|
|
|
|
Kamogha... the flood of sensuality: sunk in sights, in sounds, in smells, in tastes, in bodily sensations. Sunk because we only look at externals, we don't look inwardly. People don't look at themselves, they only look at others. They can see everybody else but they can't see themselves. It's not such a difficult thing to do, but it's just that people don't really try. |
Kamogha... giòng lũ dục vọng là do: chìm đắm trong cảnh sắc, âm thanh, mùi hương, vị giác, cảm xúc. Chìm đắm vì chúng ta chỉ nhìn bề ngoài, không nhìn vào bên trong. Con người không nhìn vào chính mình, họ chỉ nhìn vào người khác. Họ có thể nhìn thấy mọi người khác nhưng lại không thể nhìn thấy chính mình. Điều này không khó, chỉ là mọi người không thực sự cố gắng. |
|
For example, look at a beautiful woman. What does that do to you? As soon as you see the face you see everything else. Do you see it? Just look within your mind. What is it like to see a woman? As soon as the eyes see just a little bit the mind sees all the rest. Why is it so fast? |
Ví dụ, hãy nhìn một người phụ nữ xinh đẹp. Điều đó tác động đến bạn thế nào? Ngay khi bạn nhìn thấy khuôn mặt ấy, bạn sẽ thấy mọi thứ khác. Bạn có thấy nó không? Hãy nhìn vào tâm bạn. Cảm giác nhìn một người phụ nữ như thế nào? Ngay khi mắt nhìn thấy một chút, tâm đã nhìn thấy tất cả những thứ còn lại. Tại sao lại nhanh đến vậy? |
|
It's because you are sunk in the "water." You are sunk, you think about it, fantasize about it, are stuck in it. It's just like being a slave... somebody else has control over you. When they tell you to sit you've got to sit, when they tell you to walk you've got to walk... you can't disobey them because you're their slave. Being enslaved by the senses is the same. No matter how hard you try you can't seem to shake it off. And if you expect others to do it for you, you really get into trouble. You must shake it off for yourself. |
Bởi vì bạn đang chìm trong "nước". Bạn đang bị chìm, bạn nghĩ về nó, tưởng tượng về nó, bị mắc kẹt trong đó. Nó giống như một nô lệ... người khác đang kiểm soát bạn. Khi họ bảo bạn ngồi, bạn phải ngồi, khi họ bảo bạn đi, bạn phải đi... bạn không thể không tuân lệnh họ vì bạn là nô lệ của họ. Bị nô lệ bởi các giác quan cũng giống như vậy. Dù bạn có cố gắng thế nào, bạn dường như cũng không thể thoát khỏi nó. Và nếu bạn mong đợi người khác làm điều đó cho mình, bạn sẽ thực sự gặp rắc rối. Bạn phải tự mình thoát khỏi nó. |
|
Therefore the Buddha left the practice of Dhamma, the transcendence of suffering, up to us. Take nibbana [36] for example. The Buddha was thoroughly enlightened, so why didn't he describe nibbana in detail? Why did he only say that we should practice and find out for ourselves. Why is that? Shouldn't he have explained what nibbana is like? |
Do đó Đức Phật đã để lại việc tu tập Pháp, sự vượt thoát khổ đau, cho chúng ta. Lấy ví dụ như Niết Bàn [36]. Đức Phật đã giác ngộ viên mãn, vậy tại sao Ngài không mô tả Niết Bàn một cách chi tiết? Tại sao Ngài chỉ nói rằng chúng ta nên tu tập và tự mình khám phá. Tại sao vậy? Lẽ ra Ngài nên giải thích Niết Bàn là như thế nào chứ? |
"The Buddha practiced, developing the perfections over countless world ages for the sake of all sentient beings, so why didn't he point out nibbana so that they all could see it and go there too?" Some people think like this. "If the Buddha really knew he would tell us. Why should he keep anything hidden?" |
Đức Phật đã tu tập, phát triển các ba la mật (parami) qua vô lượng kiếp vì lợi ích của tất cả chúng sinh, vậy tại sao Ngài không chỉ ra Niết-bàn để tất cả mọi người đều có thể thấy và đến đó?" Một số người nghĩ như vậy. "Nếu Đức Phật thực sự biết, Ngài đã nói cho chúng ta biết rồi. Tại sao Ngài phải giấu giếm điều gì?" |
|
Actually this sort of thinking is wrong. We can't see the truth in that way. We must practice, we must cultivate, in order to see. The Buddha only pointed out the way to develop wisdom, that's all. He said that we ourselves must practice. Whoever practices will reach the goal. |
Thật ra cách suy nghĩ này là sai lầm. Chúng ta không thể thấy chân lý theo cách đó. Chúng ta phải thực hành, phải tu tập mới thấy được. Đức Phật chỉ cho chúng ta con đường phát triển trí tuệ, vậy thôi. Ngài nói rằng chính chúng ta phải tự tu tập. Ai tu tập sẽ đạt được mục đích. |
|
But that path which the Buddha taught goes against our habits. To be frugal, to be restrained... we don't really like these things, so we say, "Show us the way, show us the way to nibbana, so that those who like it easy like us can go there too." It's the same with wisdom. The Buddha can't show you wisdom, it's not something that can be simply handed around. The Buddha can show the way to develop wisdom, but whether you develop much or only a little depends on the individual. Merit and accumulated virtues of people naturally differ. |
Nhưng con đường mà Đức Phật dạy lại đi ngược với thói quen tập khí của chúng ta. Sống tiết kiệm, sống thu thúc... chúng ta thực sự không thích những điều này, nên chúng ta nói: "Xin hãy chỉ đường cho chúng con, hãy chỉ đường đến Niết-bàn, để những ai thích sự dễ dàng như chúng con cũng có thể đến đó." Trí tuệ cũng vậy. Đức Phật không thể chỉ cho bạn trí tuệ, nó không phải là thứ có thể dễ dàng trao tay. Đức Phật có thể chỉ đường để phát triển trí tuệ, nhưng việc bạn phát triển nhiều hay ít tùy thuộc vào từng cá nhân. Công đức và đức hạnh tích lũy của mỗi người tự nhiên khác nhau. |
|
Just look at a material object, such as the wooden lions in front of the hall here. People come and look at them and can't seem to agree: one person says, "Oh, how beautiful," while another says, "How revolting!" It's the one lion, both beautiful and ugly. Just this is enough to know how things are. |
Chỉ cần nhìn vào một vật thể, chẳng hạn như những con sư tử gỗ trước hội trường này. Những người đến ngắm nhìn chúng và dường như những lời phê phán không giống nhau: người thì nói, "Ôi, đẹp quá," người thì nói, "Xấu quá!". Mà chỉ là con sư tử đó, người thấy đẹp người thấy xấu. Chỉ riêng điều này thôi cũng đủ để hiểu sự việc như thế nào. |
|
Therefore the realization of Dhamma is sometimes slow, sometimes fast. The Buddha and his disciples were all alike in that they had to practice for themselves, but even so they still relied on teachers to advise them and give them techniques in the practice. |
Do đó, việc chứng ngộ Giáo Pháp đôi khi chậm, đôi khi nhanh. Đức Phật và các đệ tử của Ngài đều giống nhau ở chỗ họ phải tự mình tu tập, nhưng dù vậy, họ vẫn dựa vào các bậc thầy để được chỉ bảo và truyền đạt phương pháp tu tập. |
|
Now, when we listen to Dhamma we may want to listen until all our doubts are cleared up, but they'll never be cleared up simply by listening. Doubt is not overcome simply by listening or thinking, we must first clean out the mind. To clean out the mind means to revise our practice. No matter how long we were to listen to the teacher talk about the truth we couldn't know or see that truth just from listening. If we did it would be only through guesswork or conjecture. |
Bây giờ, khi lắng nghe Pháp, chúng ta có thể muốn lắng nghe cho đến khi mọi nghi ngờ được giải tỏa, nhưng sẽ không bao giờ được giải tỏa chỉ bằng cách lắng nghe. Nghi ngờ không thể được vượt qua chỉ bằng cách lắng nghe hay suy nghĩ, trước tiên chúng ta phải thanh lọc tâm trí. Thanh lọc tâm trí nghĩa là xem xét lại việc thực hành của mình. Cho dù chúng ta có lắng nghe vị thầy giảng về chân lý bao lâu đi nữa, chúng ta cũng không thể biết hay thấy chân lý đó chỉ bằng cách lắng nghe. Nếu có làm vậy, chúng ta cũng chỉ bằng cách phỏng đoán hoặc suy diễn. |
|
However, even though simply listening to the Dhamma may not lead to realization, it is beneficial. There were, in the Buddha's time, those who realized the Dhamma, even realizing the highest realization — arahantship, while listening to a discourse. But those people were already highly developed, their minds already understood to some extent. It's like a football. When a football is pumped up with air it expands. Now the air in that football is all pushing to get out, but there's no hole for it to do so. As soon as a needle punctures the football the air comes bursting out. |
Tuy nhiên, dù chỉ nghe Pháp không thể dẫn đến chứng ngộ, nhưng việc nghe Pháp vẫn có lợi ích. Vào thời Đức Phật, có những vị đã chứng ngộ Pháp, thậm chí chứng ngộ quả vị cao nhất - quả A-la-hán, chỉ bằng cách nghe thuyết pháp. Nhưng những vị này đã phát triển rất cao, tâm họ đã hiểu được phần nào. Giống như một quả bóng hơi. Khi quả bóng được bơm đầy không khí, nó sẽ nở ra. Lúc này, không khí trong quả bóng đang cố gắng thoát ra ngoài, nhưng lại không có lỗ để thoát ra. Ngay khi một cây kim đâm thủng quả bóng, không khí liền phun ra. |
|
This is the same. The minds of those disciples who were enlightened while listening to the Dhamma were like this. As long as there was no catalyst to cause the reaction this "pressure" was within them, like the football. The mind was not yet free because of this very small thing concealing the truth. As soon as they heard the Dhamma and it hit the right spot, wisdom arose. They immediately understood, immediately let go and realized the true Dhamma. That's how it was. It was easy. The mind uprighted itself. It changed, or turned, from one view to another. You could say it was far, or you could say it was very near. |
Cũng vậy. Tâm của những vị đệ tử giác ngộ khi nghe Pháp cũng giống như vậy. Chừng nào chưa có chất xúc tác gây ra phản ứng, "áp lực" này vẫn còn trong họ, giống như quả bóng hơi. Tâm vẫn chưa được giải thoát bởi một điều rất nhỏ bé đang che giấu chân lý. Ngay khi họ nghe Pháp và nó chạm đúng chỗ, trí tuệ liền khởi lên. Họ lập tức hiểu ra, lập tức buông bỏ và chứng ngộ chân Pháp. Sự việc diễn ra như vậy. Thật dễ dàng. Tâm tự đứng thẳng. Nó thay đổi, hay xoay chuyển, từ góc nhìn này sang góc nhìn khác. Bạn có thể nói nó xa, hay bạn có thể nói nó rất gần. |
|
This is something we must do for ourselves. The Buddha was only able to give techniques on how to develop wisdom, and so with the teachers these days. They give Dhamma talks, they talk about the truth, but still we can't make that truth our own. Why not? There's a "film" obscuring it. You could say that we are sunk, sunk in the water. Kamogha — the "flood" of sensuality. Bhavogha — the "flood" of becoming. |
Đây là điều chúng ta phải tự mình thực hiện. Đức Phật chỉ có thể truyền dạy những phương pháp để phát triển trí tuệ, và các vị thầy ngày nay cũng vậy. Họ thuyết pháp, họ nói về chân lý, nhưng chúng ta vẫn không thể biến chân lý đó thành của riêng mình. Tại sao không? Có một "lớp màng" che khuất nó. Bạn có thể nói rằng chúng ta đang chìm, chìm trong nước. Dục bộc lưu (Kamogha) — "dòng lũ" của dục vọng. Hữu bộc lưu (Bhavogha) — "dòng lũ" của sự trở thành. |
|
"Becoming" (bhava) means "the sphere of birth." Sensual desire is born at sights, sounds, tastes, smells, feelings and thoughts, identifying with these things. The mind holds fast and is stuck to sensuality. |
“Hữu” (bhava) có nghĩa là “Cõi hữu vi; hiện tượng giới; thế giới của sự tác thành do các duyên.”. Dục vọng nảy sinh từ cảnh sắc, âm thanh, hương, vị, xúc, và tưởng, đồng nhất với những thứ này. Tâm trí bám chặt và bị mắc kẹt trong dục vọng. |
|
Some cultivators get bored, fed up, tired of the practice and lazy. You don't have to look very far, just look at how people can't seem to keep the Dhamma in mind, and yet if they get scolded they'll hold on to it for ages. They may get scolded at the beginning of the Rains, and even after the Rains Retreat has ended they still haven't forgotten it. Their whole lives they still won't forget it if it goes down deep enough. |
Một số hành giả cảm thấy buồn bực, mệt mỏi, chán nản với việc tu tập và lười biếng. Bạn không cần phải nhìn đâu xa, chỉ cần nhìn vào cách mọi người dường như không thể giữ được Giáo Pháp trong tâm, vậy mà nếu bị khiển trách, họ vẫn bám víu vào nó mãi mãi. Họ có thể bị khiển trách vào đầu mùa mưa, và ngay cả sau khi mùa an cư kết thúc, họ vẫn không quên được. Cả đời họ cũng sẽ không quên được Giáo Pháp nếu nó đã ăn sâu vào tâm trí họ. |
|
But when it comes to the Buddha's teaching, telling us to be moderate, to be restrained, to practice conscientiously... why don't people take these things to their hearts? Why do they keep forgetting these things? You don't have to look very far, just look at our practice here. For example, establishing standards such as: after the meal while washing your bowls, don't chatter! Even this much seems to be beyond people. Even though we know that chattering is not particularly useful and binds us to sensuality... people still like talking. Pretty soon they start to disagree and eventually get into arguments and squabbles. There's nothing more to it than this. |
Nhưng khi nói đến lời dạy của Đức Phật, dạy chúng ta phải tiết chế, phải thu thúc các căn, phải tu tập một cách tận tâm... tại sao người ta không ghi nhớ những điều này? Tại sao họ cứ quên mất những điều này? Bạn không cần phải tìm đâu xa, chỉ cần nhìn vào cách tu tập của chúng ta ở đây. Ví dụ, đặt ra những tiêu chuẩn như: sau khi ăn, khi rửa bát, đừng nói chuyện phiếm! Ngay cả điều này dường như cũng vượt quá khả năng của con người. Mặc dù chúng ta biết rằng nói chuyện phiếm không có ích gì và trói buộc chúng ta vào dục vọng... nhưng người ta vẫn thích nói chuyện. Chẳng mấy chốc họ bắt đầu bất đồng quan điểm và cuối cùng là cãi vã, tranh chấp. Chẳng còn gì hơn thế nữa. |
|
Now this isn't anything subtle or refined, it's pretty basic, and yet people don't seem to really make much effort with it. They say they want to see the Dhamma, but they want to see it on their own terms, they don't want to follow the path of practice. That's as far as they go. All these standards of practice are skillful means for penetrating to and seeing the Dhamma, but people don't practice accordingly. |
Điều này không hề khó khăn hay vượt mức, mà khá cơ bản, vậy mà dường như mọi người không thực sự nỗ lực với nó. Họ nói rằng họ muốn thấy Giáo Pháp, nhưng họ muốn thấy theo cách riêng của họ, họ không muốn đi theo con đường tu tập. Họ chỉ đi đến đó. Tất cả những tiêu chuẩn tu tập này đều là phương tiện khéo léo để thâm nhập và thấy Giáo Pháp, nhưng mọi người không thực hành theo. |
|
To say "real practice" or "ardent practice" doesn't necessarily mean you have to expend a whole lot of energy — just put some effort into the mind, making some effort with all the feelings that arise, especially those which are steeped in sensuality. These are our enemies. |
Nói "tu tập thực sự" hay "tu tập nhiệt thành" không nhất thiết có nghĩa là bạn phải tiêu tốn rất nhiều năng lượng — chỉ cần tập trung tâm trí, nỗ lực với tất cả những cảm xúc khởi lên, đặc biệt là những cảm xúc đắm chìm trong dục vọng. Chúng là kẻ thù của chúng ta. |
|
But people can't seem to do it. Every year, as the end of the Rains Retreat approaches, it gets worse and worse. Some of the monks have reached the limit of their endurance, the "end of their tether." The closer we get to the end of the Rains the worse they get, they have no consistency in their practice. I speak about this every year and yet people can't seem to remember it. We establish a certain standard and in not even a year it's fallen apart. Almost finished the Retreat and it starts — the chatter, the socializing and everything else. It all goes to pieces. This is how it tends to be. |
Nhưng dường như mọi người không thể làm được điều đó. Mỗi năm, khi mùa An cư mùa Mưa đến gần, tình hình lại càng tệ hơn. Một số nhà sư đã đạt đến giới hạn chịu đựng, "chấm hết đường lui". Càng gần cuối mùa An cư mùa Mưa, họ càng sa sút, không còn kiên trì tu tập. Bần tăng năm nào cũng nói về điều này, vậy mà mọi người dường như không nhớ ra. Chúng ta đặt ra một tiêu chuẩn nhất định, vậy mà chưa đầy một năm, nó đã sụp đổ. Gần kết thúc An cư mùa Mưa rồi thì mọi thứ bắt đầu - chuyện trò, giao tiếp và đủ thứ khác. Tất cả đều tan vỡ. Mọi chuyện thường diễn ra như vậy. |
|
Those who are really interested in the practice should consider why this is so. It's because people don't see the adverse results of these things. |
Những ai thực sự quan tâm đến việc tu tập nên cân nhắc lý do tại sao lại như vậy. Đó là vì mọi người không thấy được những hậu quả tiêu cực của việc này. |
|
When we are accepted into the Buddhist monkhood we live simply. And yet some of them disrobe to go to the front, where the bullets fly past them every day — they prefer it like that. They really want to go. Danger surrounds them on all sides and yet they're prepared to go. Why don't they see the danger? They're prepared to die by the gun but nobody wants to die developing virtue. Just seeing this is enough... it's because they're slaves, nothing else. See this much and you know what it's all about. People don't see the danger. |
Khi được nhận vào Tăng Đoàn Phật giáo, chúng ta sống giản dị an lạc. Vậy mà một số người lại hoàn tục để ra đời sống thế gian, nơi mà những bất ổn phiền não kéo đến mỗi ngày — họ thích như vậy. Họ thực sự muốn ra chiến đấu với thế gian. Nguy hiểm bủa vây họ tứ phía, vậy mà họ vẫn sẵn sàng ra trận. Tại sao họ không nhìn thấy hiểm nguy? Họ sẵn sàng chết dưới những phiền não bủa vây, nhưng chẳng ai muốn chết để rèn luyện đức hạnh. Chỉ cần nhìn thấy điều này là đủ... bởi vì họ là nô lệ, không gì khác. Nhìn thấy điều này, bạn sẽ hiểu tất cả. Người ta không nhìn thấy hiểm nguy. |
|
This is really amazing, isn't it? You'd think they could see it but they can't. If they can't see it even then, then there's no way they can get out. They're determined to whirl around in samsara. This is how things are. Just talking about simple things like this we can begin to understand. |
Thật kỳ diệu phải không? Cứ tưởng họ thấy được nhưng hóa ra lại không. Nếu ngay cả lúc đó họ còn không thấy được thì họ không cách nào thoát ra được. Họ cứ quyết tâm luẩn quẩn trong luân hồi. Sự đời là vậy. Chỉ cần nói đến những điều đơn giản như thế là ta đã có thể bắt đầu hiểu được rồi. |
|
If you were to ask them, "Why were you born?" They'd probably have a lot of trouble answering, because they can't see it. They're sunk in the world of the senses and sunk in becoming (bhava). [37] Bhava is the sphere of birth, our birthplace. To put it simply, where are beings born from? Bhava is the preliminary condition for birth. Wherever birth takes place, that's bhava. |
Nếu bạn hỏi họ, "Tại sao bạn được sinh ra?", có lẽ họ sẽ rất khó trả lời, bởi vì họ không thể thấy được điều đó. Họ chìm đắm trong thế giới giác quan và chìm đắm trong sự tái sinh, sự trở thành (bhava). [37] Bhava là phạm vi của sự sinh ra, nơi chúng ta sinh ra. Nói một cách đơn giản, chúng sinh được sinh ra từ đâu? Bhava là điều kiện tiên quyết cho sự sinh ra. Nơi nào có sự sinh ra, nơi đó là bhava. |
|
For example, suppose we had an orchard of apple trees that we were particularly fond of. That's a bhava for us if we don't reflect with wisdom. How so? Suppose our orchard contained a hundred or a thousand apple trees... it doesn't really matter what kind of trees they are, just so long as we consider them to be "our own" trees... then we are going to be "born" as a "worm" in every single one of those trees. We bore into every one, even though our human body is still back there in the house, we send out "tentacles" into every one of those trees. |
Ví dụ, giả sử chúng ta có một vườn táo mà chúng ta đặc biệt yêu thích. Đó là một bhava đối với chúng ta nếu chúng ta không quán chiếu bằng trí tuệ. Tại sao vậy? Giả sử vườn táo của chúng ta có một trăm hay một ngàn cây táo... loại cây gì cũng không quan trọng, miễn là chúng ta coi chúng là cây "của riêng mình"... thì chúng ta sẽ được "sinh ra" thành một "con sâu" trong từng cây đó. Chúng ta đã thọc sâu vào từng cây, mặc dù thân xác con người của chúng ta vẫn còn ở trong nhà, chúng ta đã phóng ra "những cảm xúc " vào từng cây đó. |
Now, how do we know that it's a bhava? It's a bhava (sphere of existence) because of our clinging to the idea that those trees are our own, that that orchard is our own. If someone were to take an ax and cut one of the trees down, the owner over there in the house "dies" along with the tree. He gets furious, and has to go and set things right, to fight and maybe even kill over it. That quarreling is the "birth." The "sphere of birth" is the orchard of trees that we cling to as our own. We are "born" right at the point where we consider them to be our own, born from that bhava. Even if we had a thousand apple trees, if someone were to cut down just one it'd be like cutting the owner down. |
Bây giờ, làm sao để chúng ta biết đó là bhava? Nó là bhava (cõi hiện hữu,; hiện tượng giới; thế giới của sự tác thành do các duyên). bởi vì chúng ta bám víu vào ý niệm rằng những cái cây đó là của riêng ta, rằng vườn cây đó là của riêng ta. Nếu ai đó lấy rìu chặt một cây, thì người chủ nhà kia sẽ "chết" cùng với cây. Ông ta nổi giận, phải đi sửa chữa mọi thứ, đánh nhau và thậm chí có thể giết người vì nó. Cuộc cãi vã đó chính là "sinh". "Cõi sinh" chính là vườn cây mà chúng ta bám víu như của riêng mình. Chúng ta được "sinh" ngay tại điểm mà chúng ta coi chúng là của riêng mình, được sinh ra từ bhava đó. Ngay cả khi chúng ta có một ngàn cây táo, nếu ai đó chặt chỉ một cây thì cũng giống như chặt chính người chủ của nó vậy. |
|
Whatever we cling to we are born right there, we exist right there. We are born as soon as we "know." This is knowing through not-knowing: we know that someone has cut down one of our trees. But we don't know that those trees are not really ours. This is called "knowing through not-knowing." We are bound to be born into that bhava. |
Bất cứ điều gì ta chấp thủ vào, ta đều sinh ra ngay tại đó, ta hiện hữu ngay tại đó. Ta sinh ra ngay khi ta "biết". Đây là biết qua vô tri: ta biết rằng ai đó đã chặt một trong những cái cây của ta. Nhưng ta không biết rằng những cái cây đó thực ra không phải của ta. Điều này được gọi là "biết qua vô tri". Ta nhất định sẽ được sinh ra trong cõi hiện hữu (bhava) đó. |
|
Vatta the wheel of conditioned existence, operates like this. People cling to bhava, they depend on bhava. If they cherish bhava, this is birth . And if they fall into suffering over that same thing, this is also a birth. As long as we can't let go we are stuck in the rut of samsara, spinning around like a wheel. Look into this, contemplate it. Whatever we cling to as being us or ours, that is a place for birth. |
Vatta (VATTA nt. phận sự, công việc, chức vụ). Phận sự (vatta) của sự tồn tại hữu vi, vận hành như thế. Con người bám víu vào cõi hữu vi (bhava) , họ lệ thuộc vào cõi hữu vi (bhava). Nếu họ trân quý cõi hữu vi (bhava), đó là sự sinh. Và nếu họ rơi vào đau khổ vì chính điều đó, đó cũng là sự sinh. Chừng nào chúng ta còn chưa buông bỏ, chúng ta còn kẹt trong vòng luẩn quẩn của luân hồi, xoay vần như một bánh xe. Hãy nhìn vào điều này, quán chiếu nó. Bất cứ điều gì chúng ta chấp thủ vào là ta hay của ta, đó chính là nơi để sinh. |
|
There must be a bhava, a sphere of birth, before birth can take place. Therefore the Buddha said, whatever you have, don't "have" it. Let it be there but don't make it yours. You must understand this "having" and "not having," know the truth of them, don't flounder in suffering. |
Phải có một cõi hữu vi (bhava), một phạm vi sinh, trước khi sự sinh khởi sinh. Vì vậy, Đức Phật đã dạy, bất cứ điều gì bạn có, đừng "có" nó. Hãy để nó ở đó nhưng đừng biến nó là của bạn. Bạn phải hiểu rõ "có" và "không có", hiểu rõ sự thật của chúng, đừng đắm mình trong đau khổ. |
|
The place that we were born from; you want to go back there and be born again, don't you? All of you monks and novices, do you know where you were born from? You want to go back there, don't you? Right there, look into this. All of you getting ready. The nearer we get to the end of the retreat the more you start preparing to go back and be born there. |
Nơi chúng ta sinh ra; các bạn muốn trở về đó và tái sinh, phải không? Tất cả các vị sư và sa di, các bạn có biết mình sinh ra từ đâu không? Các bạn muốn trở về đó, phải không? Ngay tại đó, hãy nhìn vào điều này. Tất cả các bạn đang chuẩn bị. Càng gần đến cuối khóa tu, các bạn càng bắt đầu chuẩn bị để trở về và tái sinh ở đó. |
|
Really, you'd think that people could appreciate what it would be like, living in a person's belly. How uncomfortable would that be? Just look, merely staying in your kuti for one day is enough. Shut all the doors and windows and you're suffocating already. How would it be to lie in a person's belly for nine or ten months? Think about it. |
Thật sự, bạn nghĩ rằng mọi người có thể hiểu được cảm giác sống trong bụng mẹ sẽ như thế nào. Điều đó khó chịu đến mức nào? Cứ thử nghĩ mà xem, chỉ cần ở trong cái thất (kuti) của bạn một ngày là đủ rồi. Đóng hết cửa ra vào và cửa sổ lại là bạn đã ngạt thở rồi. Nằm trong bụng một người suốt chín mười tháng sẽ như thế nào? Hãy thử nghĩ xem. |
|
People don't see the liability of things. Ask them why they are living, or why they are born, and they have no idea. Do you still want to get back in there? Why? It should be obvious but you don't see it. Why can't you see it? What are you stuck on, what are you holding onto? Think it out for yourself. |
Người ta không thấy được trách nhiệm của sự việc. Hỏi họ tại sao họ sống, hay tại sao họ được sinh ra, họ cũng chẳng biết. Bạn vẫn muốn quay lại đó sao? Tại sao? Lẽ ra điều đó phải rõ ràng nhưng bạn lại không thấy. Tại sao bạn không thấy được? Bạn đang mắc kẹt ở đâu, đang níu kéo điều gì? Hãy tự mình suy nghĩ. |
|
It's because there is a cause for becoming and birth. Just take a look at the preserved baby in the main hall, have you seen it? Isn't anybody alarmed by it? No, no-one's alarmed by it. A baby lying in its mother's belly is just like that preserved baby. And yet you want to make more of those things, and even want to get back and soak in there yourself. Why don't you see the danger of it and the benefit of the practice? |
Bởi vì có nhân duyên để trở thành và sinh ra. Cứ nhìn những thai phụ đang mang đứa bé còn trong bụng, họ đang hiện diện trong chánh điện, bạn có thấy không? Chẳng ai thấy sợ sao? Không, chẳng ai thấy sợ cả. Một đứa bé nằm trong bụng mẹ cũng giống hệt đứa bé được bảo bọc kia. Vậy mà bạn lại muốn tạo ra thêm những thứ như vậy, thậm chí còn muốn quay lại và đắm mình trong đó. Sao bạn không thấy được sự nguy hiểm của nó và lợi ích của việc tu tập này? |
|
You see? That's bhava. The root is right there, it revolves around that. The Buddha taught to contemplate this point. People think about it but still don't see. They're all getting ready to go back there again. they know that it wouldn't be very comfortable in there, to put their necks in the noose is really uncomfortable, they still want to lay their heads in there. Why don't they understand this? This is where wisdom comes in, where we must contemplate. |
Bạn thấy không? Đó là cõi hữu vi, thế giới của sự tác thảnh do các duyên (bhava). Gốc rễ nằm ngay đó, nó xoay quanh đó. Đức Phật dạy quán chiếu điểm này. Mọi người nghĩ về nó nhưng vẫn không thấy. Họ đều đang chuẩn bị tái sinh trở lại đó lần nữa. Họ biết rằng ở đó sẽ không thoải mái chút nào, việc bị nhét cổ vào thòng lọng thật sự rất khó chịu, nhưng họ vẫn muốn đặt đầu vào đó. Tại sao họ không hiểu điều này? Đây chính là lúc trí tuệ phát huy tác dụng, nơi chúng ta phải quán chiếu. |
|
When I talk like this people say, "If that's the case then everybody would have to become monks... and then how would the world be able to function?" You'll never get everybody to become monks, so don't worry. The world is here because of deluded beings, so this is no trifling matter. |
Khi bần tăng nói như vậy, mọi người sẽ nói: "Nếu vậy thì ai cũng phải xuất gia... và như vậy thế gian này làm sao vận hành được?" Bạn sẽ không bao giờ khiến tất cả mọi người xuất gia được, nên đừng lo lắng. Thế gian này tồn tại là do sự vô minh của chúng sinh , nên đây không phải là chuyện nhỏ. |
|
I first became a novice at the age of nine. I started practicing from way back then. But in those days I didn't really know what it was all about. I found out when I became a monk. Once I became a monk I became so wary. The sensual pleasures people indulged in didn't seem like so much fun to me. I saw the suffering in them. It was like seeing a delicious banana which I knew was very sweet but which I also knew to be poisoned. No matter how sweet or tempting it was, if I ate it I would die. I considered in this way every time... every time I wanted to "eat a banana" I would see the "poison" steeped inside, and so eventually I could withdraw my interest from those things. Now at this age, such things are not at all tempting. |
Năm 9 tuổi bần tăng bắt đầu xuất gia làm Sa-di. Bần tăng đã bắt đầu tu tập từ rất lâu rồi. Nhưng hồi đó bần tăng thực sự không biết tu tập là gì. Bần tăng thật sự mới biết khi trở thành một nhà sư. Khi đã trở thành nhà sư, bần tăng trở nên rất cảnh giác. Những thú vui nhục dục mà người ta đắm chìm dường như không còn thú vị với bần tăng nữa. Bần tăng nhìn thấy sự đau khổ trong đó. Giống như nhìn thấy một quả chuối ngon lành mà bần tăng biết là rất ngọt nhưng cũng biết là nó đã có chất độc. Dù nó có ngọt ngào hay hấp dẫn đến đâu, nếu bần tăng ăn nó, bần tăng sẽ chết. Bần tăng đã suy nghĩ theo cách này mỗi lần... mỗi lần muốn "ăn một quả chuối", và nghĩ rằng có "thuốc độc" ngấm bên trong, và cuối cùng bần tăng có thể ngừng hứng thú với những thứ đó. Giờ đây, ở tuổi này, những thứ như vậy hoàn toàn không còn hấp dẫn nữa. |
|
Some people don't see the "poison'; some see it but still want to try their luck. "If your hand is wounded don't touch poison, it may seep into the wound." |
Một số người không nhìn thấy "chất độc"; một số người nhìn thấy nhưng vẫn muốn thử vận may. "Nếu tay bạn bị thương, đừng chạm vào chất độc, nó có thể thấm vào vết thương." |
|
I used to consider trying it out as well. When I had lived as a monk for five or six years, I thought of the Buddha. He practiced for five or six years and was finished, but I was still interested in the worldly life, so I thought of going back to it: "Maybe I should go and "build the world" for a while, I would gain some experience and learning. Even the Buddha had his son, Rahula. Maybe I'm being too strict?..." |
Bần tăng cũng từng cân nhắc thử xem sao. Khi đã sống đời xuất gia được năm sáu năm, bần tăng nghĩ đến Đức Phật. Ngài đã tu hành năm sáu năm rồi chứng quả Chánh Đẳng Giác, nhưng bần tăng vẫn còn hứng thú với đời sống thế tục, nên bần tăng nghĩ đến việc hoàn tục để về với đời sống thế gian: "Hay mình nên đi "xây dựng một cuộc sống thế gian" một thời gian, để tích lũy kinh nghiệm và học hỏi. Ngay cả Đức Phật cũng có con trai là La Hầu La. Có lẽ mình quá nghiêm khắc chăng?..." |
|
I sat and considered this for some time, until I realized: "Yes, well, that's all very fine, but I'm just afraid that this 'Buddha' won't be like the last one," a voice in me said, "I'm afraid this 'Buddha' will just sink into the mud, not like the last one." And so I resisted those worldly thoughts. |
Bần tăng ngồi và suy ngẫm về điều này một lúc, cho đến khi nhận ra: "Vâng, tất cả đều ổn, nhưng ta chỉ sợ rằng 'Đức Phật' này sẽ không giống như vị Phật trước", một giọng nói trong bần tăng đã vang lên, "Ta sợ rằng 'Đức Phật' này sẽ chìm xuống bùn, không giống như vị Phật trước". Và vì vậy, bần tăng đã chống lại những suy nghĩ trần tục đó. |
|
From my sixth or seventh rains retreat up until the twentieth, I really had to put up a fight. These days I seem to have run out of bullets, I've been shooting for a long time. I'm just afraid that you younger monks and novices have still got so much ammunition, you may just want to go and try out your guns. Before you do, consider carefully first. |
Từ mùa an cư thứ sáu, thứ bảy cho đến mùa an cư thứ hai mươi, bần tăng đã thật sự phải chiến đấu với phiền não. Những ngày tháng này bần tăng phải trốn tránh vì dường như bần tăng đã hết khả năng chiến đấu trong quãng thời gian dài . Bần tăng chỉ e ngại rằng bạn là những vị Tăng và Sa-di còn quá trẻ đang có rất nhiều năng lực, bạn có thể muốn đi và thử sức của mình. Trước khi làm vậy, hãy cân nhắc kỹ lưỡng.. |
|
Speaking of sensual desire, it's hard to give up. It's really difficult to see it as it is. We must use skillful means. Consider sensual pleasures as like eating meat which gets stuck in your teeth. Before you finish the meal you have to find a toothpick to pry it out. When the meat comes out you feel some relief for a while, maybe you even think that you won't eat any more meat. But when you see it again you can't resist it. You eat some more and then it gets stuck again. When it gets stuck you have to pick it out again, which gives some relief once more, until you eat some more meat... That's all there is to it. Sensual pleasures are just like this, no better than this. When the meat gets stuck in your teeth there's discomfort. You take a toothpick and pick it out and experience some relief. There's nothing more to it than this sensual desire... The pressure builds up and up until you let a little bit out... Oh! That's all there is to it. I don't know what all the fuss is about. |
Nói về tham dục, thật khó để từ bỏ. Thật khó để nhìn nhận nó đúng như bản chất của nó. Chúng ta phải dùng phương tiện khéo léo. Hãy xem khoái lạc nhục dục như việc ăn thịt mắc kẹt trong răng. Trước khi ăn xong, bạn phải tìm tăm để gắp nó ra. Khi thịt được gắp ra, bạn cảm thấy dễ chịu trong một lúc, thậm chí có thể bạn nghĩ rằng mình sẽ không ăn thịt nữa. Nhưng khi nhìn thấy nó lần nữa, bạn không thể cưỡng lại được. Bạn ăn thêm một chút nữa rồi nó lại mắc kẹt. Khi nó mắc kẹt, bạn lại phải gắp nó ra, và cảm giác dễ chịu lại xuất hiện, cho đến khi bạn ăn thêm thịt... Chỉ có vậy thôi. Khoái lạc dục vọng cũng giống như vậy, không hơn không kém. Khi thịt mắc kẹt trong răng, bạn cảm thấy khó chịu. Bạn lấy tăm gắp nó ra và cảm thấy dễ chịu. Chẳng có gì hơn ngoài ham muốn dục vọng này... Áp lực cứ tăng dần cho đến khi bạn nhả ra một chút... Ồ! Chỉ có vậy thôi. Bần tăng không hiểu tại sao lại có chuyện phiền toái như vậy. |
|
I didn't learn these things from anybody else, they occurred to me in the course of my practice. I would sit in meditation and reflect on sensual pleasure as being like a red ants' nest. [38] Someone takes a piece of wood and pokes the nest until the ants come running out, crawling down the wood and into their faces, biting their eyes and ears. And yet they still don't see the difficulty they are in. |
Bần tăng không học những điều này từ bất kỳ ai khác, chúng xuất hiện trong quá trình tu tập của mình. Bần tăng ngồi thiền và quán tưởng về cảm thọ khoái lạc giống như một tổ kiến lửa. [38] Có người lấy một khúc gỗ chọc vào tổ cho đến khi lũ kiến chạy ra, bò xuống khúc gỗ và chui vào mặt họ, cắn vào mắt và tai họ. Vậy mà họ vẫn không thấy được khó khăn mà mình đang gặp phải. |
|
However it's not beyond our ability. In the teaching of the Buddha it is said that if we've seen the harm of something, no matter how good it may seem to be, we know that it's harmful. Whatever we haven't yet seen the harm of, we just think it's good. If we haven't yet seen the harm of anything we can't get out of it. |
Tuy nhiên điều đó không nằm ngoài khả năng của chúng ta. Trong giáo lý của Đức Phật, nếu chúng ta đã thấy tác hại của một điều gì đó, dù nó có vẻ tốt đến đâu, chúng ta cũng biết rằng nó có hại. Bất cứ điều gì chúng ta chưa thấy tác hại, chúng ta chỉ nghĩ rằng nó tốt. Nếu chúng ta chưa thấy tác hại của bất cứ điều gì, chúng ta không thể thoát khỏi nó. |
|
Have you noticed? No matter how dirty it may be people like it. This kind of "work" isn't clean but you don't even have to pay people to do it, they'll gladly volunteer. With other kinds of dirty work, even if you pay a good wage people won't do it, but this kind of work they submit themselves to gladly, you don't even have to pay them. It's not that it's clean work, either, it's dirty work. Yet why do people like it? How can you say that people are intelligent when they behave like this? Think about it. |
