|
TODAY I’m giving special instructions specifically for the monks and novices. Set your hearts on listening. Aside from the practice of the Dhamma and Vinaya, there’s nothing else for us to study, talk about, and offer opinions on. |
Hôm nay, Sư sẽ thuyết bài pháp đặc biệt dành riêng cho các vị Tỳ-kheo và Sa-di. Hãy chuyên tâm lắng nghe. Ngoài việc tu tập theo Giáo Pháp và Giới Luật, chúng ta không còn điều gì khác để học hỏi, đàm luận hay bày tỏ ý kiến. |
|
I want each of us to understand that we now have the status of people gone forth, so we should behave in a way that’s fitting for monks and novices. We’ve all passed through the status of lay life. It’s a status marked with turmoil, with no clear patterns for our behavior. So now that we’ve entered the status of samaṇas in the Buddha’s teachings, we have to change our hearts and minds to be different from those of lay people. Our words, our movements, our comings and goings, our ways of eating, stepping forward, and stepping back—everything has to be in line with those gone forth who are called samaṇa, which means people who are peaceful and at respite. Before, we were lay people and didn’t know the meaning of samaṇa—peace and respite. We all let our bodies and minds find enjoyment in line with our defilements and cravings. When our preoccupations were good, they made us glad. When they were bad, they made us sad. That’s called being influenced by preoccupations. When we’re influenced by preoccupations, the Buddha said that we’re not taking care of ourselves. We don’t yet have a refuge, so we let our hearts and minds run loose with enjoyment, with suffering, sorrow, lamentation, and despair. We don’t rein ourselves in. We don’t contemplate things. |
Tôi muốn mỗi người trong chúng ta hiểu giờ đây ta đã mang thân phận của người xuất gia; do vậy ta cần phải hành xử sao cho xứng đáng là một vị Tỳ-kheo hay một Sa-di. Tất cả chúng ta đều đã từng trải qua đời sống tại gia. Đó là một trạng thái đầy rẫy những xáo động, mà con người thường thiếu đi những khuôn phép rõ ràng. Vì vậy giờ đây khi đã bước vào Tăng đoàn của những bậc Samaṇa (Sa-môn) trong giáo pháp của Đức Phật, chúng ta buộc phải chuyển hóa tâm mình khác biệt so với tâm của người thế tục. Lời nói, cử chỉ, việc đi đứng, cho đến cách ăn uống, cách đi tới hay lùi bước—tất cả mọi hành vi đều phải đúng với phẩm hạnh của người xuất gia, những người được gọi là Samaṇa, tức là những con người sống trong sự an bình và tĩnh lặng. Trước đây, khi còn tại gia, chúng ta chưa thấu hiểu ý nghĩa đích thực của từ Samaṇa—an bình và tĩnh lặng. Chúng ta đã để cho thân và tâm mình chạy theo những thú vui, chiều theo những phiền não và tham ái. Khi ngoại cảnh tác động mang lại điều tốt đẹp, chúng ta hoan hỷ. Khi gặp điều bất như ý, khiến ta đau buồn. Trạng thái đó được gọi là bị ngoại cảnh hay những phiền não chi phối. Đức Phật dạy rằng chúng ta không biết chăm sóc chính mình. Chúng ta vẫn chưa có một nơi nương tựa, nên cứ để cho tâm mình buông thả theo những thú vui, hay chìm đắm trong khổ đau, sầu muộn, than khóc và tuyệt vọng. Chúng ta không biết thu thúc bản thân; chúng ta cũng chẳng chịu quán chiếu mọi sự việc. |
|
In the Buddha’s teachings, when you ordain into the status of a samaṇa, you have to make your body that of a samaṇa. To begin with, you shave your head. You have to cut your nails. Your clothing is the ochre robe—the banner of the noble ones, the banner of the Buddha, the banner of the arahants. The fact that you’ve ordained depends on the legacy, the inheritance left behind by our Foremost Teacher. That’s why our way of life is enough to get by on. Our dwellings, for instance, come from the merit of the faithful who built them. We don’t have to fix our food—and this comes from the legacy, the inheritance left behind by our Foremost Teacher. Our medicine, our clothing: All these things depend on the legacy left behind by the Buddha. |
Trong giáo pháp của Đức Phật, khi thọ giới xuất gia để trở thành Sa-môn, hành giả phải biến thân này thành thân của một Sa-môn. Trước hết, hành giả phải cạo bỏ mái tóc. Hành giả phải cắt ngắn móng tay. Y phục của hành giả là tấm y màu vàng đất—biểu tượng của bậc Thánh, biểu tượng của Đức Phật, biểu tượng của các vị A-la-hán. Việc hành giả được xuất gia là nhờ vào di sản, vào gia tài mà vị Đạo Sư Tối Thượng của chúng ta đã để lại. Chính vì thế chúng ta chỉ cần đủ để duy trì sự sống. Chẳng hạn, nơi cư ngụ của chúng ta là nhờ vào phước báu của những tín chủ có lòng tin đã phát tâm xây dựng. Chúng ta không cần phải tự tay nấu nướng thức ăn—và điều này cũng xuất phát từ di sản mà vị Đạo Sư Tối Thượng của chúng ta đã để lại. Thuốc men, y phục của chúng ta: Tất cả những thứ này đều nương tựa vào di sản Đức Phật đã để lại. |
