Bạn có hiểu không? Nếu bạn hiểu, Phật pháp sẽ thấm nhuần vào bạn, tâm sẽ ngừng lại. Nếu trong tâm có giận dữ, chỉ cần "Thế À!"... và thế là đủ, nó sẽ lập tức biến mất. Nếu bạn vẫn chưa hiểu thì hãy suy ngẫm sâu sắc vấn đề. Nếu đã hiểu, khi giận dữ nảy sinh trong tâm, bạn chỉ cần dập tắt nó bằng câu "Vâng! Nó vô thường!"

Today you have had a chance to record the Dhamma both inwardly and outwardly. Inwardly, the sound enters through the ears to be recorded in the mind. If you can't do this much it's not so good, your time at Wat Ba Pong will be wasted. Record it outwardly, and record it inwardly. This tape recorder here is not so important. The really important thing is the "recorder" in the mind. The tape recorder is perishable, but if the Dhamma really reaches the mind it's imperishable, it's there for good. And you don't have to waste money on batteries.

Hôm nay bạn đã có cơ hội ghi nhận Phật pháp cả bên trong lẫn bên ngoài. Bên trong, âm thanh đi vào qua tai để được ghi lại trong tâm. Nếu bạn không làm được điều này thì không tốt, thời gian của bạn ở Wat Ba Pong sẽ bị lãng phí. Hãy ghi nhận nó bên ngoài, và ghi nhận nó bên trong. Chiếc máy ghi âm này không quan trọng lắm. Điều thực sự quan trọng là "máy ghi âm" trong tâm của bạn. Máy ghi âm có thể hỏng, nhưng nếu Phật pháp thực sự đến được tâm thì nó bất diệt, nó sẽ ở đó mãi mãi. Và bạn không cần phải tốn tiền mua pin.

This Rains Retreat I don't have much strength, I'm not well, so I've come up to this mountain here to get some fresh air. People come to visit but I can't really receive them like I used to because my voice is just about had it, my breath is just about gone. You can count it a blessing that there is still this body sitting here for you all to see now. This is a blessing in itself. Soon you won't see it. The breath will be finished, the voice will be gone. They will fare in accordance with supporting factors, like all compounded things. The Lord Buddha called it khaya vayam, the decline and dissolution of all conditioned phenomena.

Mùa An cư kiết hạ này, tôi không còn nhiều sức lực, sức khỏe không tốt, nên tôi lên núi này để hít thở không khí trong lành. Mọi người đến thăm nhưng tôi không thể tiếp đón họ như trước nữa vì giọng nói của tôi gần như đã mất, hơi thở cũng gần như cạn kiệt. Các bạn có thể coi đó là một phước lành khi thân thể này vẫn còn hiện hữu để các bạn nhìn thấy. Bản thân điều đó đã là một phước lành rồi. Chẳng bao lâu nữa các bạn sẽ không còn thấy nó nữa. Hơi thở sẽ cạn kiệt, giọng nói sẽ mất đi. Chúng sẽ ra đi theo các yếu tố hỗ trợ, giống như tất cả những thứ được cấu thành từ các yếu tố khác. Đức Phật gọi đó là khaya vayam, khaya-vayam—sự tàn hoại và tan rã của tất cả mọi thứ hữu vi

How do they decline? Consider a lump of ice. Originally it was simply water... they freeze it and it becomes ice. But it doesn't take long before it's melted. Take a big lump of ice, say as big as this tape recorder here, and leave it out in the sun. You can see how it declines, much the same as the body. It will gradually disintegrate. In not many hours or minutes all that's left is a puddle of water. This is called khaya vayam, the decline and dissolution of all compounded things. It's been this way for a long time now, ever since the beginning of time. When we are born we bring this inherent nature into the world with us, we can't avoid it. At birth we bring old age, sickness and death along with us.

Chúng phân rã như thế nào? Hãy xem xét một tảng băng. Ban đầu nó chỉ đơn giản là nước... người ta để lạnh cho nó đóng băng lại và nó trở thành băng. Nhưng không mất nhiều thời gian trước khi nó tan chảy. Lấy một tảng băng lớn, chẳng hạn như lớn bằng chiếc máy ghi âm này, và để nó ngoài nắng. Bạn có thể thấy nó phân rã như thế nào, cũng giống như cơ thể con người. Nó sẽ dần dần tan rã. Chỉ trong vài giờ hoặc vài phút, tất cả những gì còn lại là một vũng nước. Điều này được gọi là khaya vayam, sự tàn hoại và tan rã của tất cả mọi thứ hữu vi. Nó đã như vậy từ rất lâu rồi, kể từ thuở ban đầu của thời gian. Khi chúng ta sinh ra, chúng ta mang theo bản chất vốn có này vào thế giới, chúng ta không thể tránh khỏi nó. Khi sinh ra, chúng ta mang theo tuổi già, bệnh tật và cái chết.

So this is why the Buddha said khaya vayam, the decline and dissolution of all compounded things. All of us sitting here in this hall now, monks, novices, laymen and laywomen, are without exception "lumps of deterioration." Right now the lump is hard, just like the lump of ice. It starts out as water, becomes ice for a while and then melts again. Can you see this decline in yourself? Look at this body. It's aging every day... hair is aging, nails are aging... everything is aging!

Vậy nên Đức Phật đã nói về khaya vayam, sự tàn hoại và tan rã của tất cả mọi thứ hữu vi. Tất cả chúng ta đang ngồi đây trong hội trường này, các vị sư, các vị sadi, cư sĩ nam và cư sĩ nữ, không ngoại lệ đều là "những khối suy tàn". Ngay bây giờ khối đó cứng lại, giống như một tảng băng. Nó bắt đầu là nước, đóng băng một thời gian rồi lại tan chảy. Bạn có thấy sự suy tàn này trong chính mình không? Hãy nhìn vào thân thể này. Nó đang già đi mỗi ngày... tóc già đi, móng tay già đi... mọi thứ đều đang già đi!

You weren't like this before, were you? You were probably much smaller than this. Now you've grown up and matured. From now on you will decline, following the way of nature. The body declines just like the lump of ice. Soon, just like the lump of ice, it's all gone. All bodies are composed of the four elements of earth, water, wind and fire. A body is the confluence of earth, water, wind, and fire, which we proceed to call a person. Originally it's hard to say what you could call it, but now we call it a "person." We get infatuated with it, saying it's a male, a female, giving it names, Mr., Mrs., and so on, so that we can identify each other more easily. But actually there isn't anybody there. There's earth, water, wind and fire. When they come together in this known form we call the result a "person." Now don't get excited over it. If you really look into it there isn't anyone there.

Trước kia bạn không như thế này, phải không? Có lẽ bạn nhỏ hơn nhiều so với bây giờ. Giờ bạn đã lớn lên và trưởng thành. Từ giờ trở đi, bạn sẽ suy yếu dần, theo quy luật tự nhiên. Cơ thể suy yếu giống như tảng băng. Chẳng mấy chốc, cũng giống như tảng băng, nó sẽ biến mất hoàn toàn. Mọi cơ thể đều được cấu tạo từ bốn yếu tố đất, nước, gió và lửa. Cơ thể là sự kết hợp của đất, nước, gió và lửa, mà chúng ta gọi là con người. Ban đầu, thật khó để nói bạn có thể gọi nó là gì, nhưng bây giờ chúng ta gọi nó là "con người". Chúng ta bị mê hoặc bởi nó, nói rằng nó là nam, nữ, đặt cho nó những cái tên, ông, bà, vân vân, để chúng ta có thể dễ dàng nhận ra nhau hơn. Nhưng thực ra không có ai ở đó cả. Chỉ có đất, nước, gió và lửa. Khi chúng kết hợp lại với nhau trong hình dạng quen thuộc này, chúng ta gọi kết quả là "con người". Đừng quá phấn khích về điều đó. Nếu bạn thực sự nhìn vào nó, thì không có ai ở đó cả.

That which is solid in the body, the flesh, skin, bones and so on, are called the earth element. Those aspects of the body which are liquid are the water element. The faculty of warmth in the body is the fire element, while the winds coursing through the body are the wind element.

Những phần rắn chắc trong cơ thể, như thịt, da, xương, v.v., được gọi là yếu tố đất. Những phần lỏng trong cơ thể được gọi là yếu tố nước. Khả năng tạo ra hơi ấm trong cơ thể là yếu tố lửa, trong khi gió lưu thông trong cơ thể là yếu tố gió.

At Wat Ba Pong we have a body which is neither male or female. It's the skeleton hanging in the main hall. Looking at it you don't get the feeling that it's a man or a woman. People ask each other whether it's a man or a woman and all they can do is look blankly at each other. It's only a skeleton, all the skin and flesh are gone.

Tại chùa Wat Ba Pong, chúng tôi có một thi thể không phải nam cũng không phải nữ. Đó là bộ xương treo trong chính điện. Nhìn vào nó, bạn không có cảm giác đó là đàn ông hay phụ nữ. Mọi người hỏi nhau xem đó là đàn ông hay phụ nữ và tất cả những gì họ có thể làm là nhìn nhau ngơ ngác. Đó chỉ là một bộ xương, toàn bộ da thịt đã biến mất.

People are ignorant of these things. Some go to Wat Ba Pong, into the main hall, see the skeletons... and then come running right out again! They can't bear to look. They're afraid, afraid of the skeletons. I figure these people have never seen themselves before. Afraid of the skeletons... they don't reflect on the great value of a skeleton. To get to the monastery they had to ride in a car or walk... if they didn't have bones how would they be? Would they be able to walk about like that? But they ride their cars to Wat Ba Pong, go into the main hall, see the skeletons and run straight back out again! They've never seen such a thing before. They're born with it and yet they've never seen it. It's very fortunate that they have a chance to see it now. Even older people see the skeletons and get scared... What's all the fuss about? This shows that they're not at all in touch with themselves, they don't really know themselves. Maybe they go home and still can't sleep for three or four days... and yet they're sleeping with a skeleton! They get dressed with it, eat food with it, do everything with it... and yet they're scared of it.

Mọi người thật thiếu hiểu biết về những điều này. Có người đến chùa Wat Ba Pong, vào chính điện, nhìn thấy những bộ xương... rồi lại chạy ra ngay! Họ không chịu nổi khi nhìn. Họ sợ hãi, sợ những bộ xương. Tôi nghĩ những người này chưa bao giờ nhìn thấy chính mình. Sợ những bộ xương... họ không suy ngẫm về giá trị to lớn của một bộ xương. Để đến được chùa, họ phải đi xe hoặc đi bộ... nếu không có xương thì họ sẽ như thế nào? Liệu họ có thể đi lại như vậy không? Nhưng họ lại lái xe đến chùa Wat Ba Pong, vào chính điện, nhìn thấy những bộ xương rồi lại chạy thẳng ra ngoài! Họ chưa bao giờ nhìn thấy thứ như vậy trước đây. Họ sinh ra đã có nó nhưng chưa bao giờ nhìn thấy. Thật may mắn là bây giờ họ có cơ hội được nhìn thấy. Ngay cả những người lớn tuổi nhìn thấy những bộ xương cũng sợ hãi... Có gì mà phải làm ầm ĩ thế? Điều này cho thấy họ hoàn toàn không kết nối với chính mình, họ không thực sự hiểu bản thân. Có lẽ họ về nhà và vẫn không ngủ được ba bốn ngày... dù họ đang ngủ với một bộ xương! Họ mặc quần áo với nó, ăn uống với nó, làm mọi thứ với nó... vậy mà họ vẫn sợ nó.

This shows how out of touch people are with themselves. How pitiful! They're always looking outwards, at trees, at other people, at external objects, saying "this one is big," "that's small," "that's short," "that's long." They're so busy looking at other things they never see themselves. To be honest, people are really pitiful. They have no refuge.

Điều này cho thấy con người xa rời bản thân mình đến mức nào. Thật đáng thương! Họ luôn nhìn ra bên ngoài, nhìn cây cối, nhìn người khác, nhìn vật thể bên ngoài, và nói "cái này to", "cái kia nhỏ", "cái kia ngắn", "cái kia dài". Họ quá bận rộn nhìn những thứ khác mà không bao giờ nhìn thấy chính mình. Thành thật mà nói, con người thật đáng thương. Họ không có nơi nương tựa.

In the ordination ceremonies the ordinees must learn the five basic meditation themes: kesa, head hair; loma, body hair; nakha, nails; danta, teeth; taco, skin. Some of the students and educated people snigger to themselves when they hear this part of the ordination ceremony..."What's the Ajahn trying to teach us here? Teaching us about hair when we've had it for ages. He doesn't have to teach us about this, we know it already. Why bother teaching us something we already know?" Dim people are like this, they think they can see the hair already. I tell them that when I say to "see the hair" I mean to see it as it really is. See body hair as it really is, see nails, teeth and skin as they really are. That's what I call "seeing" — not seeing in a superficial way, but seeing in accordance with the truth. We wouldn't be so sunk up to the ears in things if we could see things as they really are. Hair, nails, teeth, skin... what are they really like? Are they pretty? Are they clean? Do they have any real substance? Are they stable? No... there's nothing to them. They're not pretty but we imagine them to be so. They're not substantial but we imagine them to be so.

Trong nghi lễ thọ giới, các vị tu sinh phải học năm chủ đề thiền định căn bản: kesa (tóc), loma (lông trên cơ thể), nakha (móng tay), danta (răng), và taco (da). Một số tăng sinh và người có học thức cười khi nghe phần này của nghi lễ thọ giới… “Sư phụ đang cố dạy chúng ta điều gì vậy? Dạy chúng ta về tóc trong khi chúng ta đã có nó từ lâu rồi. Sư phụ không cần phải dạy chúng ta điều này, chúng ta đã biết rồi. Tại sao phải dạy chúng ta điều mà chúng ta đã biết?” Những người kém hiểu biết thường như vậy, họ nghĩ rằng họ đã có thể nhìn thấy tóc rồi. Tôi nói với họ rằng khi tôi nói “nhìn thấy tóc”, ý tôi là nhìn thấy nó như nó vốn có. Nhìn thấy lông trên cơ thể như nó vốn có, nhìn thấy móng tay, răng và da như chúng vốn có. Đó là điều tôi gọi là “nhìn thấy” – không phải nhìn thấy một cách hời hợt, mà là nhìn thấy phù hợp với sự thật. Chúng ta sẽ không bị chìm đắm trong những điều tầm thường nếu chúng ta có thể nhìn thấy mọi thứ như chúng vốn có. Tóc, móng tay, răng, da… chúng thực sự như thế nào? Chúng có đẹp không? Chúng có sạch sẽ không? Chúng có thực chất gì không? Chúng có ổn định không? Không... chúng chẳng có gì cả. Chúng không đẹp đẽ gì nhưng chúng ta lại tưởng tượng chúng đẹp. Chúng không có thực chất nhưng chúng ta lại ảo tưởng chúng có thực chất.

Hair, nails, teeth, skin... people are really hooked on these things. The Buddha established these things as the basic themes for meditation, he taught us to know these things. They are Transient, Imperfect and Ownerless; they are not "me" or "them." We are born with and deluded by these things, but really they are foul. Suppose we didn't bathe for a week, could we bear to be close to each other? We'd really smell bad. When people sweat a lot, such as when a lot of people are working hard together, the smell is awful. We go back home and rub ourselves down with soap and water and the smell abates somewhat, the fragrance of the soap replaces it. Rubbing soap on the body may make it seem fragrant, but actually the bad smell of the body is still there, temporarily suppressed. When the smell of the soap is gone the smell of the body comes back again.

Tóc, móng tay, răng, da... con người thực sự bị ám ảnh bởi những thứ này. Đức Phật đã thiết lập những điều này như những chủ đề cơ bản cho thiền định, Ngài dạy chúng ta nhận biết những điều này. Chúng là Vô thường, Không hoàn hảo và Vô chủ; chúng không phải là "tôi" hay "chúng". Chúng ta sinh ra đã có và bị mê hoặc bởi những điều này, nhưng thực sự chúng rất bất tịnh. Giả sử chúng ta không tắm rửa trong một tuần, liệu chúng ta có chịu được khi ở gần nhau không? Chúng ta sẽ thực sự bốc mùi khó chịu. Khi mọi người đổ mồ hôi nhiều, chẳng hạn như khi nhiều người cùng làm việc vất vả, mùi rất kinh khủng. Chúng ta về nhà và chà xát cơ thể bằng xà phòng và nước, mùi hôi giảm bớt phần nào, mùi thơm của xà phòng thay thế nó. Chà xà phòng lên cơ thể có thể khiến nó có vẻ thơm, nhưng thực chất mùi hôi của cơ thể vẫn còn đó, chỉ tạm thời bị át đi. Khi mùi xà phòng biến mất, mùi hôi của cơ thể lại quay trở lại.

Now we tend to think these bodies are pretty, delightful, long lasting and strong. We tend to think that we will never age, get sick or die. We are charmed and fooled by the body, and so we are ignorant of the true refuge within ourselves. The true place of refuge is the mind. The mind is our true refuge. This hall here may be pretty big but it can't be a true refuge. Pigeons take shelter here, geckos take shelter here, lizards take shelter here... We may think the hall belongs to us but it doesn't. We live here together with everything else. This is only a temporary shelter, soon we must leave it. People take these shelters for refuge.

Chúng ta ngày nay thường nghĩ rằng cơ thể mình đẹp đẽ, dễ chịu, trường thọ và khỏe mạnh. Chúng ta thường nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ già đi, ốm đau hay chết. Chúng ta bị quyến rũ và đánh lừa bởi cơ thể, và vì vậy chúng ta không biết đến nơi nương náu thực sự bên trong chính mình. Nơi nương náu thực sự là tâm. Tâm là nơi nương náu đích thực của chúng ta. Căn phòng này có thể khá rộng nhưng nó không thể là nơi nương náu thực sự. Chim bồ câu trú ẩn ở đây, tắc kè trú ẩn ở đây, thằn lằn trú ẩn ở đây... Chúng ta có thể nghĩ rằng căn phòng này thuộc về mình nhưng không phải vậy. Chúng ta sống ở đây cùng với mọi thứ khác. Đây chỉ là nơi trú ẩn tạm thời, chẳng bao lâu nữa chúng ta phải rời bỏ nó. Mọi người tìm đến những nơi trú ẩn này để nương náu.

So the Buddha said to find your refuge. That means to find your real heart. This heart is very important. People don't usually look at important things, they spend most of their time looking at unimportant things. For example, when they do the house cleaning they may be bent on cleaning up the house, washing the dishes and so on, but they fail to notice their own hearts. Their heart may be rotten, they may be feeling angry, washing the dishes with a sour expression on their face. That their own hearts are not very clean they fail to see. This is what I call "taking a temporary shelter for a refuge." They beautify house and home but they don't think of beautifying their own hearts. They don't examine suffering. The heart is the important thing. The Buddha taught to find a refuge within your own heart: Attahi attano natho — "Make yourself a refuge unto yourself." Who else can be your refuge? The true refuge is the heart, nothing else. You may try to depend on other things but they aren't a sure thing. You can only really depend on other things if you already have a refuge within yourself. You must have your own refuge first before you can depend on anything else, be it a teacher, family, friends or relatives.

Đức Phật dạy rằng hãy tìm nơi nương tựa của mình. Điều đó có nghĩa là tìm thấy tâm chân thật của bạn. Tâm này rất quan trọng. Mọi người thường không để ý đến những điều quan trọng, họ dành phần lớn thời gian nhìn vào những điều không quan trọng. Ví dụ, khi dọn dẹp nhà cửa, họ có thể chỉ chăm chăm vào việc dọn dẹp, rửa bát đĩa, v.v., nhưng lại không nhận ra tâm mình. Tâm họ có thể mục nát, họ có thể cảm thấy tức giận, rửa bát với vẻ mặt cau có. Họ không nhận ra rằng tâm mình không được trong sạch. Đây là điều tôi gọi là "tìm nơi nương tựa tạm thời". Họ làm đẹp nhà cửa nhưng không nghĩ đến việc làm đẹp tâm mình. Họ không xem xét đến sự khổ đau. Tâm mới là điều quan trọng. Đức Phật dạy rằng hãy tìm nơi nương tựa trong chính tâm mình: Attahi attano natho — "chính mình làm nơi nương tựa của mình". Ai khác có thể là nơi nương tựa của bạn? Nơi nương tựa đích thực là tâm, không gì khác. Bạn có thể cố gắng dựa vào những thứ khác nhưng chúng không phải là điều chắc chắn. Bạn chỉ thực sự có thể dựa vào những thứ khác nếu bạn đã có một chỗ dựa vững chắc trong chính bản thân mình. Bạn phải có chỗ dựa của riêng mình trước khi có thể dựa vào bất cứ điều gì khác, cho dù đó là thầy cô giáo, gia đình, bạn bè hay người thân.

So all of you, both laypeople and homeless ones who have come to visit today, please consider this teaching. Ask yourselves, "Who am I? Why am I here?" Ask yourselves, "Why was I born?" Some people don't know. They want to be happy but the suffering never stops. Rich or poor, young or old, they suffer just the same. It's all suffering. And why? Because they have no wisdom. The poor are unhappy because they don't have enough, and the rich are unhappy because they have too much to look after.

Do vậy tất cả các bạn, những người cư sĩ lẫn những người xuất gia đến thăm hôm nay, xin hãy suy ngẫm về lời dạy này. Hãy tự hỏi mình: "Tôi là ai? Tại sao tôi lại ở đây?" Hãy tự hỏi mình: "Tại sao tôi được sinh ra?" Có những người không biết. Họ muốn được hạnh phúc nhưng khổ đau không bao giờ chấm dứt. Giàu hay nghèo, trẻ hay già, họ đều đau khổ như nhau. Tất cả đều là khổ đau. Và tại sao? Bởi vì họ không có trí tuệ. Người nghèo bất hạnh vì họ không có đủ, và người giàu bất hạnh vì họ có quá nhiều thứ để lo toan.

In the past, as a young novice, I gave a Dhamma discourse. I talked about the happiness of wealth and possessions, having servants and so on... A hundred male servants, a hundred female servants, a hundred elephants, a hundred cows, a hundred buffaloes... a hundred of everything! The laypeople really lapped it up. But can you imagine looking after a hundred buffaloes? Or a hundred cows, a hundred male and female servants... can you imagine having to look after all of that? Would that be fun? People don't consider this side of things. They have the desire to possess... to have the cows, the buffaloes, the servants... hundreds of them. But I say fifty buffaloes would be too much. Just twining the rope for all those brutes would be too much already! But people don't consider this, they only think of the pleasure of acquiring. They don't consider the trouble involved.

Trong quá khứ, khi còn là một sadi, tôi đã thuyết pháp. Tôi nói về hạnh phúc của sự giàu có và sở hữu tài sản, có người hầu và vân vân… Một trăm người hầu nam, một trăm người hầu nữ, một trăm con voi, một trăm con bò, một trăm con trâu… một trăm của mọi thứ! Cư sĩ thực sự rất thích thú. Nhưng bạn có thể tưởng tượng việc chăm sóc một trăm con trâu không? Hay một trăm con bò, một trăm người hầu nam nữ… bạn có thể tưởng tượng phải chăm sóc tất cả những thứ đó không? Liệu điều đó có vui vẻ không? Mọi người không nghĩ đến khía cạnh này. Họ ham muốn sở hữu… có bò, trâu, người hầu… hàng trăm thứ. Nhưng tôi nói năm mươi con trâu cũng là quá nhiều. Chỉ riêng việc buộc dây cho tất cả những con vật đó thôi đã là quá sức rồi! Nhưng mọi người không nghĩ đến điều này, họ chỉ nghĩ đến niềm vui của việc sở hữu. Họ không nghĩ đến những khó khăn liên quan. ^

If we don't have wisdom everything round us will be a source of suffering. If we are wise these things will lead us out of suffering. Eyes, ears, nose, tongue, body and mind... Eyes aren't necessarily good things, you know. If you are in a bad mood just seeing other people can make you angry and make you lose sleep. Or you can fall in love with others. Love is suffering, too, if you don't get what you want. Love and hate are both suffering, because of desire. Wanting is suffering, wanting not to have is suffering. Wanting to acquire things... even if you get them it's still suffering because you're afraid you'll lose them. There's only suffering. How are you going to live with that? You may have a large, luxurious house, but if your heart isn't good it never really works out as you expected.

Nếu chúng ta không có trí tuệ, mọi thứ xung quanh ta sẽ là nguồn gốc của khổ đau. Nếu ta có trí tuệ, những điều này sẽ dẫn ta thoát khỏi khổ đau. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và tâm... Mắt không nhất thiết là điều tốt, bạn biết đấy. Nếu bạn đang trong tâm trạng tồi tệ, chỉ cần nhìn thấy người khác cũng có thể khiến bạn tức giận và mất ngủ. Hoặc bạn có thể yêu người khác. Tình yêu cũng là khổ đau, nếu bạn không đạt được điều mình muốn. Tình yêu và hận thù đều là khổ đau, bởi vì ham muốn. Ham muốn là khổ đau, ham muốn không được thỏa mãn cũng là khổ đau. Ham muốn sở hữu mọi thứ... ngay cả khi bạn có được chúng, đó vẫn là khổ đau vì bạn sợ sẽ mất chúng. Chỉ có khổ đau mà thôi. Làm sao bạn có thể sống với điều đó? Bạn có thể có một ngôi nhà lớn, sang trọng, nhưng nếu tâm bạn không tốt thì mọi chuyện sẽ không bao giờ diễn ra như bạn mong đợi.

Therefore, you should all take a look at yourselves. Why were we born? Do we ever really attain anything in this life? In the countryside here people start planting rice right from childhood. When they reach seventeen or eighteen they rush off and get married, afraid they won't have enough time to make their fortunes. They start working from an early age thinking they'll get rich that way. They plant rice until they're seventy or eighty or even ninety years old. I ask them. "From the day you were born you've been working. Now it's almost time to go, what are you going to take with you?" They don't know what to say. All they can say is, "Beats me!" We have a saying in these parts, "Don't tarry picking berries along the way... before you know it, night falls." Just because of this "Beats me!" They're neither here nor there, content with just a "beats me"... sitting among the branches of the berry tree, gorging themselves with berries... "Beats me, beats me..."

Vì vậy, tất cả các bạn nên tự nhìn lại bản thân mình. Tại sao chúng ta được sinh ra? Liệu chúng ta có thực sự đạt được điều gì trong cuộc đời này? Ở vùng quê này, người ta bắt đầu trồng lúa từ khi còn nhỏ. Khi mười bảy hay mười tám tuổi, họ vội vã đi lấy chồng, sợ rằng sẽ không đủ thời gian để làm giàu. Họ bắt đầu làm việc từ rất sớm với suy nghĩ rằng bằng cách đó họ sẽ giàu lên. Họ trồng lúa cho đến khi bảy mươi, tám mươi, thậm chí chín mươi tuổi. Tôi hỏi họ: "Từ khi sinh ra, các bạn đã làm việc. Bây giờ gần đến lúc ra đi, các bạn sẽ mang theo gì?" Họ không biết phải nói gì. Tất cả những gì họ có thể nói là: "Tôi chịu!" Chúng tôi có câu tục ngữ ở vùng này: "Đừng nán lại hái quả mọng dọc đường... trước khi bạn kịp nhận ra, đêm đã buông xuống." Chỉ vì câu nói "Tôi chịu!" này mà họ chẳng biết phải nói gì, chỉ hài lòng với một câu "Tôi chịu"... ngồi giữa những cành cây mọng, ăn ngấu nghiến quả mọng... "Tôi chịu, tôi chịu..."

When you're still young you think that being single is not so good, you feel a bit lonely. So you find a partner to live with. Put two together and there's friction! Living alone is too quiet, but living with others there's friction.