Bạn có để ý không? Có những việc dù có ô nhiễm, người ta vẫn thích. Loại "công việc" này không sạch sẽ nhưng bạn thậm chí không cần trả tiền để họ làm, họ vẫn vui vẻ tình nguyện. Với những loại công việc không trong sạch khác, dù bạn trả lương cao, người ta cũng không làm, nhưng loại công việc này, họ vui vẻ chấp nhận, bạn thậm chí không cần trả tiền cho họ. Nó cũng không phải là công việc sạch sẽ, mà là công việc không trong sạch. Vậy tại sao người ta lại thích nó? Làm sao có thể nói rằng con người thông minh khi họ hành xử như vậy? Hãy thử nghĩ xem. |
|
Have you ever noticed the dogs in the monastery ground here? There are packs of them. They run around biting each other, some of them even getting maimed. In another month or so they'll be at it. As soon as one of the smaller ones gets into the pack the bigger ones are at him... out he comes yelping, dragging his leg behind him. But when the pack runs on he hobbles on after it. He's only a little one, but he thinks he'll get his chance one day. They bite his leg for him and that's all he gets for his trouble. For the whole of the mating season he may not even get one chance. You can see this for yourself in the monastery here. |
Bạn đã bao giờ để ý đến những con chó trong khuôn viên tu viện này chưa? Chúng sống cả bầy. Chúng chạy quanh cắn nhau, một số con thậm chí còn bị thương. Khoảng một tháng nữa chúng sẽ làm lại như thế. Ngay khi một con chó nhỏ hơn nhập vào đàn, những con lớn hơn sẽ lao vào tấn công nó... nó chạy ra ngoài, kêu ăng ẳng, kéo lê chân sau. Nhưng khi đàn chó chạy đi, nó lại tập tễnh đuổi theo. Nó chỉ là một con chó nhỏ, nhưng nó nghĩ rằng một ngày nào đó nó sẽ có cơ hội. Chúng cắn chân con chó nhỏ khác thay nó và đó là tất cả những gì nó nhận được cho sự vất vả của mình. Trong suốt mùa giao phối, nó thậm chí có thể không có lấy một cơ hội. Bạn có thể tự mình chứng kiến điều này trong tu viện ở đây. |
|
These dogs when they run around howling in packs... I figure if they were humans they'd be singing songs! They think it's such great fun they're singing songs, but they don't have a clue what it is that makes them do it, they just blindly follow their instincts. |
Mấy con chó này khi chạy quanh tru lên theo bầy... Bần tăng nghĩ nếu chúng là người thì chúng sẽ hát hò! Chúng nghĩ hát hò thật vui, nhưng chúng không hiểu tại sao chúng làm vậy, chúng chỉ mù quáng làm theo bản năng. |
|
Think about this carefully. If you really want to practice you should understand your feelings. For example, among the monks, novices or laypeople, who should you socialize with? If you associate with people who talk a lot they induce you to talk a lot also. Your own share is already enough, theirs is even more... put them together and they explode! |
Hãy suy nghĩ kỹ về điều này. Nếu bạn thực sự muốn tu tập, bạn nên hiểu rõ cảm xúc của mình. Ví dụ, giữa các vị sư, sa di hay cư sĩ, bạn nên giao du với ai? Nếu bạn giao du với những người nói nhiều, họ cũng sẽ khiến bạn nói nhiều. Phần của bạn đã đủ rồi, phần của họ còn nhiều hơn... tất cả cộng lại thì sẽ nổ tung! |
|
People like to socialize with those who chatter a lot and talk of frivolous things. They can sit and listen to that for hours. When it comes to listening to Dhamma, talking about practice, there isn't much of it to be heard. Like when giving a Dhamma talk: As soon as I start off..."Namo Tassa Bhagavato' [39]... they're all sleepy already. They don't take in the talk at all. When I reach the "Evam" they all open their eyes and wake up. Every time there's a Dhamma talk people fall asleep. How are they going to get any benefit from it? |
Người ta thích giao du với những người lắm lời và nói những chuyện phù phiếm. Họ có thể ngồi nghe hàng giờ liền. Khi nói đến việc nghe Pháp, nói về việc tu tập, thì chẳng có gì nhiều để nghe. Giống như khi thuyết pháp: Ngay khi bần tăng bắt đầu... "Namo Tassa Bhagavato" [39]... họ đã buồn ngủ rồi. Họ chẳng tiếp thu được gì cả. Khi bần tăng nói đến "Evam", họ đều mở mắt và thức dậy. Mỗi khi có một bài pháp thoại, mọi người lại ngủ gật. Làm sao họ có thể hưởng được lợi ích gì từ việc nghe Pháp? |
|
Real Dhamma cultivators will come away from a talk feeling inspired and uplifted, they learn something. Every six or seven days the teacher gives another talk, constantly boosting the practice. |
Những người tu tập Pháp chân chính sẽ cảm thấy được truyền cảm hứng và phấn chấn sau mỗi buổi thuyết giảng, họ học được điều gì đó. Cứ sáu hoặc bảy ngày, vị thầy lại thuyết giảng một lần nữa, liên tục thúc đẩy việc tu tập. |
|
This is your chance, now that you are ordained. There's only this one chance, so take a close look. Look at things and consider which path you will choose. You are independent now. Where are you going to go from here? You are standing at the crossroads between the worldly way and the Dhamma way. Which way will you choose? You can take either way, this is the time to decide. The choice is yours to make. If you are to be liberated it is at this point. |
Đây là cơ hội của bạn, giờ đây bạn đã xuất gia. Chỉ có một cơ hội duy nhất, vậy nên hãy suy xét kỹ lưỡng. Hãy nhìn nhận mọi việc và cân nhắc xem bạn sẽ chọn con đường nào. Giờ đây bạn đã độc lập. Bạn sẽ bắt đầu đi từ đây? Bạn đang đứng giữa ngã ba đường giữa con đường thế gian và con đường Phật pháp. Bạn sẽ chọn con đường nào? Bạn có thể chọn bất kỳ con đường nào, đây là lúc để quyết định. Sự lựa chọn là của bạn. Nếu bạn muốn được giải thoát thì chính là ngay lúc này. |
|
|
|
|
Take a look at your fear... One day, as it was nearing nightfall, there was nothing else for it... If I tried to reason with myself I'd never go, so I grabbed a pa-kow and just went. |
Hãy quán chiếu nỗi sợ của bạn... Một ngày nọ, khi trời sập tối, không còn gì khác ngoài màn đêm bao phủ... Dù là tôi cố gắng trấn an bản thân tôi cũng không bao giờ đi vào bãi tha ma một mình, thế nên tôi rủ một người tu gieo duyên cùng đi. |
|
"If it's time for it to die then let it die. If my mind is going to be so stubborn and stupid then let it die"... that's how I thought to myself. Actually in my heart I didn't really want to go but I forced myself to. When it comes to things like this, if you wait till everything's just right you'll end up never going. When would you ever train yourself? So I just went. |
Nếu đã đến lúc phải chết thì cứ chết. Nếu tâm mình cứ cứng đầu và ngu ngốc như vậy thì cứ để nó chết đi"... tôi tự nhủ như vậy. Thực ra trong tâm tôi không sẵn sàng chết, nhưng tôi đã ép buộc mình. Với những chuyện như thế này, nếu cứ chờ đợi cho đến khi mọi thứ ổn thỏa thì cuối cùng sẽ chẳng bao giờ đi được. Bao giờ mới chịu rèn luyện bản thân đây? Thế nên tôi cứ đi thôi. |
|
I'd never stayed in a charnel ground before. When I got there, words can't describe the way I felt. The pa-kow wanted to camp right next to me but I wouldn't have it. I made him stay far away. Really I wanted him to stay close to keep me company but I wouldn't have it. I made him move away, otherwise I'd have counted on him for support. |
Bần tăng chưa bao giờ ở trong nghĩa địa. Khi đến nơi, không lời nào diễn tả được cảm giác của bần tăng lúc đó. Người tập sự muốn dựng lều ngay cạnh bần tăng nhưng bần tăng không đồng ý. Bần tăng muốn anh ta ở một nơi xa. Thực ra, bần tăng muốn anh ta ở gần để bầu bạn nhưng sau đó bần tăng không đồng ý. Bần tăng muốn anh ta ở xa, nếu không bần tăng đã nương dựa vào anh ta. |
|
"If it's going to be so afraid then let it die tonight." |
"Nếu quá sợ hãi đến thế thì hãy cứ để ta chết đêm nay." |
|
I was afraid, but I dared. It's not that I wasn't afraid, but I had courage. In the end you have to die anyway. |
Tôi sợ, nhưng tôi dám thử. Không phải là tôi không sợ, mà là tôi cố gắng. Cuối cùng thì ai cũng phải chết. |
|
Well, just as it was getting dark I had my chance, in they came carrying a corpse. Just my luck! I couldn't even feel my feet touch the ground, I wanted to get out of there so badly. They wanted me to do some funeral chants but I wouldn't get involved, I just walked away. In a few minutes, after they'd gone, I just walked back and found that they had buried the corpse right next to my spot, making the bamboo used for carrying it into a bed for me to stay on. |
Vâng, đúng lúc trời sắp tối, tôi đã có cơ hội, họ mang theo một xác chết. Thật là may mắn! Tôi thậm chí không cảm thấy chân mình chạm đất, tôi muốn thoát khỏi đó đến phát điên. Họ bảo tôi đọc vài bài kinh cầu siêu nhưng tôi không tham gia, tôi chỉ bỏ đi. Vài phút sau, sau khi họ đi khỏi, tôi quay lại và thấy họ đã chôn xác chết ngay cạnh chỗ tôi, những thanh tre khiêng xác chết họ bỏ nơi chỗ tôi ngồi. |
|
So now what was I do? It's not that the village was nearby, either, a good two or three kilometers away. |
Bây giờ tôi phải làm gì đây? Ngôi làng cũng không gần đây lắm, cách xa khoảng hai hoặc ba cây số. |
|
"Well, if I'm going to die, I'm going to die"... If you've never dared to do it you'll never know what it's like. It's really an experience. |
"Vậy thì, nếu phải chết thì cứ chết"... Nếu bạn chưa bao giờ dám làm điều đó, bạn sẽ không bao giờ biết được cảm giác đó như thế nào. Đó thực sự là một trải nghiệm quí báu. |
|
As it got darker and darker I wondered where there was to run to in the middle of that charnel ground. |
Khi trời càng tối hơn, tôi tự nhủ mình có thể đi đâu ngoài việc đối diện với bãi tha ma này. |
|
"Oh, let it die. One is born to this life only to die, anyway." |
"Thôi, hãy chết đi. Dù sao thì người ta sinh ra trên đời này rồi cũng chết mà thôi." |
|
As soon as the sun sank the night told me to get inside my glot. [40] I didn't want to do any walking meditation, I only wanted to get into my net. Whenever I tried to walk towards the grave it was as if something was pulling me back from behind, to stop me from walking. It was as if my feelings of fear and courage were having a tug-of-war with me. But I did it. This is the way you must train yourself. |
Ngay khi mặt trời lặn, màn đêm phủ xuống báo hiệu cho tôi hãy quay về chỗ trú của tôi. [40] Tôi không muốn thiền hành, tôi chỉ muốn chui vào chiếc mùng thiền mắc vào nhánh cây buông rủ xuống để ngăn muỗi, mòng, côn trùng, gió, khí lạnh.. Mỗi khi tôi cố gắng bước về phía nấm mồ, dường như có thứ gì đó kéo tôi lại từ phía sau, ngăn tôi bước đi. Cứ như thể tôi đang giằng co giữa cảm giác sợ hãi và can đảm. Nhưng tôi đã làm được. Đây là cách bạn phải rèn luyện bản thân. |
|
When it was dark I got into my mosquito net. It felt as if I had a seven-tiered wall all around me. Seeing my trusty alms bowl there beside me was like seeing an old friend. Even a bowl can be a friend sometimes! Its presence beside me was comforting. I had a bowl for a friend at least. |
Trời tối, tôi chui vào mùng thiền. Cảm giác như có một bức tường bảy lớp bao quanh mình. Nhìn thấy chiếc bát khất thực thân thuộc bên cạnh mình, tôi như gặp lại một người bạn cũ. Đôi khi, ngay cả một chiếc bát cũng có thể là một người bạn! Sự hiện diện của nó bên cạnh tôi thật an ủi. Ít nhất thì tôi cũng có một chiếc bát làm bạn. |
|
I sat in my net watching over the body all night. I didn't lie down or even doze off, I just sat quietly. I couldn't be sleepy even if I wanted to, I was so scared. Yes, I was scared, and yet I did it. I sat through the night. |
Tôi ngồi trong mùng, quán chiều thân tâm tôi suốt đêm. Tôi không nằm xuống, cũng chẳng chợp mắt, chỉ ngồi lặng lẽ quán chiếu thân và tâm mình. Dù muốn cũng không thể ngủ được, tôi sợ quá. Phải, tôi sợ, nhưng tôi vẫn làm vậy. Tôi ngồi suốt đêm. |
|
Now who would have the guts to practice like this? Try it and see. When it comes to experiences like this who would dare to go and stay in a charnel ground? If you don't actually do it you don't get the results, you don't really practice. This time I really practiced. |
Bây giờ ai có đủ can đảm để tu tập như thế này? Hãy thử xem. Khi nói đến những trải nghiệm như thế này, ai dám đến và ở lại nghĩa địa? Nếu bạn không thực sự làm điều đó, bạn sẽ không đạt được kết quả, bạn không thực sự tu tập. Lần này tôi thực sự tu tập. |
|
When day broke I felt, "Oh! I've survived!" I was so glad, I just wanted to have daytime, no night time at all. I wanted to kill off the night and leave only daylight. I felt so good, I had survived. I thought, "Oh, there's nothing to it, it's just my own fear, that's all." |
Khi bình minh ló dạng, tôi tự nhủ, "Ồ! Mình vẫn còn sống!" Tôi hoan hỉ vô cùng, chỉ muốn có ban ngày, không muốn đêm tối nữa. Tôi muốn xóa bỏ màn đêm và chỉ còn lại ánh sáng ban ngày. Tôi cảm thấy thật tuyệt vời, mình vẫn còn sống. Tôi nghĩ, "Ồ, chẳng có gì đâu, chỉ là nỗi sợ của riêng mình, thế thôi." |
|
After almsround and eating the meal I felt good, the sunshine came out, making me feel warm and cozy. I had a rest and walked a while. I thought, "This evening I should have some good, quiet meditation, because I've already been through it all last night. There's probably nothing more to it." |
Sau khi khất thực và ăn xong, tôi cảm thấy có thêm sức mạnh, ánh nắng mặt trời chiếu xuống ấm áp và dễ chịu. Tôi nghỉ ngơi và đi dạo một lúc. Tôi nghĩ, "Tối nay mình nên thiền định một chút, vì mình đã trải qua tất cả những điều này tối qua rồi. Chắc cũng chẳng còn gì nữa." |
|
Then, later in the afternoon, wouldn't you know it? In comes another one, a big one this time. [41] They brought the corpse in and cremated it right beside my spot, right in front of my glot. This was even worse than last night! |
Rồi, vào buổi xế chiều, bạn có biết không? Người ta khiêng một người nữa lại đến, lần này là một người lớn. [41] Họ mang xác vào và hỏa táng ngay cạnh chỗ tôi, ngay trước chiếc mùng thiền của tôi. Chuyện này còn tệ hơn cả đêm qua! |
|
"Well, that's good," I thought, "bringing in this corpse to burn here is going to help my practice." |
"Ồ, tốt quá," tôi nghĩ, "họ mang cái xác này vào đây để hỏa táng sẽ có ích cho việc thiền quán của tôi." |
|
But still I wouldn't go and do any rites for them, I waited for them to leave first before taking a look. |
Nhưng tôi vẫn không đi làm bất cứ nghi lễ nào cho họ, tôi đợi họ đi khỏi trước rồi mới nhìn vào dàn lửa thiêu. |
|
Burning that body for me to sit and watch over all night, I can't tell you how it was. Words can't describe it. Nothing I could say could convey the fear I felt. In the dead of night, remember. The fire from the burning corpse flickered red and green and the flames pattered softly. I wanted to do walking meditation in front of the body but could hardly bring myself to do it. Eventually I got into my net. The stench from the burning flesh lingered all through the night. |
Cảnh tôi ngồi canh suốt đêm một xác chết trên dàn lửa thiêu, tôi không thể diễn tả được cảm giác ấy. Không lời nào có thể diễn tả được. Không lời nào có thể diễn tả được nỗi sợ hãi tôi cảm thấy. Trong đêm khuya tĩnh mịch, không thể quên được. Ngọn lửa từ xác chết đang cháy lập lòe đỏ xanh, những tia lửa lách tách khe khẽ. Tôi muốn đi thiền hành trước xác chết nhưng lại không thể nào bắt mình làm được. Cuối cùng tôi chui vào cái mùng thiền của tôi. Mùi nồng nặc và rất khó chịu từ xác thịt cháy khét lẹt suốt đêm. |
|
And this was before things really started to happen... As the flames flickered softly I turned my back on the fire. |
Và đây là trước khi mọi chuyện thực sự bắt đầu xảy ra... Khi ngọn lửa bập bùng nhẹ nhàng, tôi quay lưng lại với ngọn lửa. |
|
I forgot about sleep, I couldn't even think of it, my eyes were fixed rigid with fear. And there was nobody to turn to, there was only me. I had to rely on myself. I could think of nowhere to go, there was nowhere to run to in that pitch black night. |
Tôi quên cả ngủ, ngay cả thậm chí không dám nghĩ đến, mắt tôi đờ đẫn vì sợ hãi. Và chẳng có ai để nương tựa, chỉ có mình tôi. Tôi phải tự lực cánh sinh. Tôi không thể nghĩ ra nơi nào để đi, chẳng có nơi nào để chạy trốn trong đêm đen mịt mù ấy. |
|
"Well, I'll sit and die here. I'm not moving from this spot." |
Tốt thôi, tôi sẽ ngồi và chết ở đây. Tôi sẽ không rời khỏi nơi này." |
|
Here, talking of the ordinary mind, would it want to do this? Would it take you to such a situation? If you tried to reason it out you'd never go. Who would want to do such a thing? If you didn't have strong faith in the teaching of the Buddha you'd never do it. |
Ở đây, nói về một người với tâm bình thường, liệu có muốn làm điều này không? Liệu nó có đưa bạn đến tình huống như vậy không? Nếu bạn cố gắng lý luận, bạn sẽ không bao giờ làm được. Ai lại muốn làm điều như vậy? Nếu bạn không có niềm tin mạnh mẽ vào giáo lý của Đức Phật, bạn sẽ không bao giờ làm được. |
|
Now, about 10 p.m., I was sitting with my back to the fire. I don't know what it was, but there came a sound of shuffling from the fire behind me. Had the coffin just collapsed? Or maybe a dog was getting the corpse? But no, it sounded more like a buffalo walking steadily around. |
Lúc đó, khoảng 10 giờ tối, tôi đang ngồi quay lưng về phía đống lửa. Tôi không biết đó là tiếng gì, nhưng có tiếng sột soạt phát ra từ đống lửa phía sau tôi. Có phải quan tài vừa mới đổ sập không? Hay có thể là một con chó đang bới xác chết? Nhưng không, nghe giống như tiếng một con trâu đang đi đều đều xung quanh. |
|
"Oh, never min..." But then it started walking towards me, just like a person! |
"Thôi, đừng quan tâm...." Nhưng mà rồi tiếng bước chân đến gần tôi, giống như một con người !" |
|
It walked up behind me, the footsteps heavy, like a buffalo's, and yet not... The leaves crunched under the footsteps as it made its way round to the front. Well, I could only prepare for the worst, where else was there to go? But it didn't really come up to me, it just circled around in front and then went off in the direction of the pa-kow. Then all was quiet. I don't know what it was, but my fear made me think of many possibilities. |
Tiếng bước chân đến sau lưng tôi, bước chân nặng nề như tiếng trâu rừng, nhưng lại không... Lá cây xào xạc dưới bước chân khi nó vòng ra phía trước. Chà, tôi chỉ còn biết chuẩn bị cho tình huống xấu nhất, còn nơi nào khác để đi? Nhưng nó không thực sự đến gần tôi, nó chỉ vòng ra trước mặt rồi đi về phía người tập sự. Rồi tất cả lại im lặng. Tôi không biết đó là gì, nhưng nỗi sợ hãi khiến tôi nghĩ đến nhiều tình huống. |
|
It must have been about half-an-hour later, I think, when the footsteps started coming back from the direction of the pa-kow. Just like a person! It came right up to me, this time, heading for me as if to run me over! I closed my eyes and refused to open them. |
Chắc phải khoảng nửa tiếng sau, tôi mới nghe thấy tiếng bước chân quay lại từ phía người tập sự. Cứ như một con người! Lần này nó tiến thẳng đến chỗ tôi, hướng về phía tôi như thể sắp tông chết tôi! Tôi nhắm nghiền mắt lại và không chịu mở mắt ra. |
|
"I'll die with my eyes closed." It got closer and closer until it stopped dead in front of me and just stood stock still. I felt as if it were waving burnt hands back and forth in front of my closed eyes. Oh! This was really it! I threw out everything, forgot all about Buddho, Dhammo and Sangho. I forgot everything else, there was only the fear in me, stacked in full to the brim. My thoughts couldn't go anywhere else, there was only fear. From the day I was born I had never experienced such fear. Buddho and Dhammo had disappeared, I don't know where. There was only fear welling up inside my chest until it felt like a tightly-stretched drumskin. |
"Tôi sẽ chết với cặp mắt nhắm nghiền" Tiếng chân gần hơn, rồi dừng lại ngay trước mặt tôi, đứng im như tượng. Tôi cảm thấy như nó đang vẫy bàn tay bỏng lửa qua lại trước đôi mắt nhắm nghiền của mình. Ôi! Đúng là như vậy! Tôi vứt bỏ tất cả, quên hết Phật, Pháp và Tăng. Tôi quên hết mọi thứ khác, chỉ còn lại nỗi sợ hãi chất đầy trong tôi. Suy nghĩ của tôi không thể hướng đến bất cứ thứ gì khác, chỉ còn lại nỗi sợ hãi. Từ ngày tôi sinh ra, tôi chưa bao giờ trải qua nỗi sợ hãi nào như vậy. Phật và Pháp đã biến mất, tôi không biết đi đâu. Chỉ còn lại nỗi sợ hãi dâng trào trong lồng ngực, cho đến khi giống như một chiếc da trống bị căng cứng. |
|
"Well, I'll just leave it as it is, there's nothing else to do." |
"Tốt thôi, tôi sẽ để nguyên như vậy, không còn cách nào khác nữa." |
|
I sat as if I wasn't even touching the ground and simply noted what was going on. The fear was so great that it filled me, like a jar completely filled with water. If you pour water until the jar is completely full, and then pour some more, the jar will overflow. Likewise, the fear built up so much within me that it reached its peak and began to overflow. |
Tôi ngồi im như thể không chạm đất và chỉ đơn giản là ghi nhận những gì đang diễn ra. Nỗi sợ hãi lớn đến mức nó tràn ngập tôi, như một chiếc bình chứa đầy nước. Nếu bạn đổ nước cho đến khi bình đầy, rồi lại đổ thêm, nước trong bình sẽ tràn ra ngoài. Tương tự như vậy, nỗi sợ hãi tích tụ trong tôi đến mức nó đạt đến đỉnh điểm và bắt đầu tràn ra ngoài. |
|
"What am I so afraid of anyway?" a voice inside me asked. "I'm afraid of death," another voice answered. "Well, then, where is this thing 'death'? Why all the panic? Look where death abides. Where is death?" "Why, death is within me!" "If death is within you, then where are you going to run to escape it? If you run away you die, if you stay here you die. Wherever you go it goes with you because death lies within you, there's nowhere you can run to. Whether you are afraid or not you die just the same, there's nowhere to escape death." |
"Điều gì đã làm ta sợ hãi?" một tiếng nói vang lên trong tôi. "Tôi sợ chết" một tiếng nói khác trả lời. "Rồi sao, 'cái chết' ở đâu? Sao lại hoảng sợ như vậy? Nhìn xem cái chết ngự trị ở đâu. Cái chết ở đâu?" “Tại sao, sự chết” là ở bên trong tôi!” "Nếu cái chết ở trong bạn, vậy bạn chạy đi đâu để thoát khỏi nó? Nếu bạn chạy trốn, bạn sẽ chết, nếu bạn ở lại đây, bạn sẽ chết. Dù bạn đi đâu, nó cũng đi theo bạn, bởi vì cái chết nằm trong bạn, không có nơi nào bạn có thể chạy khỏi. Dù bạn có sợ hay không, bạn vẫn sẽ chết, không có nơi nào để thoát khỏi cái chết." |
|
As soon as I had thought this, my perception seemed to change right around. All the fear completely disappeared as easily as turning over one's own hand. It was truly amazing. So much fear and yet it could disappear just like that! Non-fear arose in its place. Now my mind rose higher and higher until I felt as if I was in the clouds. |
Ngay khi tôi nghĩ vậy, nhận thức của tôi dường như thay đổi hoàn toàn. Mọi nỗi sợ hãi hoàn toàn biến mất dễ dàng như trở bàn tay vậy. Thật kỳ diệu. Bao nhiêu nỗi sợ hãi vậy mà lại có thể biến mất dễ dàng như vậy! Sự không sợ hãi trỗi dậy thay thế. Giờ đây, tâm trí tôi bay cao hơn, bay xa hơn nữa cho đến khi tôi cảm thấy như mình đang ở trên mây. |
|
As soon as I had conquered the fear, rain began to fall. I don't know what sort of rain it was, the wind was so strong. But I wasn't afraid of dying now. I wasn't afraid that the branches of the trees might come crashing down on me. I paid it no mind. The rain thundered down like a hot-season torrent, really heavy. By the time the rain had stopped everything was soaking wet. |
Vừa mới chế ngự được nỗi sợ hãi, mưa bắt đầu rơi. Tôi không biết đó là loại mưa gì, gió thổi mạnh quá. Nhưng giờ tôi không còn sợ chết nữa. Tôi cũng chẳng sợ có thể có những nhánh cây gãy rơi xuống người. Tôi chẳng bận tâm. Mưa như trút nước mùa nóng, nặng hạt vô cùng. Khi mưa tạnh, mọi thứ đều ướt sũng. |
|
I sat unmoving. So what did I do next, soaking wet as I was? I cried! The tears flowed down my cheeks. I cried as I thought to myself, |
Tôi ngồi yên không cử động. Vậy tôi đã làm gì tiếp theo, ướt sũng như thế này? Tôi đã khóc! Nước mắt chảy dài trên má. Tôi khóc và tự nhủ, |
|
"Why am I sitting here like some sort of orphan or abandoned child, sitting, soaking in the rain like a man who owns nothing, like an exile?" |
"Tại sao tôi lại ngồi đây như một đứa trẻ mồ côi hay bị bỏ rơi, ngồi ướt đẫm trong mưa như một người không nhà cửa, như một kẻ lưu vong?" |
|
And then I thought further, "All those people sitting comfortably in their homes right now probably don't even suspect that there is a monk sitting, soaking in the rain all night like this. What's the point of it all?" Thinking like this I began to feel so thoroughly sorry for myself that the tears came gushing out. |
Và rồi tôi nghĩ xa hơn, "Tất cả những người đang ngồi thoải mái trong nhà mình lúc này có lẽ thậm chí không ngờ rằng có một nhà sư đang ngồi dầm mưa suốt đêm như thế. Tất cả những điều này có ý nghĩa gì chứ?" Nghĩ như vậy, tôi bắt đầu cảm thấy vô cùng thương hại cho bản thân đến nỗi nước mắt cứ trào ra. |
|
"They're not good things anyway, these tears, let them flow right on out until they're all gone." |
Dù sao thì những giọt nước mắt này cũng chẳng tốt đẹp gì, cứ để chúng chảy mãi cho đến khi chúng hết chảy." |
|
This was how I practiced. Now I don't know how I can describe the things that followed. I sat... sat and listened. After conquering my feelings I just sat and watched as all manner of things arose in me, so many things that were possible to know but impossible to describe. And I thought of the Buddha's words...Paccattam veditabbo viññuhi [42] — "the wise will know for themselves." |
Đây là cách tôi đã tu tập. Giờ đây tôi không biết làm sao để diễn tả những điều xảy ra sau đó. Tôi ngồi... ngồi yên và lắng nghe. Sau khi chế ngự được cảm xúc, tôi chỉ ngồi và quan sát các Pháp đã khởi lên trong tôi, biết bao điều có thể biết nhưng không thể diễn tả. Và tôi nghĩ đến lời Đức Phật dạy... Paccattam veditabbo viññuhi [42] — " Bậc Thiện Trí Tự Mình Chứng Biết ." |
|
That I had endured such suffering and sat through the rain like this... who was there to experience it with me? Only I could know what it was like. There was so much fear and yet the fear disappeared. Who else could witness this? The people in their homes in the town couldn't know what it was like, only I could see it. It was a personal experience. Even if I were to tell others they wouldn't really know, it was something for each individual to experience for himself. The more I contemplated this the clearer it became. I became stronger and stronger, my conviction become firmer and firmer, until daybreak. |
Tôi đã chịu đựng bao nhiêu đau khổ và ngồi dưới mưa như thế này... có những ai ở đó đã có cùng trải nghiệm như tôi? Chỉ có tôi mới hiểu được cảm giác đó. Nỗi sợ hãi lớn đến thế, vậy mà nỗi sợ hãi ấy lại tan biến. Còn ai chứng kiến được điều này? Những người dân trong thị trấn, sống trong nhà của họ, không thể nào biết được, chỉ có tôi mới cảm nhận được. Đó là một trải nghiệm cá nhân. Dù tôi có nói với người khác, họ cũng sẽ không thực sự hiểu, nhưng đó là điều mỗi người tự mình trải nghiệm. Càng suy ngẫm, tôi càng thấy rõ điều đó. Tôi ngày càng mạnh mẽ hơn, niềm tin của tôi ngày càng vững chắc hơn, cho đến khi bình minh ló dạng. |
|
When I opened my eyes at dawn, everything was yellow. I had been wanting to urinate during the night but the feeling had eventually stopped. When I got up from my sitting in the morning everywhere I looked was yellow, just like the early morning sunlight on some days. When I went to urinate there was blood in the urine! |
Khi tôi mở mắt ra lúc bình minh, mọi thứ đều vàng vọt. Suốt đêm tôi đã muốn đi tiểu nhưng cuối cùng cảm giác đó cũng chấm dứt. Vào buổi sáng, tôi nhìn mọi nơi thấy đều màu vàng, giống như ánh nắng mặt trời buổi sáng sớm vào một số ngày. Khi tôi đi tiểu, nước tiểu có lẫn máu! |
|
"Eh? Is my gut torn or something?" I got a bit of fright..."Maybe it's really torn inside there." |
"Oh? Ruột tôi bị rách hay sao vậy?" Tôi hơi sợ... "Có lẽ ruột tôi bị rách thật rồi." |
|
"Well, so what? If it's torn it's torn, who is there to blame?" a voice told me straight away. "If it's torn it's torn, if I die I die. I was only sitting here, I wasn't doing any harm. If it's going to burst, let it burst," the voice said. |
"Thì sao? Rách thì rách, mà đổ lỗi cho ai chứ?" một giọng nói vang lên trong tôi ngay lập tức. "Rách thì rách, chết thì chết. Tôi chỉ ngồi đây thôi, tôi chẳng làm gì sai cả. Nếu nó sắp vỡ, cứ để nó vỡ đi", giọng nói ấy nói. |
|
My mind was as if arguing or fighting with itself. One voice would come from one side, saying, "Hey, this is dangerous!" Another voice would counter it, challenge it and over-rule it. |
Tâm tôi như đang tranh cãi hay đấu tranh với chính nó. Một giọng nói từ bên này vang lên, nói rằng: "Này, nguy hiểm đấy!" Một giọng nói khác phản bác, thách thức và chế ngự nó. |
|
My urine was stained with blood. "Hmm. Where am I going to find medicine?" "I'm not going to bother with that stuff. A monk can't cut plants for medicine anyway. If I die, I die, so what? What else is there to do? If I die while practicing like this then I'm ready. if I were to die doing something bad that's no good, but to die practicing like this I'm prepared." |
Nước tiểu của tôi có lẫn máu. “Hmm. Tôi sẽ tìm thuốc ở đâu đây?” "Tôi không bận tâm đến mấy chuyện đó. Dù sao thì một nhà sư cũng không thể hái cây làm thuốc. Nếu tôi chết thì chết, vậy thì sao? Còn gì để làm nữa? Nếu chết khi đang tu hành như thế này thì tôi đã sẵn sàng. Nếu chết khi đang làm điều xấu thì chẳng có ích gì, nhưng chết khi đang tu hành như thế này thì tôi đã chuẩn bị sẵn sàng." |
|
Don't follow your moods. Train yourself. The practice involves putting your very life at stake. You must have cried at least two or three times. That's right, that's the practice. If you're sleepy and want to lie down then don't let it sleep. Make the sleepiness go away before you lie down. But look at you all, you don't know how to practice. |
Đừng chạy theo cảm xúc. Hãy tu tập bản thân. Việc tu tập đòi hỏi phải đặt cược cả mạng sống của bạn. Bạn hẳn đã khóc ít nhất hai hoặc ba lần. Đúng vậy, đó chính là tu tập. Nếu bạn buồn ngủ và muốn nằm xuống thì đừng để nó ngủ. Hãy làm cho cơn buồn ngủ biến mất trước khi bạn nằm xuống. Nhưng nhìn xem, tất cả các bạn đều không biết cách tu tập. |
|
Sometimes, when you come back from almsround and you're contemplating the food before eating, you can't settle down, your mind is like a mad dog. The saliva flows, you're so hungry. Sometimes you may not even bother to contemplate, you just dig in. That's a disaster. If the mind won't calm down and be patient then just push your bowl away and don't eat. Train yourself, drill yourself, that's practice. Don't just keep on following your mind. Push your bowl away, get up and leave, don't allow yourself to eat. If it really wants to eat so much and acts so stubborn then don't let it eat. The saliva will stop flowing. If the defilements know that they won't get anything to eat they'll get scared. They won't dare bother you next day, they'll be afraid they won't get anything to eat. Try it out if you don't believe me. |
Đôi khi, khi bạn đi khất thực về và bạn đang suy ngẫm về thức ăn trước khi ăn, bạn không thể tĩnh tâm, tâm bạn giống như một con chó điên. Nước bọt chảy ra, bạn rất đói. Đôi khi bạn thậm chí có thể không thèm suy ngẫm, bạn chỉ ăn. Đó là một thảm họa. Nếu tâm không tĩnh lặng và không kiên nhẫn thì hãy đẩy bát của bạn ra xa và đừng ăn. Hãy tu tập bản thân, hãy rèn luyện bản thân, đó là thực hành. Đừng chỉ tiếp tục theo tâm trí của bạn. Đẩy bát của bạn ra xa, đứng dậy và rời đi, đừng cho phép mình ăn. Nếu nó thực sự muốn ăn nhiều như vậy và hành động bướng bỉnh như vậy thì đừng để nó ăn. Nước bọt sẽ ngừng chảy. Nếu các uế nhiễm biết rằng chúng sẽ không có gì để ăn, chúng sẽ sợ hãi. Chúng sẽ không dám làm phiền bạn vào ngày hôm sau, chúng sẽ sợ rằng chúng sẽ không có gì để ăn. Hãy thử xem nếu bạn không tin tôi. |
|
People don't trust the practice, they don't dare to really do it. They're afraid they'll go hungry, afraid they'll die. If you don't try it out you won't know what it's about. Most of us don't dare to do it, don't dare to try it out, we're afraid. |
Người ta không tin vào phương pháp này, họ không dám thực hành. Họ sợ mình sẽ đói, sợ mình sẽ chết. Nếu bạn không thử, bạn sẽ không biết nó là gì. Hầu hết chúng ta đều không dám làm, không dám thử, chúng ta sợ. |
|
When it comes to eating and the like I've suffered over them for a long time now so I know what they're about. And that's only a minor thing as well. So this practice is not something one can study easily. |
Nói đến chuyện ăn uống hay những thứ tương tự, tôi đã khổ sở vì chúng từ lâu rồi nên tôi biết chúng là gì. Mà đó cũng chỉ là chuyện nhỏ thôi. Vậy nên việc tu tập này không phải là điều dễ dàng học được. |
|
Consider: What is the most important thing of all? There's nothing else, just death. Death is the most important thing in the world. Consider, practice, inquire... If you don't have clothing you won't die. If you don't have betel nut to chew or cigarettes to smoke you still won't die. But if you don't have rice or water, then you will die. I see only these two things as being essential in this world. You need rice and water to nourish the body. So I wasn't interested in anything else, I just contented myself with whatever was offered. As long as I had rice and water it was enough to practice with, I was content. |
Hãy suy ngẫm: Điều gì là quan trọng nhất? Không có gì khác, chỉ có cái chết. Cái chết là điều quan trọng nhất trên đời. Hãy suy ngẫm, thực hành, tìm hiểu... Nếu bạn không có quần áo, bạn sẽ không chết. Nếu bạn không có trầu cau để nhai hay thuốc lá để hút, bạn vẫn sẽ không chết. Nhưng nếu bạn không có gạo hoặc nước, thì bạn sẽ chết. Tôi chỉ thấy hai điều này là thiết yếu trên thế giới này. Bạn cần gạo và nước để nuôi dưỡng cơ thể. Vì vậy, tôi không quan tâm đến bất cứ điều gì khác, tôi chỉ bằng lòng với bất cứ thứ gì được cung cấp. Miễn là tôi có gạo và nước là đủ để tu tập, tôi đã hài lòng. |
|
Is that enough for you? All those other things are extras, whether you get them or not doesn't matter, the only really important things are rice and water. |
Điều đó đã đủ cho bạn chưa? Tất cả những thứ khác đều là phụ, có hay không cũng không quan trọng, thứ thực sự quan trọng là gạo và nước. |
|
"If I live like this can I survive?" I asked myself, "There's enough to get by on all right. I can probably get at least rice on almsround in just about any village, a mouthful from each house. Water is usually available. Just these two are enough..." I didn't aim to be particularly rich. |
"Nếu sống thế này thì mình có sống nổi không?" Tôi tự hỏi, "Cũng đủ sống rồi. Chắc mình cũng xin được ít nhất một ít gạo trong mỗi lần đi khất thực ở bất kỳ ngôi làng nào, mỗi nhà một miếng. Nước thường có sẵn. Chỉ cần hai thứ này là đủ rồi..." Tôi không đặt mục tiêu trở nên giàu có. |
|
In regards to the practice, right and wrong are usually co-existent. You must dare to do it, dare to practice. If you've never been to a charnel ground you should train yourself to go. If you can't go at night then go during the day. Then train yourself to go later and later until you can go at dusk and stay there. Then you will see the effects of the practice, then you will understand. |
Về việc tu hành, đúng sai thường song hành. Phải dám làm, dám thực hành. Nếu chưa từng đến nghĩa địa, hãy rèn luyện bản thân. Nếu không thể đến vào ban đêm, hãy đến vào ban ngày. Sau đó, hãy rèn luyện bản thân đến muộn hơn, cho đến khi có thể đến đó vào lúc hoàng hôn. Khi đó, bạn sẽ thấy hiệu quả của việc tu hành, rồi bạn sẽ hiểu. |
|
This mind has been deluded now for who knows how many lifetimes. Whatever we don't like or love we want to avoid, we just indulge in our fears. And then we say we're practicing. This can't be called "practice." If it's real practice you'll even risk your life. If you've really made up your mind to practice why would you take an interest in petty concerns?..."I only got a little, you got a lot." "You quarreled with me so I'm quarreling with you..." I had none of these thoughts because I wasn't looking for such things. Whatever others did was their business. Going to other monasteries I didn't get involved in such things. However high or low others practiced I wouldn't take any interest, I just looked after my own business. And so I dared to practice, and the practice gave rise to wisdom and insight. |
Tâm này đã mê lầm biết bao nhiêu kiếp rồi. Bất cứ điều gì ta không thích hay không yêu, ta đều muốn tránh, ta chỉ đắm chìm trong nỗi sợ hãi. Rồi ta lại nói mình đang tu tập. Điều này không thể gọi là "tu tập". Nếu đó là tu tập thực sự, ta thậm chí còn liều mạng. Nếu ta đã thực sự quyết tâm tu tập, tại sao ta lại quan tâm đến những chuyện nhỏ nhặt?... "Ta chỉ được một ít, ngươi được nhiều." "Ngươi cãi nhau với ta, ta cũng cãi nhau với ngươi..." Tôi không hề có những suy nghĩ này vì tôi không tìm kiếm những thứ như vậy. Bất cứ điều gì người khác làm là việc của họ. Khi đến những tu viện khác, tôi không dính líu đến những chuyện như vậy. Dù người khác tu tập cao hay thấp, tôi cũng không quan tâm, tôi chỉ lo việc của mình. Và vì vậy, tôi dám tu tập, và sự tu tập đã làm nảy sinh trí tuệ và tỉnh giác. |