|
Once you’ve been ordained in the Buddha’s teachings, you’ve been supposed into being a monk, but you’re not yet a genuine monk, you know. You’re a monk on the level of supposition—in other words, you’re a monk as far as your body: the shaved head, the yellow robes. You’re a monk on the level of supposition. |
Một khi đã thọ giới trong giáo pháp của Đức Phật, hành giả được xem là đã trở thành một vị Tỳ-kheo; tuy nhiên, vẫn chưa thực sự là một vị Tỳ-kheo chân chính. Hành giả mới chỉ là một vị Tỳ-kheo trên phương diện chế định — nói cách khác, hành giả là Tỳ-kheo về mặt hình tướng bên ngoài: đầu cạo trọc, thân khoác y vàng. Hành giả là một vị Tỳ-kheo trên phương diện chế định. |
|
It’s the same as when they carve wood, sculpt cement, or mold bronze to be a Buddha on the level of supposition. It’s not the genuine Buddha. It’s gold, lead, bronze, wood, lacquer, stone. These things have been supposed into being a Buddha, but they’re not the Buddha. They’re the Buddha on the level of supposition, not the genuine Buddha. |
Điều này cũng giống như khi người ta chạm khắc gỗ, tạc xi măng hay đúc đồng để tạo thành một pho tượng Phật, đó chỉ là Phật ở cấp độ chế định. Đó không phải là Đức Phật chân thực. Chúng chỉ là vàng, là chì, là đồng, là gỗ, hay đá. Những vật liệu này được chế định là Phật, nhưng bản thân chúng không phải là Đức Phật. Chúng là Phật ở cấp độ chế định, chứ không phải là Đức Phật chân thực. |
It’s the same with you: You’ve been formally declared to be monks who have ordained in the Buddha’s teachings, but you’re not yet monks. You’re supposed monks, not genuine monks. What this means is that your hearts are not yet fully endowed with goodwill, compassion, empathetic joy, and equanimity. Your purity isn’t yet all the way there. You have greed, aversion, and delusion obstructing the arising of genuine monks within you. These things have been with you since way back when: from the day of your birth, from your previous lifetimes. You’ve been nourished with greed, aversion, and delusion all along up to the present. So when people like you are ordained to be monks, you’re still just supposed monks. You still live on the greed, aversion, and delusion in your hearts. Real monks abandon these things. They drive greed out of their hearts, drive aversion out of their hearts, drive delusion out of their hearts. They contain no poison, no danger. If there’s still poison, you’re not yet a monk. You have to drive these things out so that you can reach purity. |
Đối với các con cũng vậy: Các con đã được tuyên bố là những vị Tỳ-kheo đã thọ giới trong giáo pháp của Đức Phật, nhưng thực chất các con vẫn chưa phải là những vị Tỳ-kheo. Các con chỉ là những vị Tỳ-kheo trên danh nghĩa, chứ chưa phải là Tỳ-kheo đích thực. Điều này có nghĩa là tâm các con vẫn chưa hoàn toàn viên mãn tứ vô lượng tâm; Từ, Bi, Hỷ và Xả. Sự thanh tịnh các con vẫn chưa đạt trọn vẹn. Trong lòng các con vẫn còn tham, sân và si làm chướng ngại sự hiển lộ của một vị Tỳ-kheo chân chính. Những thứ này đã gắn liền với các con từ rất lâu rồi: từ thuở mới lọt lòng, và thậm chí từ những kiếp trước. Từ trước đến nay, cho tới tận thời điểm hiện tại, các con vẫn luôn được nuôi dưỡng bởi tham, sân và si. Thế nên, những người như các con khi thọ giới Tỳ-kheo vẫn chỉ là những vị Tỳ-kheo chế định. Các con vẫn đang sống trên tham, sân và si đang ngự trị trong lòng mình. Những vị Tỳ-kheo chân chính thì đã đoạn trừ những thứ này. Họ đã diệt trừ tham, sân, và si ra khỏi tâm. Nơi các vị ấy không còn chứa đựng bất kỳ độc tố hay hiểm họa nào nữa. Nếu trong lòng vẫn còn độc tố, thì các con vẫn chưa phải là một vị Tỳ-kheo. Các con buộc phải diệt trừ những thứ này ra khỏi tâm để có thể đạt đến sự thanh tịnh trọn vẹn. |
|
So you have to start trying to destroy greed, aversion, and delusion, which are the dominant defilements in each of you. These things keep you fenced into states of becoming and birth. The reason you can’t reach peace is because greed, anger, and delusion are obstacles blocking the samaṇa, peace, from arising in your hearts. As long as it can’t arise, you’re not really monks. In other words, your hearts aren’t yet at peace away from greed, aversion, and delusion. |
Vì vậy bắt đầu các con phải nỗ lực diệt trừ tham, sân và si, những phiền não đang ngự trị nơi mỗi người các con. Chính những thứ này đang giam hãm các con trong vòng luân hồi sinh tử. Lý do khiến các con chưa thể đạt được sự an lạc là bởi tham, sân và si chính là những chướng ngại, ngăn cản trạng thái samaṇa khởi sinh trong tâm các con. Chừng nào trạng thái ấy chưa khởi sinh, thì các con vẫn chưa thực sự là những vị Tỳ-kheo. Nói cách khác, tâm của các con vẫn chưa đạt được sự an lạc, chưa thoát ly khỏi tham, sân và si. |