Khi còn trẻ, bạn nghĩ rằng cuộc sống độc thân không vui, bạn cảm thấy có một chút cô đơn. Vì vậy, bạn tìm một người để sống chung. Hai người sống chung với nhau thì lại nảy sinh mâu thuẫn! Sống một mình thì quá tĩnh lặng, nhưng sống chung với người khác lại dễ xảy ra xung đột.

When children are small the parents think, "When they get bigger we'll be better off." They raise their children, three, four, or five of them, thinking that when the children are grown up their burden will be lighter. But when the children grow up they get even heavier. Like two pieces of wood, one big and one small. You throw away the small one and take the bigger one, thinking it will be lighter, but of course it's not. When children are small they don't bother you very much, just a ball of rice and a banana now and then. When they grow up they want a motorcycle or a car! Well, you love your children, you can't refuse. So you try to give them what they want. Problems... Sometimes the parents get into arguments over it..."Don't go and buy him a car, we haven't got enough money!" But when you love your children you've got to borrow the money from somewhere. Maybe the parents even have to go without to get the things their children want. Then there's education. "When they've finished their studies, we'll be right." There's no end to the studying! What are they going to finish? Only in the science of Buddhism is there a point of completion, all the other sciences just go round in circles. In the end it's real headache. If there's a house with four or five children in it the parents argue every day.

Khi con cái còn nhỏ cha mẹ thường nghĩ: "Khi chúng lớn lên, cuộc sống sẽ tốt hơn." Họ nuôi nấng ba, bốn, hoặc năm đứa con, với suy nghĩ rằng khi con cái trưởng thành, gánh nặng của họ sẽ nhẹ hơn. Nhưng khi con cái lớn lên, chúng lại càng nặng nề hơn. Giống như hai khúc gỗ, một to một nhỏ. Bạn vứt bỏ khúc gỗ nhỏ và lấy khúc gỗ lớn hơn, nghĩ rằng nó sẽ nhẹ hơn, nhưng tất nhiên là không phải vậy. Khi con cái còn nhỏ, chúng không làm phiền bạn nhiều, chỉ cần một nắm cơm và thỉnh thoảng cho một quả chuối. Khi chúng lớn lên, chúng muốn một chiếc xe máy hoặc một chiếc ô tô! Chà, bạn yêu con cái, bạn không thể từ chối. Vì vậy, bạn cố gắng cho chúng những gì chúng muốn. Vấn đề... Đôi khi cha mẹ cãi nhau về chuyện này... "Đừng đi mua ô tô cho nó, chúng ta không đủ tiền!" Nhưng khi bạn yêu con cái, bạn phải vay tiền từ đâu đó. Có thể cha mẹ thậm chí phải thiếu thốn để mua những thứ con cái muốn. Rồi còn chuyện giáo dục nữa. "Khi chúng học xong, cuộc sống sẽ ổn thôi." Việc học hành dường như không bao giờ kết thúc! Họ sẽ học xong cái gì đây? Chỉ có khoa học Phật giáo mới có điểm hoàn thiện, còn tất cả các ngành khoa học khác chỉ xoay vòng vòng. Cuối cùng thì thật là đau đầu. Nếu trong một gia đình có bốn hoặc năm đứa con, bố mẹ sẽ cãi nhau mỗi ngày.

The suffering that is waiting in the future we fail to see, we think it will never happen. When it happens, then we know. that kind of suffering, the suffering inherent in our bodies, is hard to foresee. When I was a child minding the buffaloes I'd take charcoal and rub it on my teeth to make them white. I'd go back home and look in the mirror and see them so nice and white... I was getting fooled by my own bones, that's all. When I reached fifty or sixty my teeth started to get loose. When the teeth start falling out it hurts so much, when you eat it feels as if you've been kicked in the mouth. It really hurts. I've been through this one already. So I just got the dentist to take them all out. Now I've got false teeth. My real teeth were giving me so much trouble I just had them all taken out, sixteen in one go. The dentist was reluctant to take out sixteen teeth at once, but I said to him, "Just take them out, I'll take the consequences." So he took them all out at once. Some were still good, too, at least five of them. Took them all out. But it was really touch and go. After having them out I couldn't eat any food for two or three days.

Chúng ta không nhìn thấy nỗi đau đang chờ đợi chúng ta trong tương lai, chúng ta nghĩ rằng nó sẽ không bao giờ xảy ra. Khi nó xảy ra, lúc đó chúng ta mới biết. Loại đau khổ đó, nỗi đau khổ vốn có trong cơ thể chúng ta, rất khó lường trước. Khi còn nhỏ, chăn trâu, tôi thường lấy than củi chà lên răng để làm trắng răng. Tôi về nhà soi gương và thấy răng mình trắng đẹp… Tôi bị chính xương của mình đánh lừa, chỉ vậy thôi. Khi tôi năm mươi hay sáu mươi tuổi, răng tôi bắt đầu lung lay. Khi răng bắt đầu rụng, nó đau kinh khủng, khi ăn cảm giác như bị đá vào miệng. Thật sự rất đau. Tôi đã trải qua chuyện này rồi. Vì vậy, tôi đã nhờ nha sĩ nhổ hết chúng. Bây giờ tôi có răng giả. Răng thật của tôi gây cho tôi quá nhiều rắc rối nên tôi đã nhổ hết, mười sáu cái cùng một lúc. Nha sĩ lưỡng lự khi phải nhổ mười sáu cái cùng một lúc, nhưng tôi nói với ông ấy, "Cứ nhổ đi, tôi sẽ chịu hậu quả." Thế là ông ấy đã nhổ hết chúng cùng một lúc. Một số vẫn còn tốt, ít nhất là năm cái. Tôi đã lấy hết chúng ra. Nhưng tình hình thực sự rất nguy kịch. Sau khi lấy chúng ra, tôi không thể ăn bất cứ thứ gì trong hai hoặc ba ngày.

Before, as a young child minding the buffaloes, I used to think that polishing the teeth was a great thing to do. I loved my teeth, I thought they were good things. But in the end they had to go. The pain almost killed me. I suffered from toothache for months, years. Sometimes both my gums were swollen at once.

Trước đây, khi tôi còn nhỏ tôi đã đi chăn trâu, tôi từng nghĩ rằng đánh răng là một việc tuyệt vời. Tôi yêu quý hàm răng của mình, tôi nghĩ chúng rất tốt. Nhưng cuối cùng chúng cũng phải mất đi. Cơn đau gần như giết chết tôi. Tôi bị đau răng hàng tháng, hàng năm trời. Đôi khi cả hai lợi của tôi đều sưng lên cùng một lúc.

Some of you may get a chance to experience this for yourselves someday. If your teeth are still good and you're brushing them everyday to keep them nice and white... watch out! They may start playing tricks with you later on.

Một số bạn có thể sẽ có cơ hội trải nghiệm điều này vào một ngày nào đó. Nếu răng của bạn vẫn còn tốt và bạn đánh răng mỗi ngày để giữ cho chúng tốt đẹp và trắng sáng... hãy cẩn thận! Chúng có thể làm bạn đau đớn sau này.

Now I'm just letting you know about these things... the suffering that arises from within, that arises within our own bodies. There's nothing within the body you can depend on. It's not too bad when you're still young, but as you get older things begin to break down. Everything begins to fall apart. Conditions go their natural way. Whether we laugh or cry over them they just go on their way. It makes no difference how we live or die, makes no difference to them. And there's no knowledge or science which can prevent this natural course of things. You may get a dentist to look at your teeth, but even if he can fix them they still eventually go their natural way. Eventually even the dentist has the same trouble. Everything falls apart in the end.

Giờ tôi chỉ muốn cho các bạn biết về những điều này... nỗi đau khổ phát sinh từ bên trong, phát sinh từ chính cơ thể chúng ta. Không có gì trong cơ thể mà bạn có thể dựa vào được. Khi còn trẻ thì không quá tệ, nhưng khi càng lớn tuổi, mọi thứ bắt đầu tàn tạ. Mọi thứ bắt đầu tan vỡ. Các bệnh tật sẽ diễn ra theo quy luật tự nhiên. Dù chúng ta cười hay khóc vì chúng, chúng vẫn cứ tiếp diễn. Sống hay chết thế nào cũng không ảnh hưởng gì đến chúng. Và không có kiến ​​thức hay khoa học nào có thể ngăn chặn được quy luật tự nhiên này. Bạn có thể đến nha sĩ để kiểm tra răng, nhưng ngay cả khi ông ấy có thể sửa chữa chúng, cuối cùng chúng vẫn sẽ trở về trạng thái ban đầu. Cuối cùng, ngay cả nha sĩ cũng gặp phải vấn đề tương tự. Mọi thứ đều tan vỡ vào cuối cùng.

These are things which we should contemplate while we still have some vigor, we should practice while we're young. If you want to make merit then hurry up and do so, don't just leave it up to the oldies. Most people just wait until they get old before they will go to a monastery and try to practice Dhamma. Women and men say the same thing..."Wait till I get old first." I don't know why they say that, does an old person have much vigor? Let them try racing with a young person and see what the difference is. Why do they leave it till they get old? Just like they're never going to die. When they get to fifty or sixty years old or more..."Hey, Grandma! Let's go to the monastery!" "You go ahead, my ears aren't so good any more." You see what I mean? When her ears were good what was she listening to? "Beats me!"... just dallying with the berries. Finally when her ears are gone she goes to the temple. It's hopeless. She listens to the sermon but she hasn't got a clue what they're saying. People wait till they're all used up before they'll think of practicing the Dhamma.

Đây là những điều chúng ta nên quán chiếu trong khi mình còn sức lực, nên tu tập khi còn trẻ. Nếu muốn tích phước thì hãy nhanh chóng làm, đừng nghĩ rằng nó chỉ để dành cho người già. Hầu hết mọi người chỉ đợi đến khi già mới chịu đến tu viện và cố gắng tu tập Phật pháp. Phụ nữ và đàn ông đều nói cùng một điều… “Chờ đến khi tôi già rồi hãy đi.” Tôi không hiểu sao họ lại nói vậy, người già có còn nhiều sức lực không? Hãy để họ thử chạy đua với người trẻ xem có gì khác biệt. Tại sao họ lại đợi đến khi già? Cứ như thể họ sẽ không bao giờ chết vậy. Khi họ đến tuổi năm mươi, sáu mươi hoặc hơn… “Này, bà ơi! Chúng ta cùng đến tu viện đi!” “Con cứ đi đi, tai bà không còn nghe rõ nữa.” Bạn hiểu ý tôi chứ? Khi tai bà còn nghe rõ thì bà nghe gì? “Tôi cũng không biết!”… chỉ mải mê với ảo tưởng. Cuối cùng khi tai bà không còn nghe rõ nữa thì bà mới đến chùa. Thật vô vọng. Cô ấy lắng nghe bài giảng nhưng không hiểu họ đang nói gì. Mọi người đợi đến khi kiệt sức mới nghĩ đến việc tu tập Phật pháp.

Today's talk may be useful for those of you who can understand it. These are things which you should begin to observe, they are our inheritance. They will gradually get heavier and heavier, a burden for each of us to bear. In the past my legs were strong, I could run. Now just walking around they feel heavy. Before, my legs carried me. Now, I have to carry them. When I was a child I'd see old people getting up from their seat..."Oh!" Getting up they groan, "Oh!" There's always this "Oh!" But they don't know what it is that makes them groan like that.

Bài nói chuyện hôm nay có thể hữu ích cho những ai trong số các bạn có thể hiểu được. Đây là những điều mà các bạn nên bắt đầu quan sát, chúng là di sản của chúng ta. Chúng sẽ dần trở nên nặng nề hơn, một gánh nặng mà mỗi người chúng ta phải gánh chịu. Trước đây, chân tôi rất khỏe, tôi có thể chạy. Giờ đây, chỉ đi bộ thôi cũng thấy nặng trĩu. Trước kia, đôi chân tôi đưa tôi đi. Giờ đây, tôi phải gánh chúng. Khi còn nhỏ, tôi thường thấy những người già đứng dậy khỏi ghế… “Ôi!” Họ rên rỉ khi đứng dậy, “Ôi!” Luôn luôn có tiếng “Ôi!” Nhưng họ không biết điều gì khiến họ rên rỉ như vậy.

Even when it gets to this extent people don't see the bane of the body. You never know when you're going to be parted from it. what's causing all the pain is simply conditions going about their natural way. People call it arthritis, rheumatism, gout and so on, the doctor prescribes medicines, but it never completely heals. In the end it falls apart, even the doctor! This is conditions faring along their natural course. This is their way, their nature.

Ngay cả khi sự việc đã trầm trọng người ta vẫn không nhận ra bản chất tai hại của thân. Bạn chẳng bao giờ biết được khi nào mình sẽ phải chia lìa khỏi nó. Điều gây ra mọi nỗi đau đớn ấy, suy cho cùng, chỉ là do các yếu tố đang vận hành theo quy luật tự nhiên của chúng. Người đời gọi đó là viêm khớp, thấp khớp, bệnh gút, v.v.; bác sĩ kê đơn thuốc, nhưng bệnh tình chẳng bao giờ lành hẳn được. Rốt cuộc thì thân ấy cũng tan rã ngay cả thân của vị bác sĩ cũng vậy! Đây là việc các điều kiện đang diễn tiến theo lộ trình tự nhiên của chúng. Đó là cách của chúng, là bản chất của chúng.

Now take a look at this. If you see it in advance you'll be better off, like seeing a poisonous snake on the path ahead of you. If you see it there you can get out of its way and not get bitten. If you don't see it you may keep on walking and step on it. And then it bites.

Bây giờ thử nhìn vào điều này. Nếu bạn nhận thấy nó từ trước, bạn sẽ gặp thuận lợi hơn—cũng giống như việc nhìn thấy một con rắn độc nằm trên lối đi ngay phía trước vậy. Nếu phát hiện ra nó, bạn có thể tránh sang một bên để không bị cắn. Còn nếu không nhìn thấy, bạn có thể cứ thế bước tiếp và vô tình giẫm phải nó. Và rồi nó sẽ cắn.

If suffering arises people don't know what to do. Where to go to treat it? They want to avoid suffering, they want to be free of it but they don't know how to treat it when it arises. And they live on like this until they get old... and sick... and die...

Người ta không biết phải làm gì khi nỗi khổ hiện hữu. Phải tìm đến đâu để chữa trị đây? Họ muốn né tránh nỗi khổ, muốn thoát ly khỏi nó, nhưng lại không biết cách xử lý khi nó ập đến. Và họ cứ thế sống tiếp, cho đến khi già đi... rồi đau ốm... và qua đời...

In olden times it was said that if someone was mortally ill one of the next of kin should whisper "Bud-dho, Bud-dho" in their ear. What are they going to do with Buddho? what good is Buddho going to be for them when they're almost on the funeral pyre? Why didn't they learn Buddho when they were young and healthy? Now with the breaths coming fitfully you go up and say, "Mother... Buddho, Buddho!" Why waste your time? You'll only confuse her, let her go peacefully.

Ngày xưa có câu nói rằng nếu có người đang lâm chung, một người thân trong gia đình nên ghé sát tai họ mà thầm thì câu "Buddho, Buddho". Họ làm gì với danh hiệu Buddho đây? Buddho thì có ích lợi gì cho họ nữa, khi mà họ đã sắp sửa nằm trên giàn hỏa táng? Tại sao họ không chịu học hỏi về Buddho ngay từ khi còn trẻ và khỏe mạnh? Giờ đây, khi hơi thở đã trở nên thoi thóp, đứt quãng, bạn mới bước đến và nói: "Mẹ ơi... Buddho, Buddho!" Tại sao lại phí hoài thời gian như vậy? Bạn sẽ chỉ khiến bà thêm hoang mang rối trí; hãy cứ để bà ra đi trong thanh thản.

People don't know how to solve problems within their own hearts, they don't have a refuge. They get angry easily and have a lot of desires. Why is this? Because they have no refuge.

Con người không biết cách giải quyết những vấn đề trong chính tâm mình; họ không có nơi nương tựa. Họ dễ nổi giận và có vô vàn dục vọng. Tại sao lại như vậy? Bởi vì họ không có nơi nương tựa.

When people are newly married they can get on together all right, but after age fifty or so they can't understand each other. Whatever the wife says the husband finds intolerable. Whatever the husband says the wife won't listen. They turn their backs on each other.

Khi mới kết hôn vợ chồng có thể sống hòa thuận với nhau; thế nhưng, sau tuổi năm mươi hay đại loại thế, họ lại chẳng thể nào thấu hiểu đối phương. Bất kể người vợ nói điều gì, người chồng cũng cảm thấy không thể chịu đựng nổi; còn bất kể người chồng nói điều gì, người vợ cũng nhất quyết không chịu lắng nghe. Họ quay lưng lại với nhau.

Now I'm just talking because I've never had a family before. Why haven't I had a family? Just looking at this word "household" [4] I knew what it was all about. What is a "household"? This is a "hold": If somebody were to get some rope and tie us up while we were sitting here, what would that be like? That's called "being held." Whatever that's like, "being held" is like that. There is a circle of confinement. The man lives within his circle of confinement, and the woman lives within her circle of confinement.

Bây giờ tôi chỉ đang nói lên những suy nghĩ của mình, bởi lẽ tôi chưa từng gia đình. Tại sao tôi lại không có gia đình? Chỉ cần nhìn vào từ "hộ gia đình" [4] này thôi, tôi đã hiểu thấu bản chất của nó là gì. Thế nào là một "hộ gia đình"? Đó chính là một sự "kìm hãm": Giả sử có ai đó mang dây thừng đến và trói chặt chúng ta lại ngay khi chúng ta đang ngồi đây, thì cảm giác ấy sẽ ra sao? Đó chính là cái gọi là "bị kìm hãm". Dù cảm giác ấy có như thế nào đi nữa, thì việc "bị kìm hãm" cũng chính là như vậy. Đó là một vòng tròn giam hãm. Người đàn ông sống trong vòng tròn giam hãm của riêng mình, và người phụ nữ cũng sống trong vòng tròn giam hãm của riêng cô ấy.

When I read this word "household"... this is a heavy one. This word is no trifling matter, it's a real killer. The word "hold" is a symbol of suffering. You can't go anywhere, you've got to stay within your circle of confinement.

Khi đọc từ "household" này... tôi cảm thấy nó thật nặng nề. Đây không phải là một từ tầm thường; nó thực sự là một nỗi ám ảnh khủng khiếp. Chữ "hold" (sự giam giữ) chính là biểu tượng của nỗi thống khổ. Bạn chẳng thể đi đâu cả; bạn buộc phải quanh quẩn mãi trong cái vòng vây giam hãm của chính mình.

Now we come to the word "house." This means "that which hassles." Have you ever toasted chilies? The whole house chokes and sneezes. This word "household" spells confusion, it's not worth the trouble. Because of this word I was able to ordain and not disrobe. "Household" is frightening. You're stuck and can't go anywhere. Problems with the children, with money and all the rest. But where can you go? You're tied down. There are sons and daughters, arguments in profusion until your dying day, and there's nowhere else to go to no matter how much suffering it is. The tears pour out and they keep pouring. The tears will never be finished with his "household," you know. If there's no household you might be able to finish with the tears but not otherwise.

Bây giờ chúng ta nói đến cụm từ "ngôi nhà". Nó mang ý nghĩa "thứ gây ra phiền toái". Bạn đã bao giờ rang ớt chưa? Cả ngôi nhà sẽ chìm trong hơi cay và hắt hơi. Cụm từ "ngôi nhà" này gây ra sự nhầm lẫn; nó không đáng để bận tâm. Chính nhờ thấu hiểu ý nghĩa này mà tôi đã xuất gia và không hoàn tục. "Gia đình" là một điều thật đáng sợ. Bạn bị mắc kẹt tại đó và chẳng thể đi đâu được. Những rắc rối với con cái, chuyện tiền bạc, và đủ thứ chuyện khác nữa. Nhưng biết đi đâu bây giờ? Bạn đã bị trói buộc. Nào là con trai, con gái; những cuộc cãi vã triền miên cho đến tận ngày bạn chết; và chẳng còn nơi nào khác để đi, bất kể nỗi thống khổ ấy lớn đến đâu. Nước mắt cứ thế tuôn trào, và cứ tiếp tục tuôn mãi không thôi. Bạn biết đấy, với cái gọi là "gia đình" này, những giọt nước mắt sẽ chẳng bao giờ có hồi kết. Nếu không vướng bận gia đình, có lẽ bạn sẽ tìm được ngày chấm dứt những giọt nước mắt ấy; chứ nếu không, thì điều đó là bất khả thi.

Consider this matter. If you haven't come across it yet you may later on. Some people have experienced it already to a certain extent. Some are already at the end of their tether..."Will I stay or will I go?" At Wat Ba Pong there are about seventy or eighty huts (kuti). when they're almost full I tell the monk in charge to keep a few empty, just in case somebody has an argument with their spouse... Sure enough, in no long time a lady will arrive with her bags..."I'm fed up with the world, Luang Por." "Whoa! Don't say that. Those words are really heavy." Then the husband comes and says he's fed up too. After two or three days in the monastery their world-weariness disappears.

Hãy suy ngẫm về vấn đề này. Nếu bạn chưa từng gặp phải, thì rất có thể sau này bạn sẽ gặp. Một số người đã nếm trải điều này ở một mức độ nào đó rồi. Một số khác thì đã hoàn toàn đi đến giới hạn chịu đựng của mình, với câu hỏi thường trực: "Liệu mình nên ở lại hay ra đi?" Tại Wat Ba Pong, có khoảng bảy mươi đến tám mươi tịnh thất (kuti). Khi các tịnh thất gần như đã kín chỗ, tôi thường dặn vị sư phụ trách hãy giữ lại vài phòng trống, phòng khi có ai đó xảy ra tranh cãi với người bạn đời của mình... Quả nhiên, chẳng bao lâu sau, một người phụ nữ xách hành lý tìm đến: "Con chán ngán thế sự này lắm rồi, thưa Hòa Thượng." "Khoan đã! Đừng nói như vậy. Những lời ấy nặng nề lắm." Sau đó, người chồng cũng tìm đến và nói anh ta cũng chán ngán. Tuy nhiên, chỉ sau hai hoặc ba ngày lưu lại tu viện, nỗi chán ngán thế sự của họ lại tan biến hết cả.

They say they're fed up but they're just fooling themselves. When they go off to a kuti and sit in the quiet by themselves, after a while the thoughts come..."When's the wife going to come and ask me to go home?" They don't really know what's going on. What is this "world-weariness" of theirs? They get upset over something and come running to the monastery. At home everything looked wrong... the husband was wrong, the wife was wrong... after three days' quiet thinking..."Hmmm, the wife was right after all, it was I who was wrong." "Hubby was right, I shouldn't have got so upset." They change sides. This is how it is, that's why I don't take the world too seriously. I know its ins and outs already, that's why I've chosen to live as a monk.

Họ nói rằng họ đã chán ngán tất cả, nhưng thực ra họ chỉ đang tự lừa dối chính mình. Khi họ tìm đến một tịnh thất và ngồi tĩnh lặng một mình, chỉ sau một lát, những dòng suy nghĩ lại ùa đến... "Bao giờ thì vợ mình mới tới và bảo mình về nhà đây nhỉ?" Họ thực sự chẳng hiểu chuyện gì đang diễn ra cả. Cái gọi là "sự chán chường thế sự" của họ rốt cuộc là cái gì chứ? Họ chỉ vì một chuyện gì đó mà nổi giận, rồi vội vã chạy ngay đến tu viện. Khi còn ở nhà, mọi thứ dường như đều sai trái... người chồng sai, người vợ cũng sai... thế rồi, sau ba ngày tĩnh tâm suy ngẫm... "Hừm, hóa ra vợ mình nói đúng, chính mình mới là người sai." "Chồng mình nói đúng, lẽ ra mình không nên nổi giận đến thế." Họ lại đổi chiều suy nghĩ. Mọi chuyện vốn dĩ là như vậy đấy; chính vì thế mà tôi không quá coi trọng hay bận tâm thái quá đến thế sự điên cuồng này. Tôi đã thấu rõ mọi ngóc ngách, mọi lẽ thăng trầm của thế gian rồi; đó chính là lý do vì sao tôi đã chọn con đường xuất gia làm một vị Tỳ-kheo.

I would like to present today's talk to all of you for homework. Whether you're in the fields or working in the city, take these words and consider them... "Why was I born? What can I take with me?" Ask yourselves over and over. If you ask yourself these questions often you'll become wise. If you don't reflect on these things you will remain ignorant. Listening to today's talk, you may get some understanding, if not now, then maybe when you get home. Perhaps this evening. When you're listening to the talk everything is subdued, but maybe things are waiting for you in the car. When you get in the car it may get in with you. When you get home it may all become clear..."Oh, that's what Luang Por meant. I couldn't see it before."

Tôi muốn gửi đến tất cả quý vị bài pháp thoại này như một bài tập về nhà. Dù quý vị đang làm việc ngoài đồng ruộng hay đang công tác nơi phố thị, xin hãy đón nhận những lời này và suy ngẫm về chúng... "Tại sao ta lại được sinh ra? Ta có thể mang theo được những gì khi ra đi?" Hãy tự vấn bản thân mình, hỏi đi hỏi lại mãi như thế. Nếu thường xuyên suy ngẫm về những câu hỏi này, quý vị sẽ trở nên sáng suốt. Ngược lại, nếu không chịu quán chiếu những điều ấy, quý vị sẽ mãi chìm trong sự vô minh. Khi lắng nghe bài pháp thoại hôm nay, có thể quý vị sẽ lĩnh hội được đôi điều—dù chưa thấu tỏ ngay lúc này, thì có lẽ sẽ sáng tỏ khi quý vị trở về nhà. Có thể là ngay trong tối nay. Khi đang ngồi nghe pháp, mọi thứ dường như thật tĩnh lặng và êm đềm; thế nhưng, có lẽ những vấn đề lại đang chờ đợi quý vị ở ngay trong chiếc xe của mình. Khi quý vị bước vào xe, những vấn đề ấy cũng sẽ bước vào cùng quý vị. Và khi về đến nhà, mọi chuyện có thể sẽ bỗng nhiên trở nên sáng tỏ... "À, thì ra đó chính là điều mà Hòa Thượng muốn nhắn gửi. Trước đây, ta đã không thể nhìn thấu được điều ấy."

I think that's enough for today. If I talk too long this old body gets tired.

Tôi nghĩ thế là đủ cho hôm nay rồi. Nếu nói lâu quá thì cái thân già này lại thấy mệt.

A talk addressed to an aging lay disciple approaching her death

Bài pháp thoại gửi đến một nữ cư sĩ cao tuổi đang cận kề cái chết.

Now determine in your mind to listen respectfully to the Dhamma. While I am speaking, be as attentive to my words as if it was the Lord Buddha himself sitting before you. Close your eyes and make yourself comfortable, composing your mind and making it one-pointed. Humbly allow the Triple Gem of wisdom, truth and purity to abide in your heart as a way of showing respect to the Fully Enlightened One.

Bây giờ hãy nhất tâm nghe Pháp một cách tôn kính. Trong khi tôi đang thuyết giảng, xin hãy chú tâm lắng nghe từng lời tôi nói, tựa như chính Đức Phật đang ngự ngay trước mặt bà. Hãy khép nhẹ đôi mắt và chọn cho mình một tư thế thật thoải mái; đồng thời, hãy thu nhiếp tâm để đạt được sự định tĩnh và nhất tâm. Với lòng khiêm cung, xin hãy đón nhận Tam Bảo—hiện thân của trí tuệ, chân lý và sự thanh tịnh—để Tam Bảo an trú trong tâm bà, như một cách để bày tỏ lòng tôn kính đối với Đấng Giác Ngộ Hoàn Toàn.

Today I have brought nothing of material substance to offer you, only the Dhamma, the teachings of the Lord Buddha. You should understand that even the Buddha himself, with his great store of accumulated virtue, could not avoid physical death. When he reached old age he ceded his body and let go of the heavy burden. Now you too must learn to be satisfied with the many years you've already depended on the body. You should feel that it's enough.