|
If your practice has really hit the spot then you really practice. Day or night you practice. At night, when it's quiet, I'd sit in meditation, then come down to walk, alternating back and forth like this at least two or three times a night. Walk, then sit, then walk some more... I wasn't bored, I enjoyed it. |
Nếu việc thực hành của bạn thực sự hiệu quả thì bạn thực sự đang tu tập. Dù ngày hay đêm, bạn đều đang thực hành. Ban đêm, khi yên tĩnh, tôi thường ngồi thiền, rồi đi bộ, luân phiên như vậy ít nhất hai hoặc ba lần mỗi đêm. Đi bộ, rồi ngồi, rồi lại đi bộ... Tôi không hề thấy chán, mà còn thấy thích thú. |
|
Sometimes it'd be raining softly and I'd think of the times I used to work the rice paddies. My pants would still be wet from the day before but I'd have to get up before dawn and put them on again. Then I'd have to go down to below the house to get the buffalo out of its pen. All I could see of the buffalo would be covered in buffalo shit. Then the buffalo's tail would be sore with athlete's foot and I'd walk along thinking, "Why is life so miserable?" And now here I was walking meditation... what was a little bit of rain to me? Thinking like this I encouraged myself in the practice. |
Thỉnh thoảng trời mưa nhẹ, tôi lại nghĩ về những ngày khi tôi còn làm ruộng. Quần áo ướt từ hôm qua chưa khô, nhưng tôi phải dậy trước bình minh và mặc lại nó. Sau đó, tôi phải xuống nhà dưới để dắt trâu ra khỏi chuồng. Tất cả tôi chỉ có thể thấy những con trâu bị bao phủ toàn phân trâu. Rồi đuôi trâu đau nhức vì bị nhiễm bịnh nấm da chân (tinea pedis) là một bệnh nhiễm trùng da do nấm, thường bắt đầu ở kẽ ngón chân, tôi vừa đi vừa nghĩ: "Sao cuộc đời lại khốn khổ thế này?". Giờ đây, tôi đang đi thiền hành... một chút mưa nhỏ với tôi có là gì? Nghĩ vậy, tôi càng động viên mình trong việc tu tập. |
|
If the practice has entered the stream then there's nothing to compare with it. There's no suffering like the suffering of a Dhamma cultivator and there's no happiness like the happiness of one either. There's no zeal to compare with the zeal of the cultivator and there's no laziness to compare with them either. Practitioners of the Dhamma are tops. That's why I say if you really practice it's a sight to see. |
Nếu sự tu tập đã nhập vào dòng chảy thì không gì sánh bằng. Không có nỗi khổ nào sánh bằng nỗi khổ của người tu tập Pháp, và cũng không có hạnh phúc nào sánh bằng hạnh phúc của người tu tập. Không có sự hăng hái nào sánh bằng sự hăng hái của người tu tập, và cũng không có sự lười biếng nào sánh bằng họ. Người thực hành Pháp là đỉnh cao. Đó là lý do tại sao tôi nói rằng nếu bạn thực sự thực hành, đó là một cảnh tượng đáng xem. |
|
But most of us just talk about practice without having done it or reached it. Our practice is like the man whose roof is leaking on one side so he sleeps on the other side of the house. When the sunshine comes in on that side he rolls over to the other side, all the time thinking, "When will I ever get a decent house like everyone else?" If the whole roof leaks then he just gets up and leaves. This is not the way to do things, but that's how most people are. |
Nhưng hầu hết chúng ta chỉ nói về việc tu tập mà không hề thực hành hay đạt được nó. Việc tu tập của chúng ta giống như người đàn ông có mái nhà bị dột một bên nên anh ta ngủ ở phía bên kia nhà. Khi ánh nắng chiếu vào phía bên đó, anh ta lăn sang phía bên kia, lúc nào cũng nghĩ: "Bao giờ mình mới có được một căn nhà tử tế như mọi người?" Nếu cả mái nhà bị dột, anh ta chỉ cần đứng dậy và bỏ đi. Đây không phải là cách làm, nhưng đó là cách làm của hầu hết mọi người làm. |
|
This mind of ours, these defilements... if you follow them they'll cause trouble. The more you follow them the more the practice degenerates. With the real practice sometimes you even amaze yourself with your zeal. Whether other people practice or not, don't take any interest, simply do your own practice consistently. Whoever comes or goes it doesn't matter, just do the practice. You must look at yourself before it can be called "practice." When you really practice there are no conflicts in your mind, there is only Dhamma. |
Tâm này của chúng ta, những phiền não này... nếu bạn chạy theo chúng, chúng sẽ gây rắc rối. Bạn càng chạy theo chúng, sự tu tập càng suy thoái. Với sự tu tập chân chính, đôi khi bạn thậm chí còn tự làm mình ngạc nhiên với nhiệt huyết của mình. Dù người khác có tu tập hay không, đừng bận tâm, hãy cứ tu tập một cách kiên trì. Ai đến hay đi cũng không quan trọng, cứ tu tập thôi. Bạn phải nhìn vào chính mình trước khi có thể gọi đó là "tu tập". Khi bạn thực sự tu tập, tâm bạn không còn xung đột, mà chỉ có Giáo Pháp. |
|
Wherever you are still inept, wherever you are still lacking, that's where you must apply yourself. If you haven't yet cracked it don't give up. Having finished with one thing you get stuck on another, so persist with it until you crack it, don't let up. Don't be content until it's finished. Put all your attention on that point. While sitting, lying down or walking, watch right there. |
Bất cứ nơi nào bạn còn kém cỏi, bất cứ nơi nào bạn còn thiếu sót, đó chính là nơi bạn phải nỗ lực hết mình. Nếu bạn chưa thành công, đừng bỏ cuộc. Hoàn thành một việc, bạn sẽ lại vướng vào việc khác, vì vậy hãy kiên trì cho đến khi thành công, đừng bỏ cuộc. Đừng bằng lòng cho đến khi hoàn thành. Hãy tập trung toàn bộ sự chú ý vào điểm đó. Khi ngồi, nằm, hay đi, hãy quan sát ngay tại đó. |
|
It's just like a farmer who hasn't yet finished his fields. Every year he plants rice but this year he still hasn't gotten it finished, so his mind is stuck on that, he can't rest content. His work is still unfinished. Even when he's with friends he can't relax, he's all the time nagged by his unfinished business. Or like a mother who leaves her baby upstairs in the house while she goes to feed the animals below: she's always got her baby in mind, lest it should fall from the house. Even though she may do other things, her baby is never far from her thoughts. |
Giống như một người nông dân chưa làm xong ruộng. Năm nào anh ta cũng trồng lúa nhưng năm nay vẫn chưa xong, nên tâm anh ta cứ mãi bận rộn, không thể nào nghỉ ngơi. Công việc vẫn còn dang dở. Ngay cả khi ở bên bạn bè, anh ta cũng không thể thư giãn, lúc nào cũng bị ám ảnh bởi những việc dang dở. Hay như một người mẹ để con trên lầu trong nhà trong khi xuống cho gia súc ăn ở dưới: cô ấy luôn nghĩ đến con mình, sợ con rơi khỏi nhà. Dù có làm những việc khác, đứa con vẫn luôn ở trong tâm cô ấy. |
|
It's just the same for us and our practice — we never forget it. Even though we may do other things our practice is never far from our thoughts, it's constantly with us, day and night. It has to be like this if you are really going to make progress. |
Đối với chúng ta và việc tu tập của chúng ta cũng vậy - chúng ta không bao giờ quên nó. Dù chúng ta có thể làm những việc khác, việc tu tập không bao giờ rời xa tâm trí, nó luôn ở bên ta, ngày cũng như đêm. Phải như vậy nếu bạn thực sự muốn tiến bộ. |
|
In the beginning you must rely on a teacher to instruct and advise you. When you understand, then practice. When the teacher has instructed you follow the instructions. If you understand the practice it's no longer necessary for the teacher to teach you, just do the work yourselves. Whenever heedlessness or unwholesome qualities arise know for yourself, teach yourself. Do the practice yourself. The mind is the one who knows, the witness. The mind knows for itself if you are still very deluded or only a little deluded. Wherever you are still faulty try to practice right at that point, apply yourself to it. |
Ban đầu, bạn phải nhờ một vị thầy chỉ dạy và hướng dẫn. Khi đã hiểu, hãy thực hành. Khi vị thầy đã chỉ dạy, bạn hãy làm theo. Nếu đã hiểu pháp tu tập, vị thầy không còn cần thiết phải dạy bạn nữa, hãy tự mình thực tập. Bất cứ khi nào có sự sao lãng hay những phẩm chất bất thiện phát sinh, hãy tự mình nhận biết, tự mình dạy dỗ. Hãy tự mình thực hành. Tâm là người biết, là chứng nhân. Tâm tự biết bạn vẫn còn rất mê lầm hay chỉ mê lầm một chút. Bất cứ khi nào bạn vẫn còn sai sót, hãy cố gắng thực hành ngay tại điểm đó, hãy chuyên tâm vào đó. |
|
Practice is like that. It's almost like being crazy, or you could even say you are crazy. When you really practice you are crazy, you "flip." You have distorted perception and then you adjust your perception. If you don't adjust it, it's going to be just as troublesome and just as wretched as before. |
Tu tập cũng giống như vậy. Nó gần giống như bị điên, hay thậm chí bạn có thể nói mình điên. Khi bạn thực sự luyện tập, bạn điên, bạn "lật ngược". Bạn đã bóp méo nhận thức và sau đó bạn điều chỉnh nhận thức của mình. Nếu bạn không điều chỉnh, nó sẽ vẫn rắc rối và khốn khổ như trước. |
|
So there's a lot of suffering in the practice, but if you don't know your own suffering you won't understand the Noble Truth of Suffering. To understand suffering, to kill it off, you first have to encounter it. If you want to shoot a bird but don't go out and find it how will you ever to shoot it? Suffering, suffering... the Buddha taught about suffering: The suffering of birth, the suffering you won't see suffering. If you don't understand suffering you won't be able to get rid of suffering. |
Vậy nên, có rất nhiều đau khổ trong quá trình tu tập, nhưng nếu bạn không hiểu rõ đau khổ của chính mình, bạn sẽ không hiểu được Chân Lý Cao Quý về Khổ. Để hiểu được đau khổ, để diệt trừ nó, trước tiên bạn phải đối mặt với nó. Nếu bạn muốn bắn một con chim nhưng không ra ngoài tìm nó, làm sao bạn có thể bắn được nó? Khổ, khổ... Đức Phật đã dạy về khổ: Khổ của sự sinh ra, khổ mà bạn sẽ không thấy được. Nếu bạn không hiểu được đau khổ, bạn sẽ không thể thoát khỏi đau khổ. |
|
Now people don't want to see suffering, they don't want to experience it. If they suffer here they run over there. You see? They're simply dragging their suffering around with them, they never kill it. They don't contemplate or investigate it. If they feel suffering here they run over there; if it arises there they run back here. They try to run away from suffering physically. As long as you are still ignorant, wherever you go you'll find suffering. Even if you boarded an airplane to get away from it, it would board the plane with you. If you dived under the water it would dive in with you, because suffering lies within us. But we don't know that. If it lies within us where can we run to escape it? |
Bây giờ mọi người không muốn nhìn thấy đau khổ, họ không muốn trải nghiệm nó. Nếu họ đau khổ ở đây, họ chạy sang đó. Bạn thấy không? Họ chỉ kéo lê nỗi đau khổ của mình theo họ, họ không bao giờ diệt nỗi đau khổ của mình. Họ không suy ngẫm hay tìm hiểu về nó. Nếu họ cảm thấy đau khổ ở đây, họ chạy sang đó; nếu nó phát sinh ở đó, họ chạy lại đây. Họ cố gắng chạy trốn khỏi đau khổ về mặt thể xác. Miễn là bạn vẫn còn vô minh, bất cứ nơi nào bạn đi, bạn sẽ tìm thấy đau khổ. Ngay cả khi bạn lên máy bay để tránh xa nó, nó sẽ lên máy bay cùng bạn. Nếu bạn lặn xuống nước, nó sẽ lặn xuống cùng bạn, bởi vì đau khổ nằm trong chúng ta. Nhưng chúng ta không biết điều đó. Nếu nó nằm trong chúng ta, chúng ta có thể chạy đi đâu để thoát khỏi nó? |
|
People have suffering in one place so they go somewhere else. When suffering arises there they run off again. They think they're running away from suffering but they're not, suffering goes with them. They carry suffering around without knowing it. If we don't know the cause of suffering then we can't know the cessation of suffering, there's no way we can escape it. |
Ở một nơi nào đó người ta gặp khổ đau và họ đi đến một nơi khác. Khi khổ đau phát sinh ở đó, họ lại bỏ chạy. Họ nghĩ rằng họ đang chạy trốn khỏi khổ đau, nhưng không phải vậy, khổ đau vẫn theo họ. Họ mang khổ đau đi khắp nơi mà không hề hay biết. Nếu chúng ta không biết nguyên nhân của khổ đau thì chúng ta không thể biết sự chấm dứt của khổ đau, không có cách nào chúng ta có thể thoát khỏi nó. |
|
You must look into this intently until you're beyond doubt. You must dare to practice. Don't shirk it, either in a group or alone. If others are lazy it doesn't matter. Whoever does a lot of walking meditation, a lot of practice... I guarantee results. If you really practice consistently, whether others come or go or whatever, one rains retreat is enough. Do it like I've been telling you here. Listen to the teacher's words, don't quibble, don't be stubborn. Whatever he tells you to do go right ahead and do it. You needn't be timid of the practice, knowledge will surely arise from it. |
Bạn phải quán chiếu điều này thật kỹ lưỡng cho đến khi không còn nghi ngờ gì nữa. Bạn phải dám thực hành. Đừng trốn tránh, dù là đi chung hay một mình. Nếu người khác lười biếng thì cũng không sao. Ai đi kinh hành nhiều, thực hành nhiều... Tôi đảm bảo kết quả. Nếu bạn thực sự thực hành kiên trì, dù người khác đến hay đi hay bất cứ điều gì, chỉ cần một mùa an cư là đủ. Hãy làm như tôi đã nói ở đây. Hãy lắng nghe lời thầy, đừng cãi vã, đừng bướng bỉnh. Thầy bảo gì thì cứ làm theo. Bạn không cần phải e ngại thực hành, kiến thức chắc chắn sẽ nảy sinh từ đó. |
|
Practice is also paṭipadā. What is paṭipadā? Practice evenly, consistently. Don't practice like Old Reverend Peh. One Rains Retreat he determined to stop talking. He stopped talking all right but then he started writing notes..."Tomorrow please toast me some rice." He wanted to eat toasted rice! He stopped talking but ended up writing so many notes that he was even more scattered than before. One minute he'd write one thing, the next another, what a farce! |
Thực hành cũng là patipada. Vậy Patipada là gì? Thường được hiểu là "đường" hoặc "phương pháp" trong bối cảnh thực hành và tu hành. Thực hành đều đặn, kiên trì. Đừng thực hành như vị Sư Peh. Một lần an cư mùa mưa, ông quyết định tịnh khẩu không nói nữa. Ông im lặng hoàn toàn không nói gì, nhưng rồi ông bắt đầu viết ghi chú: "Ngày mai cho tôi cơm rang nhé." Ông muốn ăn cơm rang! Ông im lặng nhưng cuối cùng lại viết quá nhiều ghi chú đến nỗi ông còn lơ đãng hơn trước. Phút trước ông viết một điều, phút sau lại viết một điều khác, thật là nực cười! |
|
I don't know why he bothered determining not to talk. He didn't know what practice is. |
Tôi không hiểu tại sao ông ta lại bận tâm đến việc tu tịnh khẩu. Ông ta không biết tu tập là gì. |
|
Actually our practice is to be content with little, to just be natural. Don't worry whether you feel lazy or diligent. Don't even say "I'm diligent" or "I'm lazy." Most people practice only when they feel diligent, if they feel lazy they don't bother. This is how people usually are. But monks shouldn't think like that. If you are diligent you practice, when you are lazy you still practice. Don't bother with other things, cut them off, throw them out, train yourself. Practice consistently, whether day or night, this year, next year, whatever the time... don't pay attention to thoughts of diligence or laziness, don't worry whether it's hot or cold, just do it. This is called sammapatipada — Right Practice. |
Thực ra, việc tu tập của chúng ta là biết đủ với những gì ít ỏi, cứ thuận theo tự nhiên. Đừng bận tâm xem mình lười biếng hay tinh tấn. Thậm chí đừng nói "Tôi siêng năng" hay "Tôi lười biếng". Hầu hết mọi người chỉ tu tập khi họ cảm thấy siêng năng, nếu họ thấy lười biếng thì họ không bận tâm. Đó là cách mọi người thường làm. Nhưng các vị sư không nên nghĩ như vậy. Nếu bạn siêng năng thì hãy tu tập, khi bạn lười biếng thì bạn vẫn tu tập. Đừng bận tâm đến những thứ khác, hãy cắt bỏ chúng, vứt bỏ chúng, hãy rèn luyện bản thân. Hãy tu tập kiên trì, bất kể ngày hay đêm, năm nay, năm sau, bất kể thời gian nào... đừng để ý đến những suy nghĩ về siêng năng hay lười biếng, đừng bận tâm trời nóng hay lạnh, cứ làm thôi. Đây gọi là sammapaṭipadā — Tu tập Đúng. . |
|
Some people really apply themselves to the practice for six or seven days, then, when they don't get the results they wanted, give it up and revert completely, indulging in chatter, socializing and whatever. Then they remember the practice and go at it for another six or seven days, then give it up again... It's like the way some people work. At first they throw themselves into it... then, when they stop, they don't even bother picking up their tools, they just walk off and leave them there. Later on, when the soil has all caked up, they remember their work and do a bit more, only to leave it again. |
Có người thực sự tu tập trong sáu, bảy ngày, rồi khi không đạt được kết quả mong muốn, họ bỏ cuộc và quay lại cuộc sống trước đây, đắm chìm trong tán gẫu, giao lưu, vân vân. Rồi họ nhớ lại việc tập luyện và tiếp tục tập luyện thêm sáu, bảy ngày nữa, rồi lại bỏ cuộc... Giống như cách một số người làm việc vậy. Ban đầu, họ lao vào... rồi khi dừng lại, họ thậm chí còn chẳng buồn nhặt dụng cụ lên, chỉ bỏ đi và để chúng ở đó. Sau đó, khi đất đã đóng cục, họ mới nhớ ra công việc của mình và làm thêm một chút, rồi lại bỏ dở. |
|
Doing things this way you'll never get a decent garden or paddy. Our practice is the same. If you think this patipada is unimportant you won't get anywhere with the practice. Sammapatipada is unquestionably important. Do it constantly. Don't listen to your moods. So what if your mood is good or not? The Buddha didn't bother with those things. He had experienced all the good things and bad things, the right things and wrong things. That was his practice. Taking only what you like and discarding whatever you don't like isn't practice, it's disaster. Wherever you go you will never be satisfied, wherever you stay there will be suffering. |
Làm theo cách này, bạn sẽ không bao giờ có được một khu vườn hay cánh đồng lúa tử tế. Thực hành của chúng ta cũng vậy. Nếu bạn nghĩ rằng phương pháp thực hành tiến hóa (paṭipadā) này không quan trọng, bạn sẽ không đạt được bất cứ điều gì với việc tu tập. Phương pháp tu tập đúng đắn (Sammapaṭipadā) chắc chắn rất quan trọng. Hãy thực hành liên tục. Đừng nghe theo tâm trạng của bạn. Vậy thì tâm trạng của bạn tốt hay không thì sao? Đức Phật không bận tâm đến những điều đó. Ngài đã trải qua tất cả những điều tốt và điều xấu, những điều đúng và những điều sai. Đó là thực hành của Ngài. Chỉ lấy những gì bạn thích và bỏ đi những gì bạn không thích không phải là tu tập, mà đó là thảm họa. Bất cứ nơi nào bạn đi, bạn sẽ không bao giờ hài lòng, bất cứ nơi nào bạn ở, bạn sẽ có đau khổ. |
|
Practicing like this is like the Brahmans making their sacrifices. Why do they do it? Because they want something in exchange. Some of us practice like this. Why do we practice? Because we seek re-birth, another state of being, we want to attain something. If we don't get what we want then we don't want to practice, just like the Brahmans making their sacrifices. They do so because of desire. |
Tu tập như vậy cũng giống như các thầy cúng người Bà-la-môn. Tại sao họ làm vậy? Bởi vì họ muốn đổi lại điều gì đó. Một số người trong chúng ta tu tập như vậy. Tại sao chúng ta tu tập? Bởi vì chúng ta tìm kiếm sự tái sinh, một trạng thái hiện hữu khác, chúng ta muốn đạt được điều gì đó. Nếu không đạt được điều mình mong muốn, chúng ta sẽ không muốn tu tập, cũng giống như các thầy cúng người Bà-la-môn. Họ làm vậy vì ham muốn. |
|
The Buddha didn't teach like that. The cultivation of the practice is for giving up, for letting go, for stopping, for uprooting. You don't do it for re-birth into any particular state. |
Đức Phật không dạy như vậy. Tu tập là để buông bỏ, để buông xả, để dừng lại, để nhổ tận gốc rễ. Bạn tu tập không phải để được tái sinh vào bất kỳ cảnh giới nào. |
|
There was once a Thera who had initially gone forth into the Mahanikai sect. But he found it not strict enough so he took Dhammayuttika ordination. [43] Then he started practicing. Sometimes he would fast for fifteen days, then when he ate he'd eat only leaves and grass. He thought that eating animals was bad kamma, that it would be better to eat leaves and grass. |
Xưa có một vị Thượng tọa ban đầu xuất gia theo phái Mahanikai. Nhưng thấy giáo phái này tu tập chưa đủ nghiêm ngặt nên ngài thọ giới Dhammayuttika. [43] Rồi ngài bắt đầu thực hành theo giáo phái này. Có khi ngài nhịn ăn mười lăm ngày, rồi khi ăn chỉ ăn lá cây và cỏ. Ngài nghĩ rằng ăn thịt là nghiệp xấu, nên thà ăn lá cây và cỏ còn hơn. |
|
After a while..."Hmm. Being a monk is not so good, it's inconvenient. It's hard to maintain my vegetarian practice as a monk. Maybe I'll disrobe and become a pa-kow." So he disrobed and became a pa-kow so that he could gather the leaves and grass for himself and dig for roots and yams. He carried on like that for a while till in the end he didn't know what he should be doing. He gave it all up. He gave up being a monk, gave up being a pa-kow, gave up everything. These days I don't know what he's doing. Maybe he's dead, I don't know. This is because he couldn't find anything to suit his mind. He didn't realize that he was simply following defilements. The defilements were leading him on but he didn't know it. |
Sau một thời gian vị này nói..."Hừm. Làm tu sĩ cũng không tốt lắm, bất tiện lắm. Khó mà duy trì việc ăn chay của một tu sĩ. Có lẽ ta sẽ hoàn tục và trở thành một người cận sự." Thế là ông hoàn tục và trở thành cận sự để có thể tự mình hái lá cỏ, đào củ và khoai mỡ. Ông cứ tiếp tục như vậy một thời gian cho đến khi cuối cùng ông không biết mình nên làm gì. Ông từ bỏ tất cả. Ông từ bỏ việc làm tu sĩ, từ bỏ việc làm người cận sự, từ bỏ tất cả. Dạo này tôi không biết ông đang làm gì. Có lẽ ông đã chết, tôi không biết. Bởi vì ông không tìm thấy điều gì hợp với tâm mình. Ông không nhận ra rằng mình chỉ đang chạy theo những uế nhiễm. Những uế nhiễm đang dẫn dắt ông nhưng ông không biết điều đó. |
|
"Did the Buddha disrobe and become a pa-kow? How did the Buddha practice? What did he do?" He didn't consider this. Did the Buddha go and eat leaves and grass like a cow? Sure, if you want to eat like that go ahead, if that's all you can manage, but don't go round criticizing others. Whatever standard of practice you find suitable then persevere with that. "Don't gouge or carve too much or you won't have a decent handle." [44] You'll be left with nothing and in the end just give up. |
"Đức Phật có khi nào xả y rồi trở thành người tập sự không? Đức Phật đã tu tập như thế nào? Ngài đã làm gì?" Ông không nghĩ đến điều này. Đức Phật có ăn lá cỏ như bò không? Được thôi, nếu muốn ăn như vậy thì cứ ăn, nếu chỉ có thể ăn được như vậy, nhưng đừng đi khắp nơi chỉ trích người khác. Bất cứ phương pháp tu tập nào bạn thấy phù hợp thì hãy kiên trì với nó. "Đừng khoét hay đẽo gọt quá nhiều, nếu không bạn sẽ không có tay cầm đàng hoàng." [44] Bạn sẽ chẳng còn gì và cuối cùng chỉ còn nước bỏ cuộc. |
|
Some people are like this. When it comes to walking meditation they really go at it for fifteen days or so. They don't even bother eating, just walk. Then when they finish that they just lie around and sleep. They don't bother considering carefully before they start to practice. In the end nothing suits them. Being a monk doesn't suit them, being a pa-kow doesn't suit them... so they end up with nothing. |
Có một số người tu tập như vậy. Khi đi hành thiền, họ thực sự dành ra mười lăm ngày để thực hành. Họ thậm chí chẳng buồn ăn uống, chỉ đi hành thiền. Sau khi xong thời gian hành thiền, họ chỉ nằm ngủ. Họ chẳng buồn quán chiếu kỹ trước khi bắt đầu thực hành. Cuối cùng, chẳng có gì hợp với họ cả. Làm tu sĩ không hợp với họ, làm pa-kow cũng không hợp với họ... nên cuối cùng họ chẳng được gì cả. |
|
People like this don't know practice, they don't look into the reasons for practicing. Think about what you're practicing for. They teach this practice for throwing off. The mind wants to love this person and hate that person... these things may arise but don't take them for real. So what are we practicing for? Simply so that we can give up these very things. Even if you attain peace, throw out the peace. If knowledge arises, throw out the knowledge. If you know then you know, but if you take that knowing to be your own then you think you know something. Then you think you are better than others. After a while you can't live anywhere, wherever you live problems arise. If you practice wrongly it's just as if you didn't practice at all. |
Những người như thế là không biết tu tập, họ không tìm hiểu lý do tu tập. Các bạn hãy quán chiếu về mục đích tu tập của bạn là gì. Họ dạy phương pháp tu tập này là để buông bỏ. Tâm muốn thương người này và ghét người kia... những điều này có thể phát sinh nhưng đừng coi chúng là sự thật. Vậy chúng ta tu tập để làm gì? Đơn giản là để chúng ta có thể từ bỏ chính những điều này. Ngay cả khi bạn đạt được sự bình yên, hãy vứt bỏ sự bình yên đó. Nếu kiến thức phát sinh, hãy vứt bỏ kiến thức đó. Nếu bạn biết thì bạn biết, nhưng nếu bạn coi sự biết đó là của riêng mình thì bạn nghĩ rằng bạn biết điều gì đó. Sau đó, bạn nghĩ rằng bạn giỏi hơn những người khác. Sau một thời gian, bạn không thể sống ở bất cứ đâu, bất cứ nơi nào bạn sống, vấn đề đều phát sinh. Nếu bạn thực hành sai thì cũng giống như bạn chưa tu tập gì cả. |
|
Practice according to your capacity. Do you sleep a lot? Then try going against the grain. Do you eat a lot? Then try eating less. Take as much practice as you need, using sila, samadhi and pañña as your basis. Then throw in the dhutanga practices also. These dhutanga [45] practices are for digging into the defilements. You may find the basic practices still not enough to really uproot the defilements, so you have to incorporate the dhutanga practices as well. |
Việc tu tập theo khả năng của bạn. Bạn có ngủ nhiều không? Vậy thì hãy thử làm ngược lại. Bạn có ăn nhiều không? Vậy thì hãy thử ăn ít hơn. Hãy tu tập nhiều nhất có thể, lấy giới, định và tuệ làm nền tảng. Sau đó, hãy tu tập theo mười ba hạnh đầu đà (dhutaṅga) nữa. Những thực hành dhutaṅga này [45] là để đào sâu vào các phiền não. Bạn có thể thấy những thực hành cơ bản vẫn chưa đủ để thực sự nhổ tận gốc các phiền não, vì vậy bạn phải kết hợp cả các thực hành của mười ba hạnh đầu đà (dhutaṅga) . |
|
These dhutanga practices are really useful. Some people can't kill off the defilements with basic sila and samadhi, they have to bring in the dhutanga practices to help out. The dhutanga practices cut off many things. Living at the foot of a tree... Living at the foot of a tree isn't against the precepts. But if you determine the dhutanga practice of living in a charnel ground and then don't do it, that's wrong. Try it out. What's like to live in a charnel ground? Is it the same as living in a group? |
Những pháp tu khổ hạnh (dhutaṅga) này thực sự hữu ích. Một số người không thể diệt trừ phiền não bằng giới căn bản và định, họ phải nhờ đến pháp tu khổ hạnh (dhutaṅga) để hỗ trợ. Pháp tu khổ hạnh (dhutaṅga) cắt đứt nhiều thứ. Sống dưới gốc cây... Sống dưới gốc cây không vi phạm giới luật. Nhưng nếu bạn quyết định tu tập theo pháp tu khổ hạnh (dhutaṅga) là sống trong nghĩa địa mà không làm, thì đó là sai. Hãy thử xem. Sống trong nghĩa địa thì như thế nào? Có giống như sống trong một nhóm không? |
|
DHU-TAN-GA: This translates as "the practices which are hard to do." These are the practices of the Noble Ones. Whoever wants to be a Noble One must use the dhutanga practices to cut the defilements. It's difficult to observe them and it's hard to find people with the commitment to practice them, because they go against the grain. |
DHU-TAN-GA: Câu này dịch là "những pháp khó tu tập". Đây là những pháp hành của bậc Thánh. Bất cứ ai muốn trở thành bậc Thánh đều phải tu tập hạnh đầu đà (dhutaṅga) để cắt đứt phiền não. Việc tuân thủ chúng rất khó khăn và cũng khó tìm được người có quyết tâm thực hành chúng, bởi vì chúng đi ngược lại với bản chất tự nhiên. |
|
Such as with robes; they say to limit your robes to the basic three robes; to maintain yourself on almsfood; to eat only in the bowl; to eat only what you get on almsround, if anyone brings food to offer afterwards you don't accept it. |
Chẳng hạn như với y cà sa; họ bảo rằng bạn chỉ nên mặc ba loại y cơ bản; hoặc với thực phẩm thì mình tự nuôi mình bằng đồ ăn khất thực; chỉ ăn trong bát; chỉ ăn những gì bạn nhận được khi khất thực, nếu sau đó có ai mang đồ ăn đến cúng dường thì bạn không được nhận. |
|
Keeping this last practice in central Thailand is easy, the food is quite adequate, because there they put a lot of food in your bowl. But when you come to the Northeast here this dhutanga takes on subtle nuances — here you get plain rice! In these parts the tradition is to put only plain rice in the almsbowl. In central Thailand they give rice and other foods also, but around these parts you get only plain rice. This dhutanga practice becomes really ascetic. You eat only plain rice, whatever is brought to offer afterwards you don't accept. Then there is eating once a day, at one sitting, from only one bowl — when you've finished eating you get up from your seat and don't eat again that day. |
Giữ sự tu tập cuối cùng này ở miền trung Thái Lan rất dễ, thức ăn khá đầy đủ, vì ở đó những đàn tín cho rất nhiều thức ăn vào bát của bạn. Nhưng khi bạn đến vùng Đông Bắc, ở đây, tục lệ khổ hạnh (dhutanga) này có những sắc thái tinh tế hơn — ở đây bạn chỉ nhận được cơm trắng! Ở những vùng này, truyền thống là chỉ cho cơm trắng vào bát khất thực. Ở miền trung Thái Lan, họ cũng bố thí cơm và các loại thức ăn khác, nhưng xung quanh những vùng này, bạn chỉ nhận được cơm trắng. Thực hành hạnh khổ hạnh (dhutaṅga) này thực sự trở nên khó khăn. Bạn chỉ ăn cơm trắng, bất cứ thứ gì được mang đến sau đó, bạn không nhận. Sau đó, có chế độ ăn một lần một ngày, trong một lần ngồi, chỉ từ một bát — khi bạn ăn xong, bạn đứng dậy khỏi chỗ ngồi và không ăn lại trong ngày hôm đó. |
|
These are called dhutanga practices. Now who will practice them? It's hard these days to find people with enough commitment to practice them because they are demanding, but that is why they are so beneficial. |
Điều này được gọi là tu tập khổ hạnh (dhutaṅga). Vậy ai sẽ tu tập chúng? Ngày nay, thật khó để tìm được người đủ tâm huyết để tu tập chúng vì chúng đòi hỏi nhiều công phu, nhưng đó chính là lý do tại sao chúng lại có lợi ích đến vậy. |
|
What people call practice these days is not really practice. If you really practice it's no easy matter. Most people don't dare to really practice, don't dare to really go against the grain. They don't want to do anything which runs contrary to their feelings. People don't want to resist the defilements, they don't want to dig at them or get rid of them. |
Cái mà ngày nay người ta gọi là tu tập thực ra không phải là tu tập. Thực sự việc tu tập cũng không phải chuyện dễ dàng. Phần lớn mọi người không dám tu tập, không dám đi ngược lại với bản chất. Họ không muốn làm bất cứ điều gì trái ngược với cảm xúc của mình. Người ta không muốn kháng cự lại những phiền não, không muốn đào sâu hay loại bỏ chúng. |
|
In our practice they say not to follow your own moods. Consider: we have been fooled for countless lifetimes already into believing that the mind is our own. Actually it isn't, it's just an impostor. It drags us into greed, drags us into aversion, drags us into delusion, drags us into theft, plunder, desire and hatred. These things aren't ours. Just ask yourself right now: do you want to be good? Everybody wants to be good. Now doing all these things, is that good? There! People commit malicious acts and yet they want to be good. That's why I say these things are tricksters, that's all they are. |
Trong sự tu tập của chúng ta, người ta bảo đừng chạy theo tâm trạng của chính mình. Hãy nghĩ mà xem: chúng ta đã bị lừa dối trong vô số kiếp sống để tin rằng tâm là của riêng ta. Thực ra không phải vậy, nó chỉ là một kẻ mạo danh. Nó lôi kéo chúng ta vào lòng tham, lôi kéo chúng ta vào sự ghét bỏ, lôi kéo chúng ta vào ảo tưởng, lôi kéo chúng ta vào trộm cắp, cướp bóc, ham muốn và hận thù. Những thứ này không phải của chúng ta. Hãy tự hỏi bản thân ngay bây giờ: bạn có muốn trở nên tốt không? Ai cũng muốn trở nên tốt. Bây giờ làm tất cả những điều này, liệu có tốt không? Đấy! Người ta làm những hành vi xấu xa nhưng họ lại muốn trở nên tốt. Đó là lý do tại sao tôi nói những thứ này là những kẻ lừa đảo, chúng chỉ là vậy thôi. |
|
The Buddha didn't want us to follow this mind, he wanted us to train it. If it goes one way then take cover another way. When it goes over there then take cover back here. To put it simply: whatever the mind wants, don't let it have it. It's as if we've been friends for years but we finally reach a point where our ideas are no longer the same. We split up and go our separate ways. We no longer understand each other, in fact we even argue, so we break up. That's right, don't follow your own mind. Whoever follows his own mind, follows its likes and desires and everything else, that person hasn't yet practiced at all. |
Đức Phật không muốn chúng ta chạy theo cái tâm này, Ngài muốn chúng ta rèn luyện nó. Nếu nó đi một hướng thì mình tìm chỗ ẩn náu ở hướng khác. Khi nó qua đó thì mình tìm chỗ ẩn náu ở đây. Nói một cách đơn giản: bất cứ điều gì tâm muốn, đừng để nó có được. Giống như chúng ta đã là bạn bè trong nhiều năm nhưng cuối cùng chúng ta đạt đến điểm mà những ý tưởng của chúng ta không còn giống nhau nữa. Chúng ta chia tay và đi theo những con đường riêng của mình. Chúng ta không còn hiểu nhau nữa, thậm chí chúng ta còn cãi nhau, nên chúng ta chia tay. Đúng vậy, đừng chạy theo tâm của chính mình. Bất cứ ai chạy theo tâm của chính mình, chạy theo sở thích, ham muốn và mọi thứ khác của nó, người đó chưa tu tập gì cả. |
|
This is why I say that what people call practice is not really practice... it's disaster. if you don't stop and take a look, don't try the practice, you won't see, you won't attain the Dhamma. To put it straight, in our practice you have to commit your very life. It's not that it isn't difficult, this practice, it has to entail some suffering. Especially in the first year or two, there's a lot of suffering. The young monks and novices really have a hard time. |
Đây là lý do tại sao tôi nói rằng gọi là tu tập thì thực ra không phải là tu tập... mà là thảm họa. Nếu bạn không dừng lại và nhìn nhận, không thử thực hành, bạn sẽ không thấy, bạn sẽ không đạt được Giáo Pháp. Nói thẳng ra, trong việc tu tập của chúng ta, bạn phải cống hiến cả cuộc đời mình. Không phải là nó không khó, mà sự tu tập này đòi hỏi một số khổ đau. Đặc biệt là trong một hoặc hai năm đầu, có rất nhiều khổ đau. Các vị sư trẻ và sa di thực sự gặp rất nhiều khó khăn. |
|
I've had a lot of difficulties in the past, especially with food. What can you expect? Becoming a monk at twenty when you are just getting into your food and sleep... some days I would sit alone and just dream of food. I'd want to eat bananas in syrup, or papaya salad, and my saliva would start to run. This is part of the training. All these things are not easy. This business of food and eating can lead one into a lot of bad kamma. Take someone who's just growing up, just getting into his food and sleep, and constrain him in these robes and his feelings run amok. It's like damming a flowing torrent, sometimes the dam just breaks. If it survives that's fine, but if not it just collapses. |
Tôi đã gặp rất nhiều khó khăn trong quá khứ, đặc biệt là với thực phẩm. Bạn có thể mong đợi điều gì? Trở thành một nhà sư ở tuổi hai mươi khi bạn mới bắt đầu ăn và ngủ... có những ngày tôi ngồi một mình và chỉ mơ về thức ăn. Tôi muốn ăn chuối ngâm xi-rô, hoặc gỏi đu đủ, và nước bọt của tôi bắt đầu chảy. Đây là một phần của quá trình tu tập. Tất cả những điều này đều không dễ dàng. Việc thực phẩm và ăn uống này có thể dẫn người ta đến rất nhiều nghiệp xấu. Hãy lấy một người mới lớn, mới bắt đầu ăn và ngủ, và trói buộc anh ta trong những chiếc áo y cà sa này và cảm xúc của anh ta sẽ trở nên hỗn loạn. Nó giống như chặn một dòng nước lũ đang chảy, đôi khi con đập bị vỡ. Nếu nó tồn tại thì tốt, nhưng nếu không thì nó sẽ sụp đổ. |
|
My meditation in the first year was nothing else, just food. I was so restless... Sometimes I would sit there and it was almost as if I was actually popping bananas into my mouth. I could almost feel myself breaking the bananas into pieces and putting them in my mouth. And this is all part of the practice. |