|
That’s why we’ve come to practice—to practice so as to eradicate greed, aversion, and delusion from our hearts. Once you eradicate greed, aversion, and delusion from your hearts, you’ll reach purity. You’ll reach genuine monk-ness. At the current level of your practice, you’re monks on the level of supposition. It’s simply a supposition. You’re not yet monks. So build a monk within your heart. You build a monk by means of your heart—not by any other means |
Đó chính là lý do chúng ta đến đây tu tập—tu tập để diệt trừ tham, sân và si ra khỏi tâm mình. Một khi đã diệt trừ được tham, sân và si khỏi tâm, các con sẽ đạt đến sự thanh tịnh. Các con sẽ đạt đến phẩm hạnh chân tu đích thực. Ở trình độ tu tập hiện tại, các con mới chỉ là những vị Tăng trên phương diện chế định. Đó đơn thuần chỉ là một sự giả định. Các con vẫn chưa thực sự là Tăng. Vì thế, hãy tạo một vị Tăng ngay trong chính tâm mình. Các con kiến tạo vị Tăng ấy bằng chính tâm của mình, mà không phải bằng cách nào khác. |
|
In building a monk by means of your heart, you don’t use just your heart. Two things—one, your body; two, your speech—also have to be involved. Before your body and speech can do anything, it first has to come out of the heart. For things to exist just in your heart and not come out in your actions and speech: That can’t happen, either. So these things are connected with one another. |
Khi đào tạo một vị tu sĩ bằng chính tâm mình, hành giả không chỉ đơn thuần sử dụng tâm. Mà có hai yếu tố khác nữa—thứ nhất là thân, thứ hai là khẩu—cũng nhất thiết trong quá trình này. Trước khi thân và khẩu có thể thực hiện bất cứ điều gì, mọi việc trước hết phải khởi phát từ trong tâm. Việc để mọi thứ chỉ tồn tại trong tâm mà không biểu hiện ra qua hành động và lời nói, điều đó cũng không thể. Vì vậy, những yếu tố này luôn gắn kết chặt chẽ với nhau. |
|
When we speak of the heart, of the beauty of the heart, the polished smoothness of the heart, it’s like speaking of a smooth, polished wooden pillar. The wood we use to make a board or a pillar—before it’s smooth and polished and they coat it with shellac to make it beautiful—first has to be cut from a tree. They have to cut off the crude ends and then split it and saw it—all kinds of things. The heart is like a tree. We have to take it from its crudeness, cutting away its crude parts, cutting away its roots, its branches, its bark, destroying everything that’s not smooth and polished. You have to destroy those parts until you reach a state where the wood is beautiful and well proportioned. The fact that it’s beautiful and well proportioned comes from having passed through crude activities. |
Khi ta nói về tâm—về vẻ đẹp của tâm, hay sự nhẵn nhụi, bóng bẩy của nó, thì điều đó cũng tựa như khi ta nói về một khúc gỗ đã được mài giũa và đánh bóng. Loại gỗ ta dùng để làm thành một tấm ván hay một chiếc cột—trước khi trở nên nhẵn nhụi, bóng bẩy và được phủ lớp sơn để thêm phần mỹ lệ—trước hết phải cắt từ một thân cây. Người ta phải cắt bỏ những phần thô kệch ở hai đầu, rồi xẻ, cưa—trải qua đủ mọi công đoạn. Tâm của chúng ta cũng tựa như một cái cây. Ta phải tách nó ra khỏi sự thô sơ nguyên bản; phải cắt bỏ đi những phần thô kệch, cắt bỏ rễ, cành, vỏ cây, phải loại bỏ đi tất cả những gì chưa đạt đến độ nhẵn nhụi và bóng bẩy. Ta phải gọt giũa, loại bỏ những phần đó cho đến khi đạt tới trạng thái khúc gỗ đẹp đẽ và cân đối. Và chính vẻ đẹp cùng sự cân đối hài hòa ấy lại được sinh ra từ việc đã trải qua những công đoạn xử lý thô sơ, gai góc kia. |
|
It’s the same with those of us who are practicing. To come and make our hearts and minds pure and at peace is something good, but it’s hard. We have to start with external things—our body, our speech—and then work inward. Only then will we become smooth, polished, and beautiful. It’s like having a finished table or bed. It’s beautiful now, but it used to be crude. It was a tree, a trunk. So we cut it—cutting the trunk, cutting away the leaves—because that’s the path we have to follow so that it can become a table or bed, so that it can become something beautiful, good, and pure. |