Hôm nay Sư không mang theo bất cứ món quà vật chất nào để tặng bà, mà chỉ mang Pháp bảo— những lời giáo huấn của Đức Phật. Bà cần thấu hiểu rằng, ngay cả chính Đức Phật — với kho tàng công đức vô lượng đã tích lũy — cũng không thể tránh khỏi cái chết của thân xác. Khi tuổi già ập đến, Ngài đã buông bỏ thân này và trút xuống gánh nặng trĩu vai. Giờ đây, bà cũng cần học cách cảm thấy mãn nguyện với biết bao năm tháng mà bà đã nương tựa vào thân này. Bà hãy cảm nhận rằng: như thế là đã đủ rồi.

Like household utensils that you've had for a long time — cups, saucers, plates and so on — when you first had them they were clean and shining, but now after using them for so long, they're starting to wear out. Some are already broken, some have disappeared, and those that are left are wearing out, they have no stable form. And it's their nature to be that way. Your body is the same... it's been continually changing from the day you were born, through childhood and youth, until now it's reached old age. You must accept this. The Buddha said that conditions, whether internal, bodily conditions or external conditions, are not self, their nature is to change. Contemplate this truth clearly.

Giống như những vật dụng gia đình mà bà đã sở hữu từ lâu — cái ly, các chén, và các đĩa v.v. — thuở ban đầu khi mới có được, chúng thật sạch sẽ và sáng bóng; thế nhưng giờ đây, sau một thời gian dài sử dụng, chúng đang bắt đầu trở nên cũ kỹ và hao mòn. Một số đã vỡ hỏng, một số khác đã thất lạc, còn những món còn sót lại thì cũng đang dần xuống cấp, chẳng còn giữ được hình hài nguyên vẹn và bền vững như xưa. Và vốn dĩ bản chất của chúng là phải như thế. Thân xác của bạn cũng vậy... nó đã không ngừng biến đổi kể từ ngày bạn chào đời, trải qua thời thơ ấu rồi đến tuổi thanh xuân, cho đến tận bây giờ khi đã bước vào tuổi xế chiều. Bà buộc phải chấp nhận sự thật này. Đức Phật đã dạy rằng mọi pháp hữu vi, dù là những Pháp nội tại thuộc về thân hay những Pháp bên ngoài đều không phải là "cái Ta" (cái ngã); bản chất cố hữu của chúng chính là sự vô thường. Hãy quán chiếu chân lý này cho đến khi bà nhìn thấy rõ ràng.

This very lump of flesh lying here in decline is reality. [5] The facts of this body are reality, they are the timeless teaching of the Lord Buddha. The Buddha taught us to contemplate this and come to terms with its nature. We must be able to be at peace with the body, no matter what state it is in. The Buddha taught that we should ensure that it's only the body that is locked up in jail and not the mind be imprisoned along with it. Now as your body begins to run down and wear out with age, don't resist, but also don't let your mind deteriorate along with it. Keep the mind separate. Give energy to the mind by realizing the truth of the way things are. The Lord Buddha taught that this is the nature of the body, it can't be any other way. Having been born it gets old and sick and then it dies. This is a great truth that you are presently witnessing. Look at the body with wisdom and realize this.

Chính thân của bà đang nằm đây trong sự suy tàn này là thực tại. [5] Những sự thật về thân này chính là thực tại; chúng là lời giáo huấn vượt thời gian của Đức Phật. Đức Phật đã dạy chúng ta quán chiếu điều này và chấp nhận bản chất vốn có của nó. Chúng ta phải có khả năng sống an nhiên với thân này, bất kể nó đang ở trong trạng thái nào. Đức Phật dạy rằng chúng ta cần đảm bảo rằng chỉ có thân bị giam hãm trong ngục tù, chứ tâm không được phép bị cầm tù cùng với nó. Giờ đây, khi thân của bà bắt đầu suy yếu và hao mòn theo năm tháng, đừng kháng cự lại, nhưng cũng đừng để tâm của bạn suy thoái theo cùng với nó. Hãy giữ cho tâm và thân được tách biệt. Hãy tiếp thêm năng lượng cho tâm bằng cách thấu hiểu chân lý về bản chất thực sự của vạn vật. Đức Phật đã dạy rằng đây chính là bản chất của thân; nó không thể nào khác được. Một khi đã được sinh ra, nó sẽ già, bệnh tật, và rồi đi đến cái chết. Đây là một chân lý diệu pháp mà bà đang trực tiếp chứng kiến ​​ngay lúc này. Hãy nhìn nhận thân này bằng trí tuệ và thấu hiểu điều đó.

If your house is flooded or burnt to the ground, whatever the threat to it, let it concern only the house. If there's a flood, don't let it flood your mind. If there's a fire, don't let it burn your heart. Let it be merely the house, that which is outside of you, that is flooded or burned. Now is the time to allow the mind to let go of attachments.

Dù ngôi nhà của bà có bị ngập lụt hay thiêu rụi hoàn toàn—bất kể mối đe dọa nào ập đến—hãy để những điều đó chỉ dừng lại ở chính ngôi nhà. Nếu nhà bà bị lụt, đừng để dòng nước ấy nhấn chìm tâm bạn. Nếu nhà bà bị hỏa hoạn, đừng để ngọn lửa ấy thiêu đốt tâm bạn. Hãy để chỉ riêng ngôi nhà—thứ nằm ở bên ngoài con người bạn—phải chịu cảnh ngập lụt hay cháy rụi. Giờ chính là lúc để tâm bạn buông bỏ mọi sự chấp trước.

You've been alive a long time now. Your eyes have seen any number of forms and colors, your ears have heard so many sounds, you've had any number of experiences. And that's all they were — experiences. You've eaten delicious foods, and all those goods tastes were just good tastes, nothing more. The bad tastes were just bad tastes, that's all. If the eye sees a beautiful form that's all it is... a beautiful form. An ugly form is just an ugly form. The ear hears an entrancing, melodious sound and it's nothing more than that. A grating, discordant sound is simply that.

Bà đã sống trên đời này một thời gian thật dài. Đôi mắt bà đã chiêm ngưỡng vô vàn hình hài và màu sắc ; đôi tai bà đã lắng nghe biết bao âm thanh; và bà cũng đã trải qua vô số kinh nghiệm sống. Nhưng suy cho cùng, tất cả những điều ấy cũng chỉ là... những trải nghiệm mà thôi. Bà đã thưởng thức những món ăn ngon tuyệt vời, và tất cả những hương vị tuyệt vời ấy cũng chỉ đơn thuần là những hương vị ngon lành — chẳng hơn chẳng kém. Những hương vị dở tệ cũng chỉ là hương vị dở tệ, thế thôi. Nếu đôi mắt nhìn thấy một hình hài tuyệt mỹ, thì đó cũng chỉ là... một hình hài tuyệt mỹ. Một hình hài xấu xí cũng chỉ là một hình hài xấu xí. Đôi tai lắng nghe một âm thanh du dương, mê đắm, thì nó cũng chẳng là gì hơn thế. Một âm thanh chói tai, nghịch nhĩ cũng chỉ đơn thuần là chính nó mà thôi.

The Buddha said that rich or poor, young or old, human or animal, no being in this world can maintain itself in any single state for long. Everything experiences change and deprivation. this is a fact of life about which we can do nothing to remedy. But the Buddha said that what we can do is to contemplate the body and mind to see their impersonality, that neither of them is "me" nor "mine." They have only a provisional reality. It's like this house, it's only nominally yours. You couldn't take it with you anywhere. The same applies to your wealth, your possessions and your family — they're yours only in name. they don't really belong to you, they belong to nature.

Đức Phật dạy rằng, dù giàu hay nghèo, trẻ hay già, người hay loài vật, không một chúng sinh nào trên thế gian này có thể duy trì bản thân trong bất kỳ trạng thái đơn nhất nào một cách lâu dài. Vạn vật đều phải trải qua sự biến đổi và tan rã; đây là một thực tế của cuộc sống mà chúng ta hoàn toàn bất lực, không thể nào xoay chuyển hay khắc phục được. Tuy nhiên, Đức Phật cũng dạy rằng điều chúng ta có thể làm chính là quán chiếu thân và tâm để thấu rõ tính vô ngã của chúng—rằng cả hai đều không phải là "tôi" hay "của tôi". Chúng chỉ mang một sự hiện hữu có tính vô thường. Điều này cũng tựa như ngôi nhà vậy: nó chỉ thuộc về bà trên danh nghĩa mà thôi; bà không thể nào mang nó theo bên mình đến bất cứ nơi đâu. Điều tương tự cũng đúng đối với của cải, tài sản và gia đình của bà—chúng chỉ là "của bà" trên danh nghĩa; thực chất, chúng không thực sự thuộc về bà, mà thuộc về tự nhiên.

Now this truth doesn't apply to you alone, everyone is in the same boat — even the Lord Buddha and his enlightened disciples. They differed from us only in one respect, and that was their acceptance of the way things are. They saw that it could be no other way.

Chân lý này không riêng cho một mình bà; tất cả mọi người đều ở trên cùng một con thuyền — ngay cả Đức Phật và các vị Thánh đệ tử đã giác ngộ của Ngài. Họ chỉ khác chúng ta ở một điểm duy nhất: đó là sự chấp nhận sự thật rằng tấm thân trần tục giống như thế này là do bản chất thiên nhiên. Họ thấu hiểu rằng mọi sự vốn dĩ không thể nào khác được.

So the Buddha taught us to probe and examine the body, from the soles of the feet up to the crown of the head, and then back down to the feet again. Just take a look at the body. What sort of things do you see? Is there anything intrinsically clean there? Can you find any abiding essence? This whole body is steadily degenerating. The Buddha taught us to see that it doesn't belong to us. It's natural for the body to be this way, because all conditioned phenomena are subject to change. How else would you have it? In fact there is nothing wrong with the way the body is. It's not the body that causes suffering, it's wrong thinking. When you see things in the wrong way, there's bound to be confusion.

Vì thế Đức Phật đã dạy chúng ta hãy quán chiếu và xem xét thân, từ lòng bàn chân trở lên đến đỉnh đầu, rồi lại từ đỉnh đầu trở xuống đến chân. Hãy thử nhìn vào thân. Bà nhìn thấy những gì? Liệu có điều gì thực sự thanh tịnh nơi đó chăng? Bà có thể tìm thấy bất kỳ bản chất trường tồn nào không? Toàn bộ thân này đang không ngừng suy thoái. Đức Phật dạy chúng ta hãy nhận thấy rằng nó không thuộc về chúng ta. Việc thân hiện hữu như vậy là lẽ tự nhiên, bởi lẽ mọi hiện tượng hữu vi đều chịu sự chi phối của quy luật biến đổi. Bà còn mong đợi điều gì khác nữa đây? Thực ra, không có gì sai trái với bản chất hiện hữu của thân. Thứ gây ra đau khổ không phải là thân, mà chính là sự tư duy sai lầm. Khi bà nhìn nhận sự vật theo cách sai lệch, việc này tạo ra một chướng ngại trong tâm của bà.

It's like the water of a river. It naturally flows downhill, it never flows uphill. That's it's nature. If a person was to go and stand on the river bank and want the water to flow back uphill, he would be foolish. Wherever he went his foolish thinking would allow him no peace of mind. He would suffer because of his wrong view, his thinking against the stream. If he had right view he would see that the water must inevitably flow downhill, and until he realized and accepted that fact he would be bewildered and frustrated.

Điều này tựa như dòng nước của một con sông vậy. Nó vốn dĩ chảy xuôi xuống nơi thấp, chứ chẳng bao giờ chảy ngược lên cao. Đó chính là bản chất của nó. Nếu có ai đó ra đứng bên bờ sông mà lại mong muốn dòng nước chảy ngược trở lên, thì người ấy thật là kẻ vô minh. Dù đi đến đâu, chính lối tư duy sai lầm ấy cũng sẽ chẳng để cho người ấy được chút an yên nào trong tâm. Người ấy sẽ phải chịu khổ đau chỉ vì những tà kiến ​​của mình—vì lối suy nghĩ đi ngược lại với dòng chảy tự nhiên. Nếu có được chánh kiến, người ấy sẽ nhận thấy rằng dòng nước tất yếu phải chảy xuôi xuống nơi thấp; và chừng nào chưa thấu hiểu cũng như chấp nhận sự thật ấy, người ấy vẫn sẽ mãi chìm trong sự hoang mang và bế tắc.

The river that must flow down the gradient is like your body. Having been young your body's become old and is meandering towards its death. Don't go wishing it were otherwise, it's not something you have the power to remedy. The Buddha told us to see the way things are and then let go of our clinging to them. Take this feeling of letting go as your refuge. Keep meditating even if you feel tired and exhausted. Let your mind be with the breath. Take a few deep breaths and then establish the attention on the breath, using the mantra word Bud-dho. Make this practice continual. The more exhausted you feel the more subtle and focused your concentration must be, so that you can cope with any painful sensations that arise. When you start to feel fatigued then bring all your thinking to a halt, let the mind gather itself together and then turn to knowing the breath. Just keep up the inner recitation, Bud-dho, Bud-dho.

Dòng sông buộc phải chảy xuôi theo độ dốc cũng tựa như chính thân của bà. Từ thuở thanh xuân, thân này đã dần lão hóa và đang uốn lượn trôi dần về phía cái chết. Đừng vọng tưởng rằng mọi sự có thể khác đi, bởi lẽ đó không phải là điều mà bà có quyền năng để xoay chuyển hay sửa đổi. Đức Phật đã dạy chúng ta hãy nhìn nhận sự vật đúng như bản chất vốn có của chúng, rồi sau đó buông bỏ mọi sự chấp thủ. Hãy lấy chính cảm giác buông bỏ ấy làm nơi nương tựa cho tâm hồn mình. Hãy kiên trì thực hành thiền định, ngay cả khi bà cảm thấy mệt mỏi và kiệt sức. Hãy để tâm bà hòa quyện cùng hơi thở. Hãy hít vài hơi thật sâu, rồi thiết lập sự chú tâm trọn vẹn vào hơi thở, đồng thời thầm niệm câu "Bud-dho". Hãy duy trì sự thực hành này một cách liên tục, không gián đoạn. Bà càng cảm thấy kiệt sức bao nhiêu, thì sự định tâm của bà càng cần phải trở nên tinh tế và tập trung cao độ bấy nhiêu; nhờ đó, bà mới có thể đối diện và vượt qua bất kỳ cảm giác đau đớn nào có thể khởi sinh. Khi bắt đầu cảm thấy mệt mỏi rã rời, hãy ngưng bặt mọi dòng suy nghĩ; hãy để tâm lắng đọng và thu nhiếp lại, rồi quay về nhận biết chính hơi thở của mình. Hãy cứ kiên trì thầm niệm trong tâm: "Bud-dho, Bud-dho".

Let go of all externals. Don't go grasping at thoughts of your children and relatives, don't grasp at anything whatsoever. Let go. Let the mind unite in a single point and let that composed mind dwell with the breath. Let the breath be its sole object of knowledge. Concentrate until the mind becomes increasingly subtle, until feelings are insignificant and there is great inner clarity and wakefulness. Then any painful sensations that arise will gradually cease of their own accord.

Hãy buông bỏ tất cả sự vật bên ngoài. Đừng bám víu vào những suy nghĩ về con cái hay thân quyến; đừng bám víu vào bất cứ điều gì cả. Hãy buông bỏ. Hãy để tâm tập trung về một điểm duy nhất, và để tâm tĩnh lặng ấy an trú cùng hơi thở. Hãy để hơi thở trở thành đối tượng nhận biết duy nhất của tâm. Hãy tập trung cho đến khi tâm trở nên ngày càng vi tế, cho đến khi mọi cảm thọ trở nên không còn trọng yếu, và nội tâm đạt đến chánh niệm cùng sự tỉnh giác tột bậc. Khi ấy, mọi cảm giác đau đớn nảy sinh sẽ dần dần tự nhiên chấm dứt.

Finally you'll look on the breath as if it were some relatives come to visit you. When the relatives leave, you follow them out to see them off. You watch until they've walked up the drive and out of sight, and then you go back indoors. We watch the breath in the same way. If the breath is coarse we know that it's coarse, if it's subtle we know that it's subtle. As it becomes increasingly fine we keep following it, the same time awakening the mind. Eventually the breath disappears altogether and all that remains is that feeling of alertness. This is called meeting the Buddha. We have that clear, wakeful awareness called Bud-dho, the one who knows, the awakened one, the radiant one. This is meeting and dwelling with the Buddha, with knowledge and clarity. It was only the historical Buddha who passed away. The true Buddha, the Buddha that is clear, radiant knowing, can still be experienced and attained today. And if we do attain it, the heart is one.

Cuối cùng, bà hãy quán chiếu hơi thở như thể đó là những người thân đến thăm bà. Khi những người thân ấy ra về, bà đi theo họ ra ngoài để tiễn chân. Bà dõi mắt nhìn theo cho đến khi họ đã bước hết con đường dẫn ra cổng và khuất dạng, rồi sau đó bà mới quay trở vào nhà. Chúng ta cũng quán chiếu hơi thở theo cách thức tương tự như vậy. Nếu hơi thở thô, ta biết rằng nó thô; nếu hơi thở vi tế, ta biết rằng nó vi tế. Khi hơi thở ngày càng trở nên tinh tế hơn, ta vẫn tiếp tục dõi theo nó, đồng thời tâm tỉnh giác. Rốt cuộc, hơi thở biến mất hoàn toàn, và tất cả những gì còn lại chỉ là cảm giác tỉnh giác. Trạng thái này được gọi là "gặp gỡ Đức Phật". Ta đạt được sự nhận biết sáng suốt, tỉnh táo ấy—cái được gọi là *Buddho*—tức là Đấng Biết, Đấng Giác Ngộ, Đấng Đẳng Giác. Đây chính là sự gặp gỡ và an trú cùng Đức Phật, cùng với sự chánh niệm và tỉnh giác. Chỉ có Đức Phật lịch sử là đã thị tịch; còn Đức Phật chân thực—vị Phật chính là sự hiểu biết sáng suốt và rạng rỡ—vẫn có thể được cảm nhận và chứng đắc ngay trong hiện tại này. Và nếu ta thực sự chứng đắc được trạng thái ấy, thì tâm ta và Phật là một.

So let go, put everything down, everything except the knowing. Don't be fooled if visions or sounds arise in your mind during meditation. Lay them all down. Don't take hold of anything at all, just stay with this unified awareness. Don't worry about the past or the future, just be still and you will reach the place where there's no advancing, no retreating and no stopping, where there's nothing to grasp at or cling to. Why? Because there's no self, no "me" or "mine." It's all gone. The Buddha taught to empty yourself of everything in this way, not to carry anything around... to know, and having known, let go.

Vậy hãy buông bỏ, hãy đặt xuống tất cả mọi thứ—tất cả, ngoại trừ sự "tỉnh giác". Đừng để bị đánh lừa nếu những hình ảnh hay âm thanh chợt hiện lên trong tâm bà trong lúc thiền định. Hãy đặt tất cả chúng xuống. Đừng nắm giữ bất cứ điều gì cả; hãy chỉ an trú trong trạng thái tỉnh giác hợp nhất này. Đừng bận tâm về quá khứ hay tương lai; hãy cứ tĩnh lặng, và bà sẽ đạt đến một cảnh giới nơi không còn sự tiến tới, không lùi bước, cũng chẳng dừng lại—nơi không còn gì để nắm bắt hay bám víu. Tại sao vậy? Bởi vì ở đó không còn cái "ngã", không còn cái "tôi" hay "của tôi" nữa. Tất cả đều đã tan biến. Đức Phật đã dạy rằng hãy buông bỏ, hãy làm rỗng chính mình khỏi mọi thứ theo cách ấy—đừng mang vác bất cứ điều gì trên vai... hãy chỉ "tỉnh giác", và một khi đã tỉnh giác, thì hãy buông bỏ.

Realizing the Dhamma, the path to freedom from the round of birth and death, is a task that we all have to do alone. So keep trying to let go and understand the teachings. Put effort into your contemplation. Don't worry about your family. At the moment they are as they are, in the future they will be like you. There's no-one in the world who can escape this fate. The Buddha taught to lay down those things that lack a real abiding essence. If you lay everything down you will see the real truth, if you don't, you won't. That's the way it is. And it's the same for everyone in the world. So don't grasp at anything.

Sự nhận biết Giáo Pháp, con đường dẫn đến sự giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử là một trọng trách mà mỗi chúng ta đều phải tự mình gánh vác. Vì thế, hãy không ngừng nỗ lực buông bỏ và thấu hiểu những lời giáo huấn. Hãy kiên trì trong việc quán chiếu. Đừng bận lòng về gia đình của bà. Hiện tại họ vẫn đang là chính họ, nhưng trong tương lai, họ cũng sẽ trở nên giống như bà. Trên thế gian này, chẳng một ai có thể tránh khỏi. Đức Phật đã dạy rằng hãy buông bỏ những gì vốn dĩ không mang một bản chất thường hằng, bất biến. Nếu bà buông bỏ tất cả, bà sẽ thấy được chân lý đích thực; ngược lại, nếu không buông bỏ, bà sẽ chẳng thể nào thấy được. Sự thật là như vậy đó. Và điều này cũng đúng với tất cả mọi người trên thế gian này. Vì thế, chớ nên chấp thủ vào bất cứ điều gì.

Even if you find yourself thinking, well that's all right too, as long as you think wisely. Don't think foolishly. If you think of your children, think of them with wisdom, not with foolishness. Whatever the mind turns to, think of it with wisdom, be aware of its nature. To know something with wisdom is to let it go and have no suffering over it. The mind is bright, joyful and at peace. It turns away from distractions and is undivided. Right now what you can look to for help and support is your breath.

Ngay cả khi bà thấy tâm mình nảy sinh những suy nghĩ, thế cũng được, thì điều đó vẫn ổn, miễn là bà suy nghĩ một cách sáng suốt. Đừng suy nghĩ một cách dại dột. Nếu bà nghĩ về con cái, hãy nghĩ về chúng bằng trí tuệ, chứ không phải bằng sự si mê. Dù tâm hướng về bất cứ điều gì, hãy quán chiếu điều đó bằng trí tuệ và nhận diện đúng bản chất của nó. Hiểu biết một sự vật bằng trí tuệ chính là buông bỏ nó và không còn phải chịu khổ đau vì nó nữa. Khi ấy, tâm sẽ trở nên sáng suốt, an vui và thanh bình; nó quay lưng lại với những phóng dật và trở nên nhất tâm, tâm không còn bị phân tán. Ngay lúc này, điều mà bà có thể nương tựa để tìm kiếm sự giúp đỡ và hỗ trợ chính là hơi thở của mình.

This is your own work, no-one else's. Leave others to do their own work. You have your own duty and responsibility, you don't have to take on those of your family. Don't take on anything else, let it all go. This letting go will make your mind calm. Your sole responsibility right now is to focus your mind and bring it to peace. Leave everything else to the others. Forms, sounds, odors, tastes... leave them to the others to attend to. Put everything behind you and do your own work, fulfill your own responsibility. Whatever arises in your mind, be it fear of pain, fear of death, anxiety about others or whatever, say to it, "Don't disturb me. You're no longer any concern of mine." Just keep this to yourself when you see those dhammas arise.

Đây là công việc của bà, không phải của bất kỳ ai khác. Hãy để người khác lo liệu công việc của chính họ. Bà có bổn phận và trách nhiệm riêng; bà không nhất thiết phải gánh vác những điều thuộc về gia đình mình. Đừng ôm đồm thêm bất cứ điều gì nữa, hãy buông bỏ tất cả. Sự buông bỏ này sẽ giúp tâm bà trở nên an tĩnh. Trách nhiệm duy nhất của bà ngay lúc này là tập trung tâm và đưa nó về trạng thái bình an. Hãy để mọi việc khác lại cho người khác lo liệu. Sắc, thanh, hương, vị... hãy để người khác bận tâm đến chúng. Hãy gác lại mọi sự phía sau để làm công việc của chính mình, hoàn thành trách nhiệm của riêng mình. Bất cứ điều gì khởi lên trong tâm bà, dù là sợ hãi về nỗi đau, nỗi sợ cái chết, sự lo âu về người khác, hay bất cứ điều gì đi nữa, hãy nói với nó rằng: "Đừng quấy rầy ta. Ngươi không còn là mối bận tâm của ta nữa." Hãy cứ thầm nhủ điều này với chính mình mỗi khi bà nhận thấy những pháp ấy khởi sinh.

What does the word dhamma refer to? Everything is a dhamma, there is nothing that is not a dhamma. And what about "world"? The world is the very mental state that is agitating you at the present moment. "What are they going to do? When I'm gone who will look after them? How will they manage?" This is all just the "world." Even the mere arising of a thought fearing death or pain is the world. Throw the world away! The world is the way it is. If you allow it to dominate your mind it becomes obscured and can't see itself. So whatever appears in the mind, just say, "This isn't my business. It's impermanent, unsatisfactory and not self."

Từ vựng "Dhamma là Pháp" dùng để chỉ điều gì? Vạn vật đều là Dhamma là Pháp; không có gì lại không phải là Dhamma cả. Thế còn "thế giới" thì sao? Thế giới chính là trạng thái tâm đang làm bà xao động ngay trong sát na hiện tại này. "Họ sẽ làm gì đây? Khi tôi không còn nữa, ai sẽ chăm sóc họ? Họ sẽ xoay xở ra sao?" Tất cả những điều này chẳng qua chỉ là "thế giới" mà thôi. Ngay cả sự khởi sinh đơn thuần của một ý nghĩ sợ hãi cái chết hay nỗi đau đớn cũng chính là thế giới. Hãy vứt bỏ thế giới ấy đi! Thế giới vốn dĩ là như thế. Nếu bà để cho nó thống trị tâm mình, tâm sẽ trở nên mờ mịt và không thể tự thấy chính mình được nữa. Vì vậy, bất cứ điều gì xuất hiện trong tâm, hãy cứ nói rằng: "Việc này không phải là chuyện của ta. Nó là vô thường, khổ và vô ngã."

Thinking you'd like to go on living for a long time will make you suffer. But thinking you'd like to die right away or very quickly isn't right either. It's suffering, isn't it? Conditions don't belong to us, they follow their own natural laws. You can't do anything about the way the body is. You can beautify it a little, make it attractive and clean for a while, like the young girls who paint their lips and let their nails grow long, but when old age arrives, everybody's in the same boat. That's the way the body is, you can't make it any other way. What you can improve and beautify is the mind.

Nghĩ rằng mình muốn được sống thật lâu sẽ chỉ khiến bà phải chịu đựng khổ đau. Thế nhưng, việc mong muốn được chết ngay lập tức hay chết thật nhanh cũng chẳng phải là điều đúng. Đó chính là sự khổ đau, phải không nào? Vạn sự trên đời vốn chẳng thuộc về ta; chúng vận hành theo những quy luật tự nhiên riêng của chúng. Bà chẳng thể làm gì để thay đổi bản chất vốn có của thân này. Bà có thể tô điểm cho nó đôi chút, khiến nó trở nên hấp dẫn và sạch sẽ trong một khoảng thời gian nhất định, tựa như những cô gái trẻ thường tô son điểm phấn hay nuôi móng tay dài vậy, nhưng một khi tuổi già ập đến, thì ai ai rồi cũng sẽ cùng chung một số phận. Bản chất của thân là như thế đấy; bà chẳng thể nào biến đổi nó thành một dạng thức nào khác được. Thứ duy nhất mà bạn thực sự có thể trau dồi và tô điểm chính là tâm của mình.