Việc thiền định của tôi trong những năm đầu chẳng tiến triển gì ngoài việc ngồi tưởng đến thực phẩm. Tôi bồn chồn vô cùng... Đôi khi tôi ngồi đó và cảm giác như mình đang thực sự bỏ chuối vào miệng. Tôi gần như có thể cảm nhận được mình đang bẻ chuối thành từng miếng nhỏ và bỏ vào miệng. Và tất cả những điều này là một phần của quá trình thực hành. |
|
So don't be afraid of it. We've all been deluded for countless lifetimes now so coming to train ourselves, to correct ourselves, is no easy matter. But if it's difficult it's worth doing. Why should we bother with easy things? So those things that are difficult, anybody can do the easy things. We should train ourselves to do that which is difficult. |
Vậy nên đừng sợ hãi. Chúng ta đã bị vô minh từ vô số kiếp rồi, nên việc tu tập bản thân, sửa đổi bản thân không phải là chuyện dễ dàng. Nhưng nếu khó thì đáng làm. Tại sao chúng ta phải bận tâm đến những điều dễ dàng? Vậy thì những điều khó khăn, ai cũng có thể làm được. Chúng ta nên rèn luyện bản thân để làm những điều khó khăn. |
|
It must have been the same for Buddha. If he had just worried about his family and relatives, his wealth and his past sensual pleasures, he'd never have become the Buddha. These aren't trifling matters, either, they're just what most people are looking for. So going forth at an early age and giving up these things is just like dying. And yet some people come up and say, "Oh, it's easy for you, Luang Por. You never had a wife and children to worry about, so it's easier for you!" I say, "Don't get too close to me when you say that or you'll get a clout over the head!"... as if I didn't have a heart or something! |
Đức Phật chắc hẳn cũng vậy. Nếu Ngài chỉ lo lắng về gia đình, họ hàng, tiền bạc và những thú vui xác thịt trong quá khứ, Ngài đã chẳng bao giờ thành Phật. Những điều này cũng không phải chuyện nhỏ nhặt, mà chính là điều mà hầu hết mọi người đều đang tìm kiếm. Vậy nên, xuất gia sớm và từ bỏ những thứ này cũng giống như chết. Vậy mà có người đến nói: "Ồ, với ngài thì dễ lắm, thưa Ngài. Ngài chưa từng có vợ con để lo lắng, nên với ngài thì dễ hơn!" Tôi nói: "Đừng đến gần tôi khi nói thế, kẻo bị đánh vào đầu đấy!"... cứ như thể tôi không có trái tim hay cảm xúc vậy! |
|
When it comes to people it's no trifling matter. It's what life is all about. So we Dhamma practitioners should earnestly get into the practice, really dare to do it. Don't believe others, just listen to the Buddha's teaching. Establish peace in your hearts. In time you will understand. Practice, reflect, contemplate, and the fruits of the practice will be there. The cause and the result are proportional. |
Đối với con người, điều đó không hề nhỏ. Đó là bản chất của cuộc sống. Vậy nên, những người tu tập Pháp, chúng ta cần phải nghiêm túc thực hành, thực sự dám làm. Đừng tin tưởng người khác, hãy lắng nghe lời dạy của Đức Phật. Hãy thiết lập sự bình an trong tâm mình. Dần dần bạn sẽ hiểu. Thực hành, suy ngẫm, quán chiếu, và thành quả của việc thực hành sẽ đến. Nhân và quả tỷ lệ thuận. |
|
Don't give in to your moods. In the beginning even finding the right amount of sleep is difficult. You may determine to sleep a certain time but can't manage it. You must train yourself. Whatever time you decide to get up, then get up as soon as it comes round. Sometimes you can do it, but sometimes as soon as you awake you say to yourself "get up!" and it won't budge! You may have to say to yourself, "One... Two... if I reach the count three and still don't get up may I fall into hell!" You have to teach yourself like this. When you get to three you'll get up immediately, you'll be afraid of falling into hell. |
Đừng chiều theo cảm xúc của mình. Ban đầu, ngay cả việc tìm được một giấc ngủ đủ giấc cũng khó khăn. Bạn có thể quyết định ngủ vào một giờ nhất định nhưng không thể làm được. Bạn phải tự rèn luyện. Dù bạn quyết định thức dậy vào lúc nào, hãy thức dậy ngay khi đến giờ. Đôi khi bạn có thể làm được, nhưng đôi khi ngay khi vừa thức dậy, bạn tự nhủ "dậy đi!" và nó vẫn không nhúc nhích! Bạn có thể phải tự nhủ: "Một... Hai... nếu đếm đến ba mà vẫn không dậy thì mình sẽ xuống địa ngục mất!" Bạn phải tự rèn luyện mình như vậy. Khi đếm đến ba, bạn sẽ thức dậy ngay lập tức, bạn sợ rơi xuống địa ngục. |
|
You must train yourself, you can't dispense with the training. You must train yourself from all angles. Don't just lean on your teacher, your friends or the group all the time or you'll never become wise. It's not necessary to hear so much instruction, just hear the teaching once or twice and then do it. |
Bạn phải tự rèn luyện, không thể bỏ qua việc tu tập. Bạn phải rèn luyện bản thân từ mọi góc độ. Đừng chỉ dựa dẫm vào thầy cô, bạn bè hay nhóm người xung quanh, nếu không bạn sẽ không bao giờ trở nên thông thái. Không cần thiết phải nghe quá nhiều chỉ dẫn, chỉ cần nghe một hoặc hai lần rồi thực hành. |
|
The well trained mind won't dare cause trouble, even in private. In the mind of the adept there is no such thing as "private" or "in public." All Noble Ones have confidence in their own hearts. We should be like this. |
Tâm được rèn luyện tốt sẽ không gây rắc rối, ngay cả trong chốn riêng tư. Trong tâm của bậc thiện tri thức, không có khái niệm "riêng tư" hay "công khai". Tất cả các bậc Thánh đều có niềm tin vào chính tâm mình. Chúng ta nên như vậy. |
|
Some people become monks simply to find an easy life. Where does ease come from? What is its cause? All ease has to be preceded by suffering. In all things it's the same: you must work before you get rice. In all things you must first experience difficulty. Some people become monks in order to rest and take it easy, they say they just want to sit around and rest awhile. If you don't study the books do you expect to be able to read and write? It can't be done. |
Có người đi tu chỉ để tìm một cuộc sống an nhàn. An nhàn đến từ đâu? Nguyên nhân của nó là gì? Mọi sự an nhàn đều phải trải qua khổ đau. Mọi thứ đều như nhau: phải làm việc mới có cơm ăn. Mọi thứ đều phải trải qua khó khăn trước. Có người đi tu chỉ để nghỉ ngơi, thư giãn, họ nói rằng họ chỉ muốn ngồi chơi xơi nước một lúc. Nếu không học sách vở, liệu bạn có thể đọc và viết được không? Điều đó là không thể. |
|
This is why most people who have studied a lot and become monks never get anywhere. Their knowledge is of a different kind, on a different path. They don't train themselves, they don't look at their minds. They only stir up their minds with confusion, seeking things which are not conducive to calm and restraint. The knowledge of the Buddha is not worldly knowledge, it is supramundane knowledge, a different way altogether. |
Đây là lý do tại sao hầu hết những người học hành nhiều và xuất gia đều không bao giờ đạt được kết quả. Kiến thức của họ thuộc một loại khác, trên một con đường khác. Họ không tự rèn luyện, không quán chiếu tâm mình. Họ chỉ khuấy động tâm mình bằng sự mê lầm, tìm kiếm những thứ không có lợi cho sự an tĩnh và kiềm chế. Kiến thức của Đức Phật không phải là kiến thức thế gian, mà là kiến thức siêu thế gian, một con đường hoàn toàn khác. |
|
This is why whoever goes forth into the Buddhist monkhood must give up whatever level or status or position they have held previously. Even when a king goes forth he must relinquish his previous status, he doesn't bring that worldly stuff into the monkhood with him to throw his weight around with. He doesn't bring his wealth, status, knowledge or power into the monkhood with him. The practice concerns giving up, letting go, uprooting, stopping. You must understand this in order to make the practice work. |
Đây là lý do tại sao bất cứ ai xuất gia đều phải từ bỏ bất kỳ địa vị, cấp bậc hay chức tước nào mà họ đã từng nắm giữ trước đây. Ngay cả một vị vua khi xuất gia cũng phải từ bỏ địa vị cũ, không mang theo những thứ thế tục đó vào đời sống tu hành để tranh giành quyền lực. Không mang theo của cải, địa vị, kiến thức hay quyền lực vào đời sống tu hành. Việc tu hành là từ bỏ, buông bỏ, nhổ tận gốc rễ, dừng lại. Bạn phải hiểu điều này để việc tu hành được hiệu quả. |
|
If you are sick and don't treat the illness with medicine do you think the illness will cure itself? Wherever you are afraid you should go. Wherever there is a cemetery or charnel ground which is particularly fearsome, go there. Put on your robes, go there and contemplate, Anicca vata sankhara... [46] Stand and walk meditation there, look inward and see where your fear lies. It will be all too obvious. Understand the truth of all conditioned things. Stay there and watch until dusk falls and it gets darker and darker, until you are even able to stay there all night. |
Nếu bạn bị bệnh mà không dùng thuốc, bạn nghĩ bệnh sẽ tự khỏi sao? Bất cứ nơi nào bạn sợ, bạn nên đến. Bất cứ nơi nào có nghĩa trang hay bãi tha ma đặc biệt đáng sợ, hãy đến đó. Hãy khoác áo cà sa, đến đó và quán chiếu, Vô thường vô ngã... [46] Hãy đứng và đi thiền ở đó, nhìn vào nội tâm và thấy nỗi sợ của bạn nằm ở đâu. Nó quá rõ ràng. Hãy hiểu chân lý của mọi sự vật hữu vi. Hãy ở đó và quan sát cho đến khi hoàng hôn buông xuống và trời càng lúc càng tối, cho đến khi bạn thậm chí có thể ở đó suốt đêm. |
|
The Buddha said, "Whoever sees the Dhamma sees the Tathagata. Whoever sees the Tathagata sees Nibbana." If we don't follow his example how will we see the Dhamma? If we don't see the Dhamma how will we know the Buddha? If we don't see the Buddha how will we know the qualities of the Buddha? Only if we practice in the footsteps of the Buddha will we know that what the Buddha taught is utterly certain, that the Buddha's teaching is the supreme truth. |
Đức Phật dạy: "Ai thấy Pháp là thấy Như Lai. Ai thấy Như Lai là thấy Niết Bàn." Nếu chúng ta không noi theo gương Ngài, làm sao chúng ta thấy Pháp? Nếu chúng ta không thấy Pháp, làm sao chúng ta biết Đức Phật? Nếu chúng ta không thấy Đức Phật, làm sao chúng ta biết những phẩm chất của Ngài? Chỉ khi chúng ta thực hành theo dấu chân Đức Phật, chúng ta mới biết rằng những gì Đức Phật dạy là hoàn toàn chắc chắn, rằng lời dạy của Đức Phật là chân lý tối thượng. |
|
|
|
|
All of us have made up our minds to become bhikkhus and samaneras [47] in the Buddhist Dispensation in order to find peace. Now what is true peace? True peace, the Buddha said, is not very far away, it lies right here within us, but we tend to continually overlook it. People have their ideas about finding peace but still tend to experience confusion and agitation, they still tend to be unsure and haven't yet found fulfillment in their practice. They haven't yet reached the goal. It's as if we have left our home to travel to many different places. Whether we get into a car or board a boat, no matter where we go, we still haven't reached our home. As long as we still haven't reached home we don't feel content, we still have some unfinished business to take care of. This is because our journey is not yet finished, we haven't reached our destination. We travel all over the place in search of liberation. |
Tất cả chúng ta đều quyết tâm trở thành tỳ kheo và sa di [47] trong giáo pháp của Đức Phật để tìm kiếm sự bình an. Vậy bình an thực sự là gì? Đức Phật dạy rằng, bình an thực sự không ở đâu xa, nó nằm ngay trong chính chúng ta, nhưng chúng ta lại thường xuyên bỏ qua nó. Mọi người có những lý tưởng khác nhau về việc tìm kiếm sự bình an, nhưng vẫn thường xuyên trải qua sự bối rối và bất an, vẫn còn cảm thấy không chắc chắn và chưa tìm thấy sự viên mãn trong việc tu tập của mình. Họ vẫn chưa đạt được mục tiêu. Giống như chúng ta rời khỏi nhà để đi đến nhiều nơi khác nhau. Cho dù chúng ta đi bằng ô tô hay đi thuyền, dù đi đến đâu, chúng ta vẫn chưa về đến nhà. Chừng nào chúng ta chưa về đến nhà, chúng ta vẫn chưa cảm thấy mãn nguyện, vẫn còn những việc chưa hoàn thành cần phải giải quyết. Điều này là bởi vì cuộc hành trình của chúng ta chưa kết thúc, chúng ta chưa đến được đích đến. Chúng ta đi khắp nơi để tìm kiếm sự giải thoát. |
|
All of you bhikkhus and samaneras here want peace, every one of you. Even myself, when I was younger, searched all over for peace. Wherever I went I couldn't be satisfied. Going into forests or visiting various teachers, listening to Dhamma talks, I could find no satisfaction. Why is this? |
Tất cả các vị tỳ kheo và sa di ở đây đều mong muốn sự bình an, mỗi người trong các vị đều như vậy. Ngay cả bản thân tôi, khi còn trẻ, cũng đã tìm kiếm sự bình an khắp nơi. Nhưng dù đi đến đâu, tôi cũng không thể tìm thấy sự bình an. Dù vào rừng hay đến thăm các vị thầy khác nhau, nghe các bài giảng Phật pháp, tôi vẫn không tìm thấy sự mãn nguyện. Tại sao lại như vậy? |
|
We look for peace in peaceful places, where there won't be sights, or sounds, or odors, or flavors... thinking that living quietly like this is the way to find contentment, that herein lies peace. |
Chúng ta tìm kiếm sự bình yên ở những nơi tĩnh lặng, nơi không có cảnh sắc, cảnh thinh, mùi hương hay vị giác nào... nghĩ rằng sống một cuộc sống yên tĩnh lặng như vậy là cách để tìm thấy sự mãn nguyện, nghĩ rằng sự bình yên nằm ở đó. |
|
But actually, if we live very quietly in places where nothing arises, can wisdom arise? Would we be aware of anything? Think about it. If our eye didn't see sights, what would that be like? If the nose didn't experience smells, what would that be like? If the tongue didn't experience flavors what would that be like? If the body didn't experience feelings at all, what would that be like? To be like that would be like being a blind and deaf man, one whose nose and tongue had fallen off and who was completely numb with paralysis. Would there be anything there? And yet people tend to think that if they went somewhere where nothing happened they would find peace. Well, I've thought like that myself, I once thought that way... |
Nhưng trên thực tế, nếu chúng ta sống trong sự yên tĩnh ở những nơi không có gì xảy ra, thì trí tuệ có thể nảy sinh không? Chúng ta có nhận thức được bất cứ điều gì không? Hãy suy nghĩ về điều đó. Nếu mắt chúng ta không nhìn thấy gì, thì sẽ như thế nào? Nếu mũi không ngửi thấy mùi gì, thì sẽ như thế nào? Nếu lưỡi không nếm được vị gì, thì sẽ như thế nào? Nếu cơ thể không cảm nhận được bất cứ cảm giác nào, thì sẽ như thế nào? Sống như vậy sẽ giống như một người mù và điếc, người mà mũi và lưỡi đã không còn cảm giác và hoàn toàn tê liệt. Liệu có còn tồn tại điều gì ở đó? Tuy nhiên, mọi người thường nghĩ rằng nếu họ đến một nơi không có gì xảy ra, họ sẽ tìm thấy sự bình an. Vâng, tôi cũng từng nghĩ như vậy, tôi đã từng nghĩ như thế... |
|
When I was a young monk just starting to practice, I'd sit in meditation and sounds would disturb me, I'd think to myself, "What can I do to make my mind peaceful?" So I took some beeswax and stuffed my ears with it so that I couldn't hear anything. All that remained was a humming sound. I thought that would be peaceful, but no, all that thinking and confusion didn't arise at the ears after all. It arose at the mind. That is the place to search for peace. |
Khi Tôi còn là một vị sư trẻ mới bắt đầu tu tập, tôi thường ngồi thiền và bị những âm thanh làm phiền. Tôi tự hỏi: "Tôi phải làm gì để tâm trí mình được bình an?" Thế là tôi lấy sáp ong nhét vào tai để không nghe thấy gì cả. Chỉ còn lại tiếng ù ù trong tai. Tôi nghĩ rằng như vậy sẽ được bình yên, nhưng không, tất cả những suy nghĩ và sự hỗn loạn đó không phải xuất phát từ tai, mà là từ tâm. Đó mới là nơi cần tìm kiếm sự bình an. |
|
To put it another way, no matter where you go to stay, you don't want to do anything because it interferes with your practice. You don't want to sweep the grounds or do any work, you just want to be still and find peace that way. The teacher asks you to help out with the chores or any of the daily duties but you don't put your heart into it because you feel it is only an external concern. |
Nói cách khác, dù bạn đến đâu để tu tập, bạn cũng không muốn làm bất cứ điều gì vì sợ nó sẽ làm gián đoạn việc tu tập của mình. Bạn không muốn quét dọn sân vườn hay làm bất cứ công việc nào, bạn chỉ muốn ngồi yên tĩnh và tìm kiếm sự bình an theo cách đó. Thầy giáo yêu cầu bạn giúp đỡ việc dọn dẹp hoặc các công việc thường ngày, nhưng bạn không dốc hết tâm sức vào đó vì bạn cảm thấy đó chỉ là những việc bên ngoài không quan trọng. |
|
I've often brought up the example of one of my disciples who was really eager to "let go" and find peace. I taught about "letting go" and he accordingly understood that to let go of everything would indeed be peaceful. Actually right from the day he had come to stay here he didn't want to do anything. Even when the wind blew half the roof off his kuti he wasn't interested. He said that that was just an external thing. So he didn't bother fixing it up. When the sunlight and rain streamed in from one side he'd move over to the other side. That wasn't any business of his. His business was to make his mind peaceful. That other stuff was a distraction, he wouldn't get involved. That was how he saw it. |
Tôi thường lấy ví dụ về một trong những đệ tử của mình, người rất khao khát "buông bỏ" và tìm thấy sự bình an. Tôi đã dạy về sự "buông bỏ" và anh ấy hiểu rằng buông bỏ mọi thứ sẽ thực sự mang lại sự bình an. Thực ra, ngay từ ngày đầu tiên đến ở đây, anh ấy đã không muốn làm bất cứ điều gì. Ngay cả khi gió thổi bay mất một nửa bên mái tịnh thất, anh ấy cũng không quan tâm. Anh ấy nói rằng đó chỉ là chuyện bên ngoài. Vì vậy, anh ấy không bận tâm sửa chữa nó. Khi ánh nắng mặt trời và mưa hắt vào từ một phía, anh ấy sẽ di chuyển sang phía khác. Đó không phải là việc của anh ấy. Việc của anh ấy là làm cho tâm trí mình được bình an. Những thứ khác chỉ là sự xao nhãng, anh ấy sẽ không dính líu vào. Đó là cách anh ấy nhìn nhận mọi việc. |
|
One day I was walking past and saw the collapsed roof. |
Một ngày tôi đi ngang qua thất của Sư và thấy mái bị hư. |
|
"Eh? Whose kuti is this?" Someone told me whose it was, and I thought, "Hmm. Strange..." So I had a talk with him, explaining many things, such as the duties in regard to our dwellings, the senasanavatta. "We must have a dwelling place, and we must look after it. "Letting go" isn't like this, it doesn't mean shirking our responsibilities. That's the action of a fool. The rain comes in on one side so you move over to the other side, then the sunshine comes out and you move back to that side. Why is that? Why don't you bother to let go there?" I gave him a long discourse on this; then when I'd finished, he said, |
“Điều gì đây? Cái thất này của ai ?” ” Một người nói cho tôi biết đó là của ai, và tôi nghĩ, "Hmm. Thật kỳ lạ..." Vì vậy, tôi đã nói chuyện với anh ta, giải thích nhiều điều, chẳng hạn như những điều luật liên quan đến trú xứ của chúng ta, senāsanavatta. "Chúng ta phải có một trú xứ, và chúng ta phải chăm sóc nó. "Buông bỏ" không phải là bỏ mặc nó không sửa chữa, "buông bỏ" không có nghĩa là trốn tránh trách nhiệm của mình. Đó là hành động của một kẻ ngu ngốc. Mưa tạt vào một bên thì bạn chuyển sang bên kia, rồi nắng chiếu vào thì bạn lại chuyển về bên đó. Tại sao lại như vậy? Tại sao bạn không chịu buông bỏ ở đó?" Tôi đã giảng giải cho anh ta rất lâu về điều này; rồi khi tôi nói xong, anh ta nói, |
|
"Oh, Luang Por, sometimes you teach me to cling and sometimes you teach me to let go. I don't know what you want me to do. Even when my roof collapses and I let go to this extent, still you say it's not right. And yet you teach me to let go! I don't know what more you can expect of me..." |
Thưa Hòa Thượng, đôi khi ngài dạy con phải bám víu, đôi khi lại dạy con phải buông bỏ. Con không biết ngài muốn con làm gì nữa. Ngay cả khi am thất sụp đổ và con đã buông bỏ đến mức này, ngài vẫn nói là chưa đúng. Vậy mà ngài lại dạy con phải buông bỏ! Con không biết ngài còn mong đợi gì hơn ở con nữa. |
|
You see? People are like this. They can be as stupid as this. |
Bạn thấy không? Mọi người thường đều như thế. Họ có thể vô minh như vậy. |
|
Are there visual objects within the eye? If there are no external visual objects would our eyes see anything? Are there sounds within our ears if external sounds don't make contact? If there are no smells outside would we experience them. Where are the causes? Think about what the Buddha said: All dhammas [48] arise because of causes. If we didn't have ears would we experience sounds? If we had no eyes would we be able to see sights? Eyes, ears, nose, tongue, body and mind — these are the causes. It is said that all dhammas arise because of conditions, when they cease it's because the causal conditions have ceased. For resulting conditions to arise, the causal conditions must first arise. |
Bên trong mắt có vật thể thị giác nào không? Nếu không có vật thể thị giác bên ngoài, mắt chúng ta có nhìn thấy gì không? Có âm thanh nào bên trong tai nếu không có âm thanh bên ngoài tác động? Nếu không có mùi hương bên ngoài, chúng ta có cảm nhận được chúng không? Do duyên gì? Hãy suy nghĩ về những gì Đức Phật đã nói: Tất cả các pháp [48] đều phát sinh do nhân duyên. Nếu chúng ta không có tai, liệu chúng ta có thể nghe thấy âm thanh không? Nếu chúng ta không có mắt, liệu chúng ta có thể nhìn thấy cảnh vật không? Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm – đó là những nhân duyên. Người ta nói rằng tất cả các pháp đều phát sinh do điều kiện, khi chúng chấm dứt là do các điều kiện nhân quả đã chấm dứt. Để các điều kiện kết quả phát sinh, các điều kiện nhân quả phải phát sinh trước. |
|
If we think that peace lies where there are no sensations would wisdom arise? Would there be causal and resultant conditions? Would we have anything to practice with? If we blame the sounds, then where there are sounds we can't be peaceful. We think that place is no good. Wherever there are sights we say that's not peaceful. If that's the case then to find peace we'd have to be one whose senses have all died, blind, and deaf. I thought about this... |
Nếu chúng ta nghĩ rằng bình an nằm ở nơi không có cảm giác, liệu trí tuệ có phát sinh? Liệu có còn điều kiện nhân quả? Liệu chúng ta còn có gì để tu tập? Nếu chúng ta đổ lỗi cho âm thanh, thì ở nơi có âm thanh, chúng ta không thể bình an. Chúng ta nghĩ rằng nơi đó không tốt. Bất cứ nơi nào có hình ảnh, chúng ta đều nói rằng nơi đó không bình an. Nếu vậy, để tìm thấy bình an, chúng ta phải trở thành người mà tất cả các giác quan đều đã chết, mù lòa và điếc. Tôi đã suy nghĩ về điều này.. |
|
"Hmm. This is strange. Suffering arises because of eyes, ears, nose, tongue, body and mind. So should we be blind? If we didn't see anything at all maybe that would be better. One would have no defilements arising if one were blind, or deaf. Is this the way it is?"... |
"Hmm. Điều này thật kỳ lạ. Khổ đau phát sinh từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm. Vậy chúng ta có nên bị mù không? Nếu chúng ta không nhìn thấy gì cả, có lẽ sẽ tốt hơn. Nếu bị mù hoặc điếc, người ta sẽ không còn phiền não nữa. Có phải mọi chuyện là như vậy không?" |
|
But, thinking about it, it was all wrong. If that was the case then blind and deaf people would be enlightened. They would all be accomplished if defilements arose at the eyes and ears. There are the causal conditions. Where things arise, at the cause, that's where we must stop them. Where the cause arises, that's where we must contemplate. |
Nhưng nghĩ lại thì, tất cả đều sai. Nếu đúng như vậy thì người mù và người điếc sẽ đạt được giác ngộ. Tất cả họ không có phiền não nào phát sinh ở mắt và tai. Có những điều kiện nhân quả. Nơi nào sự việc phát sinh, tại nguyên nhân đó, chúng ta phải ngăn chặn chúng. Nơi nào nguyên nhân phát sinh, đó là nơi chúng ta phải quán chiếu. |
|
Actually, the sense bases of the eye, ear, nose, tongue, body, and mind are all things which can facilitate the arising of wisdom, if we know them as they are. If we don't really know them we must deny them, saying we don't want to see sights, hear sounds, and so on, because they disturb us. If we cut off the causal conditions what are we going to contemplate? Think about it. Where would there be any cause and effect? This is wrong thinking on our part. |
Thực ra, sáu giác quan – mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý – đều là những thứ có thể giúp chúng ta phát sinh trí tuệ, nếu chúng ta hiểu chúng đúng như bản chất thật sự chúng là. Nếu chúng ta không thực sự hiểu chúng, chúng ta sẽ phủ nhận chúng, nói rằng chúng ta không muốn nhìn thấy cảnh vật, nghe âm thanh, v.v., vì chúng làm phiền chúng ta. Nếu chúng ta cắt đứt các điều kiện nhân duyên, thì chúng ta sẽ quán chiếu điều gì? Hãy suy nghĩ về điều đó. Đâu là nhân và đâu là quả. Đây là suy nghĩ sai lầm của chúng ta. |
|
This is why we are taught to be restrained. Restraint is sila. There is the sila of sense restraint: eyes, ears, nose, tongue, body and mind: these are our sila, and they are our samadhi. Reflect on the story Sariputta. At the time before he became a bhikkhu he saw Assaji Thera going on almsround. Seeing him, Sariputta thought, |
Đây là lý do tại sao chúng ta được dạy phải thu thúc. Sự thu thúc bản thân chính là giới. Có thu thúc các giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm: đây là giới của chúng ta, và chúng là định (samadhi) của chúng ta. Hãy suy ngẫm câu chuyện về Ngài Sariputta. Vào thời điểm trước khi trở thành một vị tỳ kheo, ông đã nhìn thấy Đại Đức Assaji Thera đi khất thực. Nhìn thấy Đại Đức Assaji Thera , Sariputta nghĩ rằng: |
|
"This monk is most unusual. He walks neither too fast nor too slow, his robes are neatly worn, his bearing is restrained." Sariputta was inspired by him and so approached Venerable Assaji, paid his respects and asked him, |
"Vị sư này thật là oai nghi. Ông đi không quá nhanh cũng không quá chậm, y phục chỉnh tề, dáng vẻ điềm đạm." Sariputta cảm động trước vẻ oai nghi của ông nên đã đến gặp Đại Đức Assaji, bày tỏ lòng kính trọng và hỏi rằng: |
|
"Excuse me, sir, who are you?" "I am a samana." "Who is your teacher?" "Venerable Gotama is my teacher." "What does Venerable Gotama teach?" "He teaches that all things arise because of conditions. When they cease it's because the causal conditions have ceased." |
“Thưa Ngài, Ngài là ai?” “Bần tăng là một Sa-môn”. “Thầy của Ngài là ai?” “Thầy của Bần Tăng là Đức Phật Gotama”. “Thế Đức Phật Gotama đã dạy những gì?” “Ngài dạy mỗi pháp sinh lên bởi duyên. "Do duyên diệt pháp diệt”. |
|
When asked about the Dhamma by Sariputta, Assaji explained only in brief, he talked about cause and effect. Dhammas arise because of causes. The cause arises first and then the result. When the result is to cease the cause must first cease. That's all he said, but it was enough for Sariputta. [49] |
Khi Ngài Sariputta hỏi về giáo pháp, Đại Đức Assaji chỉ giải thích ngắn gọn, Ngài nói về nhân quả. Các pháp sinh khởi là do nhân duyên. Nhân duyên xuất hiện trước rồi mới đến kết quả. Khi kết quả chấm dứt thì nhân duyên cũng phải đoạn diệt trước. Ông chỉ nói bấy nhiêu thôi, nhưng bấy nhiêu cũng đủ đối với Ngài Sariputta.[49] . |
|
Now this was a cause for the arising of Dhamma. At that time Sariputta had eyes, he had ears, he had a nose, a tongue, a body and a mind. All his faculties were intact. If he didn't have his faculties would there have been sufficient causes for wisdom to arise for him? Would he have been aware of anything? But most of us are afraid of contact. Either that or we like to have contact but we develop no wisdom from it: instead we repeatedly indulge through eyes, ears, nose, tongue, body and mind, delighting in and getting lost in sense objects. This is how it is. These sense bases can entice us into delight and indulgence or they can lead to knowledge and wisdom. |
Đây chính là nhân duyên dẫn đến Pháp sinh khởi. Lúc đó, Ngài Sariputta có mắt, có tai, có mũi, có lưỡi, có thân và có tâm. Tất cả các giác quan của Ngài đều nguyên vẹn. Nếu Ngài không có các giác quan đó, liệu có đủ điều kiện để trí tuệ phát sinh nơi Ngài không? Liệu ngài có nhận thức được bất cứ điều gì không? Nhưng hầu hết chúng ta lại sợ tiếp xúc. Hoặc là chúng ta thích tiếp xúc nhưng lại không phát triển được trí tuệ từ đó: thay vào đó, chúng ta liên tục chìm đắm vào các giác quan qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm, vui thích và lạc lối trong các đối tượng giác quan. Thực tế là như vậy. Các giác quan này có thể dẫn dụ chúng ta vào sự vui thích và chìm đắm, hoặc chúng có thể dẫn đến kiến thức và trí tuệ phát sinh. |
|
They have both harm and benefit, depending on our wisdom. |
Chúng vừa có hại vừa mang lại lợi lạc tuỳ theo ta, trí của chúng ta. |
|
So now let us understand that, having gone forth and come to practice, we should take everything as practice. Even the bad things. We should know them all. Why? So that we may know the truth. When we talk of practice we don't simply mean those things that are good and pleasing to us. That's not how it is. In this world some things are to our liking, some are not. These things all exist in this world, nowhere else. Usually whatever we like we want, even with fellow monks and novices. Whatever monk or novice we don't like we don't want to associate with, we only want to be with those we like. You see? This is choosing according to our likes. Whatever we don't like we don't want to see or know about. |
Vậy bây giờ chúng ta hãy hiểu rằng, sau khi xuất gia và bắt đầu tu tập, chúng ta nên coi mọi thứ đều là sự thực hành. Ngay cả những điều xấu. Chúng ta nên biết tất cả chúng. Tại sao? Để chúng ta có thể biết được sự thật. Khi nói về tu tập, chúng ta không chỉ nói đến những điều tốt đẹp và dễ chịu đối với chúng ta. Không phải như vậy. Trong thế giới này, có những điều chúng ta thích, có những điều chúng ta không thích. Tất cả những điều này đều tồn tại trong thế giới này, không ở nơi nào khác. Thông thường, bất cứ điều gì chúng ta thích, chúng ta đều muốn, ngay cả với các vị sư và sa di khác. Bất cứ vị sư hay sa di nào chúng ta không thích, chúng ta không muốn giao tiếp, chúng ta chỉ muốn ở bên cạnh những người chúng ta thích. Các bạn thấy không? Đây là sự lựa chọn theo sở thích của chúng ta. Bất cứ điều gì chúng ta không thích, chúng ta không muốn nhìn thấy hoặc biết đến. |
|
Actually the Buddha wanted us to experience these things. Lokavidu — look at this world and know it clearly. If we don't know the truth of the world clearly then we can't go anywhere. Living in the world we must understand the world. The Noble Ones of the past, including the Buddha, all lived with these things, they lived in this world, among deluded people. They attained the truth right in this very world, nowhere else. They didn't run off to some other world to find the truth. But they had wisdom. They restrained their senses, but the practice is to look into all these things and know them as they are. |
Thực ra, Đức Phật muốn chúng ta trải nghiệm những điều này. Lokavidu kiến thức về toàn bộ thế giới - hãy quan sát thế giới này và hiểu rõ nó. Nếu chúng ta không hiểu rõ sự thật của thế giới, chúng ta sẽ không thể đi đến đâu cả. Sống trong thế giới này, chúng ta phải hiểu thế giới này. Các bậc Thánh nhân thời xưa, bao gồm cả Đức Phật, đều sống với những điều này, họ sống trong thế giới này, giữa những người vô minh. Họ đạt được chân lý ngay trong thế giới này, chứ không phải ở nơi nào khác. Họ không chạy trốn đến một thế giới khác để tìm kiếm chân lý. Nhưng họ có trí tuệ. Họ thu thúc lục căn, nhưng tu tập là nhìn vào tất cả những điều này và hiểu chúng đúng như bản chất của chúng là. |
|
Therefore the Buddha taught us to know the sense bases, our points of contact. The eye contacts forms and sends them "in" to become sights. The ears make contact with sounds, the nose makes contact with odors, the tongue makes contact with tastes, the body makes contact with tactile sensations, and so awareness arises. Where awareness arises is where we should look and see things as they are. If we don't know these things as they really are we will either fall in love with them or hate them. Where these sensations arise is where we can become enlightened, where wisdom can arise. |
Do đó, Đức Phật đã dạy chúng ta nhận biết các cảm thọ qua những giác quan, qua sự tiếp xức của lục căn. Mắt tiếp xúc với cảnh sắc và chuyển chúng "vào bên trong" để trở thành thị giác. Tai tiếp xúc với âm thanh, mũi tiếp xúc với mùi hương, lưỡi tiếp xúc với vị giác, thân thể tiếp xúc với cảm giác xúc giác, và từ đó ý thức phát sinh. Nơi ý thức phát sinh chính là nơi chúng ta nên quan sát và nhìn nhận mọi thứ đúng như bản chất của chúng. Nếu chúng ta không nhận biết những điều này đúng như bản chất thực sự của chúng, chúng ta sẽ hoặc yêu thích chúng hoặc ghét bỏ chúng. Nơi những cảm giác này phát sinh chính là nơi chúng ta có thể giác ngộ, nơi trí tuệ có thể phát sinh. |
|
But sometimes we don't want things to be like that. The Buddha taught restraint, but restraint doesn't mean we don't see anything, hear anything, smell, taste, feel or think anything. That's not what it means. If practitioners don't understand this then as soon as they see or hear anything they cower and run away. They don't deal with things. They run away, thinking that by so doing those things will eventually lose their power over them, that they will eventually transcend them. But they won't. They won't transcend anything like that. If they run away not knowing the truth of them, later on the same stuff will pop up to be dealt with again. |
Nhưng đôi khi chúng ta không muốn mọi thứ diễn ra như vậy. Đức Phật dạy về sự thu thúc, nhưng thu thúc không có nghĩa là chúng ta không nhìn thấy gì, không nghe gì, không ngửi, nếm, không cảm nhận hay suy nghĩ bất cứ điều gì. Đó không phải là ý nghĩa của nó. Nếu người tu hành không hiểu điều này, thì ngay khi nhìn thấy hoặc nghe bất cứ điều gì, họ sẽ sợ hãi và bỏ chạy. Họ không đối mặt với vấn đề. Họ bỏ chạy, nghĩ rằng bằng cách đó, những điều đó cuối cùng sẽ mất đi sức mạnh chi phối họ, rằng họ cuối cùng sẽ vượt qua chúng. Nhưng không phải vậy. Họ sẽ không thể vượt qua bất cứ điều gì bằng cách đó. Nếu họ bỏ chạy mà không hiểu sự thật về chúng, thì sau này những điều tương tự sẽ lại xuất hiện để họ phải đối mặt. |
|
For example, those practitioners who are never content, be they in monasteries, forests, or mountains. They wander on "dhutanga pilgrimage" looking at this, that and the other, thinking they'll find contentment that way. They go, and then they come back... didn't see anything. They try going to a mountain top..."Ah! This is the spot, now I'm right." They feel at peace for a few days and then get tired of it. "Oh, well, off to the seaside." "Ah, here it's nice and cool. This'll do me fine." After a while they get tired of the seaside as well... Tired of the forests, tired of the mountains, tired of the seaside, tired of everything. This is not being tired of things in the right sense, [50] as Right View, it's simply boredom, a kind of Wrong View. Their view is not in accordance with the way things are. |
Ví dụ, những người tu hành không bao giờ cảm thấy thỏa mãn, dù ở trong tu viện, rừng sâu hay trên núi cao. Họ lang thang khắp nơi, thực hiện "hành trình khổ hạnh", nhìn ngắm hết thứ này đến thứ khác, nghĩ rằng sẽ tìm thấy sự mãn nguyện bằng cách đó. Họ đi rồi lại trở về... chẳng thấy gì cả. Họ thử lên đỉnh núi... "À! Đây rồi, giờ thì mình ổn rồi." Họ cảm thấy bình yên được vài ngày rồi lại chán. "Thôi, đi ra biển vậy." "À, ở đây mát mẻ dễ chịu. Chỗ này hợp với mình." Sau một thời gian, họ cũng chán cả biển... Chán rừng, chán núi, chán biển, chán tất cả mọi thứ. Đây không phải là sự chán nản đúng nghĩa, [50] theo Chánh kiến, mà chỉ đơn thuần là sự nhàm chán, một loại Tà kiến. Quan điểm của họ không phù hợp với bản chất của sự vật. |
|
When they get back to the monastery..."Now, what will I do? I've been all over and come back with nothing." So they throw away their bowls and disrobe. Why do they disrobe? Because they haven't got any grip on the practice, they don't see anything; go to the north and don't see anything; go to the seaside, to the mountains, into the forests and still don't see anything. So it's all finished... they "die." This is how it goes. It's because they're continually running away from things. Wisdom doesn't arise. |