Điều này giống như với những ai trong chúng ta đang tu tập. Việc tìm đến đây để thanh lọc tâm và được an lạc là điều tốt đẹp, nhưng nó lại khó khăn. Chúng ta phải bắt đầu từ khía cạnh bên ngoài—từ thân và khẩu—rồi sau đó tu tập bên trong. Chỉ khi ấy chúng ta mới có thể nhuần nhuyễn, tinh tế và đẹp đẽ. Điều này cũng giống như chiếc bàn hay một chiếc giường đã hoàn thiện. Giờ đây trông chúng thật mỹ lệ, nhưng thuở ban đầu chúng vô cùng thô sơ—chúng vốn là một cái cây, một khúc thân gỗ mà thôi. Thế nên chúng ta phải cắt—chặt bỏ thân cây, cắt tỉa cành lá—bởi đó chính là con đường tất yếu ta phải đi qua, để từ đó chúng có thể thành một chiếc bàn hay một chiếc giường; để chúng có thể trở thành một vật phẩm đẹp đẽ, hữu ích và thanh tịnh. |
|
In the correct path to peace as formulated by the Buddha, he formulated virtue, concentration, and discernment. This is the path, the path leading to purity, leading to becoming a samaṇa. It’s the path that can wash greed, aversion, and delusion away. You have to go through the steps of virtue, concentration, and discernment. This isn’t different from making a table. When we compare external things and internal things in this way, there isn’t any difference. |
Đức Phật đã đưa ra con đường đạo dẫn đến sự an lạc, Ngài đã thiết lập ba yếu tố: Giới, Định và Tuệ. Đây chính là con đường; đạo dẫn đến sự thanh tịnh, dẫn đến việc trở thành một bậc Sa-môn. Đó là con đường có khả năng diệt trừ tham, sân và si. Hành giả phải tuần tự bước qua các giai đoạn của Giới, Định và Tuệ. Điều này cũng giống như việc đóng một chiếc bàn. Khi chúng ta so sánh những sự vật bên ngoài với những trạng thái nội tâm theo cách này, ta sẽ thấy giữa chúng hoàn toàn không có sự khác biệt. |
|
So when we train your habits—making you listen to the Dhamma, making you chant, making you sit in concentration—these things grate against your heart. They grate because your heart is sloppy and lazy. It doesn’t like doing anything that clashes with it, that puts it to difficulties. It doesn’t want these things; it won’t do them. That’s why you have to make an effort to endure. We all have to use the qualities of endurance and persistence to slash our way through and keep trying to do these things. |
Do vậy khi Sư rèn luyện những thói quen cho các con— lắng nghe Pháp, tụng niệm, thiền định—những điều này thường gây ra sự cọ xát, khó chịu trong tâm các con. Sự khó chịu ấy nảy sinh bởi lẽ tâm của các con vốn lề mề và lười biếng. Nó chẳng hề thích làm bất cứ điều gì đi ngược lại ý muốn của nó, hay đặt nó vào những tình thế khó khăn. Nó không hề muốn làm những điều này; và nó sẽ nhất quyết không chịu làm. Chính vì thế, các con phải nỗ lực kiên trì chịu đựng. Tất cả chúng ta đều kiên nhẫn và sự bền bỉ để dũng mãnh vượt qua mọi trở ngại và không ngừng nỗ lực thực hành những điều này. |
|
Our bodies, for instance: We used to do things that were fun and unruly, all kinds of things, so now that we’re watching over them, it’s difficult. Our speech used to speak without any restraint, so now that we’re restraining it, it’s difficult. But even though it’s difficult, we can’t let that stop us. It’s like a tree: Before we can make it into a table or a bed, we have to go through difficulties, but we can’t let them stop us. We have to go through those stages. To get the table or bed, we have to go through the crude parts. |
Thí dụ, thân của chúng ta: thường làm muôn hình vạn trạng những điều vui thú và phóng túng, nên giờ đây, khi bắt đầu kiểm soát nó, thật là khó khăn. Lời nói của ta cũng vậy: Trước kia ta thường buông lời không chút kiêng nể; thế nên giờ đây, khi phải kìm giữ nó lại, ta lại thấy thật chật vật. Nhưng dẫu cho việc ấy có khó khăn đến đâu, ta cũng không thể để nó làm chướng ngại. Điều này tựa như một cái cây: Trước khi có thể biến nó thành một chiếc bàn hay một chiếc giường, ta buộc phải trải qua những gian nan; nhưng ta không thể vì thế mà dừng lại. Ta nhất định phải đi qua những giai đoạn ấy. |
|
It’s the same with us. When the Buddha taught so that he gained students and disciples whose minds succeeded in gaining awakening, all of them started out as run-of-the-mill people when they ordained—run of-the-mill people just like us. They had the various parts of their bodies— legs, ears, eyes—just like us; greed and aversion just like us. None of their features were in any way different from ours. That was true of the Buddha himself; that was true of his disciples. In every case, they took what wasn’t yet capable and made it capable; what wasn’t yet beautiful and made it beautiful; what wasn’t yet up to standard and brought it up to standard. This has been true all along up to us in the present. We ordain the children of householders—farmers, merchants—people who have been embroiled in every variety of sensual preoccupation. These are the people we ordain and train. And we’ve been able to train them all along. |