Anyone can build a house of wood and bricks, but the Buddha taught that that sort of home is not our real home, it's only nominally ours. It's home in the world and it follows the ways of the world. Our real home is inner peace. An external, material home may well be pretty but it is not very peaceful. There's this worry and then that, this anxiety and then that. So we say it's not our real home, it's external to us. Sooner or later we'll have to give it up. it's not a place we can live in permanently because it doesn't truly belong to us, it belongs to the world. Our body is the same. We take it to be a self, to be "me" or "mine," but in fact it's not really so at all, it's another worldly home. Your body has followed its natural course from birth, until now it's old and sick, and you can't forbid it from doing that. That's the way it is. Wanting it to be any different would be as foolish as wanting a duck to be like a chicken. When you see that that's impossible — that a duck must be a duck and a chicken must be a chicken, and that the bodies have to get old and die — you will find courage and energy. However much you want the body to go on lasting, it won't do that.

Bất cứ người nào cũng có thể xây dựng một ngôi nhà bằng gỗ và gạch, nhưng Đức Phật đã dạy rằng ngôi nhà kiểu đó không phải là ngôi nhà thực sự của chúng ta; nó chỉ mang danh nghĩa là của ta mà thôi. Đó là một ngôi nhà thuộc về thế gian và nó vận hành theo quy luật của thế gian. Ngôi nhà thực sự của chúng ta chính là sự bình an nội tại. Một ngôi nhà vật chất bên ngoài có thể rất đẹp, nhưng lại chẳng bình yên. Nơi đó luôn chất chứa những nỗi lo này nối tiếp nỗi lo kia, những nỗi bất an này chồng chất lên nỗi bất an khác. Vì thế, chúng ta nói đó không phải là ngôi nhà thực sự của mình; nó là một thứ nằm bên ngoài bản thân ta. Sớm hay muộn, chúng ta cũng sẽ phải buông bỏ nó. Đó không phải là nơi ta có thể cư ngụ mãi mãi, bởi lẽ nó không thực sự thuộc về ta; nó thuộc về thế gian này. Thân của chúng ta cũng vậy. Ta thường lầm tưởng nó là một cái "ngã", là "tôi" hay "của tôi", nhưng trên thực tế, hoàn toàn không phải như vậy; nó cũng chỉ là một ngôi nhà thế gian khác mà thôi. Thân của bà đã vận hành theo quy luật tự nhiên của nó kể từ khi chào đời—cho đến tận bây giờ, khi nó đã trở nên già yếu và bệnh tật—và bà chẳng thể nào ngăn cấm nó diễn tiến như thế được. Sự thật vốn là như vậy. Việc mong muốn nó trở nên khác đi cũng ngớ ngẩn như việc muốn một con vịt phải giống như một con gà vậy. Khi bà thấu suốt được rằng điều đó là bất khả thi—rằng vịt thì phải là vịt, gà thì phải là gà, và thân mình buộc phải già rồi chết bà sẽ tìm thấy được sự dũng cảm và nguồn năng lượng mạnh mẽ. Cho dù bà có muốn thân này sẽ tồn tại mãi mãi, thì điều đó cũng sẽ chẳng bao giờ xảy ra.

The Buddha said,

Anicca vata sankhara
Impermanent, alas, are all conditions

Uppada vaya dhammmino
Arising and passing away

Uppajjitva nirujjhan'ti
Having been born they all must cease

Tesam vupasamo sukho
The calming of conditions is true happiness [6]

Đức Phật nói rằng,

Anicca vata sankhara
Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường

Uppada vaya dhammmino
Phát sanh và hoại diệt, đó là bản chất của chúng

Uppajjitva nirujjhan'ti
Chúng ra đời rồi tan biến

Tesam vupasamo sukho
Thoát ra khỏi chúng là hạnh phúc tối thượng [6]
--(Kinh Ðại Niết Bàn)

The word "sankhara" refers to this body and mind. Sankharas are impermanent and unstable. having come into being they disappear, having arisen they pass away, and yet everyone wants them to be permanent. This is foolishness. Look at the breath. Once it's gone in, it goes out, that's its nature, that's how it has to be. The inhalations and exhalations have to alternate, there must be change. Conditions exist through change, you can't prevent it. Just think, could you exhale without inhaling? Would it feel good? Or could you just inhale? We want things to be permanent but they can't be, it's impossible. Once the breath has come in, it must go out. When it's gone out it comes back in again, and that's natural, isn't it? Having been born we get old and then die, and that's totally natural and normal. It's because conditions have done their job, because the in breaths and out breaths have alternated in this way, that the human race is still here today.

Từ vựng "sankhara" dùng để chỉ thân và tâm này. Các sankhara vốn vô thường và bất ổn; chúng hiện hữu rồi biến mất, khởi sinh rồi hoại diệt, thế nhưng ai ai cũng mong cầu chúng được trường tồn. Đó chính là sự si mê. Hãy thử quán sát hơi thở. Một khi đã đi vào, nó ắt phải đi ra. đó là bản chất của nó, là quy luật tất yếu phải thế. Hơi hít vào và hơi thở ra buộc phải luân phiên nhau; sự biến đổi là điều không thể thiếu. Tất cả các pháp hữu vi tồn tại chính nhờ vào sự biến đổi ấy, và ta chẳng thể nào ngăn cản được điều đó. Hãy thử suy ngẫm xem: liệu bạn có thể thở ra mà không cần hít vào chăng? Cảm giác ấy liệu có dễ chịu không? Hay liệu bạn có thể chỉ hít vào mãi mà thôi? Chúng ta thường mong cầu mọi thứ được trường tồn, nhưng điều đó là bất khả thi, hoàn toàn không thể nào xảy ra được. Một khi hơi thở đã đi vào, nó nhất định phải đi ra. Khi đã đi ra rồi, nó lại vào trở lại; đó chẳng phải là quy luật tự nhiên hay sao? Một khi đã được sinh ra, chúng ta ắt sẽ già đi rồi đi đến cái chết, đó là điều hoàn toàn tự nhiên và bình thường. Chính bởi vì các duyên đã làm tròn bổn phận của chúng, bởi vì hơi hít vào và hơi thở ra đã luân phiên nhau theo cách thức ấy mà loài người chúng ta vẫn còn hiện diện trên thế gian này cho đến tận ngày hôm nay.

As soon as we are born we are dead. Our birth and our death are just one thing. It's like a tree: when there's a root there must be branches, when there are branches there must be a root. You can't have one without the other. It's a little funny to see how at death people are so grief stricken and distracted and at birth how happy and delighted. It's delusion, nobody has ever looked at this clearly. I think if you really want to cry it would be better to do so when someone's born. Birth is death, death is birth; the branch is the root, the root is the branch. If you must cry, cry at the root, cry at the birth. Look closely: if there was no birth there would be no death. Can you understand this?

Ngay khi vừa chào đời chúng ta đã chết. Sinh và tử của chúng ta thực chất chỉ là một. Điều này tựa như một cái cây vậy: khi có rễ thì ắt phải có cành, khi có cành thì ắt phải có rễ. Bà không thể có cái này mà thiếu đi cái kia. Thật có chút nực cười khi chứng kiến ​​cảnh người đời đau thương, bấn loạn tột cùng lúc cái chết ập đến, nhưng lại hân hoan, vui sướng khôn xiết khi một sinh linh chào đời. Đó chính là sự mê lầm; chưa từng có ai thực sự nhìn thấu sự thật này một cách sáng suốt cả. Tôi nghĩ rằng, nếu bà thực sự muốn khóc, thì tốt hơn hết hãy khóc vào lúc một sinh linh vừa chào đời. Sinh tức là tử, tử tức là sinh; cành chính là rễ, rễ chính là cành. Nếu nhất định phải khóc, hãy khóc ở nơi cội rễ, hãy khóc vào lúc sinh ra. Hãy nhìn thật kỹ mà xem: nếu không có sinh, thì cũng chẳng hề có tử. Bà có thấu hiểu được điều này chăng?

Don't worry about things too much, just think "this is the way things are." This is your work, your duty. Right now nobody can help you, there's nothing that your family and possessions can do for you. all that can help you now is clear awareness.

Đừng quá lo lắng về mọi chuyện; hãy cứ nghĩ rằng: "Mọi việc vốn dĩ là như thế." Đây là công việc, là bổn phận của chính bà. Ngay lúc này, không một ai có thể giúp được bà; gia đình hay của cải vật chất cũng chẳng thể làm gì cho bà. Điều duy nhất có thể giúp bạn lúc này chính là chánh niệm và tỉnh giác.

So don't waver. Let go. Throw it all away.

Vậy nên đừng do dự. Hãy buông bỏ. Hãy vứt bỏ tất cả.

Even if you don't let go, everything is starting to leave you anyway. Can you see that, how all the different parts of your body are trying to slip away? Take your hair; when you were young it was thick and black. Now it's falling out. It's leaving. Your eyes used to be good and strong but now they're weak, your sight is unclear. When your organs have had enough they leave, this isn't their home. When you were a child your teeth were healthy and firm, now they're wobbly, or you've got false ones. Your eyes, ears, nose, tongue — everything is trying to leave because this isn't their home. You can't make a permanent home in conditions, you can only stay for a short time and then you have to go. It's like a tenant watching over his tiny little house with failing eyes. His teeth aren't so good, his eyes aren't so good, his body's not so healthy, everything is leaving.

Ngay cả khi bà không buông bỏ, thì mọi thứ cũng đang bắt đầu rời bỏ bà. Bà có nhận ra điều đó không, cách mà từng bộ phận khác nhau trên thân bà đang tàng tạ? Hãy nhìn mái tóc của bà; khi còn trẻ, nó dày và đen nhánh. Giờ đây, nó đang rụng dần. Nó đang rời đi. Đôi mắt bà từng tinh tường và khỏe mạnh, nhưng giờ đây chúng đã yếu đi, thị lực trở nên mờ nhạt. Khi các cơ quan nội tạng đã hoàn thành sứ mệnh, chúng sẽ rời đi, bởi lẽ đây không phải là ngôi nhà thực sự của chúng. Khi còn thơ ấu, hàm răng của bà thật khỏe mạnh và chắc chắn; giờ đây, chúng trở nên lung lay, hoặc bà đã phải dùng răng giả. Mắt, tai, mũi, lưỡi, mọi thứ đều đang suy yếu, bởi nơi đây không phải là chốn cư ngụ vĩnh viễn của chúng. Bà không thể xây dựng một ngôi nhà trường cửu giữa những điều kiện vô thường; bà chỉ có thể lưu lại trong một sát na ngắn ngủi, rồi sau đó buộc phải ra đi. Điều đó tựa như hình ảnh một người đang trông coi ngôi nhà nhỏ bé của mình bằng đôi mắt ngày càng mờ yếu. Răng của ông ấy chẳng còn tốt nữa, mắt cũng chẳng còn tinh tường, thân cũng chẳng còn khỏe mạnh—mọi thứ đều đang dần rời bỏ ông.

So you needn't worry about anything because this isn't your real home, it's only a temporary shelter. Having come into this world you should contemplate its nature. Everything there is is preparing to disappear. Look at your body. Is there anything there that's still in its original form? Is your skin as it used to be? Is your hair? They aren't the same, are they? Where has everything gone? This is nature, the way things are. When their time is up, conditions go their way. In this world there is nothing to rely on — it's an endless round of disturbance and trouble, pleasure and pain. There's no peace.

Vì thế bà không cần bận tâm lo lắng về bất cứ điều gì, bởi lẽ đây không phải là ngôi nhà thực sự của bà; nó chỉ đơn thuần là một chốn nương tựa tạm bợ. Một khi đã hiện diện trên cõi đời này, bà nên chiêm nghiệm về bản chất thực sự của nó. Vạn vật hiện hữu đều đang trong quá trình chuẩn bị để tan biến. Hãy nhìn vào chính thân này của bà. Liệu nó vẫn giữ nguyên hình hài như thuở ban đầu chăng? Làn da của bà có còn như xưa? Mái tóc của bà thì sao? Chúng đâu còn y nguyên như trước nữa, phải không? Chúng đã trôi dạt về đâu? Đó chính là quy luật của tự nhiên, là bản chất vốn có của vạn vật. Khi thời hạn đã mãn, các duyên đã tan. Trên cõi đời này, chẳng có điều gì là đáng để ta nương tựa; nó chỉ là một vòng xoay bất tận của những xáo động và phiền não, của những niềm vui và nỗi khổ đau. Chẳng hề có chút bình an nào nơi đây.

When we have no real home we're like aimless travelers out on the road, going here and there, stopping for a while and then setting off again. Until we return to our real homes we feel uneasy, just like a villager who's left his village. Only when he gets home can he really relax and be at peace.

Khi chúng ta không có một mái nhà thực sự, ta tựa như lữ khách trên đường đời vô định đi đây đó, dừng chân đôi chút rồi lại tiếp tục lên đường. Cho đến khi trở về với mái nhà đích thực của mình, ta vẫn cảm thấy bồn chồn, hệt như một người đã rời xa quê hương. Chỉ khi trở về đến nhà, người ấy mới có thể thực sự thư thái và tìm thấy sự bình an.

Nowhere in the world is there any real peace to be found. The poor have no peace and neither do the rich; adults have no peace and neither do the highly educated. There's no peace anywhere, that's the nature of the world. Those who have few possessions suffer, and so do those who have many. Children, adults, old and young... everyone suffers. The suffering of being old, the suffering of being young, the suffering of being wealthy and the suffering of being poor... it's all nothing but suffering.

Không nơi nào trên thế gian này có thể tìm thấy sự bình an thực sự. Người nghèo không có bình an, mà người giàu cũng chẳng có; người trưởng thành không có bình an, mà những người học thức cao cũng vậy. Chẳng có bình an ở bất cứ đâu—đó chính là bản chất của thế giới này. Những ai sở hữu ít của cải thì phải chịu khổ, mà những ai sở hữu nhiều cũng thế. Trẻ thơ, người lớn, người già hay người trẻ... tất cả đều phải chịu khổ đau. Nỗi khổ của tuổi già, nỗi khổ của tuổi trẻ, nỗi khổ của sự giàu sang và nỗi khổ của sự nghèo hèn... tất cả rốt cuộc cũng chỉ là những nỗi khổ đau.

When you've contemplated things in this way you'll see aniccam, impermanence, and dukkham, unsatisfactoriness. Why are things impermanent and unsatisfactory? Because they are anatta, not self.

Khi bà đã quán chiếu sự vật theo cách này, bà sẽ thấy aniccam tính vô thường, và dukkham tính bất toại nguyện. Tại sao sự vật lại vô thường và bất toại nguyện? Bởi vì chúng là anatta vô ngã.

Both your body that is lying sick and in pain, and the mind that is aware of its sickness and pain, are called dhamma. That which is formless, the thoughts, feelings and perceptions, is called namadhamma. That which is racked with aches and pains is called rupadhamma. The material is dhamma and the immaterial is dhamma. So we live with dhammas, in dhamma, and we are dhamma. In truth there is no self to be found, there are only dhammas continually arising and passing away as is their nature. Every single moment we're undergoing birth and death. This is the way things are.

Cả thân đang nằm đau ốm và chịu đựng nỗi đau, lẫn tâm đang nhận biết về sự đau ốm và nỗi đau ấy, đều được gọi là Pháp (Dhamma). Những gì vô tướng—tức là ý nghĩ, cảm thọ và tri giác—được gọi là Danh Pháp (Namadhamma). Những gì đang quằn quại trong sự đau nhức và thống khổ được gọi là Sắc Pháp (Rupadhamma). Vật chất là pháp, và phi vật chất cũng là pháp. Vì thế, chúng ta sống cùng với các pháp, sống trong pháp, và chính chúng ta cũng là pháp. Thực ra, chẳng có cái "ngã" nào để tìm thấy ở đây cả; chỉ có các pháp liên tục sinh khởi rồi hoại diệt theo đúng bản chất tự nhiên của chúng. Trong từng khoảnh khắc, chúng ta đều đang trải qua quá trình sinh và diệt. Đó chính là bản chất thực sự của vạn vật, của các pháp.

When we think of the Lord Buddha, how truly he spoke, we feel how worthy he is of reverence and respect. Whenever we see the truth of something we see His teachings, even if we've never actually practiced the Dhamma. But even if we have a knowledge of the teachings, have studied and practiced them, as long as we still haven't seen the truth we are still homeless.

Khi ta nghĩ về Đức Phật, về chân thực tuyệt đối trong những lời Ngài dạy, ta cảm nhận sâu sắc rằng Ngài quả thực vô cùng xứng đáng nhận lãnh lòng tôn kính và sự ngưỡng vọng. Bất cứ khi nào ta nhận thấy chân lý nơi các Pháp, ấy chính là lúc ta nhìn thấy những lời giáo huấn của Ngài, dẫu cho ta chưa từng thực sự tu tập theo Pháp. Tuy nhiên, ngay cả khi ta đã am hiểu giáo lý, đã dày công nghiên cứu và thực hành, chừng nào ta vẫn chưa thực sự thấu đạt chân lý, thì ta vẫn còn là kẻ vô gia cư.

So understand this point. All people, all creatures, are preparing to leave. When beings have lived an appropriate time they must go on their way. Rich, poor, young and old must all experience this change.

Vậy hãy thấu hiểu điều này: Tất cả mọi người, mọi sinh vật, đều đang chuẩn bị ra đi. Khi các sinh linh đã sống trọn vẹn khoảng thời gian thích hợp, họ buộc phải tiếp bước trên hành trình của mình. Dù giàu hay nghèo, dù trẻ hay già, tất cả đều phải trải qua sự chuyển biến này.

When you realize that's the way the world is you'll feel that it's a wearisome place. When you see that there's nothing real or substantial you can rely on you'll feel wearied and disenchanted. Being disenchanted doesn't mean you are averse, the mind is clear. It sees that there's nothing to be done to remedy this state of affairs, it's just the way the world is. Knowing in this way you can let go of attachment, letting go with a mind that is neither happy nor sad, but at peace with conditions through seeing their changing nature with wisdom. Anicca vata sankhara — all conditions are impermanent.

Khi bà nhận ra thế giới vận hành như vậy, bà sẽ cảm thấy nơi đây thật phiền não. Khi thấy rằng chẳng có gì thực sự hiện hữu hay vững bền để ta có thể nương tựa, bà sẽ cảm thấy kiệt sức và thất vọng. Sự thất vọng này không đồng nghĩa với việc bà chán ghét hay phản kháng; trái lại, tâm lúc này lại vô cùng sáng suốt. Nó thấu hiểu rằng chẳng có điều gì có thể làm để xoay chuyển hay khắc phục thực trạng này cả, đó đơn thuần chính là bản chất vốn có của thế giới. Với sự thấu hiểu như vậy, bà có thể buông bỏ mọi sự chấp trước, buông bỏ với trạng thái không vui cũng chẳng buồn, mà hoàn toàn an nhiên tự tại trước mọi hoàn cảnh, nhờ vào trí tuệ giúp nhận diện rõ bản chất vô thường, biến đổi của vạn sự. *Anicca vata sankhara* — các pháp hữu vi đều vô thường.

To put it simply, impermanence is the Buddha. If we truly see an impermanent condition we'll see that it's permanent. It's permanent in the sense that its subjection to change is unchanging. This is the permanence that living beings possess. There is continual transformation, from childhood through to old age, and that very impermanence, that propensity to change, is permanent and fixed. If you look at it like this your heart will be at ease. It's not just you who has to go through this, it's everyone.

Nói một cách đơn giản, vô thường chính là Buddha (sự giác ngộ). Nếu thực sự thấu suốt bản chất vô thường của các pháp hữu vi, ta sẽ nhận ra rằng nó lại chính là sự thường hằng. Nó thường hằng ở chỗ: quy luật chi phối sự biến đổi của nó lại là điều bất biến. Đây chính là sự thường hằng mà mọi chúng sinh đều sở hữu. Sự chuyển hóa diễn ra không ngừng, từ thuở ấu thơ cho đến khi về già; và chính cái tính vô thường, cái khuynh hướng luôn biến đổi , lại là điều thường hằng và bất biến. Nếu nhìn nhận sự việc theo cách này, tâm bà sẽ được an nhiên tự tại. Không chỉ riêng bà phải trải qua điều này, mà tất cả mọi người đều như vậy.

Từ "Buddha" không chỉ là một tôn vinh đối với một vị lãnh đạo tôn giáo mà còn là biểu tượng của sự giác ngộ và trí tuệ. Sự giác ngộ mà danh hiệu Buddha hàm chứa là một quá trình loại bỏ hoàn toàn mọi phiền não, chấp trước và ảo tưởng về bản chất của thực tại.

When you consider things in this way you'll see them as wearisome, and disenchantment will arise. Your delight in the world of sense pleasures will disappear. You'll see that if you have many possessions you have to leave a lot behind. If you have a few you leave few behind. Wealth is just wealth, long life is just long life... they're nothing special.

Khi bà nhìn nhận các Pháp theo cách này, bà sẽ thấy chúng thật tẻ nhạt, và cảm giác thất vọng sẽ nảy sinh. Niềm vui thích của bà đối với thế giới của những lạc thú giác quan sẽ tan biến. Bà sẽ nhận ra rằng: nếu sở hữu nhiều của cải, bà sẽ phải bỏ lại phía sau rất nhiều thứ; còn nếu sở hữu ít, bà cũng chỉ phải bỏ lại chút ít mà thôi. Giàu sang cũng chỉ là giàu sang, trường thọ cũng chỉ là trường thọ... tất cả đều chẳng có gì là đặc biệt.

What is important is that we should do as the Lord Buddha taught and build our own home, building it by the method that I've been explaining to you. Build your own home. Let go. Let go until the mind reaches the peace that is free from advancing, free from retreating and free from stopping still. Pleasure is not your home, pain is not your home. Pleasure and pain both decline and pass away.

Điều quan trọng là chúng ta cần tu tập theo lời Đức Phật dạy để xây dựng ngôi nhà của chính mình, xây dựng theo phương pháp mà Sư đã và đang giải thích cho bà. Hãy tự xây dựng ngôi nhà của chính mình. Hãy buông bỏ. Hãy buông bỏ cho đến khi tâm đạt đến trạng thái an bình, thoát khỏi sự tiến tới, thoát khỏi sự lùi bước, và thoát khỏi cả sự đứng yên bất động. Khoái lạc không phải là ngôi nhà của bà; khổ đau cũng không phải là ngôi nhà của bà. Cả khoái lạc lẫn khổ đau đều suy tàn và hoại diệt.

The Great Teacher saw that all conditions are impermanent and so He taught us to let go of our attachment to them. When we reach the end of our life we'll have no choice anyway, we won't be able to take anything with us. So wouldn't it be better to put things down before then? They're just a heavy burden to carry around, why not throw off that load now? Why bother to drag these things around? Let go, relax, and let your family look after you.

Đức Phật nhận thấy rằng tất cả các pháp hữu vi đều vô thường; chính vì thế, Ngài đã dạy chúng ta hãy buông bỏ sự chấp trước vào chúng. Dẫu sao thì khi đi đến cuối cuộc đời, chúng ta cũng chẳng còn sự lựa chọn nào khác, chúng ta sẽ chẳng thể mang theo bất cứ thứ gì bên mình. Vậy thì, chẳng phải sẽ tốt hơn sao nếu ta buông bỏ mọi thứ ngay từ trước lúc ấy? Những thứ đó vốn dĩ chỉ là gánh nặng trĩu vai phải mang vác, cớ sao ta không trút bỏ gánh nặng ấy ngay từ bây giờ? Tại sao cứ phải nhọc công lôi kéo những thứ ấy theo bên mình? Hãy buông bỏ, hãy thư thái, và để cho gia đình chăm sóc bà.

Those who nurse the sick grow in goodness and virtue. The patient who is giving others that opportunity shouldn't make things difficult for them. If there's pain or some problem or other, let them know and keep the mind in a wholesome state. One who is nursing parents should fill his or her mind with warmth and kindness and not get caught up in aversion. This is the one time you can repay your debt to them. From your birth through your childhood, as you've grown up, you've been dependent on your parents. That you are here today is because your mother and father have helped you in so many ways. You owe them an incredible debt of gratitude.

Những người chăm sóc bệnh nhân là người có lòng nhân ái và giới hạnh sẽ tăng trưởng. Người bệnh, là người tạo cơ hội quý báu cho người khác lòng nhân từ, không nên gây khó dễ cho họ. Nếu cảm thấy đau đớn hay gặp phải bất cứ vấn đề nào khác, hãy cho người chăm sóc biết, đồng thời luôn giữ cho tâm mình ở trạng thái thiện lành. Người con khi chăm sóc cha mẹ cần lấp đầy tâm mình bằng sự ấm áp và lòng từ ái, chớ để tâm bị vướng mắc vào sự bực bội hay chán ghét. Đây chính là cơ hội duy nhất để bạn có thể đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ. Từ thuở lọt lòng cho đến suốt thời thơ ấu và khi đã trưởng thành, bà luôn sống dựa vào sự che chở của cha mẹ. Việc bà có mặt trên đời này ngày hôm nay chính là nhờ vào sự giúp đỡ to lớn và vô vàn của cha mẹ dành cho bà. Bà mang trong mình một món nợ ân nghĩa vô cùng sâu nặng đối với các đấng sinh thành.

So today, all of you children and relatives gathered together here, observe how your mother has become your child. Before you were her children, now she has become yours. She has become older and older until she has become a child again. Her memory goes, her eyes don't see well and her ears aren't so good. Sometimes she garbles her words. Don't let it upset you. You who are nursing the sick must know how to go also. Don't hold onto things, just let her have her own way. When a young child is disobedient sometimes the parents let it have its own way just to keep the peace, just to make it happy. Now your mother is just like that child. Her memories and perceptions are confused. Sometimes she muddles up your names, or asks you to bring a cup when she wants a plate. It's normal, don't be upset by it.

Vậy nên hôm nay, khi tất cả các con và họ hàng của bà cùng tề tựu nơi đây, hãy cùng chiêm nghiệm xem người mẹ của các con đã trở thành một đứa trẻ như thế nào. Trước kia, các con là con của mẹ; giờ đây, mẹ lại trở thành con của chính các con. Mẹ ngày càng già đi, cho đến khi trở lại ngây thơ như một đứa trẻ. Trí nhớ của mẹ kém đi, đôi mắt không còn nhìn rõ và tai cũng chẳng còn thính nữa. Đôi khi, lời nói của mẹ trở nên lộn xộn, không còn mạch lạc. Đừng vì thế mà cảm thấy phiền lòng. Những người đang chăm sóc người bệnh cần phải biết cách tùy thuận. Đừng quá câu nệ hay chấp chặt vào mọi chuyện; hãy cứ để mẹ được làm theo ý mình. Khi một đứa trẻ còn thơ dại đôi lúc không vâng lời, cha mẹ thường chiều theo ý con chỉ để giữ cho nhà cửa êm ấm, chỉ để làm cho con vui lòng. Giờ đây, mẹ của các con cũng hệt như đứa trẻ ấy vậy. Trí nhớ và nhận thức của mẹ đã trở nên lẫn lộn. Đôi khi mẹ gọi nhầm tên các con, hoặc bảo các con mang đến một chiếc cốc trong khi điều mẹ thực sự muốn lại là một chiếc đĩa. Đó là chuyện hết sức bình thường; đừng vì thế mà cảm thấy bực bội hay khó chịu.

Let the patient bear in mind the kindness of those who nurse and patiently endure the painful feelings. Exert yourself mentally, don't let the mind become scattered and confused, and don't make things difficult for those looking after you. Let those who are nursing fill their minds with virtue and kindness. Don't be averse to the unattractive side of the job, cleaning up the mucous and phlegm, urine and excrement. Try your best. Everyone in the family give a hand.

Người bệnh hãy luôn khắc ghi ân nghĩa của những người đang chăm sóc mình, và kiên nhẫn chịu đựng những nỗi đau đớn về thể xác. Hãy nỗ lực giữ vững tâm, đừng để tâm trở nên tán loạn hay hoang mang, và cũng đừng gây khó khăn cho những người đang phụng dưỡng mình. Những người làm công tác chăm sóc hãy luôn giữ cho tâm mình tràn đầy lòng nhân ái và giới hạnh. Đừng tỏ thái độ chán ghét trước những khía cạnh kém phần dễ chịu của công việc này, như việc dọn dẹp đờm dãi, nước tiểu hay chất thải của người bệnh. Hãy cố gắng hết sức mình. Và mong rằng mọi thành viên trong gia đình đều cùng nhau chung tay giúp sức.