Khi họ trở về tu viện... "Giờ thì tôi phải làm gì đây? Tôi đã đi khắp nơi mà chẳng thu được gì cả." Thế là họ vứt bỏ bát khất thực và cởi bỏ y cà sa. Tại sao họ lại cởi bỏ y cà sa? Bởi vì họ không nắm vững được pháp tu, họ không thấy được điều gì cả; đi về phía bắc cũng không thấy gì; đi đến bờ biển, lên núi, vào rừng cũng vẫn không thấy gì. Vì vậy, mọi thứ đều kết thúc... họ "chết". Mọi chuyện diễn ra là như vậy. Đó là vì họ liên tục chạy trốn khỏi mọi thứ. Trí tuệ không thể phát sinh. |
|
Now take another example. Suppose there is one monk who determines to stay with things, not to run away. He looks after himself. He knows himself and also knows those who come to stay with him. He's continually dealing with problems. For example, the Abbot. If one is an Abbot of a monastery there are constant problems to deal with, there's a constant stream of things that demand attention. Why so? Because people are always asking questions. The questions never end, so you must be constantly on the alert. You are constantly solving problems, your own as well as other people's. That is, you must be constantly awake. Before you can doze off they wake you up again with another problem. So this causes you to contemplate and understand things. You become skillful: skillful in regard to yourself and skillful in regard to others. Skillful in many, many ways. |
Bây giờ hãy lấy một ví dụ khác. Giả sử có một vị sư quyết định ở lại với thế gian, không bỏ chạy. Ông ấy tự chăm sóc bản thân. Ông ấy hiểu bản thân mình và cũng hiểu những người đến ở cùng ông ấy. Ông ấy liên tục phải đối phó với các vấn đề. Ví dụ, vị trụ trì. Nếu một người là trụ trì của một tu viện, sẽ luôn có những vấn đề cần giải quyết, luôn có vô số việc cần phải chú ý. Tại sao lại như vậy? Bởi vì mọi người luôn thắc mắc đặt câu hỏi. Các câu hỏi không bao giờ kết thúc, vì vậy bạn phải luôn luôn cảnh giác chánh niệm. Bạn liên tục giải quyết vấn đề, vấn đề của chính mình cũng như của người khác. Nghĩa là, bạn phải luôn luôn tỉnh táo. Trước khi bạn kịp ngủ, họ lại đánh thức bạn dậy với một vấn đề khác. Vì vậy, điều này khiến bạn phải suy ngẫm và hiểu mọi việc. Bạn trở nên khéo léo: khéo léo đối với bản thân và khéo léo đối với người khác. Khéo léo trong rất nhiều khía cạnh. |
|
This skill arises from contact, from confronting and dealing with things, from not running away. We don't run away physically but we "run away" in mind, using our wisdom. We understand with wisdom right here, we don't run away from anything. |
Thiện xảo này nảy sinh từ sự tiếp xúc, từ việc đối mặt và giải quyết vấn đề, từ việc không trốn tránh. Chúng ta không trốn tránh về mặt thể chất, nhưng chúng ta "trốn tránh" trong tâm trí, bằng cách sử dụng trí tuệ của mình. Chúng ta hiểu mọi việc bằng trí tuệ ngay tại đây, chúng ta không trốn tránh bất cứ điều gì. |
|
This is a source of wisdom. One must work, must associate with other things. For instance, living in a big monastery like this we must all help out to look after the things here. Looking at it in one way you could say that it's all defilement. Living with lots of monks and novices, with many laypeople coming and going, many defilements may arise. Yes, I admit... but we must live like this for the development of wisdom and the abandonment of foolishness. Which way are we to go? Are we going to live in order to get rid of foolishness or to increase our foolishness? |
Đây là nguồn gốc của trí tuệ. Chúng ta phải làm việc, phải giao tiếp với những người khác. Ví dụ, sống trong một tu viện lớn, tất cả chúng ta phải cùng nhau giúp đỡ để chăm sóc mọi thứ ở đây. Nhìn theo một khía cạnh nào đó, bạn có thể nói rằng tất cả đều là ô nhiễm. Sống cùng nhiều tăng sĩ và sa di, với nhiều cư sĩ đến và đi, nhiều phiền não có thể phát sinh. Vâng, tôi thừa nhận... nhưng chúng ta phải sống như vậy để phát triển trí tuệ và loại bỏ sự vô minh. Chúng ta sẽ đi theo con đường nào? Chúng ta sẽ sống để loại bỏ sự vô minh hay để tăng thêm vô minh? |
|
We must contemplate. Whenever eyes, ears, nose, tongue, body or mind make contact we should be collected and circumspect. When suffering arises, who is suffering? Why did this suffering arise? The Abbot of a monastery has to supervise many disciples. Now that may be suffering. We must know suffering when it arises. Know suffering. If we are afraid of suffering and don't want to face it, where are we going to do battle with it? If suffering arises and we don't know it, how are we going to deal with it? This is of utmost importance — we must know suffering. |
Chúng ta phải quán chiếu. Bất cứ khi nào mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể hoặc tâm tiếp xúc với thế giới bên ngoài, chúng ta phải giữ tâm tĩnh lặng và thận trọng. Khi khổ đau xuất hiện, ai đang chịu khổ? Tại sao khổ đau lại xuất hiện? Vị trụ trì của một tu viện phải trông coi nhiều đệ tử. Đó có thể là khổ đau. Chúng ta phải nhận biết khổ đau khi nó xuất hiện. Hãy nhận biết khổ đau. Nếu chúng ta sợ khổ đau và không muốn đối mặt với nó, thì chúng ta sẽ chiến đấu với nó ở đâu? Nếu khổ đau xuất hiện mà chúng ta không nhận biết được, thì làm sao chúng ta có thể đối phó với nó? Điều này vô cùng quan trọng – chúng ta phải nhận biết khổ đau. |
|
Escaping from suffering means knowing the way out of suffering, it doesn't mean running away from wherever suffering arises. By doing that you just carry your suffering with you. When suffering arises again somewhere else you'll have to run away again. This is not transcending suffering, it's not knowing suffering. |
Thoát khỏi khổ đau có nghĩa là biết thoát ly diệt khổ đau, chứ không phải là chạy trốn khỏi nơi mà khổ đau xuất hiện. Làm như vậy, bạn chỉ mang theo nỗi khổ đau của mình đi khắp nơi. Khi khổ đau lại xuất hiện ở một nơi khác, bạn sẽ lại phải chạy trốn. Đó không phải là vượt qua khổ đau, đó không phải là hiểu biết về khổ đau. |
|
If you want to understand suffering you must look into the situation at hand. The teachings say that wherever a problem arises it must be settled right there. Where suffering lies is right where non-suffering will arise, it ceases at the place where it arises. If suffering arises you must contemplate right there, you don't have to run away. You should settle the issue right there. One who runs away from suffering out of fear is the most foolish person of all. He will simply increases his stupidity endlessly. |
Nếu muốn hiểu về khổ đau, bạn phải nhìn thẳng vào hoàn cảnh hiện tại. Giáo lý dạy rằng bất cứ vấn đề nào phát sinh, nó phải được giải quyết ngay tại đó. Nơi nào có khổ đau, nơi đó cũng sẽ có sự chấm dứt khổ đau; khổ đau sẽ chấm dứt ngay tại nơi nó phát sinh. Nếu khổ đau xuất hiện, bạn phải suy ngẫm ngay tại đó, bạn không cần phải chạy trốn. Bạn nên giải quyết vấn đề ngay tại chỗ. Người chạy trốn khỏi khổ đau vì sợ hãi là người si mê nhất. Anh ta chỉ làm tăng thêm sự si mê của mình một cách vô tận. |
|
We must understand: suffering is none other than the First Noble Truth, isn't that so? Are you going to look on it as something bad? Dukkha sacca, samudaya sacca, nirodha sacca, magga sacca... [51] Running away from these things isn't practicing according to the true Dhamma. When will you ever see the Truth of Suffering? If we keep running away from suffering we will never know it. Suffering is something we should recognize — if you don't observe it when will you ever recognize it? Not being content here you run over there, when discontent arises there you run off again. You are always running. If that's the way you practice you'll be racing with the Devil all over the country! |
Chúng ta phải hiểu rằng: khổ đau chính là Khổ Thánh Đế, phải không? Bạn có định coi đó là điều xấu không? Dukkha sacca (Khổ Thánh Đế), samudaya sacca (Tập Khổ Thánh Đế), nirodha sacca (Diệt Khổ Thánh Đế), magga sacca (Đạo Diệt Khổ Thánh Đế)... [51] Trốn tránh những điều này không phải là tu tập theo Chánh pháp. Khi nào bạn mới thấy được Chân lý về Khổ? Nếu chúng ta cứ trốn tránh khổ đau, chúng ta sẽ không bao giờ hiểu được nó. Khổ đau là điều chúng ta cần nhận biết – nếu bạn không quan sát nó thì làm sao bạn có thể nhận biết được? Không hài lòng ở đây, bạn chạy sang chỗ khác, khi sự bất mãn lại xuất hiện ở đó, bạn lại chạy đi nữa. Bạn luôn luôn chạy trốn. Nếu đó là cách bạn tu tập, bạn sẽ chạy đua với Ác Ma khắp cả nước! |
|
The Buddha taught us to "run away" using wisdom. For instance: suppose you had stepped on a thorn or splinter and it got embedded in your foot. As you walk it occasionally hurts, occasionally not. Sometimes you may step on a stone or a stump and it really hurts, so you feel around your foot. But not finding anything you shrug it off and walk on a bit more. Eventually you step on something else, and the pain arises again. |
Đức Phật dạy chúng ta cách "thoát khỏi" khổ đau bằng trí tuệ. Ví dụ bạn dẫm phải gai hoặc mảnh chai và nó găm vào chân. Khi đi lại, thỉnh thoảng bạn cảm thấy đau, thỉnh thoảng lại không. Đôi khi bạn dẫm phải đá hoặc gốc cây và cảm thấy rất đau, nên bạn sờ nắn xung quanh bàn chân. Nhưng không tìm thấy gì, bạn lại bỏ qua và tiếp tục đi. Cuối cùng, bạn lại dẫm phải thứ khác, và cơn đau lại xuất hiện. |
|
Now this happens many times. What is the cause of that pain? The cause is that splinter or thorn embedded in your foot. The pain is constantly near. Whenever the pain arises you may take a look and feel around a bit, but, not seeing the splinter, you let it go. After a while it hurts again so you take another look. |
Điều này xảy ra rất nhiều lần. Nguyên nhân của cơn đau đó là gì? Nguyên nhân là do mảnh vụn hoặc gai đâm vào chân bạn. Cơn đau luôn hiện hữu. Mỗi khi cơn đau xuất hiện, bạn có thể nhìn và sờ xung quanh một chút, nhưng vì không thấy mảnh vụn đó, bạn lại bỏ qua. Sau một thời gian, cơn đau lại xuất hiện, vì vậy bạn lại nhìn kỹ hơn. |
|
When suffering arises you must note it, don't just shrug it off. Whenever the pain arises..."Hmm... that splinter is still there." Whenever the pain arises there arises also the thought that that splinter has got to go. If you don't take it out there will only be more pain later on. The pain keeps recurring again and again, until the desire to take out that thorn is constantly with you. In the end it reaches a point where you make up your mind once and for all to get out that thorn — because it hurts! |
Khi nỗi đau sinh khởi, bạn phải nhận biết nó, đừng bỏ qua. Mỗi khi cơn đau xuất hiện... "oh... cái gai vẫn còn ở đó." Mỗi khi cơn đau xuất hiện, cũng xuất hiện cả suy nghĩ rằng phải lấy cái gai đó ra. Nếu bạn không lấy nó ra, sau này sẽ chỉ càng đau hơn. Cơn đau cứ tái diễn hết lần này đến lần khác, cho đến khi mong muốn lấy cái gai đó ra luôn thường trực trong tâm trí bạn. Cuối cùng, đến một lúc nào đó bạn sẽ quyết tâm dứt khoát lấy cái gai đó ra – bởi vì nó đau quá! |
|
Now our effort in the practice must be like this. Wherever it hurts, wherever there's friction, we must investigate. Confront the problem, head on. Take that thorn out of your foot, just pull it out. Wherever your mind gets stuck you must take note. As you look into it you will know it, see it and experience it as it is. |
Giờ đây, nỗ lực trong việc tu tập của chúng ta phải là như vậy. Bất cứ nơi nào cảm thấy đau đớn, bất cứ nơi nào có sự khó chịu, chúng ta phải tìm hiểu. Đối mặt với vấn đề một cách trực diện. Hãy nhổ cái gai ra khỏi chân, cứ mạnh dạn nhổ nó ra. Bất cứ khi nào tâm bạn bị mắc kẹt, bạn phải ghi nhớ điều đó. Khi bạn xem xét kỹ lưỡng, bạn sẽ hiểu, nhìn thấy và trải nghiệm nó đúng như bản chất của nó. |
|
But our practice must be unwavering and persistent. They call it viriyarambha — putting forth constant effort. Whenever an unpleasant feeling arises in your foot, for example, you must remind yourself to get out that thorn, don't give up your resolve. Likewise, when suffering arises in our hearts we must have the unwavering resolve to try to uproot the defilements, to give them up. This resolve is constantly there, unremitting. Eventually the defilements will fall into our hands where we can finish them off. |
Nhưng sự tu tập của chúng ta phải kiên định và bền bỉ. Điều đó được gọi là viriyarambha — tinh tấn không ngừng nghỉ. Ví dụ, bất cứ khi nào cảm giác khó chịu xuất hiện ở bàn chân, bạn phải tự nhắc nhở mình hãy loại bỏ cái gai đó, đừng từ bỏ quyết tâm của mình. Tương tự như vậy, khi nỗi khổ đau xuất hiện trong trái tim, chúng ta phải có quyết tâm kiên định để cố gắng nhổ tận gốc những phiền não, từ bỏ chúng. Quyết tâm này luôn luôn hiện hữu, không ngừng nghỉ. Cuối cùng, những phiền não sẽ nằm trong tầm tay của chúng ta, nơi chúng ta có thể loại bỏ chúng hoàn toàn. |
|
So in regard to happiness and suffering, what are we to do? If we didn't have these things what could we use as a cause to precipitate wisdom? If there is no cause how will the effect arise? All dhammas arise because of causes. When the result ceases it's because the cause has ceased. This is how it is, but most of us don't really understand. People only want to run away from suffering. This sort of knowledge is short of the mark. Actually we need to know this very world that we are living in, we don't have to run away anywhere. You should have the attitude that to stay is fine... and to go is fine. Think about this carefully. |
Vậy thì, đối với hạnh phúc và khổ đau, chúng ta nên làm gì? Nếu không có những điều kiện này, chúng ta có thể nhờ duyên gì làm nguyên nhân để phát sinh trí tuệ? Nếu không có nguyên nhân thì làm sao có kết quả? Tất cả các pháp đều phát sinh do nguyên nhân. Khi kết quả chấm dứt là do nguyên nhân đã chấm dứt. Mọi việc là như vậy, nhưng hầu hết chúng ta không thực sự hiểu điều này. Mọi người chỉ muốn chạy trốn khỏi khổ đau. Loại hiểu biết này còn thiếu sót. Thực ra, chúng ta cần phải hiểu chính thế giới mà chúng ta đang sống, chúng ta không cần phải chạy trốn đi đâu cả. Bạn nên có thái độ rằng ở lại cũng tốt... và ra đi cũng tốt. Hãy suy nghĩ kỹ về điều này. |
|
Where do happiness and suffering lie? Whatever we don't hold fast to, cling to or fix on to, as if it weren't there. Suffering doesn't arise. Suffering arises from existence (bhava). If there is existence then there is birth. Upadana — clinging or attachment — this is the pre-requisite which creates suffering. Wherever suffering arises look into it. Don't look too far away, look right into the present moment. Look at your own mind and body. When suffering arises..."Why is there suffering?" Look right now. When happiness arises, what is the cause of that happiness? Look right there. Wherever these things arise be aware. Both happiness and suffering arise from clinging. |
Hạnh phúc và khổ đau nằm ở đâu? Bất cứ điều gì chúng ta không bám víu, không níu giữ hay không cố định vào, thì nó sẽ không tồn tại. Khổ đau không phát sinh. Khổ đau phát sinh từ sự tồn tại (bhava). Nếu có sự tồn tại thì sẽ có sinh ra. Upadana – sự bám víu hay chấp trước – đây là điều kiện tiên quyết tạo ra khổ đau. Bất cứ nơi nào khổ đau phát sinh, hãy quán sát nó. Đừng nhìn quá xa, hãy nhìn ngay vào khoảnh khắc hiện tại. Hãy nhìn vào tâm trí và thân thể của chính mình. Khi khổ đau phát sinh... "Tại sao lại có khổ đau?" Hãy nhìn ngay bây giờ. Khi hạnh phúc phát sinh, nguyên nhân của hạnh phúc đó là gì? Hãy nhìn ngay tại đó. Bất cứ nơi nào những điều này phát sinh, hãy nhận biết. Cả hạnh phúc và khổ đau đều phát sinh từ sự tham chấp. |
|
The cultivators of old saw their minds in this way. There is only arising and ceasing. There is no abiding entity. They contemplated from all angles and saw that there was nothing much to this mind, nothing is stable. There is only arising and ceasing, ceasing and arising, nothing is of any lasting substance. While walking or sitting they saw things in this way. Wherever they looked there was only suffering, that's all. It's just like a big iron ball which has just been blasted in a furnace. It's hot all over. If you touch the top it's hot, touch the sides and they're hot — it's hot all over. There isn't any place on it which is cool. |
Thời xưa các bậc hành giả tu tập đã quán chiếu tâm của mình theo cách này. Chỉ có sự sinh và diệt. Không có thực thể nào tồn tại vĩnh cửu. Họ quán chiếu từ mọi góc độ và nhận thấy rằng tâm này không có gì đáng kể, không có gì ổn định. Chỉ có sự sinh và diệt, diệt rồi lại sinh, không có gì có bản chất lâu dài. Khi đi hành thiền hay tọa thiền, họ đều nhìn nhận mọi thứ theo cách sinh và diệt trong từng sát na này. Bất cứ nơi nào họ nhìn đến, chỉ toàn là khổ đau, chỉ có vậy thôi. Giống như một quả cầu sắt lớn vừa được nung chảy trong lò. Nó nóng khắp mọi nơi. Nếu chạm vào đỉnh thì nóng, chạm vào hai bên cũng nóng – nó nóng khắp mọi nơi. Không có chỗ nào trên đó mát mẻ. |
|
Now if we don't consider these things we know nothing about them. We must see clearly. Don't get "born" into things, don't fall into birth. Know the workings of birth. Such thoughts as, "Oh, I can't stand that person, he does everything wrongly," will no longer arise. Or, "I really like so and so...", these things don't arise. There remain merely the conventional worldly standards of like and dislike, but one's speech is one way, one's mind another. They are separate things. We must use the conventions of the world to communicate with each other, but inwardly we must be empty. The mind is above those things. We must bring the mind to transcendence like this. This is the abiding of the Noble Ones. We must all aim for this and practice accordingly. Don't get caught up in doubts. |
Nếu chúng ta không quán chiếu những điều này, chúng ta sẽ không biết gì về chúng. Chúng ta phải nhìn nhận mọi việc một cách rõ ràng. Đừng để bị "sinh ra" trong những điều đó, đừng rơi vào vòng luân hồi sinh tử. Hãy hiểu rõ cơ chế của sự sinh ra. Những suy nghĩ như "Ôi, tôi không thể chịu nổi người đó, anh ta làm mọi việc sai hết" sẽ không còn xuất hiện nữa. Hoặc "Tôi thực sự thích người này...", những suy nghĩ đó cũng không còn nữa. Chỉ còn lại những tiêu chuẩn thông thường của thế gian về thích và không thích, nhưng lời nói của chúng ta là một chuyện, tâm lại là chuyện khác. Chúng là hai thứ riêng biệt. Chúng ta phải sử dụng những quy ước của thế giới để giao tiếp với nhau, nhưng bên trong tâm chúng ta phải trống rỗng. Tâm phải vượt lên trên những điều đó. Chúng ta phải đưa tâm đến trạng thái siêu việt như vậy. Đây là trạng thái an trú của các bậc Thánh. Tất cả chúng ta phải hướng đến điều này và thực hành theo đó. Đừng để bị mắc kẹt trong những hoài nghi. |
|
Before I started to practice, I thought to myself, "The Buddhist religion is here, available for all, and yet why do only some people practice while others don't? Or if they do practice, they do so only for a short while then give up. Or again those who don't give it up still don't knuckle down and do the practice? Why is this?" So I resolved to myself, "Okay... I'll give up this body and mind for this lifetime and try to follow the teaching of the Buddha down to the last detail. I'll reach understanding in this very lifetime... because if I don't I'll still be sunk in suffering. I'll let go of everything else and make a determined effort, no matter how much difficulty or suffering I have to endure, I'll persevere. If I don't do it I'll just keep on doubting." |
Trước khi bắt đầu tu tập, tôi tự hỏi: "Phật giáo hiện hữu ở đây, dành cho tất cả mọi người, nhưng tại sao chỉ có một số người tu tập trong khi những người khác thì không? Hoặc nếu họ có tu tập, họ chỉ làm trong một thời gian ngắn rồi bỏ cuộc. Hoặc những người không bỏ cuộc thì vẫn không thực sự chuyên tâm tu tập? Tại sao lại như vậy?" Vì vậy, tôi tự nhủ: "Được rồi... Tôi sẽ dâng hiến thân và tâm này cho kiếp sống này và cố gắng làm theo lời dạy của Đức Phật đến từng chi tiết nhỏ nhất. Tôi sẽ đạt được sự giác ngộ ngay trong kiếp sống này... bởi vì nếu không, tôi vẫn sẽ chìm đắm trong khổ đau. Tôi sẽ buông bỏ mọi thứ khác và nỗ lực hết mình, bất kể khó khăn hay khổ đau đến đâu, tôi cũng sẽ kiên trì. Nếu tôi không làm vậy, tôi sẽ chỉ mãi hoài nghi." |
|
Thinking like this I got down to practice. No matter how much happiness, suffering or difficulty I had to endure I would do it. I looked on my whole life as if it was only one day and a night. I gave it up. "I'll follow the teaching of the Buddha, I'll follow the Dhamma to understanding — Why is this world of delusion so wretched?" I wanted to know, I wanted to master the Teaching, so I turned to the practice of Dhamma. |
Với suy nghĩ như vậy, tôi bắt đầu tu tập. Cho dù phải trải qua bao nhiêu hạnh phúc, khổ đau hay khó khăn, tôi cũng sẽ chịu đựng. Tôi coi cuộc sống của mình như chỉ là một ngày và một đêm. Tôi đã từ bỏ tất cả. "Tôi sẽ noi theo lời dạy của Đức Phật, tôi sẽ noi theo Pháp để hiểu rõ – Tại sao thế giới ảo tưởng này lại khốn khổ đến vậy?" Tôi muốn biết, tôi muốn thấu hiểu giáo lý, vì vậy tôi đã hướng đến việc thực hành Pháp. |
|
How much of the worldly life do we monastics renounce? If we have gone forth for good then it means we renounce it all, there's nothing we don't renounce. All the things of the world that people enjoy are cast off: sights, sounds, smells, tastes and feelings... we throw them all away. And yet we experience them. So Dhamma practitioners must be content with little and remain detached. Whether in regard to speech, in eating or whatever, we must be easily satisfied: eat simply, sleep simply, live simply. Just like they say, "an ordinary person," one who lives simply. The more you practice the more you will be able to take satisfaction in your practice. You will see into your own heart. |
Chúng ta, những người xuất gia, đã từ bỏ bao nhiêu lạc thú của thế tục? Nếu chúng ta đã xuất gia trọn đời thì điều đó có nghĩa là chúng ta từ bỏ tất cả, không có gì chúng ta không từ bỏ. Tất cả những thứ trên thế gian mà con người tận hưởng đều bị loại bỏ: sắc, thinh, vị xúc... chúng ta đều diệt trừ tất cả. Tuy nhiên, chúng ta vẫn trải nghiệm chúng. Vì vậy, những người tu tập Phật pháp phải biết thu thúc và bằng lòng với những điều nhỏ nhặt và giữ thái độ không chấp trước. Cho dù trong lời nói, trong ăn uống hay bất cứ điều gì, chúng ta phải dễ dàng thỏa mãn: ăn uống đơn giản, ngủ nghỉ đơn giản, sống đơn giản. Giống như người ta nói, "một người bình thường", một người sống giản dị. Càng tu tập nhiều, bạn càng có thể tìm thấy sự thỏa mãn trong việc thực hành của mình. Bạn sẽ nhìn thấu vào chính nội tâm mình. |
|
The Dhamma is paccattam, you must know it for yourself. To know for yourself means to practice for yourself. You can depend on a teacher only fifty percent of the way. Even the teaching I have given you today is completely useless in itself, even if it is worth hearing. But if you were to believe it all just because I said so you wouldn't be using the teaching properly. |
Pháp là paccattam nghĩa là hiểu rõ và nhận thức về bản chất của sự hiện hữu và các quy tắc trong Phật giáo, tự mình phải trải nghiệm, hành giả phải tự mình hiểu lấy. Hiểu lấy cho chính mình có nghĩa là tự mình thực hành. Bạn chỉ có thể dựa vào người thầy khoảng năm mươi phần trăm mà thôi. Ngay cả những lời dạy mà tôi đã truyền đạt cho các bạn hôm nay cũng hoàn toàn vô ích nếu chỉ nghe mà không thực hành, mặc dù chúng rất đáng nghe. Nhưng nếu bạn tin tất cả chỉ vì tôi nói vậy thì bạn sẽ không sử dụng lời dạy một cách đúng đắn. |
|
If you believed me completely then you'd be foolish. To hear the teaching, see its benefit, put it into practice for yourself, see it within yourself, do it yourself... this is much more useful. You will then know the taste of Dhamma for yourself. |
Nếu bạn tin tưởng tôi hoàn toàn thì bạn sẽ thật ngốc nghếch. Lắng nghe lời dạy, thấy được lợi ích của nó, thực hành nó cho chính mình, cảm nhận nó trong chính bản thân mình, tự mình thực hiện... điều đó hữu ích hơn nhiều. Khi đó, bạn sẽ tự mình nếm trải hương vị của Chánh pháp. |
|
This is why the Buddha didn't talk about the fruits of the practice in much detail, because it's something one can't convey in words. It would be like trying to describe different colors to a person blind from birth, "Oh, it's so white," or "it's bright yellow," for instance. You couldn't convey those colors to them. You could try but it wouldn't serve much purpose. |
Đây là lý do tại sao Đức Phật không nói chi tiết nhiều về thành quả của việc tu tập, bởi vì đó là điều không thể diễn tả bằng lời. Điều đó giống như việc cố gắng mô tả các màu sắc khác nhau cho một người mù bẩm sinh, chẳng hạn như "Ôi, nó trắng lắm," hoặc "nó màu vàng tươi." Bạn không thể truyền đạt những màu sắc đó cho họ. Bạn có thể thử nhưng sẽ không có ích gì nhiều. |
|
The Buddha brings it back down to the individual — see clearly for yourself. If you see clearly for yourself you will have clear proof within yourself. Whether standing, walking, sitting or reclining you will be free of doubt. Even if someone were to say, "Your practice isn't right, it's all wrong," still you would be unmoved, because you have your own proof. |
Đức Phật đưa vấn đề tu tập của mỗi cá nhân – hãy tự mình nhìn nhận rõ ràng. Nếu bạn tự mình nhìn nhận rõ ràng, bạn sẽ có bằng chứng rõ ràng trong chính bản thân mình. Dù đứng, đi, ngồi hay nằm, bạn sẽ không còn nghi ngờ. Ngay cả khi ai đó nói, "Cách thực hành của bạn không đúng, tất cả đều sai," bạn vẫn sẽ không nao núng, bởi vì bạn đã có bằng chứng của riêng mình. |
|
A practitioner of the Dhamma must be like this wherever he goes. Others can't tell you, you must know for yourself. Sammaditthi, Right View, must be there. The practice must be like this for every one of us. To do the real practice like this for even one month out of five or ten rains retreats would be rare. |
Một người thực hành Pháp phải luôn giữ thái độ như vậy dù ở bất cứ đâu. Người khác không thể nói cho bạn biết, bạn phải tự mình thử nghiệm. Sammaditthi, là Chánh kiến phải luôn hiện hữu. Việc thực hành phải luôn như vậy đối với mỗi người chúng ta. Việc thực hành đúng đắn như vậy, dù chỉ trong một tháng trong số năm hoặc mười mùa an cư kiết hạ, cũng là điều đáng quí. |
|
Our sense organs must be constantly working. Know content and discontent, be aware of like and dislike. Know appearance and know transcendence. The Apparent and the Transcendent must be realized simultaneously. Good and evil must be seen as co-existent, arising together. This is the fruit of the Dhamma practice. |
Các giác quan của chúng ta phải luôn hoạt động. Hãy nhận biết sự hài lòng và không hài lòng, nhận thức được sự thích và không thích. Hãy nhận biết hiện tượng và nhận biết tính chất siêu việt của chúng. Cái hiện hữu và cái siêu việt phải được nhận thức đồng thời. Thiện và ác phải được nhìn nhận là cùng tồn tại, cùng phát sinh. Đây là thành quả của việc thực hành pháp. |
|
So whatever is useful to yourself and to others, whatever practice benefits both yourself and others, is called "following the Buddha." I've talked about this often. The things which should be done, people seem to neglect. For example, the work in the monastery, the standards of practice and so on. I've talked about them often and yet people don't seem to put their hearts into it. Some don't know, some are lazy and can't be bothered, some are simply scattered and confused. |
Vì vậy, bất cứ điều gì hữu ích cho bản thân và cho người khác, bất cứ việc làm nào mang lại lợi ích cho cả bản thân và người khác, đều được gọi là "hành theo giáo pháp của Đức Phật". Tôi đã nói về điều này nhiều lần rồi. Những việc cần làm thì mọi người lại thường bỏ bê. Ví dụ, công việc trong tu viện, các quy tắc thực hành, v.v. Tôi đã nói về chúng nhiều lần rồi nhưng dường như mọi người không thực sự chú tâm vào đó. Một số người không biết, một số người lười biếng và không muốn làm, một số người thì đơn giản là thiếu tập trung và xao lãng. |
|
But that's a cause for wisdom to arise. If we go to places where none of these things arise, what would we see? Take food, for instance. If food doesn't have any taste is it delicious? If a person is deaf will he hear anything? If you don't perceive anything will you have anything to contemplate? If there are no problems will there be anything to solve? Think of the practice in this way. |
Nhưng đó lại là cội nguồn để trí tuệ phát sinh. Nếu chúng ta đến những nơi mà không có bất kỳ điều gì trong số này xảy ra, chúng ta sẽ thấy gì? Lấy thức ăn làm ví dụ. Nếu thức ăn không có vị, liệu nó có ngon không? Nếu một người bị điếc, liệu anh ta có nghe được gì không? Nếu bạn không cảm nhận được điều gì, liệu bạn có điều gì để suy ngẫm không? Nếu không có khó khăn, liệu có điều gì cần giải quyết không? Hãy suy nghĩ về việc thực hành theo cách này. |
|
Once I went to live up north. At that time I was living with many monks, all of them elderly but newly ordained, with only two or three rains retreat. At the time I had ten rains. Living with those old monks I decided to perform the various duties — receiving their bowls, washing their robes, emptying their spittoons and so on. I didn't think in terms of doing it for any particular individual, I simply maintained my practice. If others didn't do the duties I'd do them myself. I saw it as a good opportunity for me to gain merit. It made me feel good and gave me a sense of satisfaction. |
Có lần tôi đến sống ở miền Bắc. Lúc đó tôi sống cùng nhiều vị sư, tất cả đều lớn tuổi nhưng mới xuất gia, chỉ mới trải qua hai hoặc ba mùa an cư kiết hạ. Lúc đó tôi đã trải qua mười mùa an cư. Sống cùng những vị sư già đó, tôi quyết định thực hiện các công việc phục vụ – nhận bát cúng dường, giặt y cà sa, đổ bô và những việc tương tự. Tôi không nghĩ đến việc làm những việc đó cho bất kỳ cá nhân cụ thể nào, tôi chỉ đơn giản là duy trì việc thực hành của mình. Nếu người khác không làm những việc đó, tôi sẽ tự mình làm. Tôi coi đó là một cơ hội tốt để tích lũy công đức. Điều đó khiến tôi cảm thấy tốt và mang lại cho tôi cảm giác mãn nguyện. |
|
On the uposatha [52] days I knew the required duties. I'd go and clean out the uposatha hall and set out water for washing and drinking. The others didn't know anything about the duties, they just watched. I didn't criticize them, because they didn't know. I did the duties myself, and having done them I felt pleased with myself, I had inspiration and a lot of energy in my practice. |
Vào những ngày Lễ Bố Tát hay Trai Giới Uposatha [52], tôi biết những nhiệm vụ cần thiết. Tôi đi dọn dẹp hội trường cho buổi lễ Uposatha và chuẩn bị nước để rửa và uống. Những người khác không biết gì về những nhiệm vụ đó, họ chỉ đứng nhìn. Tôi không chỉ trích họ, vì họ không biết. Tôi tự mình làm những nhiệm vụ đó, và sau khi hoàn thành, tôi cảm thấy hài lòng với bản thân, tôi có được nguồn cảm hứng và rất nhiều năng lượng trong việc tu tập. |
|
Whenever I could do something in the monastery, whether in my own kuti or others, if it was dirty, I'd clean up. I didn't do it for anyone in particular, I didn't do it to impress anyone, I simply did it to maintain a good practice. Cleaning a kuti or dwelling place is just like cleaning rubbish out of your own mind. |
Bất cứ khi nào tôi cũng có thể làm gì đó trong tu viện, dù là trong tịnh thất của mình hay của người khác, nếu thấy bẩn, tôi đều dọn dẹp. Tôi không làm điều đó vì bất kỳ ai, tôi không làm để gây ấn tượng với ai, tôi chỉ đơn giản là làm để duy trì một thói quen tốt. Việc dọn dẹp tịnh thất hay nơi ở cũng giống như việc dọn dẹp những rác rưởi trong tâm mình. |
|
Now this is something all of you should bear in mind. You don't have to worry about harmony, it will automatically be there. Live together with Dhamma, with peace and restraint, train your mind to be like this and no problems will arise. If there is heavy work to be done everybody helps out and in no long time the work is done, it gets taken care of quite easily. That's the best way. |
Đây là điều mà tất cả các bạn nên ghi nhớ. Các bạn không cần phải lo lắng về sự hòa thuận, nó sẽ tự nhiên xuất hiện. Hãy sống cùng với Chánh pháp, với sự bình an và tự chủ, rèn luyện tâm trí mình theo cách đó và sẽ không có vấn đề nào phát sinh. Nếu có công việc nặng nhọc cần làm, mọi người cùng nhau giúp đỡ và chẳng bao lâu công việc sẽ hoàn thành, mọi việc sẽ được giải quyết một cách dễ dàng. Đó là cách tốt nhất. |
|
I have come across some other types, though... although I used it as an opportunity to grow. For instance, living in a big monastery, the monks and novices may agree among themselves to wash robes on a certain day. I'd go and boil up the jackfruit wood. [53] Now there'd be some monks who'd wait for someone else to boil up the jackfruit wood and then come along and wash their robes, take them back to their kutis, hang them out and then take a nap. They didn't have to set up the fire, didn't have to clean up afterwards... they thought they were on a good thing, that they were being clever. This is the height of stupidity. These people are just increasing their own stupidity because they don't do anything, they leave all the work up to others. They wait till everything is ready then come along and make use of it, it's easy for them. This is just adding to one's foolishness. Those actions serve no useful purpose whatsoever to them. |
Tôi cũng đã gặp một số kiểu người khác nữa... và tôi đã tận dụng cơ hội đó để tu tập. Ví dụ, khi sống trong một tu viện lớn, các nhà sư và các sadi có sự có thể thỏa thuận với nhau để giặt y cà sa vào một ngày nhất định. Tôi sẽ đi đun sôi nước bằng củi cây mít. [53] Lúc đó, sẽ có một số nhà sư chờ người khác đun sôi nước bằng củi cây mít rồi mới đến giặt y cà sa của mình, mang về phòng, phơi khô rồi đi ngủ trưa. Họ không cần phải nhóm lửa, sau đó họ không dọn dẹp... họ nghĩ rằng mình đang được lợi, rằng mình thông minh. Đây là đỉnh cao của sự vô minh. Những người này chỉ đang làm tăng thêm sự ngu ngốc của chính mình vì họ không làm gì cả, họ để tất cả công việc cho người khác. Họ chờ đến khi mọi thứ đã sẵn sàng rồi mới đến sử dụng, thật dễ dàng đối với họ. Điều này chỉ làm tăng thêm sự vô minh của bản thân. Những hành động đó không mang lại bất kỳ lợi ích nào cho họ. |
|
Some people think foolishly like this. They shirk the required duties and think that this is being clever, but it is actually very foolish. If we have that sort of attitude we won't last. |
Một số người suy nghĩ một cách ngu ngốc như vậy. Họ trốn tránh những nghĩa vụ cần thiết và nghĩ rằng đó là sự khôn ngoan, nhưng thực ra đó lại là sự vô minh. Nếu chúng ta có thái độ như vậy, chúng ta sẽ không thể tồn tại lâu dài. |
|
Therefore, whether speaking, eating or doing anything whatsoever, reflect on yourself. You may want to live comfortably, eat comfortably, sleep comfortably and so on, but you can't. What have we come here for? If we regularly reflect on this we will be heedful, we won't forget, we will be constantly alert. Being alert like this you will put forth effort in all postures. If you don't put forth effort things go quite differently... Sitting, you sit like you're in the town, walking, you walk like you're in the town... you just want to go and play around in the town with the laypeople. |
Vì vậy, dù nói chuyện, ăn uống hay làm bất cứ điều gì, hãy tự suy ngẫm về chính mình. Bạn có thể muốn sống thoải mái, ăn uống thoải mái, ngủ nghỉ thoải mái, v.v., nhưng bạn không thể. Chúng ta đến đây để làm gì? Nếu chúng ta thường xuyên suy ngẫm về điều này, chúng ta sẽ luôn chánh niệm, không quên lãng, luôn tỉnh giác. Khi luôn tỉnh giác như vậy, bạn sẽ nỗ lực trong mọi tư thế. Nếu bạn không nỗ lực, mọi việc sẽ diễn ra hoàn toàn khác... Khi ngồi, bạn ngồi như đang ở trong thành phố, khi đi bộ, bạn đi bộ như đang ở trong thành phố... bạn chỉ muốn đi chơi loanh quanh trong thành phố với những người thế tục. |
|
If there is no effort in the practice the mind will tend in that direction. You don't oppose and resist your mind, you just allow it to waft along the wind of your moods. This is called following one's moods. Like a child, if we indulge all its wants will it be a good child? If the parents indulge all their child's wishes is that good? Even if they do indulge it somewhat at first, by the time it can speak they may start to occasionally spank it because they're afraid it'll end up stupid. The training of our mind must be like this. You have to know yourself and how to train yourself. If you don't know how to train your own mind, waiting around expecting someone else to train it for you, you'll end up in trouble. |