Đối với chúng ta cũng vậy. Khi Đức Phật thuyết pháp để thâu nhận các học trò và đệ tử, những người tâm họ đã thành tựu sự giác ngộ, thì tất cả họ, khi mới xuất gia, đều khởi đầu chỉ là những người bình thường như bao người khác; những người bình thường y hệt như chúng ta. Họ cũng có đầy đủ các bộ phận trên cơ thể, chân, tai, mắt, giống chúng ta; họ cũng có tham và sân, y như chúng ta. Không một đặc điểm nào nơi họ lại khác biệt so với chúng ta. Điều đó đúng với chính Đức Phật, và cũng đúng với các đệ tử của Ngài. Trong mọi trường hợp, họ đã đón nhận những gì còn chưa đủ năng lực và rèn luyện cho trở nên có năng lực; đón nhận những gì còn chưa đẹp đẽ và làm cho trở nên đẹp đẽ; đón nhận những gì còn chưa đạt chuẩn và nâng nó lên đạt chuẩn mực. Điều này vẫn luôn đúng xuyên suốt dòng thời gian, cho đến hiện tại này. Chúng ta thâu nhận con cái của các cư sĩ xuất gia, những người làm nông, người buôn bán, những người vốn đã từng chìm đắm trong dục lạc thế gian. Chính những con người ấy là đối tượng chúng ta thâu nhận và huấn luyện. Và chúng ta đã luôn có khả năng huấn luyện họ thành tựu suốt bấy lâu nay. |
|
So understand that you’re just like the noble ones of the past. You have the same aggregates. You have a body, just like them. You have feelings— pleasure and pain—just like them. You have perceptions—recognizing and labeling—just like them. You have thought fabrications and consciousness—good and bad: everything, just like them. So each of you is one more person in the same condition in body and mind like the students the Buddha gained in the past. You’re not different in any way. His noble disciples started out as run-of-the-mill people. Some of them were troublemakers, some of them were fools, some of them were ordinary run-of-the-mill people, some of them were good people—just like you. They weren’t different in any way. So just as he took those people and trained them to practice so as to attain the noble paths and fruitions, we today take the same sort of people to practice—to develop virtue, develop concentration, develop discernment. |
Do vậy hãy thấu hiểu rằng các hành giả cũng giống những bậc thánh nhân thời xưa. Các hành giả cũng sở hữu những uẩn. Các hành giả có thân, giống như các ngài. Các hành giả có những cảm thọ—dù là lạc hay khổ—cũng giống các ngài. Các hành giả có tri giác—khả năng nhận biết và gọi tên sự vật—giống như các ngài. Các hành giả có những tâm hành và thức—dù là thiện hay ác, bao gồm tất cả mọi thứ—cũng giống các ngài. Do vậy mỗi người trong các hành giả chính là một cá nhân nữa, đang ở trong cùng một trạng thái về thân và tâm, giống hệt như những đệ tử Đức Phật đã thâu nhận vào thời xưa. Các hành giả không hề có khác biệt. Những vị đệ tử thánh thiện của Đức Phật thuở ban đầu cũng chỉ là những người phàm tục bình thường. Trong số họ, có người từng là kẻ gây rối, có người là kẻ ngu si, có người là những thường dân bình dị, và cũng có người là những con người lương thiện—giống như các con. Họ không có bất cứ sự khác biệt nào. Vì thế, cũng giống như việc Ngài đã tiếp nhận những con người ấy và huấn luyện họ tu tập để đạt đến những Thánh đạo và Thánh quả, ngày nay chúng ta cũng tiếp nhận những con người tương tự như thế để bước vào con đường tu tập—để trau dồi giới hạnh, phát triển định tâm, và khai mở tuệ giác. |
|
Virtue, concentration, and discernment are the names of our practices. When we practice virtue, practice concentration, and practice discernment, we practice right at ourselves. We practice right at ourselves, and that’s when we’re on target. We’re on target with virtue right here, on target with concentration right here. Why? Because the body is right here with us. Virtue is a matter of every part of the body, every part that the Buddha has us look after. With virtue, we’re taught to look after our body. We already have a body. How is that? We have feet; we have hands. We’ve already got a body. This is where we look after virtue. To give rise to virtue, we look after this body we already have. The same with speech: Whether you tell lies or engage in divisive speech, coarse speech, or idle chatter, whether you use your body to kill living beings, steal people’s belongings, or engage in sexual misconduct—all the things that the rules on virtue are concerned with are things that lie right with you. You already have a body. You already have speech. These things are already there with you. |