She is the only mother you have. She gave you life, she has been your teacher, your doctor and your nurse — she's been everything to you. That she has brought you up, shared her wealth with you and made you her heir is the great goodness of parents. That is why the Buddha taught the virtues of kataññu and katavedi, knowing our debt of gratitude and trying to repay it. These two dhamma are complimentary. If our parents are in need, unwell or in difficulty, then we do our best to help them. This is kataññu-katavedi, the virtue that sustains the world. It prevents families from breaking up, and makes them stable and harmonious.

Mẹ là người mẹ duy nhất mà bạn có. Mẹ đã ban cho bạn sự sống; mẹ đã là người thầy, là bác sĩ, là y tá của bạn — mẹ đã là tất cả đối với bạn. Việc mẹ đã nuôi dưỡng bạn nên người, chia sẻ tài sản cùng bạn và chọn bạn làm người thừa kế chính là biểu hiện của ân đức cao cả nơi cha mẹ. Chính vì lẽ đó, Đức Phật đã dạy về hai phẩm hạnh *kataññu* và *katavedi* — tức là biết ghi nhớ ân nghĩa và nỗ lực đền đáp ân nghĩa ấy. Hai pháp này luôn bổ trợ lẫn nhau. Khi cha mẹ ta gặp khó khăn, đau ốm hay lâm vào cảnh ngặt nghèo, ta hãy dốc hết sức mình để giúp đỡ các ngài. Đó chính là *kataññu-katavedi - biết ơn và đền ơn* — phẩm hạnh giúp duy trì sự an ổn cho thế gian này. Phẩm hạnh ấy giúp ngăn chặn sự tan vỡ trong gia đình, đồng thời kiến ​​tạo nên sự bền vững và hòa thuận.

Today I have brought you the gift of Dhamma in this time of illness. I have no material things to offer you, there seem to be plenty of those in this house already. And so I give you the Dhamma, something which has lasting worth, something which you'll never be able to exhaust. Having received it you can pass it on to as many others as you like and it will never be depleted. That is the nature of Truth. I am happy to have been able to give you this gift of Dhamma and hope it will give you the strength to deal with your pain.

Hôm nay, Sư tặng cho bà món quà Pháp bảo trong những ngày bà đang lâm bệnh này. Sư không có vật chất gì để dâng tặng bà, bởi lẽ dường như trong ngôi nhà này vốn đã có thừa những thứ ấy rồi. Vì vậy, Sư xin trao tặng bà Pháp bảo, một điều mang giá trị vĩnh cửu, một kho tàng mà bà sẽ chẳng bao giờ có thể dùng cạn. Sau khi đón nhận, bà có thể chia sẻ món quà này đến bao nhiêu người tùy thích, mà nó vẫn sẽ chẳng bao giờ vơi cạn. Đó chính là bản chất của Chân lý. Sư vô cùng hoan hỷ khi được trao tặng bà món quà Pháp bảo này, và hy vọng rằng nó sẽ tiếp thêm sức mạnh giúp bà đương đầu với những nỗi đau đang giày vò thân xác.

[This talk was given at the Manjushri Institute at Cumbria, U.K., in 1977]

[Bài thuyết giảng này tại Tu Viện Manjushri ở Cumbria, Vương quốc Anh, vào năm 1977.]

Today I have been invited by the abbot to give you a teaching, so I ask you all to sit quietly and compose your minds. Due to the language barrier we must make use of a translator, so if you do not pay proper attention you may not understand.

Hôm nay, tôi đã được Thầy Trụ trì mời đến để chia sẻ một bài pháp với quý vị; vì vậy, mong toàn thể quý vị hãy ngồi yên lặng và lắng đọng tâm trí. Do ngôn ngữ khác biệt, chúng ta cần phải sử dụng người phiên dịch; thế nên, nếu quý vị không chú tâm, quý vị sẽ không thể thấu hiểu được nội dung bài giảng.

My stay here has been very pleasant. Both the Master and you, his followers, have been very kind, all friendly and smiling, as befits those who are practicing the true Dhamma. Your property, too, is very inspiring, but so big! I admire your dedication in renovating it to establish a place for practicing the Dhamma.

Thời gian lưu lại nơi đây của tôi thấy dễ chịu. Cả Sư trụ trì lẫn quý Phật tử, những người đệ tử của Ngài, đều rất tử tế; ai nấy đều thân thiện và luôn nở nụ cười, thật xứng đáng với những người đang tu tập Chánh Pháp. Tu viện thật hoàng tráng, nhưng rất là rộng lớn biết bao! Tôi vô cùng ngưỡng mộ sự tận tâm của quý vị trong việc trùng tu nơi này để kiến ​​tạo nên một chốn tu tập Pháp bảo.

Having been a teacher for many years now, I've been through my share of difficulties. At present there are altogether about forty branch monasteries [7] of my monastery, Wat Nong Ba Pong, but even these days I have followers who are hard to teach. Some know but don't bother to practice, some don't know and don't try to find out. I don't know what to do with them. Why do human beings have minds like this? Being ignorant is not so good, but even when I tell them, they still don't listen. I don't know what more I can do. People are so full of doubts in their practice, they're always doubting. They all want to go to nibbana, but they don't want to walk the path. It's baffling. When I tell them to meditate they're afraid, or if not afraid then just plain sleepy. Mostly they like to do the things I don't teach. When I met the Venerable Abbot here I asked him what his followers were like. He said they're the same. This is the pain of being a teacher.

Tôi đã từng giảng dạy trong nhiều năm qua, đã trải qua không ít khó khăn. Hiện nay Wat Nong Ba Pong có khoảng bốn mươi tu viện chi nhánh [7]; thế nhưng ngay cả trong thời đại này, tôi vẫn gặp những đệ tử thật khó để giáo hóa. Có người hiểu rõ nhưng lại chẳng chịu thực hành; lại có người chẳng hề hay biết, mà cũng chẳng chịu tìm tòi học hỏi. Tôi thật chẳng biết phải làm sao với họ. Tại sao tâm con người lại như thế này? Sự vô minh vốn đã chẳng tốt đẹp gì, nhưng ngay cả khi tôi đã tận tình chỉ dạy, họ vẫn không học, chẳng chịu lắng nghe. Tôi thật chẳng biết mình còn có thể làm gì hơn nữa. Người ta thường có quá nhiều hoài nghi trong quá trình tu tập, lúc nào họ cũng chỉ biết nghi ngờ. Ai ai cũng khao khát đạt đến Niết-bàn, nhưng lại chẳng chịu bước đi trên con đường dẫn đến đó. Thật là một điều khó hiểu. Khi tôi bảo họ ngồi thiền, họ lại tỏ ra sợ hãi; hoặc nếu không sợ hãi, thì lại chỉ biết ngáp ngắn ngáp dài vì buồn ngủ. Đa phần, họ lại chỉ thích làm những điều mà tôi chẳng hề dạy bảo. Khi gặp vị Trụ trì tại nơi đây, tôi đã hỏi Ngài xem các đệ tử của Ngài là những người như thế nào. Ngài đáp rằng: "Họ cũng y hệt như vậy cả thôi." Đó chính là nỗi khổ tâm của người làm thầy.

The teaching I will present to you today is a way to solve problems in the present moment, in this present life. Some people say that they have so much work to do they have no time to practice the Dhamma. "What can we do?" they ask. I ask them, "Don't you breathe while you're working?" "Yes, of course we breathe!" "So how come you have time to breathe when you're so busy?" They don't know what to answer. "If you simply have sati while working you will have plenty of time to practice."

Giáo lý mà tôi sẽ trình bày với quý vị hôm nay là một phương cách để giải quyết các vấn đề ngay trong khoảnh khắc hiện tại, ngay trong cuộc sống này. Một số người than rằng họ có quá nhiều việc phải làm, đến mức chẳng còn chút thời gian nào để thực hành Pháp. "Chúng tôi biết phải làm sao đây?" họ hỏi. Tôi bèn hỏi lại họ: "Chẳng phải quý vị vẫn hít thở trong lúc làm việc đó sao?" "Dạ vâng, tất nhiên là chúng tôi vẫn hít thở chứ!" "Vậy thì tại sao quý vị lại có thời gian để hít thở khi đang bận rộn đến thế?" Họ liền không biết phải trả lời ra sao. "Nếu quý vị chỉ đơn thuần duy trì chánh niệm (sati) trong khi làm việc, thì quý vị sẽ có thừa thời gian để thực hành."

Practicing meditation is just like breathing. While working we breathe, while sleeping we breathe, while sitting down we breathe... Why do we have time to breathe? Because we see the importance of the breath, we can always find time to breathe. In the same way, if we see the importance of meditation practice we will find the time to practice.

Việc thực hành thiền cũng giống như việc hít thở vậy. Khi làm việc, ta hít thở; khi ngủ, ta hít thở; khi ngồi nghỉ, ta hít thở... Tại sao ta lại có thời gian để hít thở? Chính vì ta nhận thấy tầm quan trọng của hơi thở, nên ta luôn có thể tìm ra thời gian để hít thở. Cũng theo cách đó, nếu ta nhận thấy tầm quan trọng của việc thực hành thiền, ta sẽ tìm được thời gian để thực hành.

Have any of you ever suffered?... have you ever been happy?... Right here is the truth, this is where you must practice the Dhamma. Who is it who is happy? The mind is happy. who suffers? The mind suffers. Wherever these things arise, that's where they cease. Have you experienced happiness?...
Have you experienced suffering?... this is our problem.
If we know suffering, [8]
the cause of suffering,
the end of suffering
and the way leading to the end of suffering
we can solve the problem.

Trong số quý vị có bao giờ gặp phải khổ đau chưa?... Đã bao giờ quý vị cảm thấy hạnh phúc chưa?... Ngay tại đây chính là sự thật; đây chính là nơi quý vị phải tu tập Chánh Pháp. Ai là người cảm thấy hạnh phúc? Chính là tâm này hạnh phúc. Ai là người chịu khổ đau? Chính là tâm này chịu khổ đau. Bất cứ nơi nào những điều này sinh, thì chính tại nơi đó chúng sẽ diệt. Quý vị đã từng trải nghiệm hạnh phúc chưa?... Quý vị đã từng trải nghiệm khổ đau chưa?... Đây chính là vấn đề của chúng ta. Nếu chúng ta thấu hiểu về
Khổ (Dukkha-ariya-sacca, Khổ thánh đế) , [8]
về Nguyên nhân của Khổ (dukkha-samudaya-ariyasacca, Tập khổ thánh đế),
về Sự chấm dứt của Khổ (dukkha-nirodha-ariyasacca, Diệt Khổ thánh đế),
và về Con đường dẫn đến sự chấm dứt của Khổ (dukkha-nirodha-gamini-patipada-ariya-sacca - Đạo diệt khổ thánh đế) ,
thì chúng ta có thể giải quyết được vấn đề này.

There are two kinds of suffering: ordinary suffering and the extraordinary kind. Ordinary suffering is the suffering which is the inherent nature of conditions: standing is suffering, sitting is suffering, lying down is suffering. This is the suffering that is inherent in all conditioned phenomena. Even the Buddha experienced these things, he experienced comfort and pain, but he recognized them as conditions in nature. He knew how to overcome these ordinary, natural feelings of comfort and pain through understanding their true nature. Because he understood this "natural suffering" those feelings didn't upset him.

Có hai loại khổ đau: khổ đau vật chất và khổ đau tinh thần. Khổ đau vật chất là loại khổ đau vốn là bản chất cố hữu của các pháp hữu vi: đứng là khổ, ngồi là khổ, nằm là khổ. Đây là nỗi khổ vốn tiềm ẩn trong mọi hiện tượng hữu vi. Ngay cả Đức Phật cũng đã trải nghiệm những điều này; Ngài cảm nhận cả sự dễ chịu lẫn nỗi đau, nhưng Ngài nhận thức chúng chỉ là những điều kiện thuộc về bản chất tự nhiên. Ngài biết cách vượt qua những cảm giác tự nhiên, thông thường về sự dễ chịu và nỗi đau ấy thông qua việc thấu hiểu bản chất thực sự của chúng. Chính vì thấu hiểu "nỗi khổ tự nhiên" này, những cảm giác ấy đã không làm Ngài xao động.

The important kind of suffering is the second kind, the suffering that creeps in from the outside, the "extraordinary suffering." If we are sick we may have to get an injection from the doctor. When the needle pierces the skin there is some pain which is only natural. When the needle is withdrawn that pain disappears. This is like the ordinary kind of suffering, it's no problem, everybody experiences it. The extraordinary suffering is the suffering that arises from what we call upadana, grasping onto things. This is like having an injection with a syringe filled with poison. This is no longer an ordinary kind of pain, it is the pain which ends in death. This is similar to the suffering which arises from grasping.

Loại khổ đau quan trọng chính là loại thứ hai, loại khổ đau len lỏi từ bên ngoài vào, cái gọi là "khổ đau tinh thần." Khi bị ốm, có thể chúng ta sẽ phải tiêm thuốc theo chỉ định của bác sĩ. Lúc mũi kim đâm xuyên qua da, ta cảm thấy đau đớn đôi chút, đó là điều hoàn toàn tự nhiên. Khi mũi kim được rút ra, cảm giác đau ấy cũng tan biến. Đây chính là loại khổ đau vật chất; nó không gây trở ngại gì cả, bởi lẽ ai ai cũng đều từng trải qua. Ngược lại, khổ đau tinh thần là loại khổ đau nảy sinh từ cái mà chúng ta gọi là *upādāna* sự chấp thủ vào mọi sự vật, hiện tượng. Điều này cũng tựa như việc bị tiêm một mũi kim chứa đầy chất độc vậy. Đó không còn là nỗi đau thông thường nữa; đó là nỗi đau dẫn đến cái chết. Tình cảnh này hoàn toàn tương đồng với nỗi khổ đau nảy sinh từ sự chấp thủ.

Wrong view, not knowing the impermanent nature of all conditioned things, is another kind of problem. Conditioned things are the realm of samsara. [9] Not wanting things to change — if we think like this we must suffer. When we think that the body is ourselves or belonging to us, we are afraid when we see it change. Consider the breath: once it comes in it must go out, having gone out it must come in again. This is its nature, this is how we manage to live. Things don't function in that way. This is how conditions are but we don't realize it.

Tà kiến, tức là không thấu hiểu bản chất vô thường của các pháp hữu vi, là một vấn đề khác. Các pháp hữu vi chính là cõi luân hồi. [9] Không muốn mọi sự vật thay đổi — nếu chúng ta nghĩ như vậy chúng ta phải chịu khổ đau. Khi ta lầm tưởng rằng thân này chính là thân mình, hoặc là vật sở hữu của mình, ta sẽ cảm thấy sợ hãi mỗi khi chứng kiến ​​nó biến đổi. Hãy thử quán chiếu hơi thở: một khi đã hít vào, nó ắt phải thở ra; và khi đã thở ra, lại phải hít vào. Đó chính là bản chất tự nhiên, và cũng chính nhờ quy luật ấy mà ta mới có thể tiếp tục sống. Mọi việc không vận hành theo cách đó. Thực tế là như vậy, nhưng chúng ta lại không nhận ra điều đó..

Suppose we lost something. if we thought that object was really ours, we would brood over it. If we couldn't see it as a conditioned thing faring according to the laws of nature we would experience suffering. But if you breathe in, can you live? Conditioned things must naturally change in this way. To see this is to see the Dhamma, to see aniccam, change. We live dependent on this change. When we know how things are then we can let go of them.

Giả sử ta đánh mất một vật gì. Nếu ta nghĩ vật ấy thực sự thuộc về mình, ta sẽ cứ mãi day dứt, tiếc nuối về nó. Nếu ta không thể nhìn nhận nó như một sự vật hữu vi, vận hành theo quy luật tự nhiên, ta sẽ phải chịu đựng khổ đau. Thế nhưng, nếu chỉ hít vào mà không thở ra, liệu ta có thể sống được chăng? Các Pháp hữu vi vốn dĩ phải biến đổi theo quy luật tự nhiên như thế. Nhìn thấy được điều này chính là thấy được Chánh Pháp (Dhamma), thấy được tính vô thường (anicca), sự biến đổi. Ta sống nương tựa vào chính sự biến đổi này. Khi thấu hiểu được bản chất thực sự của vạn vật, ta mới có thể buông bỏ chúng.

The practice of Dhamma is to develop an understanding of the way of things so that suffering doesn't arise. If we think wrongly we are at odds with the world, at odds with the Dhamma and with the truth. Suppose you were sick and had to go into hospital. Most people think, "Please don't let me die, I want to get better." This is wrong thinking, it will lead to suffering. You have to think to yourself, "If I recover I recover, if I die I die." this is right thinking, because you can't ultimately control conditions. If you think like this, whether you die or recover, you can't go wrong, you don't have to worry. Wanting to get better at all costs and afraid of the thought of dying... this is the mind which doesn't understand conditions. You should think, "If I get better that's fine, if I don't get better that's fine." This way we can't go wrong, we don't have to be afraid or cry, because we have tuned ourselves in to the way things are.

Tu tập Chánh Pháp chính là để phát triển sự thấu hiểu về bản chất của các Pháp, nhờ đó khổ đau không còn khởi sinh. Nếu ta tư duy sai, ta sẽ trở nên đối nghịch với thế giới, đối nghịch với Chánh Pháp và với chân lý. Giả sử bạn lâm bệnh và phải nhập viện. Hầu hết mọi người thường nghĩ: "Xin đừng để tôi chết, tôi muốn được bình phục." Đây là lối tư duy sai; nó sẽ dẫn đến khổ đau. Bạn cần tự nhủ với chính mình rằng: "Nếu tôi bình phục thì tôi bình phục; nếu tôi chết thì chết." Đây mới là lối tư duy đúng đắn, bởi lẽ suy cho cùng, bạn không thể nào kiểm soát được các điều kiện duyên sinh. Nếu bạn tư duy như vậy, thì dù bạn chết hay bình phục, bạn cũng sẽ không bao giờ sai lầm, và bạn chẳng cần phải lo âu. Việc khao khát được bình phục bằng mọi giá, cùng nỗi sợ hãi tột cùng trước ý nghĩ về cái chết... đó chính là tâm chưa thấu hiểu về bản chất của các yếu tố duyên sinh. Bạn nên tư duy rằng: "Nếu tôi bình phục thì tốt; nếu tôi không bình phục thì cũng tốt." Nhờ thái độ này, ta sẽ không bao giờ sai lầm; ta chẳng cần phải sợ hãi hay rơi lệ, bởi lẽ ta đã điều chỉnh tâm mình hòa hợp trọn vẹn với bản chất thực tại của các Pháp.

The Buddha saw clearly. His teaching is always relevant, never out-dated. It never changes. In the present day it's still the way they are, they haven't changed. By taking this teaching to heart we can gain the reward of peace and well-being.

Đức Phật đã thấy rõ. Giáo pháp của Ngài luôn luôn có thể áp dụng , không bao giờ lỗi thời. Giáo pháp ấy không bao giờ thay đổi. Cho đến tận ngày nay, mọi sự vẫn y nguyên như thế, chẳng hề đổi khác. Khi khắc sâu giáo pháp này vào tâm, chúng ta sẽ gặt hái được phần thưởng là sự an lạc và hạnh phúc.

In the teachings there is the reflection of "not-self": "this is to listen to this kind of teaching because they are attached to the idea of self. This is the cause of suffering. You should take note of this.

Trong các lời giảng dậy, có quan điểm về "vô ngã": "Lắng nghe loại giáo lý này là bởi vì người ta còn chấp vào ý niệm về cái ngã. Đây chính là nguyên nhân của khổ đau. Các bạn cần lưu tâm đến điều này."

Today a woman asked about how to deal with anger. I told her that the next time she gets angry, to wind up her alarm clock and put it in front of her. Then to give herself two hours for the anger to go away. If it was really her anger she could probably tell it to go away like this: "In two hours be gone!" But it isn't really ours to command. Sometimes in two hours it's still not gone, at other times in one hour it's gone already. Holding onto anger as a personal possession will cause suffering. If it really belonged to us it would have to obey us. If it doesn't obey us that means it's only a deception. Don't fall for it. Whether the mind is happy or sad, don't fall for it. Whether the mind loves or hates, don't fall for it, it's all a deception.

Hôm nay, một người phụ nữ đã hỏi về cách đối phó với cơn giận. Tôi bảo cô ấy rằng, lần tới khi cơn giận nổi lên, hãy lên dây cót chiếc đồng hồ báo thức và đặt nó ngay trước mặt. Sau đó, hãy để bản thân hai tiếng cho cơn giận lắng xuống. Nếu cơn giận ấy thực sự thuộc về cô, cô hẳn đã có thể ra lệnh cho nó: "Hãy biến đi trong vòng hai tiếng đi!" Nhưng thực tế, chúng ta không thể sai khiến nó được. Đôi khi, sau hai tiếng đồng hồ, cơn giận vẫn chưa tan biến; lại có lúc, chỉ sau một tiếng, nó đã tự động biến mất rồi. Khư khư ôm giữ cơn giận như thể là một tài sản riêng của mình sẽ chỉ mang lại khổ đau. Nếu cơn giận thực sự thuộc về chúng ta, thì hẳn nó đã phải tuân theo mệnh lệnh của chúng ta rồi. Nếu nó không chịu nghe lời, điều đó có nghĩa là nó chỉ là một sự đánh lừa mà thôi. Đừng để nó đánh lừa. Dù tâm đang vui hay buồn, cũng đừng để bị nó đánh lừa. Dù tâm đang yêu thương hay căm ghét, cũng đừng để nó đánh lừa; tất cả những điều đó đều chỉ là ảo ảnh mà thôi.

Have any of you ever been angry? When you are angry does it feel good or bad? If it feels bad then why don't you throw that feeling away, why bother to keep it? How can you say that you are wise and intelligent when you hold on to such things? Since the day you were born, how many times has the mind tricked you into anger? Some days the mind can even cause a whole family to quarrel, or cause you to cry all night. And yet we still continue to get angry, we still hold onto things and suffer. If you don't see suffering you will have to keep suffering indefinitely, with no chance for respite. The world of samsara is like this. If we know the way it is we can solve the problem.

Có ai trong số các bạn cảm thấy giận dữ chưa? Khi cơn giận nổi lên, cảm giác ấy là dễ chịu hay khó chịu? Nếu khó chịu, tại sao không vứt bỏ nó đi? Mà cứ khư khư giữ lấy làm gì? Làm sao bạn có thể tự nhận mình là người khôn ngoan và trí tuệ, khi mà bạn vẫn cứ ôm giữ những điều như thế trong lòng? Kể từ ngày bạn chào đời cho đến nay, đã bao nhiêu lần tâm lừa gạt, xúi giục bạn rơi vào cơn giận dữ? Có những ngày, chính tâm ấy thậm chí còn gây ra sự xích mích, cãi vã trong cả gia đình, hoặc khiến bạn phải khóc suốt cả đêm. Thế mà chúng ta vẫn cứ tiếp tục giận dữ; chúng ta vẫn cứ ôm giữ những điều ấy và tự chuốc lấy khổ đau. Nếu bạn không nhận diện được nỗi khổ đau, bạn sẽ buộc phải tiếp tục chịu đựng nó mãi mãi, không hề có một cơ hội để được giải thoát hay nghỉ ngơi. Thế giới luân hồi (Samsara) vốn dĩ là như vậy. Nếu chúng ta thấu hiểu được bản chất của nó, chúng ta sẽ tìm ra cách để giải quyết vấn đề.

The Buddha's teaching states that there is no better means to overcome suffering than to see that "this is not my self," "this is not mine." This is the greatest method. But we don't usually pay attention to this. When suffering arises we simply cry over it without learning from it. Why is that so? We must take a good hard look at these things, to develop the Buddho, the one who knows.

Giáo Lý của Đức Phật khẳng định rằng không có phương tiện nào hữu hiệu hơn để vượt thoát khổ đau, ngoại trừ việc thấu suốt rằng: "đây không phải là tự ngã của ta," "đây không phải là của ta." Đó chính là phương pháp tối thượng. Tuy nhiên, chúng ta thường không chú tâm đến điều này. Khi khổ đau khởi sinh, chúng ta chỉ biết than khóc mà chẳng hề rút ra được bài học nào từ đó. Tại sao lại như vậy? Chúng ta cần phải quán chiếu thật sâu sắc những sự việc này, để từ đó phát triển "Buddho" — tức là đấng Giác ngộ, đấng thấu suốt vạn Pháp

Take note, some of you may not be aware that this is Dhamma teaching. I'm going to give you some Dhamma that's outside the scriptures. Most people read the scriptures but don't see the Dhamma. Today I am going to give you a teaching that's outside the scriptures. Some people may miss the point or not understand it.

Xin lưu ý, có thể một số vị chưa nhận ra rằng đây chính là lời giáo huấn của Chánh Pháp (Dhamma). Tôi sắp trao tặng quý vị những lời Dhamma nằm ngoài khuôn khổ kinh điển. Đa phần mọi người thường đọc kinh điển nhưng lại không nhìn thấy được Dhamma thực sự. Hôm nay, tôi sẽ mang đến cho quý vị một bài giáo huấn nằm ngoài phạm vi kinh điển ấy. Có thể một số vị sẽ bỏ lỡ trọng tâm hoặc chưa thấu hiểu được ý nghĩa của bài giảng này.

Suppose two people are walking together and see a duck and a chicken. One of them says, "Why isn't that chicken like the duck, why isn't the duck like the chicken?" He wants the chicken to be a duck and the duck to be a chicken. It's impossible. If it's impossible, then even if that person were to wish for the duck to be a chicken and the chicken to be a duck for the rest of his life it would not come to pass, because the chicken is a chicken and the duck is a duck. As long as that person thought like that he would suffer. The other person might see that the chicken is a chicken and the duck is a duck, and that's all there is to it. There is no problem. He sees rightly. If you want the duck to be a chicken and the chicken to be a duck you are really going to suffer.

Giả sử hai người đang đi cùng nhau và nhìn thấy một con vịt cùng một con gà. Một người nói: "Tại sao con gà kia lại không giống con vịt, và tại sao con vịt lại không giống con gà?" Anh ta muốn con gà phải là con vịt, và con vịt phải là con gà. Điều đó là không thể. Nếu điều đó là không thể, thì cho dù người ấy có mong ước con vịt trở thành con gà và con gà trở thành con vịt suốt cả phần đời còn lại, thì điều đó cũng sẽ chẳng bao giờ xảy ra; bởi lẽ con gà vẫn là con gà, và con vịt vẫn là con vịt. Chừng nào người ấy còn giữ lối suy nghĩ như vậy, anh ta sẽ còn phải chịu khổ đau. Người kia thì lại nhìn nhận rằng con gà chính là con gà, và con vịt chính là con vịt, chỉ đơn giản là thế. Chẳng có vấn đề gì cả. Anh ta đã nhìn nhận một cách đúng đắn. Nếu bạn cứ khăng khăng muốn con vịt phải là con gà và con gà phải là con vịt, thì chắc chắn bạn sẽ phải chịu đựng rất nhiều khổ đau.

In the same way, the law of aniccam states that all things are impermanent. If you want things to be permanent you're going to suffer. Whenever impermanence shows itself you're going to be disappointed. One who sees that things are naturally impermanent will be at ease, there will be no conflict. The one who wants things to be permanent is going to have conflict, maybe even losing sleep over it. This is to be ignorant of aniccam, impermanence, the teaching if the Buddha.