Nếu không có sự nỗ lực trong việc tu tập, tâm sẽ có xu hướng đi theo hướng đó. Bạn không nên chống đối hay kháng cự lại tâm của mình, mà chỉ cần để nó trôi theo dòng cảm xúc. Điều này được gọi là chiều theo cảm xúc của bản thân. Giống như một đứa trẻ, nếu chúng ta chiều chuộng mọi mong muốn của nó, liệu nó có trở thành một đứa trẻ ngoan không? Nếu cha mẹ chiều chuộng mọi mong muốn của con cái, liệu điều đó có tốt không? Ngay cả khi ban đầu họ có chiều chuộng một chút, đến khi đứa trẻ biết nói, họ có thể bắt đầu thỉnh thoảng đánh mắng nó vì sợ nó sẽ trở nên hư hỏng. Việc rèn luyện tâm của chúng ta cũng phải như vậy. Bạn phải hiểu bản thân mình và biết cách rèn luyện bản thân. Nếu bạn không biết cách rèn luyện tâm của mình, chỉ chờ đợi người khác rèn luyện giúp, bạn sẽ gặp rắc rối. |
|
So don't think that you can't practice in this place. Practice has no limits. Whether standing, walking, sitting or lying down, you can always practice. Even while sweeping the monastery grounds or seeing a beam of sunlight, you can realize the Dhamma. But you must have sati at hand. Why so? Because you can realize the Dhamma at any time at all, in any place, if you ardently meditate. |
Vì vậy, đừng nghĩ rằng bạn không thể tu tập ở đây. Việc tu tập không có giới hạn. Cho dù đứng, đi, ngồi hay nằm, bạn luôn có thể tu tập. Ngay cả khi quét dọn sân chùa hay nhìn thấy một tia nắng, bạn cũng có thể giác ngộ Chánh pháp. Nhưng bạn phải luôn giữ chánh niệm tỉnh giác. Tại sao lại như vậy? Bởi vì bạn có thể giác ngộ Chánh pháp bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi nào, nếu bạn tinh tấn hành thiền. |
|
Don't be heedless. Be watchful, be alert. While walking on almsround there are all sorts of feelings arising, and it's all good Dhamma. When you get back to the monastery and are eating your food there's plenty of good Dhamma for you to look into. If you have constant effort all these things will be objects for contemplation, there will be wisdom, you will see the dhamma. This is called dhamma-vicaya, reflecting on Dhamma. It's one of the enlightenment factors. [54] If there is sati, recollection, there will be dhamma-vicaya as a result. These are factors of enlightenment. If we have recollection then we won't simply take it easy, there will also be inquiry into Dhamma. These things become factors for realizing the Dhamma. |
Đừng lơ là. Hãy cảnh giác, hãy tỉnh táo. Khi đi khất thực, có đủ loại cảm xúc nảy sinh, và tất cả đều là Pháp tốt. Khi trở về tu viện và ăn cơm, có rất nhiều Pháp tốt để bạn suy ngẫm. Nếu bạn luôn nỗ lực, tất cả những điều này sẽ trở thành đối tượng để quán chiếu, sẽ có trí tuệ, bạn sẽ thấy Pháp. Điều này được gọi là dhamma-vicaya, là Trạch Pháp. Đó là một trong những yếu tố giác ngộ. [54] Nếu có chánh niệm, thì sẽ có dhamma-vicaya, nó xuất hiện như một kết quả tất nhiên. Đây là những yếu tố của sự giác ngộ. Nếu chúng ta có chánh niệm, chúng ta sẽ không quán sát các pháp một cách qua loa, mà còn sẽ tìm hiểu về Pháp. Những điều này trở thành yếu tố để chứng ngộ Pháp. |
|
If we have reached this stage then our practice will know neither day or night, it will continue on regardless of the time of day. There will be nothing to taint the practice, or if there is we will immediately know it. Let there be dhamma-vicaya within our minds constantly, looking into Dhamma. If our practice has entered the flow the mind will tend to be like this. It won't go off after other things..."I think I'll go for a trip over there, or perhaps this other place... over in that province should be interesting..." That's the way of the world. Not long and the practice will die. |
Nếu chúng ta đã đạt đến giai đoạn này, thì việc tu tập của chúng ta sẽ không còn phân biệt ngày hay đêm, nó sẽ tiếp tục bất kể thời gian nào trong ngày. Sẽ không có gì làm ô nhiễm việc tu tập, hoặc nếu có, chúng ta sẽ ngay lập tức nhận ra điều đó. Hãy để sự quán sát Pháp - Trạch Pháp (dhamma-vicaya ) luôn hiện hữu trong tâm trí chúng ta, luôn tìm hiểu về Pháp. Nếu việc thực hành của chúng ta đã đi vào đúng quỹ đạo, tâm sẽ có xu hướng như vậy. Nó sẽ không bị phân tâm bởi những thứ khác... "Tôi nghĩ mình sẽ đi du lịch đến đó, hoặc có lẽ đến nơi khác... tỉnh kia chắc sẽ thú vị..." Đó là cách nghĩ của thế gian. Chẳng bao lâu sau, việc thực hành sẽ lụi tàn. |
|
So resolve yourselves. It's not just by sitting with your eyes closed that you develop wisdom. Eyes, ears, nose, tongue, body and mind are constantly with us, so be constantly alert. Study constantly. Seeing trees or animals can all be occasions for study. Bring it all inwards. See clearly within your own heart. If some sensation makes impact on the heart, witness it clearly for yourself, don't simply disregard it. |
Vì vậy, hãy tự mình quyết tâm tu tập. Không phải chỉ bằng cách ngồi nhắm mắt mà bạn có thể phát triển trí tuệ. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và tâm trí luôn luôn ở bên chúng ta, vì vậy hãy luôn luôn tỉnh giác. Hãy học hỏi không ngừng. Việc nhìn thấy cây cối hay động vật đều có thể là những cơ hội để học hỏi. Hãy hướng tất cả vào bên trong. Hãy nhìn rõ ràng bên trong nội tim mình. Nếu có cảm giác nào tác động đến tâm, hãy quán chiếu nó một cách rõ ràng, đừng chỉ đơn giản là bỏ qua nó. |
|
Take a simple comparison: baking bricks. Have you ever seen a brick-baking oven? They build the fire up about two or three feet in front of the oven, then the smoke all gets drawn into it. Looking at this illustration you can more clearly understand the practice. Making a brick kiln in the right way you have to make the fire so that all the smoke gets drawn inside, none is left over. All the heat goes into the oven, and the job gets done quickly. |
Hãy lấy một ví dụ đơn giản: nung gạch. Bạn đã bao giờ nhìn thấy lò nung gạch chưa? Họ nhóm lửa cách lò khoảng hai hoặc ba feet (khoảng 6 - 7 tấc) trước cái lò, rồi tất cả khói đều được hút vào bên trong. Nhìn vào hình minh họa này, bạn có thể hiểu rõ hơn về quy trình này. Để xây dựng lò nung gạch đúng cách, bạn phải nhóm lửa sao cho tất cả khói đều được hút vào bên trong, không còn khói nào thoát ra ngoài. Toàn bộ nhiệt lượng được truyền vào lò, và công việc sẽ được hoàn thành nhanh chóng. |
|
We Dhamma practitioners should experience things in this way. All our feelings will be drawn inwards to be turned into Right View. Seeing sights, hearing sounds, smelling odors, tasting flavors and so on, the mind draws them all inward to be converted into Right View. Those feelings thus become experiences which give rise to wisdom. |
Những người hành giả tu tập Phật pháp chúng ta nên trải nghiệm mọi thứ theo cách này. Tất cả cảm thọ của chúng ta sinh khởi trong tâm sẽ được Chánh Kiến quán chiếu. Khi nhìn thấy cảnh vật, nghe thấy âm thanh, ngửi thấy mùi hương, nếm được vị giác, v.v., tâm sẽ hướng tất cả những cảm thọ đó vào bên trong để Chánh Kiến quán chiếu. Những cảm giác đó từ đó trở thành những trải nghiệm sinh ra trí tuệ. . |
|
|
|
|
There was once a western monk, a student of mine. Whenever he saw Thai monks and novices disrobing he would say, "Oh, what a shame! Why do they do that? Why do so many of the Thai monks and novices disrobe?" He was shocked. He would get saddened at the disrobing of the Thai monks and novices, because he had only just come into contact with Buddhism. He was inspired, he was resolute. Going forth as a monk was the only thing to do, he thought he'd never disrobe. Whoever disrobed was a fool. He'd see the Thais taking on the robes at the beginning of the Rains Retreat as monks and novices and then disrobing at the end of it..."Oh, how sad! I feel so sorry for those Thai monks and novices. How could they do such a thing?" |
Có một lần, có một vị sư phương Tây là học trò của tôi. Mỗi khi thấy các vị sư hay sadi người Thái Lan hoàn tục, ông ấy lại nói: "Ôi, thật đáng tiếc! Tại sao họ lại làm vậy? Tại sao lại có nhiều sư và sadi người Thái Lan hoàn tục đến thế?" Ông ấy rất sốc. Ông ấy cảm thấy buồn khi thấy các vị sư và sadi người Thái Lan hoàn tục, bởi vì ông ấy mới chỉ tiếp xúc với Phật giáo. Ông ấy được truyền cảm hứng, ông ấy rất kiên định. Ông ấy nghĩ rằng xuất gia làm sư là điều duy nhất nên làm, và ông ấy nghĩ mình sẽ không bao giờ hoàn tục. Ai hoàn tục đều là kẻ ngốc. Ông ấy thấy người Thái Lan khoác áo cà sa vào đầu mùa an cư kiết hạ rồi lại hoàn tục vào cuối mùa... "Ôi, thật đáng buồn! Tôi cảm thấy rất tiếc cho những vị sư và sadi người Thái Lan đó. Sao họ lại có thể làm như vậy?" |
|
Well, as time went by some of the western monks began to disrobe, so he came to see it as something not so important after all. At first, when he had just begun to practice, he was excited about it. He thought that it was really important thing, to become a monk. He thought it would be easy. |
Thế nhưng, một thời gian sau, một số nhà sư phương Tây bắt đầu hoàn tục, vì vậy ông nhận ra rằng việc trở thành nhà sư không quan trọng đến vậy. Ban đầu, khi mới bắt đầu tu tập, ông rất hào hứng với điều đó. Ông nghĩ rằng đó là một việc thực sự quan trọng, việc trở thành một nhà sư. Ông nghĩ rằng điều đó sẽ dễ dàng. |
|
When people are inspired it all seems to be so right and good. There's nothing there to gauge their feelings by, so they go ahead and decide for themselves. But they don't really know what practice is. Those who do know will have a thoroughly firm foundation within their hearts — but even so they don't need to advertise it. |
Khi con người có cảm hứng họ thấy mọi thứ dường như đều đúng đắn và tốt đẹp. Không có gì để đo lường cảm xúc của họ, vì vậy họ tự mình đưa ra quyết định. Nhưng họ thực sự không hiểu thế nào là thực hành. Những người hiểu rõ điều đó sẽ có một nền tảng vững chắc trong tâm mình – nhưng ngay cả như vậy, họ cũng không cần phải tự hào về điều đó. |
|
As for myself, when I was first ordained I didn't actually do much practice, but I had a lot of faith. I don't know why, maybe it was there from birth. The monks and novices who went forth together with me, come the end of the Rains, all disrobed. I thought to myself, "Eh? What is it with these people?" However, I didn't dare say anything to them because I wasn't yet sure of my own feelings, I was too stirred up. But within me I felt that they were all foolish. "It's difficult to go forth, easy to disrobe. These guys don't have much merit, they think that the way of the world is more useful than the way of Dhamma." I thought like this but I didn't say anything, I just watched my own mind. |
Còn về phần tôi, khi mới xuất gia, tôi thực sự không thực hành nhiều, nhưng tôi lại có rất nhiều niềm tin. Tôi không biết tại sao, có lẽ niềm tin đó đã có sẵn từ khi sinh ra. Các vị sư và sa di xuất gia cùng với tôi, đến cuối mùa an cư kiết hạ, tất cả đều hoàn tục. Tôi tự nghĩ: "Sao vậy? Chuyện gì xảy ra với những người này vậy?" Tuy nhiên, tôi không dám nói gì với họ vì tôi chưa chắc chắn về cảm xúc của chính mình, tôi quá bối rối. Nhưng trong lòng tôi cảm thấy rằng tất cả họ đều thật ngốc nghếch. "Xuất gia thì khó, hoàn tục thì dễ. Những người này không có nhiều công đức, họ nghĩ rằng con đường thế tục hữu ích hơn con đường Phật pháp." Tôi nghĩ như vậy nhưng không nói gì, chỉ quan sát nội tâm của chính mình. |
|
I'd see the monks who'd gone forth with me disrobing one after the other. Sometimes they'd dress up and come back to the monastery to show off. I'd see them and think they were crazy, but they thought they looked snappy. When you disrobe you have to do this and that... I'd think to myself that that way of thinking was wrong. I wouldn't say it, though, because I myself was still an uncertain quantity. I still wasn't sure how long my faith would last. |
Tôi thấy những vị sư cùng xuất gia với mình lần lượt hoàn tục. Thỉnh thoảng họ mặc quần áo thường dân và quay lại tu viện để khoe khoang. Tôi nhìn họ và nghĩ họ thật điên rồ, nhưng họ lại nghĩ mình trông rất bảnh bao. Khi hoàn tục, người ta phải làm thế này thế kia... Tôi tự nghĩ rằng cách suy nghĩ đó là sai lầm. Tuy nhiên, tôi không nói ra điều đó, bởi vì bản thân tôi vẫn còn là một người chưa chắc chắn. Tôi vẫn chưa chắc chắn đức tin của mình sẽ kéo dài được bao lâu. |
|
When my friends had all disrobed I dropped all concern, there was nobody left to concern myself with. I picked up the Patimokkha [55] and got stuck into learning that. There was nobody left to distract me and waste my time, so I put my heart into the practice. Still I didn't say anything because I felt that to practice all one's life, maybe seventy, eighty or even ninety years, and to keep up a persistent effort, without slackening up or losing one's resolve, seemed like an extremely difficult thing to do. |
Khi tất cả bạn bè của tôi đã cởi bỏ y phục, tôi không còn lo lắng gì nữa, không còn ai để tôi phải bận tâm. Tôi cầm cuốn Giới Luật Patimokkha [55] lên và bắt đầu học thuộc lòng. Không còn ai làm tôi phân tâm và lãng phí thời gian, vì vậy tôi dồn hết tâm trí vào việc tu tập. Tuy nhiên, tôi vẫn không nói gì vì tôi cảm thấy rằng việc tu tập suốt đời, có thể là bảy mươi, tám mươi hoặc thậm chí chín mươi năm, và duy trì sự nỗ lực kiên trì, không lơ là hay mất đi quyết tâm, dường như là một điều vô cùng khó khăn. |
|
Those who went forth would go forth, those who disrobed would disrobe. I'd just watch it all. I didn't concern myself whether they stayed or went. I'd watch my friends leave, but the feeling I had within me was that these people didn't see clearly. That western monk probably thought like that. he'd see people become monks for only one Rains Retreat, and get upset. |
Những người muốn ra đi thì cứ ra đi, những người muốn cởi bỏ y cà sa thì cứ cởi bỏ. Tôi chỉ quan sát tất cả. Tôi không bận tâm việc họ ở lại hay ra đi. Tôi chứng kiến bạn bè mình rời đi, nhưng cảm giác trong lòng tôi là những người này không nhìn nhận mọi việc một cách rõ ràng. Có lẽ vị sư phương Tây kia cũng nghĩ như vậy. Ông ấy thấy người ta xuất gia chỉ trong một mùa an cư kiết hạ rồi lại hoàn tục, và ông ấy cảm thấy khó chịu. |
|
Later on he reached a stage we call... bored; bored with the Holy Life. He let go of the practice and eventually disrobed. |
Sau đó, ông ấy đạt đến một giai đoạn mà chúng ta gọi là... chán nản; chán nản với cuộc sống tu hành. Ông ấy từ bỏ việc tu tập và cuối cùng hoàn tục. |
|
"Why are you disrobing? Before, when you saw the Thai monks disrobing you'd say, 'Oh, what a shame! How sad, how pitiful.' Now, when you yourself want to disrobe, why don't you feel sorry now?" |
"Tại sao con lại cởi bỏ y cà sa biểu tượng của người tu sĩ? Trước đây, khi con thấy các nhà sư Thái Lan cởi bỏ y cà sa, con thường nói: 'Ôi, thật đáng tiếc! Thật buồn, thật đáng thương.' Vậy mà bây giờ, khi chính con muốn cởi bỏ y cà sa của vị tu sĩ, tại sao con lại không cảm thấy tiếc nuối?" |
|
He didn't answer. He just grinned sheepishly. |
Ông đã không trả lời, chỉ gượng cười. |
|
When it comes to the training of the mind it isn't easy to find a good standard if you haven't yet developed a "witness" within yourself. In most external matters we can rely on others for feedback, there are standards and precedents. But when it comes to using the Dhamma as a standard... do we have the Dhamma yet? Are we thinking rightly or not? And even if it's right, do we know how to let go of rightness or are we still clinging to it? |
Khi nói đến việc tu tập tâm mình, thật khó để tìm ra một phương pháp tốt nếu bạn chưa phát triển được cách quán chiếu nội tâm bên trong chính mình. Trong hầu hết các vấn đề nằm bên ngoài, chúng ta có thể dựa vào phản hồi từ người khác, có những tiêu chuẩn và tiền lệ. Nhưng khi nói đến việc sử dụng Pháp làm tiêu chuẩn... liệu chúng ta đã thực sự hiểu Pháp chưa? Chúng ta đang suy nghĩ đúng hay sai? Và ngay cả khi suy nghĩ đúng, liệu chúng ta có biết cách buông bỏ sự đúng đắn hay vẫn còn bám víu vào nó? |
|
You must contemplate until you reach the point where you let go, this is the important thing... until you reach the point where there isn't anything left, where there is neither good nor bad. You throw it off. This means you throw out everything. If it's all gone then there's no remainder; if there's some remainder then it's not all gone. |
Bạn phải suy ngẫm cho đến khi thấu đạt mục đích, đây là điều quan trọng... cho đến khi bạn đạt đến điểm mà không còn gì cả, không còn tốt hay xấu. Bạn buông bỏ tất cả. Điều này có nghĩa là bạn buông bỏ mọi thứ. Nếu tất cả đã biến mất thì không còn gì sót lại; nếu còn sót lại thứ gì đó thì có nghĩa là chưa hoàn toàn biến mất. |
|
So in regard to this training of the mind, sometimes we may say it's easy. it's easy to say, but it's hard to do, very hard. It's hard in that it doesn't conform to our desires. Sometimes it seems almost as if the angels [56] were helping us out. Everything goes right, whatever we think or say seems to be just right. Then we go and attach to that rightness and before long we go wrong and it all turns bad. This is where it's difficult. We don't have a standard to gauge things by. |
Vì vậy, về việc tu tập tâm trí, đôi khi chúng ta có thể nói rằng điều đó dễ dàng. Nói thì dễ, nhưng làm thì khó, rất khó. Khó ở chỗ nó không phù hợp với những ham muốn của chúng ta. Đôi khi dường như các Chư Thiên [56] đang giúp đỡ chúng ta. Mọi thứ đều suôn sẻ, bất cứ điều gì chúng ta nghĩ hoặc nói dường như đều đúng. Rồi chúng ta lại bám chấp vào sự đúng đắn đó và chẳng bao lâu sau chúng ta lại mắc sai lầm và mọi thứ trở nên tồi tệ. Đây chính là điểm khó khăn. Chúng ta không có một tiêu chuẩn nào để đánh giá mọi việc. |
|
People who have a lot of faith, who are endowed with confidence and belief but are lacking in wisdom, may be very good at samadhi but they may not have much insight. They see only one side of everything, and simply follow that. They don't reflect. This is blind faith. In Buddhism we call this Saddha adhimokkha, blind faith. They have faith all right but it's not born of wisdom. But they don't see this at the time, they believe they have wisdom, so they don't see where they are wrong. |
Những người có nhiều đức tin, tràn đầy sự tự tin và niềm tin nhưng lại thiếu trí tuệ, có thể rất giỏi trong thiền định nhưng lại không có nhiều sự thấu hiểu. Họ chỉ nhìn thấy một mặt của mọi vấn đề và chỉ đơn giản là làm theo điều đó. Họ không suy ngẫm. Đây là đức tin mù quáng. Trong Phật giáo, chúng ta gọi đây là niềm tin không dựa trên trí tuệ (Saddha adhimokkha) hay đức tin mù quáng. Họ có đức tin, nhưng đức tin đó không xuất phát từ trí tuệ. Nhưng vào thời điểm đó, họ không nhận ra điều này, họ tin rằng mình có trí tuệ, vì vậy họ không thấy được lỗi lầm của mình. |
|
Therefore they teach about the Five Powers (Bala): Saddha, viriya, sati, samadhi, pañña. Saddha is conviction; viriya is diligent effort; sati is recollection; samadhi is fixedness of mind; pañña is all-embracing knowledge. Don't say that pañña is simply knowledge — pañña is all-embracing, consummate knowledge. |
Do đó, Năm Lực (Bala) được liệt kê như sau: Tín (saddha), tấn (viriya), niệm (sati), định (samādhi), tuệ (paññā). Saddha là lòng tin, viriya là sự nỗ lực tinh tấn, sati là chánh niệm, samādhi là tâm bất động, paññā là sự hiểu biết toàn diện. Đừng nói rằng pañña chỉ đơn thuần là kiến thức – pañña là trí tuệ toàn diện, hoàn hảo. |
|
The wise have given these five steps to us so that we can link them, firstly as an object of study, then as a gauge to compare to the state of our practice as it is. For example, saddha, conviction. Do we have conviction, have we developed it yet? Viriya: do we have diligent effort or not? Is our effort right or is it wrong? We must consider this. Everybody has some sort of effort, but does our effort contain wisdom or not? |
Những bậc hiền triết đã truyền lại cho chúng ta năm bước này để chúng ta có thể liên kết chúng lại với nhau, trước hết là như một đối tượng để nghiên cứu, sau đó là như một thước đo để so sánh với trạng thái thực hành hiện tại của chúng ta. Ví dụ, saddha, niềm tin. Chúng ta có niềm tin không, chúng ta đã phát triển niềm tin đó chưa? Viriya: chúng ta có sự nỗ lực siêng năng hay không? Sự nỗ lực của chúng ta là đúng hay sai? Chúng ta phải xem xét điều này. Ai cũng có một loại nỗ lực nào đó, nhưng liệu sự nỗ lực của chúng ta có chứa đựng trí tuệ hay không? |
|
Sati is the same. Even a cat has sati. When it sees a mouse, sati is there. The cat's eyes stare fixedly at the mouse. This is the sati of a cat. Everybody has sati, animals have it, delinquents have it, sages have it. |
Sati, sự chú tâm cũng vậy. Ngay cả một con mèo cũng có sự chú tâm. Khi nó nhìn thấy một con chuột, sự chú tâm xuất hiện. Mắt con mèo nhìn chằm chằm vào con chuột. Đó là sự chú tâm của một con mèo. Ai cũng có sự chú tâm, động vật có, tội phạm có, các bậc hiền triết cũng có. |
|
Samadhi, fixedness of mind — everybody has this as well. A cat has it when its mind is fixed on grabbing the mouse and eating it. It has fixed intent. That sati of the cat's is sati of a sort; samadhi, fixed intent on what it is doing, is also there. Pañña, knowledge, like that of human beings. It knows as an animal knows, it has enough knowledge to catch mice for food. |
Samadhi, sự tập trung tâm – ai cũng có điều này. Một con mèo cũng có điều này khi tâm nó tập trung vào việc bắt chuột và ăn thịt. Nó có kiên định chú tâm. Sự chú tâm đó của con mèo cũng là một dạng chú tâm; samadhi, sự tập trung kiên định vào việc đang làm, cũng hiện diện ở đó. Pañña, trí tuệ, giống như trí tuệ của con người. Nó hiểu biết theo cách mà một con vật hiểu biết, nó có đủ kiến thức để bắt chuột làm thức ăn. |
|
These five things are called powers. Have these Five Powers arisen from Right View, sammaditthi, or not? Saddha, viriya, sati, samadhi, pañña — have these arisen from Right View? What is Right View? What is our standard for gauging Right View? We must clearly understand this. |
Năm yếu tố này được gọi là năm sức mạnh. Năm sức mạnh này có phát sinh từ Chánh kiến (sammādiṭṭhi) hay không? Tín (Saddha), tấn (viriya), niệm (sati), định (samādhi), tuệ (paññā) - có phải phát sinh từ Chánh kiến hay không? Chánh kiến là gì? Tiêu chuẩn nào để chúng ta đánh giá Chánh kiến? Chúng ta cần phải hiểu rõ điều này. |
|
Right View is the understanding that all these things are uncertain. Therefore the Buddha and all the Noble Ones don't hold fast to them. They hold, but not fast. They don't let that holding become an identity. The holding which doesn't lead to becoming is that which isn't tainted with desire. Without seeking to become this or that there is simply the practice itself. When you hold on to a particular thing is there enjoyment, or is there displeasure? If there is pleasure, do you hold on to that pleasure? If there is dislike, do you hold on to that dislike? |
Chánh kiến là sự hiểu biết rằng tất cả những điều này đều không chắc chắn. Vì vậy, Đức Phật và tất cả các bậc Thánh không bám chấp vào chúng. Họ nắm giữ, nhưng không bám chặt. Họ không để sự nắm giữ đó trở thành bản ngã. Sự nắm giữ không dẫn đến sự hình thành bản ngã là sự nắm giữ không bị ô nhiễm bởi dục vọng. Không tìm kiếm để trở thành cái này hay cái kia, chỉ đơn thuần là thực hành. Khi bạn bám víu vào một điều cụ thể nào đó, liệu có sự thích thú hay sự khó chịu? Nếu có sự thích thú, bạn có bám víu vào sự thích thú đó không? Nếu có sự không thích, bạn có bám víu vào sự không thích đó không? |
|
Some views can be used as principles for gauging our practice more accurately. Such as knowing such views as that one is better than others, or equal to others, or more foolish than others, as all wrong views. We may feel these things but we also know them with wisdom, that they simply arise and cease. Seeing that we are better than others is not right; seeing that we are equal to others is not right; seeing that we are inferior to others is not right. |
Một số quan điểm có thể được sử dụng làm nguyên tắc để đánh giá sự tu tập của chúng ta một cách chính xác hơn. Chẳng hạn như việc so sánh mình tốt hơn người khác, hoặc bằng người khác, hoặc ngu ngốc hơn người khác, đều là những quan điểm sai lầm. Chúng ta có thể cảm nhận những điều này nhưng chúng ta cũng nhận biết chúng bằng trí tuệ, rằng chúng chỉ đơn thuần là sinh và diệt. Việc cho rằng mình tốt hơn người khác là không đúng; việc cho rằng mình bằng người khác là không đúng; việc cho rằng mình kém hơn người khác cũng không đúng. |
|
The right view is the one that cuts through all of this. So where do we go to? If we think we are better than others, pride arises. It's there but we don't see it. If we think we are equal to others, we fail to show respect and humility at the proper times. If we think we are inferior to others we get depressed, thinking we are inferior, born under a bad sign and so on. We are still clinging to the Five Khandhas, [57] it's all simply becoming and birth. |
Quan điểm đúng đắn là quan điểm xuyên suốt tất cả những điều này. Vậy chúng ta nên đi về đâu? Nếu chúng ta nghĩ mình tốt hơn người khác, lòng kiêu ngạo sẽ nảy sinh. Nó hiện hữu ở đó nhưng chúng ta không nhận ra. Nếu chúng ta nghĩ mình ngang bằng với người khác, chúng ta sẽ không thể hiện sự tôn trọng và khiêm nhường đúng lúc. Nếu chúng ta nghĩ mình thua kém người khác, chúng ta sẽ trở nên chán nản, nghĩ rằng mình kém cỏi, sinh ra dưới một vận mệnh xấu, v.v. Chúng ta vẫn đang bám víu vào Ngũ Uẩn [57], tất cả chỉ là sự hình thành và sinh ra. |
|
This is one standard for gauging ourselves by. Another one is: if we encounter a pleasant experience we feel happy, if we encounter a bad experience we are unhappy. Are we able to look at both the things we like and the things we dislike as having equal value? Measure yourself against this standard. In our everyday lives, in the various experiences we encounter, if we hear something which we like, does our mood change? If we encounter an experience which isn't to our liking, does our mood change? Or is the mind unmoved? Looking right here we have a gauge. |
Đây là một tiêu chuẩn để tự đánh giá bản thân. Một tiêu chuẩn khác là: nếu chúng ta gặp điều dễ chịu, chúng ta cảm thấy hạnh phúc; nếu chúng ta gặp phải điều tồi tệ, chúng ta cảm thấy không vui. Liệu chúng ta có thể nhìn nhận cả những điều mình thích và những điều mình không thích đều có giá trị như nhau? Hãy tự đánh giá bản thân dựa trên tiêu chuẩn này. Trong cuộc sống hàng ngày, trong những trải nghiệm khác nhau mà chúng ta gặp phải, nếu chúng ta nghe thấy điều gì đó mình thích, tâm trạng của chúng ta có thay đổi không? Nếu chúng ta gặp phải trải nghiệm không như ý muốn, tâm trạng của chúng ta có thay đổi không? Hay tâm trí vẫn không hề xao động? Ngay tại đây, chúng ta đã có một thước đo. |
|
Just know yourself, this is your witness. Don't make decisions on the strength of your desires. Desires can puff us up into thinking we are something which we're not. We must be very circumspect. |
Hãy tự hiểu rõ bản thân mình, đó chính là bằng chứng xác thực nhất. Đừng đưa ra quyết định dựa trên những ham muốn của bản thân. Ham muốn có thể khiến chúng ta ảo tưởng về bản thân, nghĩ rằng mình là người không phải như vậy. Chúng ta cần phải hết sức thận trọng. |
|
There are so many angles and aspects to consider, but the right way is not to follow your desires, but the Truth. We should know both the good and the bad, and when we know them to let go of them. If we don't let go we are still there, we still "exist," we still "have." If we still "are" then there is a remainder, there are becoming and birth in store. |
Có rất nhiều khía cạnh và góc độ cần xem xét, nhưng con đường đúng đắn không phải là đi theo ham muốn của bản thân, mà là đi theo Chân lý. Chúng ta cần điều tốt và điều xấu, và khi đã biết chúng dù xấu hay tốt, hãy buông bỏ chúng. Nếu chúng ta không buông bỏ, chúng ta vẫn còn nắm giữ, chúng ta vẫn "tồn tại", chúng ta vẫn "có". Nếu chúng ta vẫn "tồn tại" thì vẫn còn sự dư thừa, vẫn còn sự hình thành và sinh ra trong tương lai. |
|
Therefore the Buddha said to judge only yourself, don't judge others, no matter how good or evil they may be. The Buddha merely points out the way, saying "The truth is like this." Now, is our mind like that or not? |
Vì vậy, Đức Phật dạy rằng chỉ nên tự xét mình, đừng phán xét người khác, bất kể họ tốt hay xấu đến đâu. Đức Phật chỉ ra con đường, nói rằng "Chân lý là như vậy." Bây giờ, tâm của chúng ta có giống như vậy hay không? |
|
For instance, suppose a monk took some things belonging to another monk, then that other monk accused him, "You stole my things." "I didn't steal them, I only took them." So we ask a third monk to adjudicate. How should he decide? He would have to ask the offending monk to appear before the convened Sangha. "Yes, I took it, but I didn't steal it." Or in regard to other rules, such as parajika or sanghadisesa offenses: "Yes, I did it, but I didn't have intention." How can you believe that? It's tricky. If you can't believe it, all you can do is leave the onus with the doer, it rests on him. |
Ví dụ, giả sử một vị sư lấy một số đồ vật thuộc về một vị sư khác, rồi vị sư kia buộc tội ông ta: "Ông đã lấy trộm đồ của tôi." "Tôi không lấy trộm, tôi chỉ lấy thôi." Vậy chúng ta nhờ một vị sư thứ ba phân xử. Ông ấy nên quyết định như thế nào? Ông ấy sẽ phải yêu cầu vị sư phạm lỗi trình diện trước Tăng đoàn. "Vâng, tôi đã lấy, nhưng tôi không ăn trộm." Hoặc liên quan đến các giới luật khác, chẳng hạn như tội Giới Bất Cộng Trú (parajika) hoặc Giới Tăng Tàn (sanghadisesa) có đề cập đến một số trường hợp: "Vâng, tôi đã làm điều đó, nhưng tôi không có ý định." Làm sao bạn có thể tin điều đó? Thật khó khăn. Nếu bạn không thể tin điều đó, tất cả những gì bạn có thể làm là để trách nhiệm thuộc về người gây ra lỗi, trách nhiệm đó thuộc về người đó. |
|
But you should know that we can't hide the things that arise in our minds. You can't cover them up, either the wrongs or the good actions. Whether actions are good or evil, you can't dismiss them simply by ignoring them, because these things tend to reveal themselves. They conceal themselves, they reveal themselves, they exist in and of themselves. They are all automatic. This is how things work. |
Nhưng bạn nên biết rằng chúng ta không thể che giấu những suy nghĩ nảy sinh trong tâm chúng ta. Bạn cũng không thể che đậy chúng, dù là hành động tốt hay xấu. Cho dù hành động là tốt hay xấu, bạn không thể loại bỏ chúng chỉ bằng cách phớt lờ, bởi vì những điều này có xu hướng tự bộc lộ. Chúng tự che giấu, chúng tự bộc lộ, chúng tồn tại độc lập. Tất cả đều diễn ra một cách tự nhiên. Đó là cách mọi thứ vận hành. |
|
Don't try to guess at or speculate about these things. As long as there is still avijja (unknowing) they are not finished with. The Chief Privy Councilor once asked me, "Luang Por, is the mind of an Anāgāmī [58] pure yet?" |
Đừng cố gắng đoán mò hay suy đoán về những điều này. Chừng nào vẫn còn vô minh (avijja) thì những điều đó vẫn chưa kết thúc. Có một lần vị hội trưởng đã hỏi tôi: "Thưa Đại đức, tâm của một vị Thánh Bậc Bất Lai (Anāgāmī) [58] đã hoàn toàn thanh tịnh chưa?" |
|
"It's partly pure." "Eh? An anagami has given up sensual desire, how is his mind not yet pure?" |
“Đã được phần thanh tịnh”. Tại sao vậy? Một vị Thánh Anāgāmī đoạn sạch mọi dục lạc, sao tâm vị ấy chưa thanh tịnh được?” |
|
"He may have let go of sensual desire, but there is still something remaining, isn't there? There is still avijja. If there is still something left then there is still something left. It's like the bhikkhus' alms bowls. There are "a large-size large bowl; a medium-sized large bowl, a small-sized large bowl; then a large-sized medium bowl, a medium-sized medium bowl, a small-sized medium bowl; then there are a large-sized small bowl, a medium-sized small bowl and a small-sized small bowl... No matter how small it is there is still a bowl there, right? That's how it is with this...sotapanna, sakadagami, anagami... they have all given up certain defilements, but only to their respective levels. Whatever still remains, those Noble Ones don't see. If they could they would all be arahants. They still can't see all. Avijja is that which doesn't see. If the mind of the anagami was completely straightened out he wouldn't be an anagami, he would be fully accomplished. But there is still something remaining. |
Có thể vị ấy đã từ bỏ dục vọng, nhưng vẫn còn điều gì đó tồn tại, phải không? Vẫn còn vô minh. Nếu vẫn còn điều gì đó thì vẫn còn khiếm khuyết. Giống như những chiếc bát khất thực của các vị tỳ kheo vậy. Có "một chiếc bát cỡ lớn; một chiếc bát lớn cỡ trung bình, một chiếc bát lớn cỡ nhỏ; rồi một chiếc bát trung bình cỡ lớn, một chiếc bát cỡ trung bình, một chiếc bát cỡ nhỏ; rồi có một chiếc bát nhỏ cỡ lớn, một chiếc bát nhỏ cỡ trung bình và một chiếc bát nhỏ cỡ nhỏ... Cho dù nhỏ đến đâu thì vẫn còn một chiếc bát ở đó, phải không? Đó là cách mà điều này diễn ra... bậc Dự lưu, bậc Nhất lai, bậc Bất hoàn... tất cả đều đã từ bỏ một số phiền não nhất định, nhưng chỉ đến mức độ tương ứng của họ. Bất cứ điều gì còn lại, những bậc Thánh đó không nhìn thấy. Nếu họ có thể nhìn thấy tất cả, họ sẽ đều là A-la-hán. Họ vẫn chưa thể nhìn thấy tất cả. Vô minh là thứ không nhìn thấy. Nếu tâm trí của bậc Bất hoàn toàn được thanh tịnh, vị ấy sẽ không còn là bậc Bất Lai nữa, mà sẽ đạt được sự giác ngộ hoàn toàn, là bậc Vô Sinh. Nhưng vẫn còn điều gì đó tồn tại. |
|
"Is his mind purified?" "Well, it is somewhat, but not 100%." How else could I answer? He said that later on he would come and question me about it further. He can look into it, the standard is there. |
“Tâm của vị ấy thanh tịnh chưa?” “Ồ, thanh tịnh nhưng chưa đạt 100%”. Tôi còn có thể trả lời thế nào khác được? Vị ấy nói rằng sau này vị ấy sẽ đến và hỏi tôi thêm về vấn đề đó. Anh ấy có thể điều tra, tiêu chuẩn đã có sẵn rồi. |
|
Don't be careless. Be alert. The Lord Buddha exhorted us to be alert. In regards to this training of the heart, I've had my moments of temptation too, you know. I've often been tempted to try many things but they've always seemed like they're going astray of the path. It's really just a sort of swaggering in one's mind, a sort of conceit. Ditthi, views, and mana, pride, are there. It's hard enough just to be aware of these two things. |
Đừng lơ là. Hãy luôn tỉnh giác. Đức Phật đã khuyên chúng ta phải luôn tỉnh giác. Các bạn biết đấy, việc rèn luyện tâm này, tôi cũng đã từng trải qua những lúc bị cám dỗ. Tôi thường bị cám dỗ muốn thử nhiều thứ, nhưng chúng luôn dường như đi chệch khỏi con đường đúng đắn. Đó thực chất chỉ là một kiểu tự mãn trong tâm, một kiểu kiêu ngạo. Tà kiến (Ditthi) và kiêu ngạo (Mana) luôn hiện hữu. Chỉ cần nhận thức được hai điều này thôi cũng đã khó rồi. |
|
There was once a man who wanted to become a monk here. He carried in his robes, determined to become a monk in memory of his late mother. He came into the monastery, laid down his robes, and without so much as paying respects to the monks, started walking meditation right in front of the main hall... back and forth, back and forth, like he was really going to show his stuff. |
Có một người muốn trở thành tu sĩ ở đây. Ông ta mang theo áo cà sa, quyết tâm trở thành tu sĩ để tưởng nhớ người mẹ quá cố của mình. Ông ta bước vào tu viện, đặt áo cà sa xuống, và không thèm chào hỏi các vị sư, bắt đầu đi thiền ngay trước chính điện... đi đi lại lại, đi đi lại lại, như thể ông ta muốn thể hiện tài năng của mình vậy. |
|
I thought, "Oh, so there are people around like this, too!" This is called saddha adhimokkha — blind faith. He must have determined to get enlightened before sundown or something, he thought it would be so easy. He didn't look at anybody else, just put his head down and walked as if his life depended on it. I just let him carry on, but I thought, "Oh, man, you think it's that easy or something?" In the end I don't know how long he stayed, I don't even think he ordained. |
Tôi đã nghĩ, "Ồ, hóa ra cũng có những người như thế này nữa!" Đây gọi là saddha adhimokkha — niềm tin mù quáng. Chắc hẳn anh ta đã quyết tâm giác ngộ trước khi mặt trời lặn hay gì đó, anh ta nghĩ mọi chuyện sẽ dễ dàng như vậy. Anh ta không nhìn ai khác, chỉ cúi đầu xuống và bước đi như thể mạng sống của mình phụ thuộc vào điều đó. Tôi cứ để anh ta tiếp tục, nhưng tôi nghĩ, "Ôi trời, anh ta nghĩ mọi chuyện dễ dàng đến vậy sao?" Cuối cùng tôi không biết anh ta ở lại bao lâu, tôi thậm chí không nghĩ anh ta đã xuất gia. |
|
As soon as the mind thinks of something we send it out, send it out every time. We don't realize that it's simply the habitual proliferation of the mind. It disguises itself as wisdom and waffles off into minute detail. This mental proliferation seems very clever, if we didn't know we would mistake it for wisdom. But when it comes to the crunch it's not the real thing. When suffering arises where is that so-called wisdom then? Is it of any use? It's only proliferation after all. |