Giới, Định và Tuệ là tên gọi của những pháp tu của chúng ta. Khi thực hành Giới, Định và Tuệ, chúng ta đang thực hành trên thân mình. Chúng ta thực hành ngay trên chính mình, và đó chính là ta đi đúng trọng tâm. Chúng ta đi đúng trọng tâm với Giới ngay tại đây; với Định cũng ngay tại đây. Tại sao ư? Bởi vì thân này đang hiện hữu ngay đây cùng với chúng ta. Giới là vấn đề liên quan đến từng bộ phận của thân, từng bộ phận mà Đức Phật đã dạy chúng ta phải gìn giữ. Nhờ Giới, chúng ta được dạy cách chăm sóc và gìn giữ thân mình. Chúng ta vốn dĩ đã có sẵn một thân. Điều đó diễn ra như thế nào? Chúng ta có đôi chân; chúng ta có đôi tay. Chúng ta đã sẵn có một thân rồi. Đây chính là nơi chúng ta thực hành việc gìn giữ Giới. Để phát khởi Giới, chúng ta hãy chăm sóc và gìn giữ chính thân mà mình đang sở hữu. Đối với lời nói cũng vậy: Dù hành giả nói dối, hay nói lời ly gián, lời thô ác, hoặc nói lời vô ích; dù hành giả dùng thân để sát hại chúng sinh, trộm cắp tài sản của người khác, hay phạm vào tà hạnh trong tình dục—tất cả những điều mà các giới luật quan tâm đều là những điều đang hiện hữu ngay nơi chính mình. Hành giả vốn đã có sẵn một thân. Hành giả vốn đã có sẵn lời nói. Những điều này đã luôn hiện hữu ngay cùng với hành giả.. |
|
So when you exercise restraint, you watch them. You look. For instance, look at killing, stealing, and engaging in sexual misconduct. The Buddha has you look at crude activities of the body. Killing is using your fist or a weapon in your hand to kill animals, big or small. This is something crude—the sort of thing you used to do before you started observing the precepts. You transgressed. And there were the times when you didn’t restrain your speech: telling lies, engaging in divisive speech, coarse speech, or idle chatter. Telling lies is misrepresenting the truth. Coarse speech is carelessly insulting people: “You pig! You dog!” Idle chatter is speaking playfully about things that serve no purpose, saying whatever comes into your head. These sorts of things we’ve all done in the past. We didn’t exercise restraint. But now, when we look after our virtue, we look: We look at our body; we look at our speech. |
Do vậy khi tu tập sự chế ngự, hành giả sẽ quan sát chúng. Hành giả hãy nhìn. Chẳng hạn, nhìn vào các hành vi sát sinh, trộm cắp và tà hạnh. Đức Phật dạy hãy quán sát những hành vi thô tháo của thân. Sát sinh là dùng nắm đấm hoặc vũ khí cầm trên tay để giết hại các loài vật, dù lớn hay nhỏ. Đây là một hành vi thô tháo—kiểu hành vi mà hành giả từng thực hiện trước khi thọ trì các giới luật. Hành giả đã từng phạm giới. Và cũng có những lúc không biết chế ngự lời nói : nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô ác, hoặc nói lời vô ích. Nói dối là nói lời xuyên tạc sự thật. Nói lời thô ác là buông lời xúc phạm người khác một cách thiếu suy nghĩ: "Đồ heo! Đồ chó!" Nói lời vô ích là nói đùa cợt về những chuyện không mang lại lợi ích, cứ thế nói ra bất cứ điều gì chợt nảy sinh trong đầu. Những kiểu hành vi như thế, tất cả chúng ta đều đã từng thực hiện trong quá khứ. Chúng ta đã không thu thúc chế ngự. Nhưng giờ đây, khi chúng ta chú tâm gìn giữ đạo đức của mình, chúng ta sẽ quán sát: quán sát thân; quán sát lời nói của mình. |
|
Who’s doing the looking? Who are you using to do the looking? When you kill an animal, who knows? Is your hand what knows? Or who is it? When you go to steal something, who knows? Is your hand what knows? Or who is it? When you engage in sexual misconduct, who’s the first to know? Is your body what knows? When you tell a lie, who’s the first to know? When you use coarse speech or engage in idle chatter, who’s the first to know? Your mouth? Or do the words know first? Think about this. Whoever’s the one who knows, get that one to look after your body and speech. Whoever’s the one who knows, get that one to keep watch. Get the one who’s been making the others act—making them do good, making them do evil—get that one to look after them. Catch the thief and make him the village headman. Get that one to look after the others. Get that one to contemplate. |
Ai là kẻ đang quan sát? Hành giả đang sử dụng ai để thực hiện sự quan sát đó? Khi hành giả sát hại một con vật, ai là người biết điều đó? Phải chăng chính bàn tay hành giả là kẻ biết? Hay là một ai khác? Khi hành giả trộm cắp thứ gì đó, ai là người biết? Phải chăng chính bàn tay hành giả là kẻ biết? Hay là một ai khác? Khi hành giả phạm vào hành vi tà hạnh trong tình dục, ai là người đầu tiên hay biết? Phải chăng chính thân hành giả là kẻ biết? Khi hành giả nói lời dối trá, ai là người đầu tiên hay biết? Khi hành giả thốt ra những lời thô ác hay buông lời vô ích, ai là người đầu tiên hay biết? Phải chăng là miệng của hành giả? Hay chính những lời nói ấy biết trước tiên? Hãy suy ngẫm về điều này. Bất cứ ai là kẻ hay biết ấy, hãy giao cho kẻ đó nhiệm vụ trông coi, quán xuyến thân và khẩu của bạn. Bất cứ ai là kẻ hay biết ấy, hãy giao cho kẻ đó nhiệm vụ canh giữ, giám sát. Hãy giao cho kẻ vốn dĩ vẫn luôn điều khiển những phần khác hành động—khiến chúng làm điều thiện, khiến chúng làm điều ác—hãy giao cho chính kẻ đó nhiệm vụ trông coi, quán xuyến chúng. Hãy bắt lấy tên trộm, và phong cho hắn chức trưởng làng. Hãy giao cho kẻ ấy nhiệm vụ trông coi những phần khác. Hãy giao cho kẻ ấy nhiệm vụ quán chiếu. |