Tương tự, giáo lý *aniccam* (vô thường) khẳng định các pháp hữu vi đều vô thường. Nếu bạn mong cầu mọi sự vật được trường tồn, bạn sẽ phải chịu khổ đau. Bất cứ khi nào tính vô thường hiển hiện, bạn sẽ cảm thấy thất vọng. Người thấu hiểu các pháp hữu vi vốn dĩ vô thường sẽ tìm thấy sự an nhiên; họ sẽ không có bất kỳ sự xung đột nào. Ngược lại, người cứ khăng khăng mong muốn mọi thứ phải trường tồn sẽ vướng vào những mâu thuẫn nội tâm, thậm chí có thể vì thế mà mất ăn mất ngủ. Đó chính là sự vô minh đối với *aniccam* tính vô thường, một trong những giáo lý cốt lõi của Đức Phật.

If you want to know the Dhamma where should you look? You must look within the body and the mind. You won't find it in the shelves of a bookcase. To really see the Dhamma you have to look within your own body and mind. There are only these two things. The mind is not visible to the physical eye, it must be seen with the "mind's eye." Before the Dhamma can be realized you must know where to look. The Dhamma that is in the body must be seen in the body. And with what do we look at the body? We look at the body with the mind. You won't find the Dhamma looking anywhere else, because both happiness and suffering arise right here. Or have you seen happiness arising in the trees? Or from the rivers, or the weather? Happiness and suffering are feelings which arise in our own bodies and minds.

Bạn nên tìm hiểu Chánh Pháp (Dhamma) ở đâu? Bạn phải tìm ngay trong chính thân và tâm của mình. Bạn sẽ chẳng thể tìm thấy Chánh Pháp trên những kệ sách. Để thực sự nhìn thấy Chánh Pháp, bạn buộc phải quán chiếu ngay trong chính thân và tâm của mình. Chỉ hai thực thể này. Tâm vốn vô hình đối với con mắt trần, nó chỉ có thể được nhìn thấy bằng "con mắt của tâm". Trước khi có thể chứng ngộ Chánh Pháp, bạn cần phải biết rõ nơi cần tìm kiếm. Pháp hiện hữu trong thân thì phải được quán chiếu ngay nơi thân. Và ta dùng gì để quán chiếu thân này? Ta dùng chính tâm để quán chiếu thân. Bạn sẽ chẳng thể tìm thấy Pháp ở bất cứ nơi nào khác, bởi lẽ cả hạnh phúc lẫn khổ đau đều khởi sinh ngay tại đây. Hay bạn đã từng thấy hạnh phúc khởi sinh từ những tán cây chăng? Hay từ những dòng sông, hoặc từ thời tiết? Hạnh phúc và khổ đau vốn là những cảm thọ khởi sinh ngay trong chính thân và tâm của chúng ta.

Therefore the Buddha tells us to know the Dhamma right here. The Dhamma is right here, we must look right here. The Master may tell you to look at the Dhamma in the books, but if you think that this is where the Dhamma really is, you'll never see it. Having looked at the books you must reflect on those teachings inwardly. Then you can understand the Dhamma. Where does the real Dhamma exist? It exists right here in this body and mind of ours. This is the essence of contemplation practice.

Vì thế Đức Phật dạy chúng ta hãy nhận biết Chánh Pháp ngay tại đây. Chánh Pháp hiện hữu ngay tại đây; chúng ta phải quán chiếu ngay tại chính nơi này. Vị Thầy có thể bảo bạn tìm hiểu Chánh Pháp qua sách vở, nhưng nếu bạn lầm tưởng rằng Chánh Pháp thực sự nằm trọn trong những trang sách ấy, thì bạn sẽ chẳng bao giờ thấu đạt được Chánh Pháp. Sau khi đã tham khảo sách vở, bạn cần phải quay vào nội tâm để quán chiếu và suy ngẫm về những lời giáo huấn ấy. Chỉ khi đó, bạn mới có thể thực sự thấu hiểu Chánh Pháp. Chánh Pháp chân thật hiện hữu ở đâu? Nó hiện hữu ngay tại đây, trong chính thân và tâm này của chúng ta. Đây chính là cốt lõi của Pháp Tu Quán Chiếu.

When we do this, wisdom will arise in our minds. When there is wisdom in our minds, then no matter where we look there is Dhamma, we will see aniccam, dukkham, and anatta at all times. Aniccam means transient. Dukkham — if we cling to the things that are transient we must suffer, because they are not us or ours (anatta). But we don't see this, we always see them as being our self and belonging to us.

Khi tu tập điều này, trí tuệ sẽ phát sinh trong tâm chúng ta. Khi tâm đã có tuệ, thì dù nhìn về bất cứ đâu, ta cũng đều thấy Pháp; ta sẽ luôn nhận thấy vô thường (aniccam), khổ đau (dukkham) và vô ngã (anatta) vào mọi lúc. Nếu ta chấp thủ vào những sự vật vô thường, ta sẽ phải chịu khổ, bởi lẽ chúng không phải là ta, cũng chẳng thuộc về ta (*anatta*). Thế nhưng, ta lại không nhận ra điều này; ta luôn nhìn nhận chúng như chính là bản ngã của mình và là những thứ thuộc sở hữu của mình.

This means that you don't see the truth of convention. You should understand conventions. For example, all of us sitting here have names. Are our names born with us or are they assigned to us afterwards? Do you understand? This is convention. Is convention useful? Of course it's useful. For example, suppose there are four men, A, B, C, and D. They all must have their individual names for convenience in communicating and working together. If we wanted to speak to Mr. A we could call Mr. A and he would come, not the others. This is the convenience of convention. But when we look deeply into the matter we will see that really there isn't anybody there. We will see transcendence. There is only earth, water, wind and fire, the four elements. This is all there is to this body of ours.

Điều này có nghĩa là bạn chưa nhìn thấy chân đế của chế định. Bạn cần phải thấu hiểu các chế định. Chẳng hạn, tất cả chúng ta đang ngồi đây đều có tên gọi. Liệu những cái tên ấy có sẵn ngay từ khi chúng ta mới lọt lòng, hay chúng được đặt tên sau này? Bạn có hiểu ý tôi không? Đó chính là chế định. Chế định có hữu ích không? Tất nhiên là có chứ. Ví dụ, giả sử có bốn người đàn ông là A, B, C và D. Tất cả họ đều cần có những cái tên riêng biệt để thuận tiện cho việc giao tiếp và làm việc cùng nhau. Nếu muốn nói chuyện với ông A, ta chỉ cần gọi tên ông A, và chính ông ấy sẽ đến chứ không phải những người khác. Đó chính là sự tiện lợi mà chế định mang lại. Tuy nhiên, khi quán chiếu sâu sắc vào vấn đề này, ta sẽ nhận thấy rằng thực chất chẳng có một "cá nhân" nào hiện hữu ở đó. Ta sẽ thấu đạt được tính siêu thế. Ở đó chỉ còn lại đất, nước, gió và lửa, tức là tứ đại. Đó là tất cả những gì cấu thành thân này của chúng ta.

But we don't see it in this way because of the clinging power of Attavadupadana. [10] If we were to look clearly we would see that there isn't really much to what we call a person. The solid part is the earth element, the fluid part is the water element, the part which provides heat is called the fire element. When we break things down we see that there is only earth, water, wind and fire. Where is the person to be found? There isn't one.

Nhưng chúng ta không nhìn nhận sự việc theo cách này, chính là do sức mạnh Ngã luận thủ (Attavadupadana) [10]. Nếu nhìn nhận một cách thấu suốt, ta sẽ thấy rằng cái mà ta gọi là "con người" thực chất chẳng có gì đáng kể. Phần rắn chắc chính là Địa đại; phần lỏng là Thủy đại; còn phần tạo ra hơi ấm được gọi là Hỏa đại. Khi phân tích rạch ròi, ta thấy rằng ở đó chỉ vỏn vẹn có Đất, Nước, Gió và Lửa. Vậy thì, con người ấy nằm ở đâu? Thực chất, chẳng hề có một con người.

That's why the Buddha taught that there is no higher practice than to see that "this is not my self and does not belong to me" They are simply conventions. If we understand everything clearly in this way we will be at peace. If we realize in the present moment the truth of impermanence, that things are not our self or belonging to us, then when they disintegrate we are at peace with them, because they don't belong to anybody anyway. They are merely the elements of earth, water, wind and fire.

Đó là lý do Đức Phật đã dạy rằng không có pháp tu nào cao thượng hơn việc Tu Quán Chiếu : "Đây không phải là tự ngã của ta, và cũng không thuộc về ta." Chúng đơn thuần chỉ là những chế định. Nếu chúng ta thấu hiểu mọi sự một cách rốt ráo như vậy, tâm ta sẽ được an lạc. Nếu ngay trong khoảnh khắc hiện tại, ta nhận thức được chân lý về vô thường, vạn vật không phải là tự ngã hay sở hữu của ta, thì khi chúng tan rã, ta vẫn giữ được sự bình an, bởi lẽ vốn dĩ chúng chẳng thuộc về bất cứ ai . Chúng chỉ đơn thuần là sự kết hợp của các yếu tố đất, nước, gió và lửa.

It's difficult for people to see this, but even so it's not beyond our ability. If we can see this we will find contentment, we will not have so much anger, greed or delusion. There will always be Dhamma in our hearts. There will be no need for jealousy and spite, because everybody is simply earth, water, wind and fire. There's nothing more to them than this. When we accept this truth we will see the truth of the Buddha's teaching.

Thật khó để con người nhận thấy điều này, nhưng dẫu vậy, vẫn không nằm ngoài khả năng của chúng ta. Nếu có thể thông suốt điều này, ta sẽ tìm thấy sự an lạc; ta sẽ không còn bị chi phối bởi quá nhiều sân hận, tham lam hay si mê. Chánh Pháp (Dhamma) sẽ luôn hiện hữu trong tâm ta. Khi ấy, sẽ chẳng còn chỗ cho sự đố kỵ hay ác tâm, bởi lẽ mỗi con người suy cho cùng cũng chỉ là sự kết hợp của đất, nước, gió và lửa. Ngoài những yếu tố ấy ra, họ chẳng còn gì khác nữa. Khi chấp nhận chân lý này, ta sẽ thấu hiểu được chân lý trong lời dạy của Đức Phật.

If we could see the truth of the Buddha's teaching we wouldn't have to use up so many teachers! It wouldn't be necessary to listen to teachings everyday. When we understand then we simply do what's required of us. But what makes people so difficult to teach is that they don't accept the teaching and argue with the teachers and the teaching. In front of the teacher they behave a little better, but behind his back they become thieves! People are really difficult to teach. The people in Thailand are like this, that's why they have to have so many teachers.

Nếu chúng ta có thể hiểu chân lý trong lời dạy của Đức Phật, thì chúng ta đã chẳng phải cần đến quá nhiều vị thầy! thì việc ngày nào cũng phải ngồi nghe giảng là điều không cần thiết. Một khi đã hiểu, chúng ta chỉ đơn thuần tu tập những gì bổn phận đòi hỏi. Nhưng điều khiến việc giáo pháp trở nên vô cùng khó khăn chính là ở chỗ: người học không chịu tiếp nhận lời dạy, mà lại quay ra tranh biện với cả vị thầy lẫn chính giáo pháp ấy. Khi đứng trước mặt thầy, họ tỏ vẻ cư xử có phần đoan chính; nhưng vừa quay lưng đi, họ lại trở thành những kẻ trộm! Quả thực, con người thật khó mà giáo hóa nổi. Người dân Thái Lan cũng có thói này; chính vì thế mà họ mới cần đến vô số vị thầy như vậy.

Be careful, if you're not careful you won't see the Dhamma. You must be circumspect, taking the teaching and considering it well. Is this flower pretty?... Do you see the ugliness within this flower?... For how many days will it be pretty?... What will it be like from now on?... Why does it change so?... In three or four days you have to take it and throw it away, right? It loses all its beauty. People are attached to beauty, attached to goodness. If anything is good they just fall for it completely. The Buddha tells us to look at pretty things as just pretty, we shouldn't become attached to them. If there is a pleasant feeling we shouldn't fall for it. Goodness is not a sure thing, beauty is not a sure thing. Nothing is certain. There is nothing in this world that is a certainty. This is the truth. The things that aren't true are the things that change, such as beauty. The only truth it has is in its constant changing. If we believe that things are beautiful, when their beauty fades our mind loses its beauty too. When things are no longer good our mind loses its goodness too. When they are destroyed or damaged we suffer because we have clung to them as being our own. The Buddha tells us to see that these things are simply constructs of nature. Beauty appears and in not many days it fades. To see this is to have wisdom.

Hãy cẩn trọng; nếu không cẩn trọng bạn chẳng thấy được Chánh pháp. Bạn phải luôn thận trọng, đón nhận lời giáo huấn và suy xét thật thấu đáo. Bông hoa này có đẹp không?... Bạn có nhìn thấy sự tàn phai bên trong nó không?... Nó giữ được vẻ đẹp ấy trong bao lâu?... Rồi sau đó nó trở nên như thế nào?... Tại sao nó lại biến đổi?... Chỉ sau ba hay bốn ngày, bạn sẽ phải vứt bỏ nó, đúng không? Nó đã mất hoàn toàn vẻ đẹp vốn có. Con người thường hay chấp trước vào cái đẹp, chấp trước vào những điều tốt lành. Hễ gặp bất cứ điều gì tốt đẹp, họ hoàn toàn mê đắm và dính mắc vào. Đức Phật dạy chúng ta hãy nhìn những vật đẹp chỉ đơn thuần là đẹp, chứ không nên chấp trước vào chúng. Nếu có một cảm thọ dễ chịu sinh khởi, chúng ta không nên đắm say vào đó. Cái tốt không phải là điều chắc chắn, cái đẹp cũng không phải là điều chắc chắn. Chẳng có gì chắc chắn cả. Trên thế gian này, không có bất cứ điều gì là tuyệt đối chắc chắn. Đây chính là chân lý. Những điều không phải là chân lý chính là những điều luôn biến đổi, chẳng hạn như cái đẹp. Chân lý duy nhất mà cái đẹp hàm chứa, chính là sự biến đổi không ngừng của chính nó. Nếu ta tin rằng vạn vật là đẹp đẽ, thì khi vẻ đẹp ấy phai tàn, tâm ta cũng mất đi vẻ đẹp của chính mình. Khi vạn vật không còn tốt đẹp nữa, tâm ta cũng mất đi sự tốt đẹp của chính mình. Khi chúng bị hủy diệt hay tàn phai, ta phải chịu đựng khổ đau, bởi lẽ ta đã chấp thủ vào chúng như thể chúng là sở hữu riêng của ta. Đức Phật dạy chúng ta hãy quán chiếu để thấy: những sự vật này đơn thuần chỉ là những tạo tác của tự nhiên. Cái đẹp xuất hiện, và chỉ trong vài ngày ngắn ngủi, nó liền phai tàn. Nhìn thấu được điều này, chính là có tuệ.

Therefore we should see impermanence. If we think something is pretty we should tell ourselves it isn't, if we think something is ugly we should tell ourselves it isn't. Try to see things in this way, constantly reflect in this way. We will see the truth within untrue things, see the certainty within the things that are uncertain.

Vì vậy chúng ta nên quán chiếu tính vô thường. Nếu ta cho rằng một điều gì đó đẹp, ta hãy tự nhủ nó không phải vậy; nếu ta cho rằng một điều gì đó xấu, ta hãy tự nhủ rằng nó không phải vậy. Hãy thử nhìn nhận tất cả pháp theo cách này, và không ngừng quán chiếu. Khi ấy ta sẽ thấy được chân lý ngay trong những điều vốn dĩ không thật, và thấy được sự chắc chắn ngay trong những điều vốn dĩ vô thường.

Today I have been explaining the way to understand suffering, what causes suffering, the cessation of suffering and the way leading to the cessation of suffering. When you know suffering you should throw it out. Knowing the cause of suffering you should throw it out. Practice to see the cessation of suffering. See aniccam, dukkham and anatta and suffering will cease.

Hôm nay tôi đã giải thích về cách thấu hiểu khổ (Dukkha-ariya-sacca, Khổ thánh đế), nguyên nhân dẫn đến khổ đau (dukkha-samudaya-ariyasacca, Tập khổ thánh đế), sự chấm dứt khổ đau (dukkha-nirodha-ariyasacca, Diệt Khổ thánh đế), và con đường dẫn đến sự chấm dứt khổ đau (dukkha-nirodha-gamini-patipada-ariya-sacca - Đạo diệt khổ thánh đế) . Khi nhận biết được khổ đau, bạn cần phải buông bỏ nó. Khi nhận biết được nguyên nhân của khổ đau, bạn cũng cần phải buông bỏ nó. Hãy tu tập để chấm dứt sự khổ đau. Hãy quán chiếu về Vô thường (aniccam), Khổ (dukkham) và Vô ngã (anatta), và khổ đau sẽ chấm dứt.

When suffering ceases where do we go? What are we practicing for? We are practicing to relinquish, not in order to gain anything. There was a woman this afternoon who told me that she is suffering. I asked her what she wants to be, and she said she wants to be enlightened. I said, "As long as you want to be enlightened you will never become enlightened. Don't want anything."

Khi khổ dứt ta sẽ đi về đâu? Ta tu tập để làm gì? Ta tu tập để buông bỏ, chứ không phải để đạt được bất cứ điều gì. Chiều nay, có một người phụ nữ đã nói với tôi rằng bà ấy đang đau khổ. Tôi hỏi bà ấy muốn trở thành người như thế nào, và bà đáp rằng bà muốn được giác ngộ. Tôi liền nói: "Chừng nào bà vẫn còn mong cầu sự giác ngộ, thì bà sẽ chẳng bao giờ đạt được giác ngộ đâu. Đừng mong cầu bất cứ điều gì."

When we know the truth of suffering we throw out suffering. When we know the cause of suffering then we don't create those causes, but instead practice to bring suffering to its cessation. The practice leading to the cessation of suffering is to see that "this is not a self," "this is not me or them." Seeing in this way enables suffering to cease. It's like reaching our destination and stopping. That's cessation. That's getting close to nibbana. To put it another way, going forward is suffering, retreating is suffering and stopping is suffering. Not going forward, not retreating and not stopping... is anything left? Body and mind cease here. This is the cessation of suffering. Hard to understand, isn't it? If we diligently and consistently study this teaching we will transcend things and reach understanding, there will be cessation. This is the ultimate teaching of the Buddha, it's the finishing point. The Buddha's teaching finishes at the point of total relinquishment.

Khi chúng ta hiểu chân lý về khổ (Dukkha-ariya-sacca, Khổ thánh đế), ta sẽ buông bỏ được khổ ấy. Khi nhận rõ nguyên nhân của khổ (dukkha-samudaya-ariyasacca, Tập khổ thánh đế), ta sẽ không còn tạo tác những nguyên nhân ấy nữa; thay vào đó, ta tu tập để làm khổ chấm dứt (dukkha-nirodha-ariyasacca, Diệt Khổ thánh đế). Pháp tu dẫn đến sự chấm dứt của khổ (dukkha-nirodha-gamini-patipada-ariya-sacca - Đạo diệt khổ thánh đế), chính là quán chiếu rằng: "đây không phải là tự ngã", "đây không phải là ta hay người khác". Nhờ quán chiếu như vậy, sự khổ sẽ được chấm dứt. Điều này tựa như việc ta đã đến được đích và dừng lại. Đó chính là sự chấm dứt. Đó chính là sự tiệm cận Niết-bàn. Nói cách khác: tiến lên là khổ, lùi lại là khổ, và dừng lại cũng là khổ. Không tiến, không lùi , cũng chẳng dừng... liệu còn lại gì chăng? Thân và tâm đều chấm dứt ngay tại đây. Đây chính là sự chấm dứt của khổ đau. Thật khó thấu hiểu, phải không? Nếu ta tinh tấn và kiên trì nghiên cứu giáo lý này, ta sẽ vượt thoát mọi sự ràng buộc và đạt đến sự thấu hiểu; khi ấy, sự chấm dứt sẽ hiện tiền. Đây là giáo lý tối thượng của Đức Phật, là điểm đích cuối cùng. Giáo lý của Đức Phật đạt đến sự viên mãn là do buông bỏ hoàn toàn.

Today I offer this teaching to you all and to the Venerable Master also. If there is anything wrong in it I ask your forgiveness. But don't be in a hurry to judge whether it is right or wrong, just listen to it first. If I were to give you all a fruit and tell you it's delicious, you should take note of my words, but don't believe me offhand, because you haven't tasted it yet. The teaching I give you today is the same. If you want to know whether the "fruit" is sweet or sour you have to slice a piece off and taste it. Then you will know its sweetness or sourness. Then you could believe me, because then you'd have seen for yourself. So please don't throw this "fruit" away, keep it and taste it, know its taste for yourself.

Hôm nay tôi chia sẻ bài pháp này đến tất cả quý vị, và cũng đến Đức Thượng tọa. Nếu trong đó có điều gì sai sót, kính mong quý vị niệm tình tha thứ. Tuy nhiên, xin quý vị chớ vội phán xét ngay rằng điều ấy đúng hay sai; trước hết, hãy cứ lắng nghe đã. Giả sử tôi trao cho quý vị một trái cây và bảo rằng nó rất ngon, quý vị hãy ghi nhận lời tôi nói, nhưng chớ vội tin ngay, bởi lẽ quý vị vẫn chưa nếm thử nó bao giờ. Bài pháp mà tôi chia sẻ hôm nay cũng tương tự. Nếu muốn biết "trái cây" ấy ngọt hay chua, quý vị cần phải cắt một miếng ra và nếm thử. Khi ấy, quý vị mới có thể thấu rõ vị ngọt hay chua của nó. Đến lúc đó, quý vị hãy tin lời tôi, bởi lẽ chính quý vị đã tự mình trải nghiệm và thấy rõ điều đó. Vì vậy, xin quý vị đừng vội vứt bỏ "trái cây" này; hãy giữ lấy nó, hãy nếm thử nó, và hãy tự mình cảm nhận hương vị thực sự của nó.

The Buddha didn't have a teacher, you know. An ascetic once asked him who his teacher was, and the Buddha answered that he didn't have one. [11] The ascetic just walked off shaking his head. The Buddha was being too honest. He was speaking to one who couldn't know or accept the truth. That's why I tell you not to believe me. The Buddha said that to simply believe others is foolish, because there is no clear knowing within. That's why the Buddha said "I have no teacher." This is the truth. But you should look at this is the right way. If you misunderstand it you won't respect your teacher. Don't go saying "I have no teacher." You must rely on your teacher to tell you what is right and wrong, and then you must practice accordingly.

Như bạn biết, Đức Phật không có thầy chỉ dạy. Một lần nọ, có một tu sĩ tu khổ hạnh hỏi Ngài rằng ai là thầy của Ngài, và Đức Phật đáp rằng Ngài không có thầy nào cả. [11] Vị khổ hạnh kia liền bỏ đi, vừa đi vừa lắc đầu. Đức Phật đã quá thật thà. Ngài đã nói chuyện với một người không thể thấu hiểu hay chấp nhận sự thật ấy. Đó chính là lý do vì sao tôi khuyên các bạn đừng tin tôi. Đức Phật dạy rằng, việc chỉ đơn thuần tin theo lời người khác là điều dại dột, bởi lẽ trong tâm ta chưa có sự thấu hiểu rõ ràng. Chính vì thế Đức Phật đã nói: "Ta không có thầy." Đây chính là sự thật. Tuy nhiên, các bạn cần phải nhìn nhận vấn đề này theo đúng cách. Nếu hiểu sai, các bạn sẽ không còn tôn kính thầy mình nữa. Đừng vội đi rêu rao rằng: "Tôi không có thầy." Các bạn phải nương tựa vào thầy mình để được chỉ dạy đâu là đúng, đâu là sai, và sau đó phải thực hành theo đúng những lời chỉ dạy.

Today is a fortunate day for all of us. I have had a chance to meet with all of you and the venerable teacher. You wouldn't think that we could meet like this because we live so far apart. I think there must be some special reason that we have been able to meet in this way. The Buddha taught that everything that arises must have a cause. Don't forget this. There must be some cause. Perhaps in a previous existence we were brothers and sisters in the same family. It's possible. Another teacher didn't come, but I did. Why is that? Perhaps we are creating the causes in the present moment itself. This is also possible.

Hôm nay là một ngày may mắn cho tất cả chúng ta. Tôi đã có duyên gặp tất cả quý vị cùng vị Thầy trụ trí. Có lẽ quý vị chẳng ngờ rằng chúng ta lại có thể gặp nhau, bởi lẽ chúng ta sống cách xa nhau. Tôi tin chắc hẳn phải có một lý do đặc biệt nào đó đã đưa đẩy chúng ta gặp gỡ nhau theo cách này. Đức Phật đã dạy rằng: vạn sự vạn vật khi sinh khởi đều phải có nguyên nhân. Xin quý vị chớ quên điều này. Nhất định phải có một nguyên nhân nào đó. Có lẽ trong một kiếp sống trước, chúng ta từng là anh chị em ruột thịt trong cùng một gia đình. Điều đó hoàn toàn có thể xảy ra. Một vị Thầy khác đã không đến, nhưng tôi thì lại có mặt tại đây. Tại sao lại như vậy? Có lẽ chính ngay trong sát na hiện tại này, chúng ta đang cùng nhau gieo tạo nên những nhân duyên ấy. Điều này cũng hoàn toàn có thể xảy ra.

I leave you all with this teaching. May you be diligent and arduous in the practice. There is nothing better than the practice of Dhamma, Dhamma is the supporter of the whole world. People are confused these days because they do not know the Dhamma. If we have the Dhamma with us we will be content. I am happy to have had this opportunity to help you and the venerable teacher in developing the practice of Dhamma. I leave you with my heartfelt good wishes. Tomorrow I will be leaving, I'm not sure where for. This is only natural. When there is coming there must be going, when there is going there must be coming. This is how the world is. We shouldn't be overjoyed or upset by the changes in the world. There is happiness and then there is suffering; there is suffering and then there is happiness; there is gain and then there is loss; there is loss and then there is gain. This is the way things are.

Tôi xin gửi quý vị lời giáo huấn này. Cầu mong quý vị luôn tinh tấn và nỗ lực trong việc tu tập. Không có gì thù thắng hơn việc thực hành Chánh pháp; Chánh pháp chính là chỗ nương tựa cho toàn thế giới. Ngày nay, con người thường cảm thấy hoang mang, lạc lõng bởi lẽ họ chưa thấu hiểu Chánh pháp. Nếu chúng ta luôn giữ Chánh pháp bên mình, tâm ta sẽ luôn được an lạc và mãn nguyện. Tôi vô cùng hoan hỷ khi có được cơ duyên này để hỗ trợ quý vị cùng vị trụ trì trong việc phát triển sự tu tập Chánh pháp. Tôi xin gửi đến quý vị những lời chúc tốt đẹp nhất xuất phát từ tận đáy lòng. Ngày mai tôi sẽ ra đi, dù chưa biết đích đến sẽ là nơi nào. Đó là lẽ tự nhiên của cuộc đời. Đã có đến thì ắt phải có đi; đã có đi thì ắt sẽ có đến. Bản chất của thế giới này vốn là như vậy. Chúng ta chớ nên quá vui mừng hay quá đau buồn trước những biến đổi thăng trầm của thế gian. Có hạnh phúc rồi lại có khổ đau; có khổ đau rồi lại có hạnh phúc; có được rồi lại có mất; có mất rồi lại có được. Sự đời vốn dĩ là thế.

In the Buddha's time there were disciples of the Buddha who didn't like him, because the Buddha exhorted them to be diligent, to be heedful. Those who were lazy were afraid of the Buddha and resented him. When he died, one group of disciples cried and were distressed that they would no longer have the Buddha to guide them. These ones were still not clever. Another group of disciples were pleased and relieved that they would no longer have the Buddha on their backs telling them what to do. A third group of disciples were equanimous. They reflected that what arises passes away as a natural consequence. There were these three groups. Which group do you identify with? Do you want to be one of the pleased ones or what? The group of disciples who cried when the Buddha passed away had not yet realized the Dhamma. The second group were those who resented the Buddha. He was always forbidding them from doing the things they wanted to do. They lived in fear of the Buddha's scorn and reprimands, so when he passed away they were relieved.