Ngay khi tâm nghĩ đến điều gì đó, chúng ta liền phát tán nó ra ngoài, phát tán ra mỗi lúc. Chúng ta không nhận ra rằng đó chỉ đơn giản là sự lan truyền theo thói quen của tâm. Nó ngụy trang dưới dạng trí tuệ và lan man vào những chi tiết nhỏ nhặt. Sự lan truyền tinh thần này dường như rất thông minh, nếu không biết, chúng ta sẽ nhầm lẫn nó với trí tuệ thực sự. Nhưng khi gặp khó khăn, trí tuệ được gọi là nó ở đâu? Nó có ích lợi gì không? Rốt cuộc, đó chỉ là sự lan truyền mà thôi. |
|
So stay with the Buddha. As I've said before many times, in our practice we must turn inwards and find the Buddha. Where is the Buddha? The Buddha is still alive to this very day, go in and find him. Where is he? At aniccam, go in and find him there, go and bow to him: aniccam, uncertainty. You can stop right there for starters. |
Vì vậy, hãy luôn hướng tâm về Đức Phật. Như tôi đã nói nhiều lần trước đây, trong sự tu tập của chúng ta, chúng ta phải hướng tâm vào bên trong và tìm thấy Đức Phật. Đức Phật ở đâu? Đức Phật vẫn còn hiện hữu cho đến tận ngày nay, hãy hướng vào bên trong và tìm Ngài. Ngài ở đâu? Ở nơi vô thường, hãy hướng vào đó và tìm Ngài, hãy cúi lạy Ngài: vô thường, sự bất định. Bạn có thể bắt đầu từ đó. |
|
If the mind tries to tell you, "I'm a sotapanna now," go and bow to the sotapanna. He'll tell you himself, "It's all uncertain." If you meet a sakadagami go and pay respects to him. When he sees you he'll simply say "Not a sure thing!" If there is an anagami go and bow to him. He'll tell you only one thing..."Uncertain." If you meet even an arahant, go and bow to him, he'll tell you even more firmly, "It's all even more uncertain!" You'll hear the words of the Noble Ones..."Everything is uncertain, don't cling to anything." |
Nếu tâm cố gắng nói với bạn rằng, "bạn bây giờ là một bậc Dự lưu (sotapanna) rồi," hãy đến và cúi lạy vị Dự lưu đó. Ông ấy sẽ tự mình nói với bạn rằng, "Tất cả đều không chắc chắn." Nếu bạn gặp một vị Nhất lai (sakadagami), hãy đến và bày tỏ lòng kính trọng với ông ấy. Khi nhìn thấy bạn, ông ấy sẽ chỉ nói đơn giản là "Không chắc chắn đâu!" Nếu có một vị Bất lai (anagami) , hãy đến và cúi lạy ông ấy. Ông ấy sẽ chỉ nói với bạn một điều duy nhất... "Không chắc chắn." Ngay cả khi bạn gặp một vị arahant - Vô Sinh,, hãy đến và cúi lạy ông ấy, ông ấy sẽ nói với bạn một cách kiên quyết hơn nữa, "Tất cả mọi thứ càng không chắc chắn hơn!" Bạn sẽ nghe thấy những lời của các bậc Thánh nhân... "Mọi thứ đều không chắc chắn, đừng bám víu vào bất cứ điều gì." |
|
Don't just look at the Buddha like a simpleton. Don't cling to things, holding fast to them without letting go. Look at things as functions of the Apparent and then send them on to Transcendence. That's how you must be. There must be Appearance and there must be Transcendence. |
Đừng chỉ nhìn Đức Phật như một người ngây thơ. Đừng bám víu vào thứ gì cả, chỉ quán sát cận thận. Hãy quán sát mọi thứ như những biểu hiện của hiện thực bên ngoài và rồi hướng chúng đến sự siêu việt. Đó là cách bạn phải làm. Phải có sự hiện hữu và phải có sự siêu việt. |
|
So I say "Go to the Buddha." Where is the Buddha? The Buddha is the Dhamma. All the teachings in this world can be contained in this one teaching: aniccam. Think about it. I've searched for over forty years as a monk and this is all I could find. That and patient endurance. This is how to approach the Buddha's teaching... aniccam: it's all uncertain. |
Vì vậy tôi nói "Hãy đến với Đức Phật." Đức Phật ở đâu? Đức Phật chính là Pháp. Tất cả những lời dạy trên thế giới này đều có thể được gói gọn trong một lời dạy duy nhất: vô thường (aniccam). Hãy suy nghĩ về điều đó. Tôi đã tìm kiếm hơn bốn mươi năm với tư cách là một vị sư và đây là tất cả những gì tôi tìm thấy. Đó là sự vô thường và sự kiên nhẫn chịu đựng. Đây là cách tiếp cận giáo lý của Đức Phật... vô thường: tất cả đều không chắc chắn. |
|
No matter how sure the mind wants to be, just tell it "Not sure!." Whenever the mind wants to grab on to something as a sure thing, just say, "It's not sure, it's transient." Just ram it down with this. Using the Dhamma of the Buddha it all comes down to this. It's not that it's merely a momentary phenomenon. Whether standing, walking, sitting or lying down, you see everything in that way. Whether liking arises or dislike arises you see it all in the same way. This is getting close to the Buddha, close to the Dhamma. |
Dù tâm có muốn chắc chắn đến đâu, hãy cứ nói với nó rằng "Không chắc chắn!". Bất cứ khi nào tâm muốn bám víu vào điều gì đó như một điều chắc chắn, hãy cứ nói, "Nó không chắc chắn, nó chỉ là tạm thời." Hãy kiên quyết khẳng định điều đó. Sử dụng giáo lý của Đức Phật, tất cả đều quy về điều này. Không phải chỉ là hiện tượng nhất thời. Dù đang đứng, đi, ngồi hay nằm, bạn đều nhìn nhận mọi thứ theo cách đó. Dù sự thích hay không thích xuất hiện, bạn đều nhìn nhận chúng theo cùng một cách. Đây là cách để đến gần hơn với Đức Phật, gần hơn với giáo pháp. |
|
Now I feel that this is more valuable way to practice. All my practice from the early days up to the present time has been like this. I didn't actually rely on the scriptures, but then I didn't disregard them either. I didn't rely on a teacher but then I didn't exactly "go it alone." My practice was all "neither this nor that." |
Giờ đây tôi nhận thấy đây là cách thực hành có giá trị hơn. Toàn bộ quá trình tu tập của tôi từ những ngày đầu cho đến nay đều theo cách này. Tôi không hoàn toàn dựa vào kinh điển, nhưng cũng không hề bỏ qua kinh điển. Tôi không dựa vào một vị thầy nào cả, nhưng cũng không hoàn toàn "tự mình tu tập". Cách tu tập của tôi luôn là "không phải cái này cũng không phải cái kia". |
|
Frankly it's a matter of "finishing off," that is, practicing to the finish by taking up the practice and then seeing it to completion, seeing the Apparent and also the Transcendent. |
Thành thật mà nói, đó là vấn đề "hoàn thành", tức là tu tập đến cùng bằng cách bắt đầu tu tập và sau đó hoàn thành nó, nhìn thấy cả khía cạnh hiển nhiên và cả khía cạnh siêu việt. |
|
I've already spoken of this, but some of you may be interested to hear it again: if you practice consistently and consider things thoroughly, you will eventually reach this point... At first you hurry to go forward, hurry to come back, and hurry to stop. You continue to practice like this until you reach the point where it seems that going forward is not it, coming back is not it, and stopping is not it either! It's finished. This is the finish. Don't expect anything more than this, it finishes right here. Khinasavo — one who is completed. He doesn't go forward, doesn't retreat and doesn't stop. There's no stopping, no going forward and no coming back. It's finished. Consider this, realize it clearly in your own mind. Right there you will find that there is really nothing at all. |
Tôi đã nói về điều này rồi, nhưng một số người trong các bạn có thể muốn nghe lại: nếu các bạn tu tập một cách kiên trì và suy nghĩ thấu đáo, cuối cùng các bạn sẽ đạt đến điểm này... Ban đầu, các bạn vội vã tiến lên, vội vã lùi lại, và vội vã dừng lại. Các bạn tiếp tục tiếp như vậy cho đến khi đạt đến điểm mà dường như tiến lên cũng không phải, lùi lại cũng không phải, và dừng lại cũng không phải! Nó đã kết thúc. Đây là sự kết thúc. Đừng mong đợi điều gì hơn thế nữa, nó kết thúc ngay tại đây. Khinasavo — người đã hoàn thành. Vị ấy không tiến lên, không lùi lại và không dừng lại. Không có dừng lại, không có tiến lên và không có lùi lại. Nó đã kết thúc. Hãy suy ngẫm điều này, hãy nhận ra nó một cách rõ ràng trong tâm của chính mình. Ngay tại đó, bạn sẽ thấy rằng thực sự không có gì cả. khīnāsava: Bậc Lậu Tận, người mà mọi lậu hoặc đều bị tiêu diệt, là tên của bậc A-la-hán, hay Thánh nhân, Bậc Giải Thoát được gọi là Khīnāsava (Bậc Lậu Tận), danh hiệu này rõ ràng cho thấy những gì vị ấy đã thành tựu, đó là bứng gốc hay diệt đoạn, xem āsava. |
|
Whether this is old or new to you depends on you, on your wisdom and discernment. One who has no wisdom or discernment won't be able to figure it out. Just take a look at trees, like mango or jackfruit trees. If they grow up in a clump, one tree may get bigger first and then the others will bend away, growing outwards from that bigger one. Why does this happen? Who tells them to do that? This is Nature. Nature contains both the good and the bad, the right and the wrong. It can either incline to the right or incline to the wrong. If we plant any kind of trees at all close together, the trees which mature later will branch away from the bigger tree. How does this happen? Who determines it thus? This is Nature, or Dhamma. |
Về điều này là cũ hay mới đối với bạn phụ thuộc vào chính bạn, vào trí tuệ và khả năng nhận thức của bạn. Người không có trí tuệ hoặc không có khả năng nhận thức sẽ không thể hiểu được điều đó. Hãy nhìn vào những cây cối, chẳng hạn như cây xoài hoặc cây mít. Nếu chúng mọc thành cụm, một cây có thể lớn hơn trước và sau đó những cây khác sẽ uốn cong ra xa, mọc hướng ra ngoài khỏi cây lớn hơn đó. Tại sao điều này lại xảy ra? Ai đã chỉ dẫn chúng làm như vậy? Đó là tự nhiên. Tự nhiên bao gồm cả điều tốt và điều xấu, điều đúng và điều sai. Nó có thể nghiêng về điều đúng hoặc nghiêng về điều sai. Nếu chúng ta trồng bất kỳ loại cây nào sát nhau, những cây trưởng thành sau sẽ phân nhánh ra xa khỏi cây lớn hơn. Điều này xảy ra như thế nào? Ai đã quyết định như vậy? Đó là tự nhiên, hay còn gọi là Pháp (Dhamma). |
|
Likewise, tanha, desire, leads us to suffering. Now, if we contemplate it, it will lead us out of desire, we will outgrow tanha. By investigating tanha we will shake it up, making it gradually lighter and lighter until it's all gone. The same as the trees: does anybody order them to grow the way they do? They can't talk or move around and yet they know how to grow away from obstacles. Wherever it's cramped and crowded and growing will be difficult, they bend outwards. |
Tương tự, tham ái dẫn chúng ta đến khổ đau. Nhưng nếu chúng ta quán chiếu nó, nó sẽ dẫn chúng ta thoát khỏi tham ái, chúng ta sẽ vượt qua được tham ái. Bằng cách tìm hiểu về tham ái, chúng ta sẽ làm cho nó suy yếu dần, trở nên nhẹ nhàng hơn cho đến khi hoàn toàn biến mất. Cũng giống như cây cối: có ai ra lệnh cho chúng phải mọc theo cách đó không? Chúng không thể nói hay di chuyển, nhưng chúng vẫn biết cách mọc tránh khỏi chướng ngại vật. Ở những nơi chật hẹp và khó phát triển, chúng sẽ uốn cong ra ngoài. |
|
Right here is Dhamma, we don't have to look at a whole lot. One who is astute will see the Dhamma in this. Trees by nature don't know anything, they act on natural laws, yet they do know enough to grow away from danger, to incline towards a suitable place. |
Ngay tại đây chính là Chánh pháp, chúng ta không cần phải tìm kiếm đâu xa. Người có trí tuệ sẽ thấy Chánh pháp ngay trong điều này. Cây cối vốn dĩ không có tri giác, chúng hoạt động theo quy luật tự nhiên, nhưng chúng vẫn biết cách phát triển tránh xa nguy hiểm, hướng về nơi thích hợp. |
|
Reflective people are like this. We go forth into the homeless life because we want to transcend suffering. What is it that make us suffer? If we follow the trail inwards we will find out. That which we like and that which we don't like are suffering. If they are suffering then don't go so close to them. Do you want to fall in love with conditions or hate them?... they're all uncertain. When we incline towards the Buddha all this comes to an end. Don't forget this. And patient endurance. Just these two are enough. If you have this sort of understanding this is very good. |
Những người có khả năng quán chiếu thường xuyên như vậy. Chúng ta bước vào cuộc sống vô gia cư vì chúng ta muốn vượt qua khổ đau. Điều gì khiến chúng ta đau khổ? Nếu chúng ta quán chiếu sâu vào bên trong nội tâm, chúng ta sẽ tìm ra câu trả lời. Những gì chúng ta thích và những gì chúng ta không thích đều là khổ đau. Nếu chúng là khổ đau, thì đừng quá gắn bó với chúng. Bạn muốn yêu thích hay ghét bỏ những điều kiện đó?... tất cả đều không chắc chắn. Khi chúng ta hướng về Đức Phật, tất cả những điều này sẽ chấm dứt. Đừng quên điều này. Và sự kiên nhẫn chịu đựng. Chỉ cần hai điều này là đủ. Nếu bạn có sự hiểu biết như vậy thì rất tốt. |
|
Actually in my own practice I didn't have a teacher to give as much teachings as all of you get from me. I didn't have many teachers. I ordained in an ordinary village temple and lived in village temples for quite a few years. In my mind I conceived the desire to practice, I wanted to be proficient, I wanted to train. There wasn't anybody giving any teaching in those monasteries but the inspiration to practice arose. I traveled and I looked around. I had ears so I listened, I had eyes so I looked. Whatever I heard people say, I'd tell myself, "Not sure." Whatever I saw, I told myself, "Not sure," or when the tongue contacted sweet, sour, salty, pleasant or unpleasant flavors, or feelings of comfort or pain arose in the body, I'd tell myself, "This is not a sure thing"! And so I lived with Dhamma. |
Thực ra, trong quá trình tu tập của bản thân, tôi không có được người thầy nào truyền dạy nhiều giáo lý như các bạn nhận được từ tôi. Tôi không có nhiều thầy. Tôi xuất gia tại một ngôi chùa làng bình thường và sống ở các chùa làng trong nhiều năm. Trong tâm trí, tôi nảy sinh khát vọng tu tập, tôi muốn trở nên tinh thông, tôi muốn rèn luyện. Không có ai truyền dạy giáo lý trong những ngôi chùa đó, nhưng nguồn cảm hứng tu tập vẫn nảy sinh. Tôi đi khắp nơi và quan sát xung quanh. Tôi có tai nên tôi lắng nghe, tôi có mắt nên tôi nhìn. Bất cứ điều gì tôi nghe người ta nói, tôi đều tự nhủ: "Không chắc chắn." Bất cứ điều gì tôi nhìn thấy, tôi cũng tự nhủ: "Không chắc chắn," hoặc khi lưỡi tiếp xúc với vị ngọt, chua, mặn, vị dễ chịu hay khó chịu, hoặc cảm giác thoải mái hay đau đớn xuất hiện trong cơ thể, tôi đều tự nhủ: "Đây không phải là điều chắc chắn!" Và cứ thế, tôi sống với Pháp. |
|
In truth it's all uncertain, but our desires want things to be certain. what can we do? We must be patient. The most important thing is khanti, patient endurance. Don't throw out the Buddha, what I call "uncertainty" — don't throw that away. |
Trên thực tế là mọi thứ đều không chắc chắn, nhưng chúng ta lại mong muốn mọi thứ phải chắc chắn. Chúng ta có thể làm gì? Chúng ta phải kiên nhẫn. Điều quan trọng nhất là khanti, sự kiên nhẫn chịu đựng. Đừng từ bỏ giáo lý của Đức Phật, điều mà tôi gọi là "sự không chắc chắn" – đừng vứt bỏ điều đó. |
|
Sometimes I'd go to see old religious sites with ancient monastic buildings, designed by architects, built by craftsmen. In some places they would be cracked. Maybe one of my friends would remark, "Such a shame, isn't it? It's cracked." I'd answer, "If that weren't the case then there'd be no such thing as the Buddha, there'd be no Dhamma. It's cracked like this because it's perfectly in line with the Buddha's teaching." Really down inside I was also sad to see those buildings cracked but I'd throw off my sentimentality and try to say something which would be of use to my friends, and to myself. Even though I also felt that it was a pity, still I tended towards the Dhamma. |
Đôi khi tôi đến thăm những di tích tôn giáo cổ xưa với những công trình tu viện cổ kính, được thiết kế bởi các kiến trúc sư và xây dựng bởi những người thợ lành nghề. Ở một số nơi, chúng bị nứt nẻ. Có một người bạn của tôi đã nhận xét, "Thật đáng tiếc, phải không? Nó bị nứt rồi." Tôi trả lời, "Nếu không phải như vậy thì sẽ không có Phật, không có Pháp. Nó bị nứt như thế này là hoàn toàn phù hợp với giáo lý của Đức Phật." Thật ra trong lòng tôi cũng buồn khi thấy những công trình đó bị nứt nẻ, nhưng tôi cố gắng gạt bỏ cảm xúc cá nhân và nói điều gì đó có ích cho bạn bè và cho chính mình. Mặc dù tôi cũng cảm thấy tiếc nuối, nhưng tôi vẫn hướng về Pháp. |
|
"If it wasn't cracked like that there wouldn't be any Buddha!" |
“Nếu không có sự bất toàn, sẽ không có Phật nào ra đời cả!” |
|
I'd say it really heavy for the benefit of my friends... or perhaps they weren't listening, but still I was listening. |
Tôi đã nói điều đó thật sự mang lại lợi ích rất lớn cho các bằng hữu của tôi..., cũng có lẽ họ không nghe tôi nói, nhưng dù sao vẫn còn có tôi đang lắng nghe lời nhắn nhủ của chính mình. |
|
This is a way of considering things which is very, very useful. For instance, say someone were to rush in and say, "Luang Por! Do you know what so and so just said about you?" or, "He said such and such about you..." Maybe you even start to rage. As soon as you hear words of criticism you start getting these moods every step of the way. As soon as we hear words like this we may start getting ready to retaliate, but on looking into the truth of the matter we may find that... no, they had said something else after all. |
Đây là một cách nhìn nhận vấn đề rất hữu ích. Ví dụ, giả sử có người nào đó vội vã chạy đến và nói, "Thưa Hòa Thượng! Ngài có biết người kia vừa nói gì về ngài không?" hoặc, "Ông ấy đã nói những điều như thế này về ngài..." Có thể bạn sẽ bắt đầu nổi giận. Ngay khi nghe những lời chỉ trích, bạn bắt đầu cảm thấy khó chịu từng chút một. Ngay khi nghe những lời như vậy, chúng ta có thể bắt đầu chuẩn bị phản kháng, nhưng khi xem xét sự thật của vấn đề, chúng ta có thể thấy rằng... không, cuối cùng thì họ đã nói điều khác. |
|
And so it's another case of "uncertainty." So why should we rush in and believe things? Why should we put our trust so much in what others say? Whatever we hear we should take note, be patient, look into the matter carefully... stay straight. |
Và như vậy, đây lại là một trường hợp khác của sự "không chắc chắn". Vậy tại sao chúng ta lại phải vội vàng tin tưởng mọi thứ? Tại sao chúng ta lại đặt quá nhiều niềm tin vào những gì người khác nói? Bất cứ điều gì chúng ta nghe được, chúng ta nên ghi nhớ, kiên nhẫn, xem xét vấn đề một cách cẩn thận... và giữ vững lập trường. |
|
It's not that whatever pops into our heads we write it all down as some sort of truth. Any speech which ignores uncertainty is not the speech of a sage. Remember this. As for being wise, we are no longer practicing. Whatever we see or hear, be it pleasant or sorrowful, just say "This is not sure!" Say it heavy to yourself, hold it all down with this. Don't build those things up into major issues, just keep them all down to this one. This point is the important one. This is the point where defilements die. Practitioners shouldn't dismiss it. |
Không phải là bất cứ điều gì khởi sinh trong đầu chúng ta đều được viết xuống như thể đó là sự thật. Bất kỳ lời nói nào bỏ qua sự không chắc chắn đều không phải là lời nói của một người hiền triết. Hãy nhớ điều này. Còn về sự khôn ngoan, chúng ta không còn thực hành nữa. Bất cứ điều gì chúng ta thấy hoặc nghe, dù là dễ chịu hay đau khổ, hãy cứ nói "Điều này không chắc chắn!" Hãy tự nhủ điều đó một cách chắc chắn, hãy giữ vững tất cả bằng điều này. Đừng biến những điều đó thành những vấn đề lớn, chỉ cần giữ chúng ở mức độ này thôi. Điểm này là điểm quan trọng. Đây là điểm mà phiền não sẽ tiêu tan. Người tu hành không nên bỏ qua điều này. |
|
If you disregard this point you can expect only suffering, expect only mistakes. If you don't make this a foundation for your practice you are going to go wrong... but then you will come right again later on, because this principle is a really good one. |
Nếu bạn bỏ qua điểm này, bạn chỉ có thể gặt hái đau khổ, chỉ có thể mắc sai lầm. Nếu bạn không lấy điều này làm nền tảng cho việc tu tập của mình, bạn sẽ đi sai đường... nhưng rồi sau đó bạn sẽ lại đi đúng hướng, bởi vì nguyên tắc này thực sự rất tốt. |
|
Actually the real Dhamma, the gist of what I have been saying today, isn't so mysterious. Whatever you experience is simply form, simply feeling, simply perception, simply volition, and simply consciousness. There are only these basic qualities, where is there any certainty within them? |
Thực ra, giáo pháp chân chính, cốt lõi của những gì tôi đã nói hôm nay, không hề bí ẩn chút nào. Bất cứ điều gì bạn trải nghiệm đều chỉ là sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Chỉ có những yếu tố cơ bản này, vậy thì sự chắc chắn nằm ở đâu trong đó? |
|
If we come to understand the true nature of things like this, lust, infatuation and attachment fade away. why do they fade away? Because we understand, we know. We shift from ignorance to understanding. Understanding is born from ignorance, knowing is born from unknowing, purity is born from defilement. It works like this. |
Nếu chúng ta hiểu được bản chất thực sự của những điều như thế này, dục vọng, sự say mê và sự ràng buộc sẽ tan biến. Tại sao chúng lại tan biến? Bởi vì chúng ta hiểu, chúng ta biết. Chúng ta chuyển từ vô minh sang hiểu biết. Sự hiểu biết sinh ra từ vô minh, sự hiểu biết sinh ra từ sự không biết, sự thanh tịnh sinh ra từ sự ô nhiễm. Mọi việc diễn ra theo cách đó. |
|
Not discarding aniccam, the Buddha — This is what it means to say that the Buddha is still alive. To stay that the Buddha has passed into Nibbana is not necessarily true. In a more profound sense the Buddha is still alive. It's much like how we define the word "bhikkhu." If we define it as "one who asks," [59] the meaning is very broad. We can define it this way, but to use this definition too much is not so good — we don't know when to stop asking! If we were to define this word in a more profound way we would say: "Bhikkhu — one who sees the danger of Samsara." |
Đức Phật không phủ nhận vô thường (anicca) – Đây chính là ý nghĩa của việc nói rằng Đức Phật vẫn còn sống. Nói rằng Đức Phật đã nhập Niết bàn không nhất thiết là đúng. Theo một nghĩa sâu sắc hơn, Đức Phật vẫn còn sống. Điều này cũng giống như cách chúng ta định nghĩa từ "tỳ kheo". Nếu chúng ta định nghĩa nó là "người khất thực" [59], thì ý nghĩa rất rộng. Chúng ta có thể định nghĩa theo cách này, nhưng nếu sử dụng định nghĩa này quá nhiều thì không tốt – chúng ta không biết khi nào nên ngừng khất thực! Nếu chúng ta định nghĩa từ này theo một cách sâu sắc hơn, chúng ta sẽ nói: "Tỳ kheo – người nhìn thấy sự nguy hiểm của luân hồi." |
|
Isn't this more profound? It doesn't go in the same direction as the previous definition, it runs much deeper. The practice of Dhamma is like this. If you don't fully understand it, it becomes something else again. It becomes priceless, it becomes a source of peace. |
Điều này chẳng phải sâu sắc hơn không? Nó không đi theo hướng giống như định nghĩa trước đó, mà còn sâu sắc hơn nhiều. Việc thực hành Chánh pháp cũng giống như vậy. Nếu bạn không hiểu thấu đáo, nó sẽ trở thành một thứ khác. Nó trở nên vô giá, trở thành nguồn gốc của sự bình an. |
|
When we have sati we are close to the Dhamma. If we have sati we will see aniccam, the transience of all things. We will see the Buddha and transcend the suffering of samsara, if not now then sometime in the future. |
Khi chúng ta có chánh niệm, chúng ta sẽ gần gũi với Chánh pháp. Nếu có chánh niệm, chúng ta sẽ thấy được vô thường, sự vô thường của vạn vật. Chúng ta sẽ thấy được Đức Phật và vượt thoát khổ đau của luân hồi, nếu không phải bây giờ thì cũng là vào một thời điểm nào đó trong tương lai. |
|
If we throw away the attribute of the Noble Ones, the Buddha or the Dhamma, our practice will become barren and fruitless. We must maintain our practice constantly, whether we are working or sitting or simply lying down. When the eye sees form, the ear hears sound, the nose smells an odor, the tongue tastes a flavor or the body experiences sensation... in all things, don't throw away the Buddha, don't stray from the Buddha. |
Nếu chúng ta từ bỏ phẩm chất của bậc Thánh, của Đức Phật hay Giáo pháp, sự tu tập của chúng ta sẽ trở nên vô ích và không mang lại kết quả. Chúng ta phải duy trì sự tu tập liên tục, dù đang làm việc, ngồi thiền hay chỉ đơn giản là nằm nghỉ. Khi mắt nhìn thấy hình sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi hương, lưỡi nếm vị hay thân thể cảm nhận xúc giác... trong mọi việc, đừng từ bỏ Đức Phật, đừng xa rời Đức Phật. |
|
This is to be one who has come close to the Buddha, who reveres the Buddha constantly. We have ceremonies for revering the Buddha, such as chanting in the morning Araham Samma Sambuddho Bhagava... This is one way of revering the Buddha but it's not revering the Buddha in such a profound way as I've described here. It's the same as with that word "bhikkhu." If we define it as "one who asks" then they keep on asking... because it's defined like that. To define it in the best way we should say "Bhikkhu — one who sees the danger of samsara." |
Hãy là người đã đến gần với Đức Phật, người luôn tôn kính Đức Phật. Chúng ta có những nghi lễ để tôn kính Đức Phật, chẳng hạn như tụng kinh vào buổi sáng: Araham Samma Sambuddho Bhagava - Đức Thế Tôn bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác.... Đây là một cách tôn kính Đức Phật, nhưng không phải là cách tôn kính Đức Phật một cách sâu sắc như tôi đã mô tả ở đây. Điều này cũng giống như với từ "bhikkhu". Nếu chúng ta định nghĩa nó là "người khất thực" thì họ sẽ tiếp tục đi khất thực... bởi vì nó được định nghĩa như vậy. Để định nghĩa một cách tốt nhất, chúng ta nên nói "Bhikkhu — người nhìn thấy sự nguy hiểm của luân hồi." |
|
Now revering the Buddha is the same. Revering the Buddha by merely reciting Pali phrases as a ceremony in the mornings and evenings is comparable to defining the word "bhikkhu" as "one who asks." If we incline towards aniccam, dukkham and anatta [60] whenever the eye sees form, the ear hears sound, the nose smells an odor, the tongue tastes a flavor, the body experiences sensation or the mind cognizes mental impressions, at all times, this is comparable to defining the word "bhikkhu" as "one who sees the danger of samsara." It's so much more profound, cuts through so many things. If we understand this teaching we will grow in wisdom and understanding. |
Việc tôn kính Đức Phật cũng tương tự như vậy. Việc tôn kính Đức Phật chỉ bằng cách tụng niệm những câu kinh Pali như một nghi lễ vào buổi sáng và buổi tối cũng giống như định nghĩa từ "bhikkhu" là "người đi khất thực". Nếu chúng ta hướng đến vô thường, khổ và vô ngã [60] mỗi khi mắt nhìn thấy hình sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi hương, lưỡi nếm vị, thân thể cảm nhận xúc giác hoặc tâm trí nhận thức các ấn tượng tinh thần, vào mọi lúc, điều này tương đương với việc định nghĩa từ "bhikkhu" là "người nhìn thấy sự nguy hiểm của luân hồi". Điều đó sâu sắc hơn nhiều, thấu suốt nhiều điều hơn. Nếu chúng ta hiểu được giáo lý này, chúng ta sẽ trưởng thành hơn về trí tuệ và sự hiểu biết. |
|
This is called patipada. Develop this attitude in the practice and you will be on the right path. If you think and reflect in this way, even though you may be far from your teacher you will still be close to him. If you live close to the teacher physically but your mind has not yet met him you will spend your time either looking for his faults or adulating him. If he does something which suits you, you say he's no good — and that's as far as your practice goes. You won't achieve anything by wasting your time looking at someone else. But if you understand this teaching you can become a Noble One in the present moment. |
Đây được gọi là patipada. Hãy phát triển thái độ này trong quá trình tu tập và bạn sẽ đi đúng đường. Nếu bạn suy nghĩ và quán chiếu theo cách này, dù bạn có ở xa thầy của mình về mặt thể chất, bạn vẫn sẽ gần gũi với thầy về mặt tinh thần. Nếu bạn sống gần thầy về mặt thể chất nhưng tâm bạn chưa thực sự kết nối với thầy, bạn sẽ chỉ dành thời gian để tìm kiếm lỗi lầm của thầy hoặc tâng bốc thầy. Nếu thầy làm điều gì đó không phù hợp với ý bạn, bạn sẽ nói rằng thầy không tốt – và đó là tất cả những gì bạn đạt được trong quá trình tu tập. Bạn sẽ không đạt được điều gì bằng cách lãng phí thời gian nhìn vào người khác. Nhưng nếu bạn hiểu được lời dạy này, bạn có thể trở thành một bậc Thánh ngay trong hiện tại. Patipada (Pāṭipadā) trong Phật giáo có nghĩa là "con đường", "lối đi" hay "phương tiện" để đạt đến mục tiêu cuối cùng, thường được dùng trong cụm từ "Dukkha-nirodha-gamini Pāṭipadā" (Con đường dẫn đến sự diệt khổ) |
|
That's why this year [61] I've distanced myself from my disciples, both old and new, and not given much teaching: so that you can all look into things for yourselves as much as possible. For the newer monks I've already laid down the schedule and rules of the monastery, such as: "don't talk too much." Don't transgress the existing standards, the path to realization, fruition and nibbana. Anyone who transgresses these standards is not a real practitioner, not one who has with a pure intention to practice. What can such a person ever hope to see? Even if he slept near me every day he wouldn't see me. Even if he slept near the Buddha he wouldn't see the Buddha, if he didn't practice. |
Đó là lý do tại sao năm nay [61] tôi đã giữ khoảng cách với các đệ tử của mình, cả cũ lẫn mới, và không giảng dạy nhiều: để tất cả các bạn có thể tự mình tìm hiểu mọi việc càng nhiều càng tốt. Đối với các vị sư mới, tôi đã đặt ra lịch trình và quy tắc của tu viện, chẳng hạn như: "đừng nói quá nhiều". Đừng vi phạm những tiêu chuẩn hiện có, con đường dẫn đến giác ngộ, thành tựu và Niết bàn. Bất cứ ai vi phạm những tiêu chuẩn này đều không phải là người tu hành chân chính, không phải là người có ý định tu tập thanh tịnh. Người như vậy có thể hy vọng thấy được điều gì? Ngay cả lúc anh ta ngủ gần bên tôi mỗi ngày, anh ta cũng sẽ không thấy được tôi. Ngay cả khi anh ta ngủ gần Đức Phật, anh ta cũng sẽ không thấy được Đức Phật, nếu anh ta không thực hành. |
|
So knowing the Dhamma or seeing the Dhamma depends on practice. Have confidence, purify your own heart. If all the monks in this monastery put awareness into their respective minds we wouldn't have to reprimand or praise anybody. We wouldn't have to be suspicious of or favor anybody. If anger or dislike arise just leave them at the mind, but see them clearly! |
Vì vậy, sự hiểu biết về Chánh pháp hay thấy được Chánh pháp phụ thuộc vào sự thực hành. Hãy có niềm tin, hãy thanh lọc tâm của chính mình. Nếu tất cả các vị sư trong tu viện này đều chú tâm vào tâm của mình, chúng ta sẽ không cần phải khiển trách hay khen ngợi ai cả. Chúng ta sẽ không cần phải nghi ngờ hay thiên vị ai cả. Nếu sự tức giận hay sự không thích nảy sinh, hãy cứ để chúng ở trong tâm, nhưng hãy nhìn nhận chúng một cách rõ ràng! |
|
Keep on looking at those things. As long as there is still something there it means we still have to dig and grind away right there. Some say "I can't cut it, I can't do it," — if we start saying things like this there will only be a bunch of punks here, because nobody cuts at their own defilements. |
Hãy tiếp tục nhìn vào những điều đó. Chừng nào vẫn còn thứ gì ở đó, điều đó có nghĩa là chúng ta vẫn phải tiếp tục đào bới và nỗ lực hết mình. Một số người nói "Tôi không thể làm được, tôi không thể vượt qua được," — nếu chúng ta bắt đầu nói những điều như vậy, thì ở đây sẽ chỉ toàn là những kẻ yếu đuối, bởi vì không ai tự mình loại bỏ những khuyết điểm của bản thân cả. |
|
You must try. If you can't yet cut it, dig in deeper. Dig at the defilements, uproot them. Dig them out even if they seem hard and fast. The Dhamma is not something to be reached by following your desires. Your mind may be one way, the truth another. You must watch up front and keep a lookout behind as well. That's why I say, "It's all uncertain, all transient." |
Bạn phải cố gắng. Nếu chưa thể làm được, hãy đào sâu hơn nữa. Hãy đào bới những phiền não, nhổ tận gốc chúng. Hãy đào chúng ra ngay cả khi chúng dường như cứng rắn và khó nhổ. Chánh pháp không phải là thứ có thể đạt được bằng cách làm theo dục vọng của mình. Tâm bạn có thể nghĩ một đằng, nhưng sự thật lại là một nẻo khác. Bạn phải quan sát phía trước và cũng phải tỉnh giác cả phía sau. Đó là lý do tại sao tôi nói, "Tất cả đều không chắc chắn, tất cả đều vô thường." |
|
This truth of uncertainty, this short and simple truth, at the same time so profound and faultless, people tend to ignore. They tend to see things differently. Don't cling to goodness, don't cling to badness. These are attributes of the world. We are practicing to be free of the world, so bring these things to an end. The Buddha taught to lay them down, to give them up, because they only cause suffering. |
Chân lý về sự bất định này, một chân lý ngắn gọn và đơn giản, nhưng đồng thời lại vô cùng sâu sắc và không thể sai lầm, con người thường có xu hướng bỏ qua. Họ thường nhìn nhận mọi việc theo cách khác. Đừng bám víu vào điều tốt, cũng đừng bám víu vào điều xấu. Đó là những thuộc tính của thế giới. Chúng ta đang thực hành để thoát khỏi thế giới, vì vậy hãy chấm dứt những điều này. Đức Phật dạy hãy buông bỏ chúng, hãy từ bỏ chúng, bởi vì chúng là nguyên nhân gây ra sự đau khổ. |
|
|
|
|
When the group of five ascetics [62] abandoned the Buddha, he saw it as a stroke of luck, because he would be able to continue his practice unhindered. With the five ascetics living with him, things weren't so peaceful, he had responsibilities. And now the five ascetics had abandoned him because they felt that he had slackened his practice and reverted to indulgence. Previously he had been intent on his ascetic practices and self-mortification. In regards to eating, sleeping and so on, he had tormented himself severely, but it came to a point where, looking into it honestly, he saw that such practices just weren't working. It was simply a matter of views, practicing out of pride and clinging. He had mistaken worldly values and mistaken himself for the truth. |
Khi nhóm năm vị Tỳ Khưu tu khổ hạnh [62] rời bỏ Đức Phật, thì Ngài xem đó là một điều may mắn vì ngài có thể tiếp tục tu tập mà không bị cản trở. Khi năm vị Tỳ Khưu khổ hạnh sống cùng ngài, mọi việc không được yên bình, ngài phải gánh vác trách nhiệm. Và giờ đây, năm vị Tỳ Khưu khổ hạnh đã bỏ đi vì họ cảm thấy ngài đã lơ là việc tu tập khổ hạnh và quay trở lại với sự lợi dưỡng. Trước đây, ngài đã chuyên tâm vào sự tu tập khổ hạnh và tự hành hạ bản thân. Về việc ăn uống, ngủ nghỉ, v.v., ngài đã tự rèn luyện bản thân một cách nghiêm khắc, nhưng đến một lúc nào đó, khi nhận thức một cách trung thực, ngài nhận ra rằng những thực hành đó không hiệu quả. Đó chỉ đơn thuần là vấn đề về quan điểm, thực hành xuất phát từ lòng kiêu ngạo và sự chấp trước. Ngài đã nhầm lẫn những giá trị thế tục và nhầm lẫn bản thân với chân lý tối hậu. |
|
For example if one decides to throw oneself into ascetic practices with the intention of gaining praise — this kind of practice is all "world-inspired," practicing for adulation and fame. Practicing with this kind of intention is called "mistaking worldly ways for truth." |
^Ví dụ, nếu một người quyết định dấn thân vào những sự tu tập khổ hạnh với mục đích để được người khác ca ngợi – thì kiểu tu này hoàn toàn là do "ảnh hưởng của thế tục", tu tập vì sự tán dương và danh tiếng. Tu tập với ý định như vậy được gọi là "nhầm lẫn những phương thức thế tục mà cho là chân lý tối thượng". |
|
Another way to practice is "to mistake one's own views for truth." You only believe yourself, in your own practice. No matter what others say you stick to your own preferences. You don't carefully consider the practice. this is called "mistaking oneself for truth." |
Một cách tu tập sai lầm khác là "nhầm lẫn quan điểm của bản thân với chân lý". Bạn chỉ tin vào chính mình, vào cách tu tập của riêng mình. Bất kể người khác nói gì, bạn vẫn khăng khăng giữ vững quan điểm cá nhân. Bạn không xem xét kỹ lưỡng phương pháp thực hành. Điều này được gọi là "nhầm lẫn bản thân với chân lý". |
|
Whether you take the world or take yourself to be truth, it's all simply blind attachment. The Buddha saw this, and saw that there was no "adhering to the Dhamma," practicing for the truth. So his practice had been fruitless, he still hadn't given up defilements. |
Cho dù bạn coi thế giới hay bản thân mình là chân lý, tất cả chỉ là sự vô minh chấp trước mù quáng. Đức Phật đã nhận ra điều này, và nhận thấy rằng không có chuyện "bám víu vào giáo pháp", không có chuyện tu tập để đạt được chân lý. Vì vậy, sự tu tập của ngài đã không mang lại kết quả, vì ngài vẫn chưa từ bỏ được những phiền não. |
|