|
When we’re told to look after the actions of the body, who will do the looking? The body doesn’t know anything at all. The body walks, steps on things, goes everywhere. The same with the hand: It doesn’t know anything. It catches hold of that, touches this—but only when someone else tells it to. It catches hold of that, then puts it down. It takes it up again, throws this away to take something else. In every case, there has to be someone to tell it to. It doesn’t know anything. There has to be someone else to tell it, someone else to give the orders. The same with our mouth: Whether it lies or tells the truth, when it engages in divisive speech or coarse speech, there’s someone who tells it to. |
Khi ta được bảo phải quan sát những hành vi của thân, thì ai sẽ là người thực hiện việc trông chừng ấy? Thân chẳng hề hay biết gì cả. Thân bước đi, giẫm lên mọi thứ, và đi khắp mọi nơi. Tay cũng vậy: Nó chẳng hề hay biết gì. Nó nắm lấy thứ kia, chạm vào thứ này, nhưng chỉ khi có kẻ khác sai bảo nó làm thế. Nó nắm lấy thứ kia, rồi lại đặt nó xuống. Nó nhặt thứ ấy lên lần nữa, vứt bỏ thứ này đi để lấy một thứ khác. Trong mọi trường hợp, luôn phải có kẻ sai bảo nó làm. Nó chẳng hề hay biết gì. Phải có một kẻ khác bảo nó làm, một kẻ khác ra lệnh cho nó. Miệng của ta cũng thế: Dù nói dối hay nói thật, dù nó buông lời chia rẽ hay thốt ra những lời thô tục, thì vẫn luôn có kẻ sai bảo nó làm điều đó. |
|
For this reason, when we practice, we establish mindfulness—the ability to recollect—right at the knower, the one that’s aware. If we’re to steal, kill, engage in sexual misconduct, tell lies, speak divisive speech, coarse speech, or idle chatter—any of these things—the knower is what leads the way in acting or speaking. Wherever it is, stay with it. Bring your alertness, your mindfulness always there with the knower, to get that one to look after things, to be aware. |
Chính vì lẽ đó, khi tu tập, chúng ta phải có chánh niệm—năng lực ghi nhớ—ngay tại nơi người biết, tức là chủ thể đang có sự nhận biết. Dù chúng ta có trộm cắp, sát sinh, tà hạnh trong tình dục, nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô ác hay nói lời vô ích—bất cứ hành vi nào trong số đó—thì chính người biết là kẻ dẫn đường cho mọi hành động hay lời nói. Dù nó đang hiện diện ở đâu, hãy cứ an trú ngay tại đó. Hãy luôn hướng sự tỉnh giác và chánh niệm của hành giả về phía người biết ấy, để thúc giục nó làm nhiệm vụ quán xuyến mọi việc và duy trì sự nhận biết. |
|
This is why the Buddha’s rules deal with crude things: Killing is evil; it’s against the precepts. Stealing is wrong. Sexual misconduct is wrong. Telling lies is wrong. Using coarse speech or engaging in idle chatter is wrong. These are things for us to remember. These are his rules, the laws of the Lord Buddha. So now we’re careful about them. The one who used to break them—who used to order us to kill animals, to steal, to engage in sexual misconduct, to tell lies, to speak divisively, to speak coarsely, to engage in idle chatter, to act without restraint in various ways—singing, dancing, whistling, playing musical instruments: The one who used to order us to do these things has now turned into the one who looks after our behavior. We use mindfulness—alertness, the ability to recollect—to make it exercise restraint, to look after itself, to look after itself well. |
Đây là lý do Đức Phật đề cập đến những điều thô thiển: Sát sinh là điều ác; đó là sự phạm giới. Trộm cắp là sai trái. Tà hạnh trong tình dục là sai trái. Nói dối là sai trái. Nói lời thô ác hoặc nói lời vô ích là sai trái. Đây là những điều mà chúng ta cần ghi nhớ. Đó là những giới luật của Ngài, những qui luật của Đức Phật. Vì thế, giờ đây chúng ta luôn cẩn trọng trong việc tuân giữ chúng. Cái "ta" từng hay phạm giới—cái "ta" từng xúi giục chúng ta sát sinh, trộm cắp, tà hạnh, nói dối, nói lời ly gián, nói lời thô ác, nói lời vô ích, và hành xử thiếu chừng mực theo đủ mọi cách—như ca hát, nhảy múa, huýt sáo, hay chơi nhạc cụ: Cái "ta" từng xúi giục chúng ta làm những điều ấy, giờ đây đã chuyển hóa thành người trông nom, gìn giữ chính hành vi của chúng ta. Chúng ta vận dụng chánh niệm, sự tỉnh giác, khả năng ghi nhớ, để rèn luyện cái "ta" ấy biết tự chế ngự, biết tự trông nom lấy chính mình, và biết tự trông nom một cách thật chu toàn. |