Vào thời Đức Phật, có những đệ tử không ưa Ngài, bởi lẽ Đức Phật luôn khuyên răn họ phải tinh tấn và chánh niệm. Những người lười biếng thường cảm thấy sợ hãi và sinh lòng oán trách Ngài. Khi Đức Phật viên tịch, một nhóm đệ tử đã khóc than và vô cùng đau khổ vì từ nay họ sẽ không còn Đức Phật để dẫn dắt nữa. Những người này vẫn chưa thực sự sáng suốt. Một nhóm đệ tử khác lại cảm thấy vui mừng và nhẹ nhõm, vì họ sẽ không còn phải chịu sự thúc ép hay bị sai bảo phải làm thế này, thế kia từ phía Đức Phật nữa. Nhóm đệ tử thứ ba lại giữ được tâm thái bình thản, an nhiên. Họ quán chiếu rằng vạn vật hễ có sinh thì có diệt, đó là quy luật tự nhiên tất yếu. Có ba nhóm đệ tử như vậy. Bạn thấy mình thuộc về nhóm nào trong số đó? Bạn muốn trở thành người vui mừng khi Đức Phật viên tịch, hay thuộc nhóm nào khác? Nhóm đệ tử đã khóc than khi Đức Phật viên tịch là những người vẫn chưa thực sự thấu đạt Giáo pháp. Nhóm thứ hai là những người từng oán trách Đức Phật; bởi lẽ Ngài luôn ngăn cấm họ làm những điều mà họ mong muốn. Họ sống trong nỗi sợ hãi trước sự quở trách và ánh mắt không hài lòng của Đức Phật; chính vì thế, khi Ngài viên tịch, họ mới cảm thấy nhẹ nhõm và giải thoát.

These days things aren't much different. It's possible that the teacher here has some followers who are resentful towards him. They might not show it outwardly but it's there in the mind. It's normal for people who still have defilements to feel this way. Even the Buddha had people hating him. I myself have followers who resent me also. I tell them to give up evil actions but they cherish their evil actions. So they hate me. There are plenty like this. May all of you who are intelligent make yourselves firm in the practice of Dhamma.

Ngày nay sự việc cũng chẳng khác xưa. Có thể vị thầy ở đây cũng có những đệ tử đang ôm lòng oán giận đối với mình. Tuy họ có thể không biểu lộ ra bên ngoài, nhưng tâm họ lại chất chứa điều đó. Đối với những người vẫn còn phiền não, việc nảy sinh những cảm xúc như vậy là điều hết sức bình thường. Ngay cả Đức Phật cũng từng có những kẻ thù ghét Ngài. Bản thân tôi cũng có những đệ tử ôm lòng oán giận mình. Tôi khuyên họ hãy từ bỏ những hành vi bất thiện, nhưng họ lại khư khư bám víu vào những hành vi ấy; chính vì thế họ đâm ra thù ghét tôi. Có rất nhiều người thuộc dạng như vậy. Mong rằng tất cả quý vị, những người có trí tuệ, hãy vững vàng kiên định trên con đường tu tập Chánh Pháp.

Seekers of goodness who have gathered here please listen in peace. Listening to the Dhamma in peace means to listen with a one-pointed mind, paying attention to what you hear and then letting go. Listening to the Dhamma is of great benefit. While listening to the Dhamma we are encouraged to firmly establish both body and mind in samadhi, because it is one kind of dhamma practice. In the time of the Buddha people listened to Dhamma talks intently, with a mind aspiring to real understanding, and some actually realized the Dhamma while listening.

Hỡi những người đã vân tập về đây tìm cầu sự thiện lành, xin hãy lắng nghe trong sự an tịnh. Lắng nghe Chánh Pháp trong sự an tịnh nghĩa là lắng nghe với sự nhất tâm, chú tâm vào những gì mình nghe được, và sau đó buông xả. Việc lắng nghe Chánh Pháp mang lại lợi ích to lớn. Trong khi lắng nghe Chánh Pháp, chúng ta được khuyến khích thiết lập vững chắc cả thân và tâm vào trạng thái định (Samadhi), bởi lẽ đó chính là một hình thức thực hành Chánh Pháp. Vào thời Đức Phật, mọi người thường lắng nghe các bài pháp thoại một cách chăm chú, với tâm nguyện khao khát đạt được sự thấu hiểu chân thực; và quả thực, đã có những người chứng ngộ Chánh Pháp ngay trong khi đang lắng nghe.

This place is well suited to meditation practice. Having stayed here a couple of nights I can see that it is an important place. On the external level it is already peaceful, all that remains is the internal level, your hearts and minds. So I ask all of you to make an effort to pay attention.

Nơi đây rất thích hợp cho việc tu tập thiền định. Sau khi lưu lại đây vài đêm, tôi nhận thấy rằng đây là một nơi vô cùng quan trọng. Ở phương diện bên ngoài, nơi này vốn dĩ đã rất an bình; điều còn lại chỉ là phương diện nội tại chính là tâm và lòng người. Vì vậy, tôi mong tất cả quý vị hãy nỗ lực chú tâm.

Why have you gathered here to practice meditation? It's because your hearts and minds do not understand what should be understood. In other words, you don't truly know how things are, or what is what. You don't know what is wrong and what is right, what it is that brings you suffering and causes you to doubt. So first you have to make yourselves calm. The reason that you have come here to develop calm and restraint is that your hearts and minds are not at ease. Your minds are not calm, not restrained. They are swayed by doubting and agitation. This is why you have come here today and are now listening to the Dhamma.

Tại sao quý vị lại tụ hội về đây để tu tập thiền định? Đó là bởi vì tâm quý vị chưa thấu hiểu những điều lẽ ra phải được thấu hiểu. Nói cách khác, quý vị chưa thực sự biết rõ bản chất của các pháp, hay đâu là đâu. Quý vị không phân định được đâu là sai, đâu là đúng; không nhận diện được điều gì mang lại khổ đau và khiến quý vị sinh hoài nghi. Vì thế, trước hết, quý vị cần phải tự làm cho tâm mình trở nên tĩnh lặng. Lý do quý vị tìm đến nơi đây để rèn luyện sự tĩnh lặng và sự tự chủ, chính là vì tâm quý vị đang thiếu đi sự an ổn. Tâm quý vị hiện chưa tĩnh lặng, chưa được kiểm soát; chúng đang bị xao động bởi những hoài nghi và sự bất an. Chính vì lẽ đó, hôm nay quý vị đã tìm đến đây và đang lắng nghe Chánh Pháp (Dhamma).

I would like you to concentrate and listen carefully to what I say, and I ask permission to speak frankly because that's how I am. Please understand that even if I do speak in a forceful manner, I am doing so out of good will. I ask your forgiveness if there is anything I say that upsets you, because the customs of Thailand and those of the West are not the same. Actually, speaking a little forcefully can be good because it helps to stir people up who might otherwise be sleepy or drowsy, and rather than rousing themselves to hear the Dhamma allow themselves to drift instead into complacency and as a result never understand anything.

Tôi mong quý vị hãy tập trung và lắng nghe thật kỹ những lời tôi sắp nói; đồng thời, cho phép tôi được phát biểu một cách thẳng thắn, bởi lẽ đó chính là bản tính của tôi. Xin quý vị hãy thấu hiểu rằng, ngay cả khi tôi có dùng những lời lẽ có phần mạnh mẽ, thì điều đó cũng xuất phát từ chính thiện chí của tôi. Tôi xin được lượng thứ nếu có bất cứ lời nào của tôi vô tình khiến quý vị phật ý, bởi lẽ phong tục tập quán giữa Thái Lan và phương Tây vốn dĩ không giống nhau. Thực ra, việc dùng lời lẽ có chút mạnh mẽ đôi khi lại là điều tốt, vì nó giúp đánh thức những người đang phóng dật hay buồn ngủ—những người lẽ ra phải tự mình tỉnh táo để lắng nghe Chánh Pháp, nhưng thay vào đó lại để bản thân phóng dật trong sự tự mãn, và kết quả là chẳng thể lĩnh hội được điều gì.

Although there may appear to be many ways to practice really there is only one. As with fruit trees, it is possible to get fruit quickly by planting a cutting, but the tree would not be resilient or long lasting. Another way is to cultivate a tree right from the seed, which produces a strong and resilient tree. Practice is the same.

Mặc dù dường như có rất nhiều phương cách để tu tập, nhưng chỉ có duy nhất một con đường. Cũng giống như đối với cây ăn quả: ta có thể thu hoạch trái nhanh chóng bằng cách trồng một cành giâm, nhưng cây đó sẽ không bền vững hay trường thọ. Một phương cách khác là ươm trồng cây ngay từ hạt giống; cách này sẽ tạo nên một cái cây vững chãi và kiên cường. Việc thực hành cũng tương tự như vậy.

When I first began to practice I had problems understanding this. As long as I still didn't know what's what, sitting meditation was a real chore, even bringing me to tears on occasion. Sometimes I would be aiming too high, at others not high enough, never finding the point of balance. To practice in a way that's peaceful means to place the mind neither too high or too low, but at the point of balance.

Khi bắt đầu tu tập tôi đã gặp khó khăn trong việc hiểu điều này. Chừng nào tôi vẫn chưa phân định rõ được mọi sự, thì việc ngồi thiền quả thực là một gánh nặng, thậm chí đôi lúc còn khiến tôi phải rơi lệ. Có lúc tôi lại đặt mục tiêu quá cao, lúc khác lại quá thấp, mà chẳng bao giờ tìm được điểm cân bằng. Tu tập một cách an lạc nghĩa là đặt tâm ở trạng thái không quá cao cũng chẳng quá thấp, mà nằm ngay tại điểm cân bằng ấy.

I can see that it's very confusing for you, coming from different places and having practiced in different ways with different teachers. Coming to practice here you must be plagued with all kinds of doubts. One teacher says you must practice in one way, another says you should practice another way. You wonder which method to use, unsure of the essence of the practice. The result is confusion. There are so many teachers and so many teachings that nobody knows how to harmonize their practice. As a result there is a lot of doubt and uncertainty.

Tôi hiểu rằng điều này khiến bạn vô cùng bối rối, khi bạn đến từ những nơi khác nhau, từng tu tập theo những phương cách khác nhau và dưới sự hướng dẫn của những người thầy khác nhau. Khi đến đây tu tập, chắc hẳn bạn đang có nhiều thắc mắc. Người thầy này bảo bạn phải thực hành theo cách này, người thầy kia lại khuyên bạn nên thực hành theo cách khác. Bạn tự hỏi không biết nên áp dụng phương pháp nào, và cảm thấy mơ hồ về bản chất cốt lõi của việc tu tập. Kết quả là sự hoang mang. Có quá nhiều người thầy và quá nhiều giáo lý, đến mức chẳng ai còn biết làm thế nào để dung hòa việc tu tập của chính mình. Hệ quả tất yếu là nảy sinh vô vàn hoài nghi và sự bất định.

So you must try not to think too much. If you do think, then do so with awareness. But so far your thinking has been done with no awareness. First you must make your mind calm. Where there is knowing there is no need to think, awareness will arise in its place, and this will in turn become wisdom (pañña). But the ordinary kind of thinking is not wisdom, it is simply the aimless and unaware wandering of the mind, which inevitably results in agitation. This is not wisdom.

Vì vậy bạn phải cố gắng đừng suy nghĩ nhiều. Nếu có suy nghĩ, hãy suy nghĩ trong sự tỉnh giác. Nhưng từ trước đến nay, bạn suy nghĩ thiếu sự tỉnh giác. Trước hết bạn phải để tâm tĩnh lặng. Nơi nào có sự thấu suốt, nơi đó không cần đến sự suy nghĩ; thay vào đó, sự tỉnh giác sẽ khởi sinh, và điều này dần dà sẽ chuyển hóa thành tuệ (pañña). Ngược lại, lối suy nghĩ thông thường không phải là tuệ; đó chỉ đơn thuần là sự lang thang vô định và thiếu tỉnh giác của tâm, điều tất yếu sẽ dẫn đến sự phóng dật, bất an. Đó không phải là tuệ.

At this stage you don't need to think. You've already done a great deal of thinking at home, haven't you? It just stirs up the heart. You must establish some awareness. Obsessive thinking can even bring you tears, just try it out. Getting lost in some train of thought won't lead you to the truth, it's not wisdom. The Buddha was a very wise person, he'd learned how to stop thinking. In the same way you are practicing here in order to stop thinking and thereby arrive at peace. If you are already calm it is not necessary to think, wisdom will arise in its place.

Giai đoạn này bạn không phải suy nghĩ nữa. Bạn đã suy nghĩ quá nhiều khi ở nhà rồi, phải không? Việc suy nghĩ ấy chỉ làm xáo động tâm mà thôi. Bạn cần phải thiết lập chánh niệm. Những suy nghĩ miên man, ám ảnh thậm chí có thể khiến bạn rơi lệ, bạn cứ thử nghiệm. Việc đắm chìm vào dòng suy nghĩ sẽ không dẫn bạn đến chân lý; đó không phải là trí tuệ. Đức Phật là một bậc vô cùng trí tuệ; Ngài đã thấu hiểu cách chấm dứt sự suy nghĩ. Tương tự như vậy, bạn đang thực hành tại đây để dừng lại những suy nghĩ, và nhờ đó đạt được sự an lạc. Khi tâm bạn đã lắng đọng, việc suy nghĩ trở nên không còn cần thiết nữa; thay vào đó, trí tuệ sẽ tự nhiên hiển lộ.

To meditate you do not have to think much more than to resolve that right now is the time for training the mind and nothing else. Don't let the mind shoot off to the left or to the right, to the front or behind, above or below. Our only duty right now is to practice mindfulness of the breathing. Fix your attention at the head and move it down through the body to the tips of the feet, and then back up to the crown of the head. Pass your awareness down through the body, observing with wisdom. We do this to gain an initial understanding of the way the body is. Then begin the meditation, noting that at this time your sole duty is to observe the inhalations and exhalations. Don't force the breath to be any longer or shorter than normal, just allow it to continue easily. Don't put any pressure on the breath, rather let it flow evenly, letting go with each in-breath and out-breath.

Để tu thiền bạn không cần phải suy nghĩ quá nhiều; tất cả những gì cần làm là xác định ngay lúc này chính là thời điểm để rèn luyện tâm, và không còn việc gì khác. Đừng để tâm phóng dật sang trái hay sang phải, ra trước hay sau, lên trên hay xuống dưới. Bổn phận duy nhất của chúng ta ngay lúc này là thực hành chánh niệm về hơi thở. Hãy tập trung sự chú ý tại vùng đầu, rồi dẫn dắt sự chú ý ấy di chuyển dần xuống khắp cơ thể cho đến tận các đầu ngón chân, và sau đó lại đưa ngược lên đỉnh đầu. Hãy dẫn dắt ý thức lướt dọc xuống khắp cơ thể, đồng thời quan sát bằng tuệ giác. Chúng ta thực hiện điều này nhằm đạt được sự thấu hiểu bước đầu về bản chất và trạng thái hiện tại của thân. Sau đó, hãy bắt đầu ngồi thiền, luôn ghi nhớ rằng vào lúc này, bổn phận duy nhất của bạn là quan sát từng hơi thở vào và ra. Đừng cố ép hơi thở phải dài hơn hay ngắn hơn mức bình thường; hãy cứ để cho hơi thở diễn ra một cách tự nhiên và nhẹ nhàng. Đừng tạo bất kỳ áp lực nào lên hơi thở; thay vào đó, hãy để nó trôi chảy, và thực hành buông xả cùng với mỗi hơi thở vào và ra.

You must understand that you are letting go as you do this, but there should still be awareness. You must maintain this awareness, allowing the breath to enter and leave comfortably. There is no need to force the breath, just allow it to flow easily and naturally. Maintain the resolve that at this time you have no other duties or responsibilities. Thoughts about what will happen, what you will know or see during the meditation may arise from time to time, but once they arise just let them cease by themselves, don't be unduly concerned over them.

Bạn cần thấu hiểu bạn phải buông bỏ khi tu thiền; tuy nhiên, sự tỉnh giác vẫn cần được duy trì. Bạn phải giữ vững sự tỉnh giác, cho phép hơi thở vào và ra một cách thoải mái. Không cần phải ép buộc hơi thở, hãy cứ để nó luân chuyển một cách nhẹ nhàng và tự nhiên. Hãy giữ vững tâm niệm rằng vào lúc này, bạn không còn bất kỳ bổn phận hay trách nhiệm nào khác. Những suy nghĩ về những điều sẽ xảy ra, hay những gì bạn sẽ nhận biết hoặc nhìn thấy trong lúc thiền định có thể thỉnh thoảng xuất hiện; nhưng một khi chúng khởi lên, hãy cứ để chúng tự lắng xuống, đừng quá bận tâm hay lo ngại về chúng.

During the meditation there is no need to pay attention to sense impressions. Whenever the mind is affected by sense impingement, wherever there is a feeling or sensation in the mind, just let it go. Whether those sensations are good or bad is unimportant. It is not necessary to make anything out of those sensations, just let them pass away and return your attention to the breath. Maintain the awareness of the breath entering and leaving. Don't create suffering over the breath being too long or too short, simply observe it without trying to control or suppress it in any way. In other words, don't attach. Allow the breath to continue as it is, and the mind will become calm. As you continue the mind will gradually lay things down and come to rest, the breath becoming lighter and lighter until it becomes so faint that it seems like it's not there at all. Both the body and the mind will feel light and energized. All that will remain will be a one-pointed knowing. You could say that the mind has changed and reached a state of calm.

Trong khi tu thiền bạn không cần bận tâm đến các ấn tượng từ giác quan. Bất cứ khi nào tâm bị tác động bởi sự tiếp xúc của các giác quan—dù xuất hiện cảm giác hay tri giác nào trong tâm, hãy cứ buông bỏ chúng. Việc những cảm giác ấy là tốt hay xấu hoàn toàn không quan trọng. Không cần thiết phải gán ghép hay suy diễn gì từ những cảm giác đó; hãy cứ để chúng tự tan biến và đưa sự chú ý trở lại với hơi thở. Hãy duy trì sự nhận biết về hơi thở đang đi vào và ra. Đừng tạo ra sự khổ tâm vì hơi thở quá dài hay quá ngắn; hãy đơn thuần quan sát không cố gắng kiểm soát hay kìm nén dưới bất kỳ hình thức nào. Nói cách khác: đừng chấp trước. Hãy để hơi thở diễn ra tự nhiên đúng như bản chất của nó, và tâm sẽ trở nên tĩnh lặng. Khi bạn tiếp tục tu tập, tâm sẽ dần dần buông xả mọi sự và đi vào trạng thái nghỉ ngơi; hơi thở sẽ trở nên nhẹ nhàng, cho đến khi trở nên thật mờ nhạt, tựa như nó không còn hiện hữu nữa. Cả thân và tâm đều sẽ cảm thấy nhẹ nhàng và tràn đầy năng lượng. Tất cả những gì còn lại chỉ là một sự nhận biết duy nhất, tập trung trọn vẹn. Có thể nói rằng tâm đã chuyển hóa và đạt đến một trạng thái an nhiên, tĩnh lặng.

If the mind is agitated, set up mindfulness and inhale deeply till there is no space left to store any air, then release it all completely until none remains. Follow this with another deep inhalation until you are full, then release the air again. Do this two or three times, then re-establish concentration. The mind should be calmer. If any more sense impressions cause agitation in the mind, repeat the process on every occasion. Similarly with walking meditation. If while walking, the mind becomes agitated, stop still, calm the mind, re-establish the awareness with the meditation object and then continue walking. Sitting and walking meditation are in essence the same, differing only in terms of the physical posture used.

Nếu tâm phóng dật, hãy chánh niệm và hít vào thật sâu cho đến khi không còn chút khoảng trống nào để chứa khí nữa, sau đó thở ra hoàn toàn cho đến khi không còn chút khí nào đọng lại. Tiếp theo đó, hãy hít vào thật sâu một lần nữa cho đến khi lồng ngực căng đầy, rồi lại thở ra. Hãy thực hiện thao tác này hai hoặc ba lần, sau đó thiết lập lại sự định tâm. Khi ấy, tâm sẽ trở nên tĩnh lặng hơn. Nếu có bất kỳ cảm thọ nào khác nảy sinh và gây phóng dật trong tâm, hãy lặp lại quy trình này mỗi khi tình huống ấy xảy ra. Đối với thiền hành cũng vậy. Nếu trong lúc đi thiền, tâm bị phóng dật, hãy dừng lại, làm lắng dịu tâm, chánh niệm và sự tỉnh giác đối với đối tượng thiền định, rồi sau đó tiếp tục bước đi. Thiền tọa và thiền hành về bản chất hoàn toàn giống nhau, chỉ khác biệt ở các oai nghi ngồi hay đi của thân.

Sometimes there may be doubt, so you must have sati, to be the one who knows, continually following and examining the agitated mind in whatever form it takes. This is to have sati. Sati watches over and takes care of the mind. You must maintain this knowing and not be careless or wander astray, no matter what condition the mind takes on.

Đôi khi có thể nảy sinh sự nghi ngờ; vì thế bạn cần phải có Chánh niệm (Sati) và tỉnh giác, liên tục theo dõi và quán sát tâm đang phóng dật, bất kể nó biểu hiện dưới hình thái nào. Đó chính là việc tu tập Chánh niệm. Chánh niệm làm nhiệm vụ trông nom và chăm sóc tâm. Bạn phải duy trì sự nhận biết này, không được lơ là hay để tâm lạc lối, bất kể tâm đang ở trong trạng thái nào.

The trick is to have sati taking control and supervising the mind. Once the mind is unified with sati a new kind of awareness will emerge. The mind that has developed calm is held in check by that calm, just like a chicken held in a coop... the chicken is unable to wander outside, but it can still move around within the coop. Its walking to and fro doesn't get it into trouble because it is restrained by the coop. Likewise the awareness that takes place when the mind has sati and is calm does not cause trouble. None of the thinking or sensations that take place within the calm mind cause harm or disturbance.

Đặc điểm là để Chánh niệm (Sati) kiểm soát và trông coi tâm. Một khi tâm đã hòa hợp cùng Chánh niệm, một dạng thức nhận thức mới mẻ sẽ nảy sinh. Tâm đã đạt được sự tĩnh lặng sẽ được chính sự tĩnh lặng ấy kềm giữ, tựa như một chú gà đang ở trong chuồng vậy... chú gà không thể đi lang thang ra bên ngoài, nhưng vẫn có thể tự do đi lại trong phạm vi cái chuồng. Việc nó đi tới đi lui chẳng gây ra rắc rối gì, bởi lẽ nó đã bị cái chuồng giới hạn lại. Tương tự như vậy, trạng thái nhận thức xuất hiện khi tâm có sự hiện diện của Chánh niệm và đang trong trạng thái tĩnh lặng cũng sẽ không gây ra phiền não. Mọi suy nghĩ hay cảm thọ nảy sinh bên trong tâm tĩnh lặng ấy đều không hề gây hại hay tạo ra sự xáo động.

Some people don't want to experience any thoughts or feelings at all, but this is going too far. Feelings arise within the state of calm. The mind is both experiencing feelings and calm at the same time, without being disturbed. When there is calm like this there are no harmful consequences. Problems occur when the "chicken" gets out of the "coop." For instance, you may be watching the breath entering and leaving and then forget yourself, allowing the mind to wander away from the breath, back home, off to the shops or to any number of different places. Maybe even half an hour may pass before you suddenly realize you're supposed to be practicing meditation and reprimand yourself for your lack of sati. This is where you have to be really careful, because this is where the chicken gets out of the coop — the mind leaves its base of calm.

Một số người không muốn trải nghiệm bất kỳ suy nghĩ hay cảm xúc nào, nhưng thái độ này lại là thái quá. Các cảm xúc vốn nảy sinh ngay trong trạng thái tĩnh lặng. Tâm vừa cảm nhận các cảm xúc, lại vừa duy trì sự tĩnh lặng cùng một lúc mà không hề bị xáo động. Khi đạt được sự tĩnh lặng như thế, sẽ không có bất kỳ hậu quả tiêu cực nào xảy ra. Vấn đề chỉ nảy sinh khi "chú gà" lọt ra khỏi "chuồng". Chẳng hạn, bạn đang chú tâm quan sát hơi thở đi vào và đi ra, rồi bỗng chốc quên mất chính mình, để mặc tâm phóng dật rời xa hơi thở, lạc về nhà, chạy ra cửa hàng, hay phiêu dạt đến bất cứ nơi nào khác. Có khi phải mất đến nửa giờ đồng hồ trôi qua, bạn mới chợt nhận ra rằng mình đang phải tu thiền, rồi tự trách bản thân vì đã thiếu chánh niệm (sati). Đây chính là điểm mà bạn cần phải hết sức cẩn trọng, bởi lẽ đây chính là lúc "chú gà lọt khỏi chuồng", khi tâm rời bỏ nền tảng tĩnh lặng vốn có của nó.

You must take care to maintain the awareness with sati and try to pull the mind back. Although I use the words "pull the mind back," in fact the mind doesn't really go anywhere, only the object of awareness has changed. You must make the mind stay right here and now. As long as there is sati there will be presence of mind. It seems like you are pulling the mind back but really it hasn't gone anywhere, it has simply changed a little. It seems that the mind goes here and there, but in fact the change occurs right at the one spot. When sati is regained, in a flash you are back with the mind without it having to be brought from anywhere.

Bạn chú tâm duy trì sự tỉnh giác bằng chánh niệm (sati) và cố gắng kéo tâm trở về. Mặc dù tôi dùng từ "kéo tâm trở về", nhưng thực tế tâm chẳng hề đi đâu cả; chỉ có đối tượng của sự nhận biết là đã thay đổi mà thôi. Bạn phải giữ cho tâm an trú ngay tại đây và lúc này. Chừng nào còn chánh niệm, chừng đó tâm vẫn còn hiện diện trọn vẹn. Dường như bạn đang kéo tâm trở về, nhưng thực ra nó chẳng đi đâu cả; nó chỉ đơn thuần thay đổi một chút mà thôi. Có vẻ như tâm chạy nhảy chỗ này chỗ kia, nhưng kỳ thực sự thay đổi ấy lại diễn ra ngay tại một điểm duy nhất. Khi chánh niệm được khôi phục, chỉ trong thoáng chốc, bạn lại trở về với tâm mà chẳng cần phải kéo nó từ bất cứ nơi nào về.

When there is total knowing, a continuous and unbroken awareness at each and every moment, this is called presence of mind. If your attention drifts from the breath to other places then the knowing is broken. Whenever there is awareness of the breath the mind is there. With just the breath and this even and continuous awareness you have presence of mind.

Khi đạt đến sự thấu triệt hoàn toàn, một trạng thái nhận biết liên tục và không gián đoạn trong từng sát na, thì đó chính là sự hiện diện của tâm. Nếu sự chú tâm của bạn phóng dật ra khỏi hơi thở để hướng sang những nơi khác, thì sự thấu triệt ấy sẽ bị đứt đoạn. Bất cứ khi nào có sự nhận biết về hơi thở, thì tâm cũng hiện diện ngay tại đó. Chỉ cần nương vào hơi thở cùng với sự nhận biết đều đặn và liên tục, bạn sẽ đạt được sự hiện diện của tâm.

There must be both sati and sampajañña. Sati is recollection and sampajañña is self awareness. Right now you are clearly aware of the breath. This exercise of watching the breath helps sati and sampajañña develop together. They share the work. Having both sati and sampajañña is like having two workers to lift a heavy plank of wood. Suppose there are two people trying to lift some heavy planks, but the weight is so great, they have to strain so hard, that it's almost unendurable. Then another person, imbued with goodwill, sees them and rushes in to help. In the same way, when there is sati and sampajañña, then pañña (wisdom) will arise at the same place to help out. Then all three of them support each other.