Then he turned around and reconsidered all the work he had put into practice right from the beginning in terms of results. What were the results of all that practice? Looking deeply into it he saw that it just wasn't right. It was full of conceit, and full of the world. There was no dhamma, no insight into anatta (not self) no emptiness or letting go. There may have been letting go of a kind, but it was the kind that still hadn't let go. |
Rồi Ngài quán chiếu lại và xem xét lại tất cả những việc mình đã tu tập từ đầu, xét về mặt kết quả. Kết quả của tất cả những việc tu tập đó là gì? Nhìn sâu vào, Ngài thấy rằng nó hoàn toàn không đúng. Nó đầy kiêu ngạo và đầy những thứ thuộc về thế tục. Không có pháp, không có sự thấu hiểu về vô ngã, không có sự trống rỗng hay buông bỏ. Có thể có một loại buông bỏ nào đó, nhưng đó là loại buông bỏ mà vẫn chưa thực sự buông bỏ. |
|
Looking carefully at the situation, the Buddha saw that even if he were to explain these things to the five ascetics they wouldn't be able to understand. It wasn't something he could easily convey to them, because those ascetics were still firmly entrenched in the old way of practice and seeing things. The Buddha saw that you could practice like that until your dying day, maybe even starve to death, and achieve nothing, because such practice is inspired by worldly values and by pride. |
Quán chiếu kỹ quá trình tu tập, Đức Phật nhận thấy rằng ngay cả khi Ngài giải thích những điều này cho năm vị tu khổ hạnh Kiều Trần Như, họ cũng sẽ không thể hiểu được. Đó không phải là điều Ngài có thể dễ dàng truyền đạt cho họ, bởi vì những vị tu khổ hạnh đó vẫn còn bám chặt vào lối tu tập và cách nhìn nhận sự vật cũ. Đức Phật nhận thấy rằng người ta có thể tu tập như vậy cho đến ngày chết, thậm chí chết đói, mà vẫn không đạt được gì, bởi vì lối tu tập đó được thúc đẩy bởi những giá trị thế tục và lòng kiêu ngạo. |
|
Considering deeply, he saw the right practice, samma patipada: the mind is the mind, the body is the body. The body isn't desire or defilement. Even if you were to destroy the body you wouldn't destroy defilements. That's not their source. Even fasting and going without sleep until the body was a shrivelled-up wraith wouldn't exhaust the defilements. But the belief that defilements could be dispelled in that way, the teaching of self-mortification, was deeply ingrained into the five ascetics. |
Sau khi quán chiếu kỹ lưỡng, ngài đã nhận ra con đường tu tập đúng đắn, đó là Con Đường Trung Đạo (Samma patipada): quán sát tâm trong tâm, thân trong thân. Thân không có là dục vọng hay phiền não. Ngay cả khi hủy hoại thân , người ta cũng không thể tiêu diệt được phiền não. Đó không phải là nguồn gốc của chúng. Ngay cả việc nhịn ăn và không ngủ cho đến khi thân thể trở nên gầy gò, tiều tụy cũng không thể làm tiêu tan hết phiền não. Nhưng niềm tin rằng phiền não có thể được loại bỏ bằng cách đó, giáo lý khổ hạnh, đã ăn sâu vào tâm của năm vị tỳ kheo tu khổ hạnh. |
|
The Buddha then began to take more food, eating as normal, practicing in a more natural way. When the five ascetics saw the change in the Buddha's practice they figured that he had given up and reverted to sensual indulgence. One person's understanding was shifting to a higher level, transcending appearances, while the other saw that that person's view was sliding downwards, reverting to comfort. Self-mortification was deeply ingrained into the minds of the five ascetics because the Buddha had previously taught and practiced like that. Now he saw the fault in it. By seeing the fault in it clearly, he was able to let it go. |
Sau đó, Đức Phật bắt đầu ăn nhiều hơn một chút rồi Ngài ăn uống bình thường, thực hành theo cách tự nhiên hơn. Khi năm vị khổ hạnh thấy sự thay đổi trong cách tu tập của Đức Phật, họ cho rằng Ngài đã từ bỏ con đường tu khổ hạnh và quay trở lại với sự hưởng thụ dục lạc. Một người đang tiến lên một cấp độ hiểu biết cao hơn, vượt lên trên những hình thức bên ngoài, trong khi những người khác lại cho rằng người đó đang sa sút, quay trở lại với sự thoải mái. Việc tự hành hạ bản thân đã ăn sâu vào tâm của năm vị khổ hạnh vì trước đây Đức Phật đã từng dạy và thực hành như vậy. Bây giờ Ngài đã nhận ra sai lầm trong đó. Nhờ nhận ra sai lầm một cách rõ ràng, Ngài đã buông bỏ cách tu tập này. |
|
When the five ascetics saw the Buddha doing this they left him, feeling that he was practicing wrongly and that they would no longer follow him. Just as birds abandon a tree which no longer offers sufficient shade, or fish leave a pool of water that is too small, too dirty or not cool, just so did the five ascetics abandon the Buddha. |
Khi năm vị khổ hạnh thấy Đức Phật tu tập như vậy, họ đã rời bỏ Ngài, vì cho rằng Ngài đang thực hành sai lầm và họ sẽ không còn đi theo Ngài nữa. Giống như chim rời bỏ một cái cây không còn đủ bóng mát, hoặc cá rời bỏ một vũng nước quá nhỏ, quá bẩn hoặc không đủ mát, năm vị khổ hạnh cũng đã rời bỏ Đức Phật như vậy. |
|
So now the Buddha concentrated on contemplating the Dhamma. He ate more comfortably and lived more naturally. He let the mind be simply the mind, the body simply the body. He didn't force his practice in excess, just enough to loosen the grip of greed, aversion, and delusion. Previously he had walked the two extremes: kamasukhallikanuyogo — if happiness or love arose he would be aroused and attach to them. He would identify with them and wouldn't let go. If he encountered pleasantness he would stick to that, if he encountered suffering he would stick to that. These two extremes he called kamasukhallikanuyogo and attakilamathanuyogo. |
Giờ đây Đức Phật tập trung vào việc quán chiếu Pháp. Ngài ăn uống thoải mái hơn và sống tự nhiên hơn. Ngài để tâm trong tâm, thân chỉ là thân. Ngài không ép buộc việc tu tập quá mức, chỉ đủ để làm giảm bớt sự ràng buộc của tham lam, sân hận và si mê. Trước đây, Ngài đã đi theo hai cực đoan: kāma-sukh'allikānuyoga — nếu hạnh phúc hay tình yêu nảy sinh, Ngài sẽ bị kích động và bám chấp vào chúng. Ngài sẽ đồng nhất mình với chúng và không buông bỏ. Nếu gặp điều dễ chịu, Ngài sẽ bám vào đó, nếu gặp khổ đau, Ngài cũng bám vào đó. Hai thái cực này được Ngài gọi là ham muốn các dục lạc (kāma-sukh'allikānuyoga) và con đường khổ hạnh hay tự hành hạ thân xác (attakilamathanuyogo). |
|
The Buddha had been stuck on conditions. He saw clearly that these two ways are not the way for a samana. Clinging to happiness, clinging to suffering: a samana is not like this. To cling to those things is not the way. Clinging to those things he was stuck in the views of self and the world. If he were to flounder in these two ways he would never become one who clearly knew the world. He would be constantly running from one extreme to the other. Now the Buddha fixed his attention on the mind itself and concerned himself with training that. |
Đức Phật đã từng bị ràng buộc trong những vướng mắc của hoàn cảnh. Ngài nhận thấy rõ ràng rằng hai con đường này không phải là con đường dành cho một vị sa môn. Bám chấp vào hạnh phúc, bám chấp vào khổ đau: một vị sa môn không phải như vậy. Bám chấp vào những điều đó không phải là con đường đúng đắn. Bám chấp vào những điều đó, Ngài bị mắc kẹt trong những quan niệm về bản ngã và thế giới. Nếu Ngài cứ loay hoay trong hai con đường này, Ngài sẽ không bao giờ trở thành người thấu hiểu thế giới một cách rõ ràng. Ngài sẽ liên tục chạy từ cực đoan này sang cực đoan khác. Bây giờ, Đức Phật tập trung sự chú ý vào chính tâm mình và chú trọng vào việc tu tập tâm mà thôi. |
|
All facets of nature proceed according to their supporting conditions, they aren't any problem in themselves. For instance, illnesses in the body. The body experiences pain, sickness, fever and colds and so on. These all naturally occur. Actually people worry about their bodies too much. That they worry about and cling to their bodies so much is because of wrong view, they can't let go. |
Tất cả các pháp diễn tiến theo khía cạnh của tự nhiên đều do những điều kiện nhân duyên hỗ tương của chúng, bản thân chúng không phải là vấn đề gì cả. Ví dụ, bệnh tật trong cơ thể. Cơ thể trải qua đau đớn, ốm yếu, sốt, cảm lạnh, v.v. Tất cả những điều này đều xảy ra một cách tự nhiên. Thực ra, con người lo lắng về cơ thể của mình quá nhiều. Việc họ lo lắng và bám víu vào cơ thể nhiều như vậy là do quan niệm sai lầm, họ không thể buông bỏ. |
|
Look at this hall here. We build the hall and say it's ours, but lizards come and live here, rats and geckoes come and live here, and we are always driving them away, because we see that the hall belongs to us, not the rats and lizards. |
^^^^ |
|
It's the same with illnesses in the body. We take this body to be our home, something that really belongs to us. If we happen to get a headache or stomach-ache we get upset, we don't want the pain and suffering. These legs are "our legs," we don't want them to hurt, these arms are "our arms," we don't want anything to go wrong with it. We've got to cure all pains and illnesses at all costs. |
^^^^ |
|
This is where we are fooled and stray from the truth. We are simply visitors to this body. Just like this hall here, it's not really ours. We are simply temporary tenants, like the rats, lizards and geckoes... but we don't know this. This body is the same. Actually the Buddha taught that there is no abiding self within this body but we go and grasp on to it as being our self, as really being "us" and "them." When the body changes we don't want it to do so. No matter how much we are told we don't understand. If I say it straight you get even more fooled. "This isn't yourself," I say, and you go even more astray, you get even more confused and your practice just reinforces the self. |
^^^^ |
|
So most people don't really see the self. One who sees the self is one who sees that "this is neither the self nor belonging to self." He sees the self as it is in Nature. Seeing the self through the power of clinging is not real seeing. Clinging interferes with the whole business. It's not easy to realize this body as it is because upadana clings fast to it all. |
^^^^ |
|
Therefore it is said that we must investigate to clearly know with wisdom. This means to investigate the sankhara [63] according to their true nature. Use wisdom. To know the true nature of sankhara is wisdom. If you don't know the true nature of sankhara you are at odds with them, always resisting them. Now, it is better to let go of the sankhara or to try to oppose or resist them. And yet we plead with them to comply with our wishes. We look for all sorts of means to organize them or "make a deal" with them. If the body gets sick and is in pain we don't want it to be, so we look for various Suttas to chant, such as Bojjhango, the Dhammacakkappavattana-sutta, the Anattalakkhanasutta and so on. We don't want the body to be in pain, we want to protect it, control it. These Suttas become some form of mystical ceremony, getting us even more entangled in clinging. This is because they chant them in order to ward off illness, to prolong life and so on. Actually the Buddha gave us these teachings in order to see clearly but we end up chanting them to increase our delusion. Rupam aniccam, vedana anicca, sañña anicca, sankhara anicca, viññanam aniccam... [64] We don't chant these words for increasing our delusion. They are recollections to help us know the truth of the body, so that we can let it go and give up our longing. |
^^^^ |
|
This is called chanting to cut things down, but we tend to chant in order to extend them all, or if we feel they're too long we try chanting to shorten them, to force nature to conform to our wishes. It's all delusion. All the people sitting there in the hall are deluded, every one of them. The ones chanting are deluded, the ones listening are deluded, they're all deluded! All they can think is "How can we avoid suffering?" Where are they ever going to practice? |
^^^^ |
|
Whenever illnesses arise, those who know see nothing strange about it. Getting born into this world entails experiencing illness. However, even the Buddha and the Noble Ones, contracting illness in the course of things, would also, in the course of things, treat it with medicine. For them it was simply a matter of correcting the elements. They didn't blindly cling to the body or grasp at mystic ceremonies and such. They treated illnesses with Right View, they didn't treat them with delusion. "If it heals, it heals, if it doesn't then it doesn't" — that's how they saw things. |
^^^^ |
|
They say that nowadays Buddhism in Thailand is thriving, but it looks to me like it's sunk almost as far as it can go. The Dhamma Halls are full of attentive ears, but they're attending wrongly. Even the senior members of the community are like this, so everybody just leads each other into more delusion. |
^^^^ |
|
One who sees this will know that the true practice is almost opposite from where most people are going, the two sides can barely understand each other. How are those people going to transcend suffering? They have chants for realizing the truth but they turn around and use them to increase their delusion. They turn their backs on the right path. One goes eastward, the other goes west — how are they ever going to meet? They're not even close to each other. |
^^^^ |
|
If you have looked into this you will see that this is the case. Most people are lost. But how can you tell them? Everything has become rites and rituals and mystic ceremonies. they chant but they chant with foolishness, they don't chant with wisdom. They study, but they study with foolishness, not with wisdom. They know, but they know foolishly, not with wisdom. So they end up going with foolishness, living with foolishness, knowing with foolishness. That's how it is. And teaching... all they do these days is teach people to be stupid. They say they're teaching people to be clever, giving them knowledge, but when you look at it in terms of truth, you see that they're really teaching people to go astray and grasp at deceptions. |
^^^^ |
|
The real foundation of the teaching is in order to see atta, the self, as being empty, having no fixed identity. It's void of intrinsic being. But people come to the study of Dhamma to increase their self-view, so they don't want to experience suffering or difficulty. They want everything to be cozy. They may want to transcend suffering, but if there is still a self how can they ever do so? |
^^^^ |
|
Just consider... Suppose we came to possess a very expensive object. The minute that thing comes into our possession our mind changes..."Now, where can I keep it? If I leave it there somebody might steal it"... We worry ourselves into a state, trying to find a place to keep it. And when did the mind change? It changed the minute we obtained that object — suffering arose right then. No matter where we leave that object we can't relax, so we're left with trouble. Whether sitting, walking, or lying down, we are lost in worry. |
^^^^ |
|
This is suffering. And when did it arise? It arose as soon as we understood that we had obtained something, that's where the suffering lies. Before we had that object there was no suffering. It hadn't yet arisen because there wasn't yet an object for it to cling to. |
^^^^ |
|
Atta, the self, is the same. if we think in terms of "my self," then everything around us becomes "mine." Confusion follows. Why so? The cause of it all is that there is a self, we don't peel off the apparent in order to see the Transcendent. You see, the self is only an appearance. You have to peel away the appearances in order to see the heart of the matter, which is Transcendence. Upturn the apparent to find the Transcendent. |
^^^^ |
|
You could compare it to unthreshed rice. Can unthreshed rice be eaten? Sure it can, but you must thresh it first. Get rid of the husks and you will find the grain inside. |
^^^^ |
|
Now if we don't thresh the husks we won't find the grain. Like a dog sleeping on the pile of unthreshed grain. Its stomach is rumbling "jork-jork-jork," but all it can do is lie there, thinking "Where can I get something to eat?" When it's hungry it bounds off the pile of rice grain and runs off looking for scraps of food. Even though it's sleeping right in top of a pile of food it knows nothing of it. Why? It can't see the rice. Dogs can't eat unthreshed rice. The food is there but the dog can't eat it. |
^^^^ |
|
We may have learning but if we don't practice accordingly we still don't really know, just as oblivious as the dog sleeping on the pile of rice grain. It's sleeping on a pile of food but it knows nothing of it. When it gets hungry it's got to jump off and go trotting around elsewhere for food. It's a shame, isn't it? |
^^^^ |
|
Now this is the same: there is rice grain but what is hiding it? The husk hides the grain, so the dog can't eat it. And there is the Transcendent. What hides it? The Apparent conceals the Transcendent, making people simply "sit on top of the pile of rice, unable to eat it," unable to practice, unable to see the Transcendent. And so they simply get stuck in appearances time and again. If you are stuck in appearances suffering is in store, you will be beset by becoming, birth, old age, sickness and death. |
^^^^ |
|
So there isn't anything else blocking people off, they are blocked right here. People who study the Dhamma without penetrating to its true meaning are just like the dog on the pile of unthreshed rice who doesn't know the rice. He might even starve and still find nothing to eat. A dog can't eat unthreshed rice, it doesn't even know there is food there. After a long time without food it may even die... on top of that pile of rice! People are like this. No matter how much we study the Dhamma of the Buddha we won't see it if we don't practice. If we don't see it then we don't know it. |
^^^^ |
|
Don't go thinking that by learning a lot and knowing a lot you'll know the Buddha Dhamma. That's like saying you've seen everything there is to see just because you've got eyes, or that you've got ears. You may see but you don't see fully. You see only with the "outer eye," not with the "inner eye'; you hear with the "outer ear," not with the "inner ear." |
^^^^ |
|
If you upturn the apparent and reveal the Transcendent you will reach the truth and see clearly. You will uproot the Apparent and uproot clinging. |
^^^^ |
|
But this is like some sort of sweet fruit: even though the fruit is sweet we must rely on contact with and experience of that fruit before we will know what the taste is like. Now that fruit, even though no-one tastes it, is sweet all the same. But nobody knows of it. The Dhamma of the Buddha is like this. Even though it's the truth it isn't true for those who don't really know it. No matter how excellent or fine it may be it is worthless to them. |
^^^^ |
|
So why do people grab after suffering? Who in this world wants to inflict suffering on themselves? No-one, of course. Nobody wants suffering and yet people keep creating the causes of suffering, just as if they were wandering around looking for suffering. Within their hearts people are looking for happiness, they don't want suffering. Then why is it that this mind of ours creates so much suffering? Just seeing this much is enough. We don't like suffering and yet why do we create suffering for ourselves? It's easy to see... it can only be because we don't know suffering, don't know the end of suffering. That's why people behave the way they do. How could they not suffer when they continue to behave in this way? |
^^^^ |
|
These people have micchaditthi [65] but they don't see that it's micchaditthi. Whatever we say, believe in or do which results in suffering is all wrong view. If it wasn't wrong view it wouldn't result in suffering. We couldn't cling to suffering, nor to happiness or to any condition at all. We would leave things be their natural way, like a flowing stream of water. We don't have to dam it up, just let it flow along its natural course. |
^^^^ |
|
The flow of Dhamma is like this, but the flow of the ignorant mind tries to resist the Dhamma in the form of wrong view. And yet it flies off everywhere else, seeing wrong view, that is, suffering is there because of wrong view — this people don't see. This is worth looking into. Whenever we have wrong view we will experience suffering. If we don't experience it in the present it will manifest later on. |
^^^^ |
|
People go astray right here. What is blocking them off? The Apparent blocks off the Transcendent, preventing people from seeing things clearly. People study, they learn, they practice, but they practice with ignorance, just like a person who's lost his bearings. He walks to the west but thinks he's walking east, or walks to the north thinking he's walking south. This is how far people have gone astray. This kind of practice is really only the dregs of practice, in fact it's a disaster. It's disaster because they turn around and go in the opposite direction, they fall from the objective of true Dhamma practice. |
^^^^ |
|
This state of affairs causes suffering and yet people think that doing this, memorizing that, studying such-and-such will be a cause for the cessation of suffering. Just like a person who wants a lot of things. He tries to amass as much as possible, thinking if he gets enough his suffering will abate. This is how people think, but their thinking is astray of the true path, just like one person going northward, another going southward, and yet believing they're going the same way. |
^^^^ |
|
Most people are still stuck in the mass of suffering, still wandering in samsara, just because they think like this. If illness or pain arise, all they can do is wonder how they can get rid of it. They want it to stop as fast as possible, they've got to cure it all costs. They don't consider that this is the normal way of sankhara. Nobody thinks like this. The body changes and people can't endure it, they can't accept it, they've got to get rid of it at all costs. However, in the end they can't win, they can't beat the truth. It all collapses. This is something people don't want to look at, they continually reinforce their wrong view. |
^^^^ |
|
Practicing to realize the Dhamma is the most excellent of things. Why did the Buddha develop all the Perfections? [66] So that he could realize this and enable others to see the Dhamma, know the Dhamma, practice the Dhamma and be the Dhamma — so that they could let go and not be burdened. |
^^^^ |
|
"Don't cling to things." Or to put it another way: "Hold, but don't hold fast." This is also right. If we see something we pick it up..."Oh, it's this"... then we lay it down. We see something else, pick it up... one holds, but not fast. Hold it just long enough to consider it, to know it, then to let it go. If you hold without letting go, carry without laying down the burden, then you are going to be heavy. If you pick something up and carry it for a while, then when it gets heavy you should lay it down, throw it off. Don't make suffering for yourself. |
^^^^ |
|
This we should know as the cause of suffering. If we know the cause of suffering, suffering cannot arise. For either happiness or suffering to arise there must be the atta, the self. There must be the "I" and "mine," there must be this appearance. If when all these things arise the mind goes straight to the Transcendent, it removes the appearances. It removes the delight, the aversion and the clinging from those things. Just as when something that we value gets lost... when we find it again our worries disappear. |
^^^^ |
|
Even before we see that object our worries may be relieved. At first we think it's lost and suffer over it, but there comes a day when we suddenly remember, "Oh, that's right! I put it over there, now I remember!" As soon as we remember this, as soon as we see the truth, even if we haven't laid eyes on that object, we feel happy. This is called "seeing within," seeing with the mind's eye, not seeing with the outer eye. If we see with the mind's eye then even though we haven't laid eyes on that object we are already relieved. |
^^^^ |
|
This is the same, When we cultivate Dhamma practice and attain the Dhamma, see the Dhamma, then whenever we encounter a problem we solve the problem instantly, right then and there. It disappears completely, laid down, released. |
^^^^ |
|
Now the Buddha wanted us to contact the Dhamma, but people only contact the words, the books and the scriptures. This is contacting that which is about Dhamma, not contacting the actual Dhamma as taught by our Great Teacher. How can people say they are practicing well and properly? They are a long way off. |
^^^^ |
|
The Buddha was known as lokavidu, having clearly realized the world. Right now we see the world all right, but not clearly. The more we know the darker the world becomes, because our knowledge is murky, it's not clear knowledge. It's faulty. This is called "knowing through darkness," lacking in light and radiance. |
^^^^ |
|
People are only stuck here but it's no trifling matter. It's important. Most people want goodness and happiness but they just don't know what the causes for that goodness and happiness are. Whatever it may be, if we haven't yet seen the harm of it we can't give it up. No matter how bad it may be, we still can't give it up if we haven't truly seen the harm of it. However, if we really see the harm of something beyond a doubt then we can let it go. As soon as we see the harm of something, and the benefit of giving it up, there's an immediate change. |
^^^^ |
|
Why is it we are still unattained, still cannot let go? It's because we still don't see the harm clearly, our knowledge is faulty, it's dark. that's why we can't let go. If we knew clearly like the Lord Buddha or the arahant disciples we would surely let go, our problems would dissolve completely with no difficulty at all. |
^^^^ |
|
When your ears hear sound, then let them do their job. When your eyes perform their function with forms, then let them do so. When your nose works with smells, let it do its job. When your body experiences sensations, then let it perform its natural functions where will problems arise? There are no problems. |
^^^^ |
|
In the same way, all those things which belong to the Apparent, leave them with the Apparent. And acknowledge that which is the Transcendent. Simply be the "One Who Knows," knowing without fixation, knowing and letting things be their natural way. All things are just as they are. |
^^^^ |
|
All our belongings, does anybody really own them? Does our father own them, or our mother, or our relatives? Nobody really gets anything. That's why the Buddha said to let all those things be, let them go. Know them clearly. Know then by holding, but not fast. Use things in a way that is beneficial, not in a harmful way by holding fast to them until suffering arises. |
^^^^ |
|
To know Dhamma you must know in this way. That is, to know in such a way as to transcend suffering. This sort of knowledge is important. Knowing about how to make things, to use tools, knowing all the various sciences of the world and so on, all have their place, but they are not the supreme knowledge. The Dhamma must be known as I've explained it here. You don't have to know a whole lot, just this much is enough for the Dhamma practitioner — to know and then let go. |
^^^^ |
|
It's not that you have to die before you can transcend suffering, you know. You transcend suffering in this very life because you know how to solve problems. You know the apparent, you know the Transcendent. Do it in this lifetime, while you are here practicing. You won't find it anywhere else. Don't cling to things. Hold, but don't cling. |
^^^^ |
|
You may wonder, "Why does the Ajahn keep saying this?" How could I teach otherwise, how could I say otherwise, when the truth is just as I've said it? Even though it's the truth don't hold fast to even that! If you cling to it blindly it becomes a falsehood. Like a dog... try grabbing its leg. If you don't let go the dog will spin around and bite you. Just try it out. All animals behave like this. If you don't let go it's got no choice but to bite. The Apparent is the same. We live in accordance with conventions, they are here for our convenience in this life, but they are not things to be clung to so hard that they cause suffering. Just let things pass. |
^^^^ |
|
Whenever we feel that we are definitely right, so much so that we refuse to open up to anything or anybody else, right there we are wrong. It becomes wrong view. When suffering arises, where does it arise from? The cause is wrong view, the fruit of that being suffering. If it was right view it wouldn't cause suffering. |
^^^^ |
|
So I say, "Allow space, don't cling to things." "Right" is just another supposition, just let it pass. "Wrong" is another apparent condition, just let it be that. If you feel you are right and yet others contend the issue, don't argue, just let it go. As soon as you know, let go. This is the straight way. |
^^^^ |
|
Usually it's not like this. People don't often give in to each other. That's why some people, even Dhamma practitioners who still don't know themselves, may say things that are utter foolishness and yet think they're being wise. They may say something that's so stupid that others can't even bear to listen and yet they think they are being cleverer than others. Other people can't even listen to it and yet they think they are smart, that they are right. They are simply advertising their own stupidity. |
^^^^ |
|
That's why the wise say, "Whatever speech disregards aniccam is not the speech of a wise person, it's the speech of a fool. It's deluded speech. it's the speech of one who doesn't know that suffering is going to arise right there." For example, suppose you had decided to go to Bangkok tomorrow and someone were to ask, "Are you going to Bangkok tomorrow?" |
^^^^ |
|
"I hope to go to Bangkok. If there are no obstacles I'll probably go." This is called speaking with the Dhamma in mind, speaking with aniccam in mind, taking into account the truth, the transient, uncertain nature of the world. You don't say, "Yes, I'm definitely going tomorrow." If it turns out you don't go what are you going to do, send news to all the people who told you were going to? You'd be just talking non-sense. |
^^^^ |
|
There's still much more to it, the practice of Dhamma becomes more and more refined. But if you don't see it you may think you are speaking right even when you are speaking wrongly and straying from the true nature of things with every word. And yet you may think you are speaking the truth. To put it simply: anything that we say or do that causes suffering to arise should be known as micchaditthi. It's delusion and foolishness. |
^^^^ |
|
Most practitioners don't reflect in this way. Whatever they like they think is right and they just go on believing themselves. For instance, they may receive some gift or title, be it an object, rank or even words of praise, and they think it's good. They take it as some sort of permanent condition. So they get puffed up with pride and conceit, they don't consider, "Who am I? Where is this so-called "goodness"? Where did it come from? Do others have the same things?" |
^^^^ |
|
The Buddha taught that we should conduct ourselves normally. If we don't dig in, chew over and look into this point it means it's still sunk within us. It means these conditions are still buried within our hearts — we are still sunk in wealth, rank and praise. So we become someone else because of them. We think we are better than before, that we are something special and so all sorts of confusion arises. |
^^^^ |
|
Actually, in truth there isn't anything to human beings. Whatever we may be it's only in the realm of appearances. If we take away the apparent and see the Transcendent we see that there isn't anything there. There are simply the universal characteristics — birth in the beginning, change in the middle and cessation in the end. This is all there is. If we see that all things are like this then no problems arise. If we understand this we will have contentment and peace. |
^^^^ |
|
Where trouble arises is when we think like the five ascetic disciples of the Buddha. They followed the instruction of their teacher, but when he changed his practice they couldn't understand what he thought or knew. They decided that the Buddha had given up his practice and reverted to indulgence. If we were in that position we'd probably think the same thing and there'd be no way to correct it. Holding on to the old ways, thinking in the lower way, yet believing it's higher. We'd see the Buddha and think he'd given up the practice and reverted to indulgence, just like he'd given up the practice and reverted to indulgence, just like those Five Ascetics: consider how many years they had been practicing at that time, and yet they still went astray, they still weren't proficient. |
^^^^ |
|
So I say to practice and also to look at the results of your practice. Especially where you refuse to follow, where there is friction. Where there is no friction, there is no problem, things flow. If there is friction, they don't flow, you set up a self and things become solid, like a mass of clinging. There is no give and take. |
^^^^ |
|
Most monks and cultivators tend to be like this. However they've thought in the past they continue to think. They refuse to change, they don't reflect. They think they are right so they can't be wrong, but actually "wrongness" is buried within "rightness," even though most people don't know that. How is it so? "This is right"... but if someone else says it's not right you won't give in, you've got to argue. What is this? Ditthi mana... Ditthi means views, mana is the attachment to those views. If we attach even to what is right, refusing to concede to anybody, then it becomes wrong. To cling fast to rightness is simply the arising of self, there is no letting go. |
^^^^ |
|
This is a point which gives people a lot of trouble, except for those Dhamma practitioners who know that this matter, this point, is a very important one. they will take not of it. If it arises while they're speaking, clinging comes racing on to the scene. Maybe it will linger for some time, perhaps one or two days, three or four months, a year or two. This is for the slow ones, that is. For the quick response is instant... they just let go. Clinging arises and immediately there is letting go, they force the mind to let go right then and there. |
^^^^ |
|
You must see these two functions operating. Here there is clinging. Now who is the one who resists that clinging? Whenever you experience a mental impression you should observe these two functions operating. There is clinging, and there is one who prohibits the clinging. Now just watch these two things. Maybe you will cling for a long time before you let go. |
^^^^ |
|
Reflecting and constantly practicing like this, clinging gets lighter, becomes less and less. Right view increases as wrong view gradually wanes. Clinging decreases, non-clinging arises. This is the way it is for everybody. That's why I say to consider this point. Learn to solve problems in the present moment. |
^^^^ |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Được Bậc Thiện Trí Tự Mình Chứng Biết (Paccattaṁ veditabbo viññūhī’ti). Trên con đường dẫn đến Niết Bàn, chỉ có bậc thiện trí mới có thể thấu đạt Giáo pháp, hạng cuồng si không thể hiểu được. Nên ghi nhận rằng nơi đây, thấu đạt Giáo pháp có nghĩa là chứng ngộ, thấu hiểu bằng minh, chứ không phải hiểu biết ở tầng lớp tri thức, lý luận sách vở. Và mỗi cá nhân chỉ có thể tự mình chứng ngộ. . |
|
|
Phái Mahanikai (Maha Nikaya) là một trong hai nhánh chính của Phật giáo Theravada ở Thái Lan, Lào và Campuchia. Đây là nhánh lớn nhất của Phật giáo Theravada tại Thái Lan, chiếm khoảng 90% số tu sĩ trong nước. Phái Mahanikai không có những quy định cụ thể về giáo lý, mà chủ yếu khác nhau về cách áp dụng các quy tắc thực hành. Phái này được hình thành sau khi có nhánh Dhammayuttika Nikaya được thành lập bởi hoàng tử Mongkut vào năm 1833. Trong khi đó, nhánh Dhammayuttika Nikaya là nhánh mới hơn và thường được coi là nghiêm khắc hơn trong việc tu hành. . |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
webmasters: Nguyễn Văn Hoà & Minh Hạnh |
|