Cần phải có cả chánh niệm (sati) và tỉnh giác (sampajañña). Sati là sự ghi nhớ là chánh niệm, còn sampajañña là sự tự nhận thức, sự tỉnh giác. Ngay lúc này đây, bạn đang nhận biết một cách rõ ràng về hơi thở của mình. Việc thực hành quan sát hơi thở này giúp cho chánh niệm (sati) và tỉnh giác (sampajañña) cùng nhau phát triển; chúng cùng nhau gánh vác công việc. Việc sở hữu cả chánh niệm và tỉnh giác cũng tựa như việc có hai người thợ cùng nhau khiêng một tấm ván gỗ nặng. Giả sử có hai người đang cố sức khiêng những tấm ván nặng, nhưng sức nặng ấy quá lớn, buộc họ phải gồng mình vất vả đến mức gần như không thể chịu đựng nổi. Bỗng nhiên, một người khác, vốn tràn đầy thiện chí, nhìn thấy cảnh tượng ấy liền vội vã chạy đến để giúp sức. Cũng theo cách thức tương tự, khi chánh niệm (sati) và tỉnh giác (sampajañña) hiện diện, thì tuệ (pañña) cũng sẽ khởi sinh ngay tại đó để cùng hỗ trợ. Khi ấy, cả ba yếu tố này sẽ cùng nhau tương trợ nhau.

With pañña there will be an understanding of sense objects. For instance, during the meditation sense objects are experienced which give rise to feelings and moods. You may start to think of a friend, but then pañña should immediately counter with "It doesn't matter," "Stop" or "Forget it." Or if there are thoughts about where you will go tomorrow, then the response would be, "I'm not interested, I don't want to concern myself with such things." Maybe you start thinking about other people, then you should think, "No, I don't want to get involved." "Just let go," or "It's all uncertain and never a sure thing." This is how you should deal with things in meditation, recognizing them as "not sure, not sure," and maintaining this kind of awareness.

Nhờ có tuệ (pañña), ta đạt được sự hiểu biết về các đối tượng giác quan. Chẳng hạn, trong lúc hành thiền, các đối tượng giác quan xuất hiện và khơi dậy những cảm thọ cùng các trạng thái tâm lý. Có thể bạn bắt đầu nghĩ về một người bạn, nhưng ngay lập tức, tuệ cần phản hồi lại rằng: "Chuyện đó chẳng quan trọng," "Hãy dừng lại," hoặc "Hãy quên nó đi." Hoặc nếu những suy nghĩ ngày mai mình sẽ đi đâu, thì phản ứng thích hợp sẽ là: "Ta không quan tâm; ta không muốn bận tâm đến những chuyện như thế." Cũng có thể bạn bắt đầu nghĩ về những người khác; khi ấy, bạn nên tự nhủ: "Không, ta không muốn dính líu vào chuyện này." Hãy nghĩ rằng: "Cứ buông bỏ đi," hoặc "Mọi sự đều vô thường và chẳng có gì là chắc chắn cả." Đó chính là cách bạn nên đối diện với mọi sự trong khi hành thiền, nhận diện chúng là "không chắc chắn, không chắc chắn", và duy trì trạng thái chánh niệm.

You must give up all the thinking, the inner dialogue and the doubting. Don't get caught up in these things during the meditation. In the end all that will remain in the mind in its purest form are sati, sampajañña and pañña. whenever these things weaken doubts will arise, but try to abandon those doubts immediately, leaving only sati, sampajañña and pañña. Try to develop sati like this until it can be maintained at all times. Then you will understand sati, sampajañña and samadhi thoroughly.

Bạn phải buông bỏ mọi suy nghĩ, những cuộc đối thoại nội tâm và sự hoài nghi. Đừng để bị mắc kẹt vào những điều này trong lúc tu thiền. Sau cùng, tất cả những gì còn lại trong tâm ở dạng thuần khiết nhất sẽ là Chánh niệm (Sati), Tỉnh giác (Sampajañña) và Trí Tuệ (Pañña). Bất cứ khi nào những yếu tố này suy yếu, sự hoài nghi sẽ nảy sinh; nhưng hãy cố gắng buông bỏ những hoài nghi ấy ngay lập tức, chỉ giữ lại Chánh niệm, Tỉnh giác và Trí tuệ. Hãy nỗ lực trau dồi Chánh niệm theo cách này cho đến khi bạn có thể duy trì nó trong mọi lúc. Khi ấy, bạn sẽ thấu hiểu một cách trọn vẹn về Chánh niệm (Sati), Tỉnh giác (Sampajañña) và Định (Samadhi).

Focusing the attention at this point you will see sati, sampajañña, samadhi and pañña together. Whether you are attracted to or repelled by external sense objects, you will be able to tell yourself, "It's not sure." Either way they are just hindrances to be swept away till the mind is clean. all that should remain is sati, recollection; sampajañña, clear awareness; samadhi, the firm and unwavering mind; and pañña, or consummate wisdom. For the time being I will say just this much on the subject of meditation.

Tập trung sự chú ý vào điểm này bạn sẽ thấy Chánh niệm (Sati), Tỉnh giác (Sampajañña), Định (Samadhi) và Tuệ (Pañña) cùng hiện hữu. Dù bạn có bị các đối tượng giác quan bên ngoài thu hút hay xua đẩy, bạn vẫn có thể tự nhủ rằng: "Điều này là bất định." Dù theo chiều hướng nào, chúng cũng chỉ là những chướng ngại cần được diệt trừ cho đến khi tâm trở nên thanh tịnh. Tất cả những gì cần lưu lại chỉ là Chánh niệm, sự ghi nhớ; Tỉnh giác, sự nhận biết rõ ràng; Định tâm vững vàng và bất động; và Tuệ hay trí tuệ viên mãn. Trước mắt, tôi chỉ đề cập đôi điều như vậy về chủ đề tu thiền định.

Now about the tools or aids to meditation practice — there should be metta (goodwill) in your heart, in other words, the qualities of generosity, kindness and helpfulness. These should be maintained as the foundation for mental purity. For example, begin doing away with lobha, or selfishness, through giving. When people are selfish they aren't happy. Selfishness leads to a sense of discontent, and yet people tend to be very selfish without realizing how it affects them.

Bây giờ nói về các công cụ hay phương tiện hỗ trợ cho việc tu thiền định, điều cần có chính là *metta* (tâm từ) trong lòng bạn; nói cách khác, đó là những phẩm chất của lòng từ bi, lòng nhân ái và tinh thần giúp đỡ người khác. Những phẩm chất này cần được duy trì như một nền tảng vững chắc cho sự thanh tịnh của tâm. Chẳng hạn, hãy bắt đầu loại bỏ *lobha* hay tính ích kỷ thông qua việc bố thí. Khi con người sống ích kỷ, họ sẽ chẳng thể nào tìm thấy hạnh phúc. Tính ích kỷ dẫn đến cảm giác bất mãn, thế nhưng con người lại thường có xu hướng sống rất ích kỷ mà chẳng hề nhận ra rằng chính điều đó đang tác động tiêu cực đến bản thân họ như thế nào.

You can experience this at any time, especially when you are hungry. Suppose you get some apples and you have the opportunity to share them with a friend; you think it over for a while, and, sure, the intention to give is there all right, but you want to give the smaller one. To give the big one would be... well, such a shame. It's hard to think straight. You tell them to go ahead and take one, but then you say, "Take this one!"... and give them the smaller apple! This is one form of selfishness that people usually don't notice. Have you ever been like this?

Bạn có thể trải nghiệm cảm giác này bất cứ lúc nào, đặc biệt là khi đang đói. Giả sử bạn có vài quả táo và có cơ hội chia sẻ chúng với một người bạn; bạn đắn đo suy nghĩ một lúc, và quả thực, ý định muốn cho đi thì vẫn hiện hữu đó, nhưng bạn lại chỉ muốn tặng quả nhỏ hơn. Nếu phải cho đi quả to... thì, chà, thật là tiếc nuối biết bao. Khi ấy, thật khó để bạn có thể suy nghĩ thật sáng suốt. Bạn bảo người bạn cứ tự nhiên chọn lấy một quả, nhưng rồi lại vội nói: "Lấy quả này đi!"... và đưa cho họ chính quả táo nhỏ hơn! Đây là một dạng ích kỷ mà con người thường chẳng hề nhận ra. Đã bao giờ bạn rơi vào tình huống như thế này chưa?

You really have to go against the grain to give. Even though you may really only want to give the smaller apple, you must force yourself to give away the bigger one. Of course, once you have given it to your friend you feel good inside. Training the mind by going against the grain in this way requires self-discipline — you must know how to give and how to give up, not allowing selfishness to stick. Once you learn how to give, if you are still hesitating over which fruit to give, then while you are deliberating you will be troubled, and even if you give the bigger one, there will still be a sense of reluctance. But as soon as you firmly decide to give the bigger one the matter is over and done with. This is going against the grain in the right way.

Bạn phải đi ngược lại với bản năng tự nhiên để biết cho đi. Mặc dù trong thâm tâm bạn có thể chỉ muốn tặng quả táo nhỏ hơn, nhưng bạn buộc phải ép mình nhường lại quả lớn hơn. Tất nhiên, ngay khi đã trao tặng cho người bạn của mình, bạn sẽ cảm thấy một niềm vui sướng dâng trào từ bên trong. Việc để tâm đi ngược lại bản năng theo phương thức này đòi hỏi tính kỷ luật tự giác cao, bạn phải biết cách cho đi và biết cách buông bỏ, không để cho sự ích kỷ bám rễ trong lòng. Một khi đã học được cách cho đi, nếu bạn vẫn còn do dự không biết nên tặng quả nào, thì trong suốt khoảng thời gian cân nhắc ấy, tâm bạn sẽ cảm thấy bất an; và ngay cả khi cuối cùng bạn chọn tặng quả lớn hơn, trong lòng vẫn sẽ vương vấn chút cảm giác luyến tiếc. Tuy nhiên, ngay trong sát na bạn dứt khoát cho đi quả lớn hơn, mọi sự đắn đo sẽ tan biến và vấn đề được giải quyết trọn vẹn. Đó chính là cách đi ngược lại bản năng một cách đúng đắn.

Doing this you win mastery over yourself. If you can't do it you will be a victim of yourself and continue to be selfish. All of us have been selfish in the past. This is a defilement which needs to be cut off. In the Pali scriptures, giving is called "dana," which means bringing happiness to others. It is one of those conditions which help to cleanse the mind from defilement. Reflect on this and develop it in your practice.

Khi thực hiện điều này, bạn sẽ đạt được sự làm chủ chính bản thân mình. Nếu không thể làm được, bạn sẽ trở thành nạn nhân của chính mình và tiếp tục sống ích kỷ. Tất cả chúng ta đều đã từng sống ích kỷ trong quá khứ. Đây là một sự cấu uế cần phải được đoạn trừ. Trong các kinh điển Pali, việc cho đi được gọi là "dana" nghĩa là bố thí, là mang lại hạnh phúc cho người khác. Đây là một trong những điều kiện giúp thanh lọc tâm khỏi những cấu uế. Hãy suy ngẫm về điều này và trau dồi nó trong quá trình tu tập của bạn.

You may think that practicing like this involves hounding yourself, but it doesn't really. Actually it's hounding craving and the defilements. If defilements arise within you, you have to do something to remedy them. Defilements are like a stray cat. If you give it as much food as it wants it will always be coming around looking for more food, but if you stop feeding it, after a couple of days it'll stop coming around. It's the same with the defilements, they won't come to disturb you, they'll leave your mind in peace. So rather than being afraid of defilement, make the defilements afraid of you. To make the defilements afraid of you, you must see the Dhamma within your minds.

Có thể bạn nghĩ rằng việc tu tập theo cách này đồng nghĩa với việc tự hành bản thân, nhưng thực tế không phải vậy. Chính xác hơn, đó là việc truy đuổi và chế ngự lòng tham ái cùng các phiền não. Nếu phiền não khởi sinh trong tâm, bạn buộc phải hành động để hóa giải chúng. Phiền não cũng tựa như một chú mèo hoang: nếu bạn cho nó ăn thỏa thích, nó sẽ cứ mãi quanh quẩn tìm kiếm thêm thức ăn; nhưng nếu bạn ngừng cho nó ăn, chỉ sau vài ngày, nó sẽ không còn bén mảng đến nữa. Đối với phiền não cũng vậy; chúng sẽ không còn đến quấy nhiễu bạn nữa, mà sẽ trả lại sự bình an cho tâm bạn. Vì thế, thay vì sợ hãi phiền não, hãy khiến chính những phiền não phải khiếp sợ bạn. Và để phiền não phải khiếp sợ bạn, bạn buộc phải thấu triệt và nhận thấy được Chánh Pháp (Dhamma) ngay trong chính tâm mình.

Where does the Dhamma arise? It arises with our knowing and understanding in this way. Everyone is able to know and understand the Dhamma. It's not something that has to be found in books, you don't have to do a lot of study to see it, just reflect right now and you can see what I am talking about. Everybody can see it because it exists right within our hearts. Everybody has defilements, don't they? If you are able to see them then you can understand. In the past you've looked after and pampered your defilements, but now you must know your defilements and not allow them to come and bother you.

Chánh Pháp (Dhamma) khởi sinh từ đâu? Nó khởi sinh cùng với sự nhận biết và thấu hiểu của chúng ta theo cách này. Bất cứ ai cũng đều có khả năng nhận biết và thấu hiểu Chánh Pháp (Dhamma). Đó không phải là điều phải tìm kiếm trong sách vở, bạn cũng chẳng cần phải học hỏi quá nhiều mới có thể nhìn thấy; chỉ cần quán chiếu ngay trong sát na hiện tại, bạn sẽ thấy được điều tôi đang nói. Ai ai cũng có thể nhìn thấy điều đó, bởi lẽ nó hiện hữu ngay trong chính tâm của chúng ta. Chẳng phải ai cũng đều mang trong mình những phiền não, những cấu uế hay sao? Nếu bạn có thể nhận diện được chúng, thì bạn sẽ thấu hiểu. Trước đây, bạn đã từng nuông chiều và dung dưỡng những phiền não ấy; nhưng giờ đây, bạn phải nhận biết rõ chúng và không được để chúng quay lại quấy nhiễu tâm mình nữa.

The next constituent of practice is moral restraint (sila). Sila watches over and nurtures the practice in the same way as parents look after their children. Maintaining moral restraint means not only to avoid harming others but also to help and encourage them. At the very least you should maintain the five precepts, which are:

Thành phần tiếp theo của sự tu tập là giới hạnh (sila). Giới hạnh trông nom và nuôi dưỡng sự tu tập, cũng giống như cha mẹ chăm sóc con cái vậy. Việc duy trì giới hạnh không chỉ có nghĩa là tránh làm hại người khác, mà còn bao hàm cả việc giúp đỡ và khích lệ họ. Tối thiểu, bạn nên giữ gìn năm giới, bao gồm:

1. Not only to not kill or deliberately harm others, but to spread goodwill towards all beings.

2. To be honest, refraining from infringing on the rights of others, in other words, not stealing.

3. Knowing moderation in sexual relations: In the household life there exists the family structure, based around husband and wife. Know who your husband or wife is, know moderation, know the proper bounds of sexual activity. Some people don't know the limits. One husband or wife isn't enough, they have to have a second or third. The way I see it, you can't consume even one partner completely, so to have two or three is just plain indulgence. You must try to cleanse the mind and train it to know moderation. Knowing moderation is true purity, without it there are no limits to your behavior. When eating delicious food, don't dwell too much on how it tastes, think of your stomach and consider how much is appropriate to its needs. If you eat too much you get trouble, so you must know moderation. Moderation is the best way. Just one partner is enough, two or three is an indulgence and will only cause problems.

4. To be honest in speech — this is also a tool for eradicating defilements. You must be honest and straight, truthful and upright.

5. To refrain from taking intoxicants. You must know restraint and preferably give these things up altogether. People are already intoxicated enough with their families, relatives and friends, material possessions, wealth and all the rest of it. That's quite enough already without making things worse by taking intoxicants as well. These things just create darkness in the mind. those who take large amounts should try to gradually cut down and eventually give it up altogether. Maybe I should ask your forgiveness, but my speaking in this way is out of a concern for your benefit, so that you can understand that which is good. You need to know what is what. What are the things that are oppressing you in your everyday lives? What are the actions which cause this oppression? Good actions bring good results and bad actions bring bad results. These are the causes.

1. Không sát sinh, không giết hại hay cố ý làm hại người và vật khác, và còn lan tỏa thiện chí đến tất cả chúng sinh.

2. Là người chính trực, đó là việc kiềm chế không xâm phạm quyền lợi của người khác, hay nói cách khác là không trộm cắp.

3. Không tà dâm, tức là trong đời sống gia đình được xây dựng dựa trên mối quan hệ giữa vợ và chồng. Hãy thấu hiểu người bạn đời của mình là ai, biết giữ chừng mực và nhận thức rõ những giới hạn thích hợp trong hoạt động tình dục. Một số người lại không biết đâu là giới hạn. Họ cảm thấy một người vợ hay chồng là chưa đủ, nên phải tìm kiếm thêm người thứ hai, thứ ba. Theo quan điểm của tôi, ngay cả một người bạn đời bạn cũng chưa thể thấu hiểu và tận hưởng trọn vẹn, vậy thì việc có đến hai hay ba người chỉ đơn thuần là sự buông thả dục vọng. Bạn phải nỗ lực thanh lọc tâm và rèn luyện nó để biết giữ chừng mực. Biết giữ chừng mực chính là sự thanh tịnh đích thực; nếu thiếu đi điều này, hành vi của bạn sẽ trở nên vô giới hạn. Khi thưởng thức những món ăn ngon, đừng quá đắm chìm vào hương vị của chúng; thay vào đó, hãy nghĩ đến chiếc dạ dày của mình và cân nhắc xem lượng thức ăn bao nhiêu là vừa đủ cho nhu cầu của thân. Nếu ăn quá nhiều, bạn sẽ gặp rắc rối về sức khỏe; vì thế, bạn buộc phải biết giữ chừng mực. Biết giữ chừng mực chính là phương cách tối ưu nhất. Chỉ cần một người bạn đời là đã đủ; việc có đến hai hay ba người chỉ là sự buông thả và sẽ chỉ mang lại những rắc rối mà thôi.

4. Thành thật trong lời nói, đây cũng là một công cụ để đoạn trừ các phiền não. Bạn phải thành thật và thẳng thắn, chân thực và chính trực.

5. Không sử dụng các chất gây say. Bạn cần biết cách kiềm chế, và tốt nhất là nên từ bỏ hoàn toàn những thứ này. Con người vốn dĩ đã quá say đắm vào gia đình, họ hàng, bạn hữu, của cải vật chất, tiền tài và vô vàn những thứ khác rồi. Chừng đó đã là quá đủ, không cần thiết phải làm mọi chuyện tồi tệ thêm bằng cách sử dụng cả các chất gây say nữa. Những thứ này chỉ tạo ra sự u tối trong tâm mà thôi. Những ai đang sử dụng với số lượng lớn nên cố gắng cắt giảm dần dần, và cuối cùng là từ bỏ chúng hoàn toàn. Có lẽ tôi nên xin bạn tha thứ, nhưng việc tôi nói ra những lời này là xuất phát từ lòng quan tâm đến lợi ích của chính bạn, để bạn có thể thấu hiểu được đâu là điều thiện lành. Bạn cần phải phân định rõ ràng mọi sự việc. Đâu là những thứ đang đè nặng, gây áp lực lên cuộc sống thường nhật của bạn? Đâu là những hành động đã dẫn đến sự đè nén ấy? Hành động thiện sẽ mang lại kết quả tốt, và hành động bất thiện sẽ mang lại kết quả xấu. Đó là những nguyên nhân.

Once moral restraint is pure there will be a sense of honesty and kindness towards others. This will bring about contentment and freedom from worries and remorse. Remorse resulting from aggressive and hurtful behavior will not be there. This is form of happiness. It is almost like a heavenly state. There is comfort, you eat and sleep in comfort with the happiness arising from moral restraint. This is the result; maintaining moral restraint is the cause. This is a principle of Dhamma practice — refraining from bad actions so that goodness can arise. If moral restraint is maintained in this way, evil will disappear and good will arise in its place. This is the result of right practice.

Một khi trì giới đã trở nên thanh tịnh tâm sẽ hoan hỉ và lòng từ ái đối với người khác. Điều này sẽ mang lại sự mãn nguyện, cùng sự giải thoát khỏi những phiền não. Những phiền não vốn phát sinh từ các hành vi hung hăng và gây tổn hại sẽ không còn hiện hữu nữa. Đây chính là hạnh phúc. Trạng thái này gần như là một cảnh của thiên giới. Nơi đó ngập tràn sự an lạc; bạn ăn, ngủ trong sự thảnh thơi nhờ vào niềm hạnh phúc khởi sinh từ việc giữ giới. Đó là kết quả, còn việc duy trì sự giữ giới chính là nguyên nhân. Đây là một nguyên tắc trong việc tu tập Chánh Pháp (Dhamma) kiềm chế không thực hiện những hành vi bất thiện để cho những điều thiện lành có cơ hội nảy nở. Nếu sự giữ giới được duy trì theo cách thức này, các bất thiện sẽ tiêu tan và thiện sẽ trỗi dậy để thế chỗ. Đó chính là thành quả của sự tu tập đúng.

But this isn't the end of the story. Once people have attained some happiness they tend to be heedless and not go any further in the practice. They get stuck on happiness. They don't want to progress any further, they prefer the happiness of "heaven." It's comfortable but there's no real understanding. You must keep reflecting to avoid being deluded. Reflect again and again on the disadvantages of this happiness. It's transient, it doesn't last forever. Soon you are separated from it. It's not a sure thing, once happiness disappears then suffering arises in its place and the tears come again. Even heavenly beings end up crying and suffering.

Nhưng đây chưa phải là kết thúc câu chuyện. Một khi đã đạt được hạnh phúc, con người thường có xu hướng trở nên lơ là và không tiếp tục tiến xa hơn trên con đường tu tập. Họ bị mắc kẹt trong chính niềm hạnh phúc đó. Họ không còn muốn tiến bộ thêm nữa, mà chỉ ưa thích cái hạnh phúc mang tính "thiên giới" ấy. Cảm giác đó thật dễ chịu, nhưng lại thiếu vắng sự thấu hiểu thực sự. Bạn phải không ngừng quán chiếu để tránh rơi vào sự mê lầm. Hãy quán chiếu đi, quán chiếu lại về những mặt bất lợi của thứ hạnh phúc này. Nó vốn vô thường, không thể tồn tại mãi mãi. Chẳng bao lâu sau, bạn sẽ lại phải chia lìa với nó. Đó không phải là một điều chắc chắn; một khi hạnh phúc tan biến, khổ đau sẽ trỗi dậy thế chỗ, và những giọt nước mắt lại tuôn rơi. Ngay cả các chư thiên cũng rốt cuộc phải rơi lệ và chịu khổ đau.

So the Lord Buddha taught us to reflect on the disadvantages, that there exists an unsatisfactory side to happiness. Usually when this kind of happiness is experienced there is no real understanding of it. The peace that is truly certain and lasting is covered over by this deceptive happiness. This happiness is not a certain or permanent kind of peace, but rather a form of defilement, a refined form of defilement to which we attach. Everybody likes to be happy. Happiness arises because of our liking for something. As soon as that liking changes to dislike, suffering arises. We must reflect on this happiness to see its uncertainty and limitation. Once things change suffering arises. This suffering is also uncertain, don't think that it is fixed or absolute. This kind of reflection is called Adinavakatha,. the reflection on the inadequacy and limitation of the conditioned world. This means to reflect on happiness rather than accepting it at face value. Seeing that it is uncertain, you shouldn't cling fast to it. You should take hold of it but then let it go, seeing both the benefit and the harm of happiness. To meditate skillfully you have to see the disadvantages inherent within happiness. Reflect in this way. When happiness arises, contemplate it thoroughly until the disadvantages become apparent.

Do vậy Đức Phật đã dạy chúng ta quán chiếu về những mặt bất lợi; rằng trong hạnh phúc vẫn luôn tiềm ẩn một khía cạnh bất toại nguyện. Thông thường, khi trải nghiệm loại hạnh phúc này, chúng ta lại thiếu đi sự thấu hiểu thực sự về bản chất của nó. Sự an lạc vốn dĩ chắc chắn và bền vững lại bị che lấp bởi thứ hạnh phúc ảo tưởng này. Thứ hạnh phúc này không phải là một dạng an lạc chắc chắn hay vĩnh cửu; trái lại, nó là một dạng phiền não, một dạng phiền não tinh vi mà chúng ta thường bám chấp vào đó. Ai ai cũng đều mong cầu hạnh phúc. Hạnh phúc khởi sinh là do sự yêu thích của chúng ta đối với một điều gì đó. Ngay khi sự yêu thích ấy chuyển sang thái độ không thích, thì khổ đau liền xuất hiện. Chúng ta cần quán chiếu về thứ hạnh phúc này để nhận diện tính vô thường và những giới hạn của nó. Một khi sự vật đổi thay, khổ đau liền khởi sinh. Khổ đau này cũng mang tính vô thường; chớ lầm tưởng rằng nó là cố định hay tuyệt đối. Phương pháp quán chiếu này được gọi là Adinavakatha, tức là sự quán chiếu về tính bất toàn và những giới hạn của thế giới hữu vi . Điều này có nghĩa là chúng ta cần quán chiếu về hạnh phúc thay vì chỉ chấp nhận nó một cách hời hợt theo vẻ bề ngoài. Khi nhận thấy tính bất định của hạnh phúc, bạn chớ nên bám chấp vào nó. Bạn có thể đón nhận hạnh phúc, nhưng rồi hãy buông bỏ nó, để thấy rõ cả lợi ích lẫn tác hại mà hạnh phúc mang lại. Để tu tập thiền định một cách khéo léo, bạn cần phải nhận diện được những mặt bất lợi vốn tiềm ẩn ngay trong chính hạnh phúc. Hãy quán chiếu theo phương pháp này: Khi hạnh phúc khởi sinh, hãy quán sát nó một cách thấu đáo cho đến khi những mặt bất lợi của nó trở nên hiển lộ rõ ​​ràng.

When you see that things are imperfect [12] your heart will come to understand the Nekkhammakatha, the reflection on renunciation. The mind will become disinterested and seek for a way out. Disinterest comes from having seen the way forms really are, the way tastes really are, the way love and hatred really are. By disinterest we mean that there is no longer the desire to cling to or attach to things. There is a withdrawal from clinging, to a point where you can abide comfortably, observing with an equanimity that is free of attachment. This is the peace that arises from practice.

Khi nhận thấy vạn sự đều vốn dĩ bất toàn [12], tâm bạn sẽ thấu hiểu về Nekkhammakatha, sự quán chiếu về sự xuất ly. Tâm sẽ xả ly và đạt đến sự giải thoát. Sự xả ly này nảy sinh từ việc đã nhìn thấu bản chất thực sự của các sắc tướng, bản chất thực sự của các cảm thọ, cũng như bản chất thực sự của tình yêu và sự thù hận. Khi nói đến sự xả ly, ý chúng tôi muốn nói rằng tâm không còn khởi lên dục vọng muốn bám víu hay dính mắc vào bất cứ điều gì nữa. Đó là sự buông bỏ mọi sự bám víu, đạt đến một trạng thái mà tại đó bạn có thể an trú một cách tự tại, quán sát vạn vật với một tâm thái xả ly, hoàn toàn không còn dính mắc. Đây chính là sự an lạc nảy sinh từ quá trình tu tập.



 | Trang II| trở về đầu trang | Home page |