|
If it’s able to look after itself, then the body isn’t hard to look after, for the body lies under the governance of the mind. Our speech isn’t hard to look after, for our speech lies under the governance of the mind. When that’s the case, looking after the precepts—looking after our body and speech—isn’t hard. We make ourselves aware in every posture—standing, walking, sitting, or lying down, every step of the way. Make sure that you know what you’re doing before you do it, that you know what you’re saying before you say it. Don’t act or speak before you know what you’re doing. Know first, and only then act or speak. Be mindful—recollect— before you act or speak in any way. You have to recollect first. Practice this until you’re quick at it. Practice being ahead of the game. Be quick at being able to recollect before you act, to recollect before you speak. Establish mindfulness in your heart like this. Get the knower to look after itself—for it’s the one who acts. Because it’s the one who acts, things won’t work if you have anyone else looking after it. You have to get it to look after itself. If it doesn’t look after itself, things won’t work. |
Nếu tâm có thể tự chăm sóc chính mình, thì việc chăm sóc thân cũng không khó khăn, bởi lẽ thân nằm dưới sự chi phối của tâm. Lời nói của chúng ta cũng không khó giữ, vì lời nói ấy nằm dưới sự chỉ đạo của tâm. Khi đã đạt được trạng thái đó, việc gìn giữ giới luật—tức là gìn giữ thân và khẩu của chúng ta—sẽ trở nên dễ dàng. Chúng ta duy trì tỉnh thức trong mọi oai nghi—dù đang đứng, đi, ngồi hay nằm—trong từng bước đi, trong từng sát na. Hãy chắc chắn biết rõ mình làm gì trước khi bắt tay vào làm, và biết rõ mình sắp nói gì trước khi cất lời. Đừng hành động hay phát ngôn khi hành giả chưa biết rõ mình đang làm gì. Hãy nhận biết trước, và chỉ sau đó mới hành động hay nói năng. Hãy luôn chánh niệm—luôn tỉnh giác—trước khi thực hiện bất kỳ hành động hay lời nói nào. Hành giả phải nhận biết trước tiên. Hãy thực hành điều này cho đến khi bạn trở nên thuần thục và nhạy bén. Hãy rèn luyện để luôn đi trước một bước. Hãy rèn luyện sự nhạy bén để có thể nhận biết trước khi hành động, nhận biết trước khi cất lời. Hãy duy trì chánh niệm ngay trong tâm của hành giả theo cách này. Hãy để "người biết" (tâm biết) tự chăm sóc chính nó—bởi lẽ chính nó mới là chủ thể thực hiện mọi hành động. Vì chính tâm là chủ thể hành động, nên mọi việc sẽ chẳng đi đến đâu nếu hành giả lại giao phó việc chăm sóc nó cho bất kỳ ai khác. Hành giả buộc phải để chính nó tự chăm sóc lấy mình. Nếu nó không tự chăm sóc lấy mình, thì mọi việc sẽ không thể thành tựu. |
|
The Buddha taught that looking after the precepts isn’t hard if you look after yourself. If any forms of harm are about to arise by way of your bodily actions or speech, then if mindfulness is in place, you’ll recognize them. You’ll have a sense of right and wrong. This is how you look after your precepts. Your body and speech depend on you. This is the first step. |
Đức Phật dạy việc thọ trì giới luật không hề khó nếu hành giả biết chăm sóc chính mình. Nếu bất kỳ hình thức gây hại nào sắp khởi sinh thông qua hành động thân hay khẩu của bạn, khi chánh niệm hiện hữu, hành giả sẽ nhận diện được chúng. Hành giả sẽ có tuệ phân biệt rõ ràng về điều đúng và sai. Đó chính là cách thọ trì gìn giữ giới luật của mình. Thân và khẩu của hành giả phụ thuộc vào chính bạn. Đây là bước đầu tiên. |
|
If you can look after your bodily actions and speech, then they’re beautiful. At ease. Your manners, your comings and goings, your speech, are all beautiful. This kind of beauty is the beauty that comes from having someone shape and mould them—someone who keeps looking after them and contemplating them all the time. It’s like our home, our sala, our huts, and their surrounding areas. If there’s someone to sweep them and look after them, they’re beautiful. They’re not dirty—because there’s someone to look after them. It’s because there’s someone looking after them that they can be beautiful. |
Nếu hành giả cẩn trọng trong những hành vi và lời nói của mình, thì chúng sẽ trở nên tốt đẹp. Thật an nhiên. Cử chỉ, dáng đi đứng, cũng như lời ăn tiếng nói của hành giả—tất cả đều toát lên vẻ đẹp. Vẻ đẹp này chính là thứ vẻ đẹp nảy sinh từ sự uốn nắn, trau chuốt—từ một người luôn không ngừng trông nom và quán chiếu chúng trong từng sát na. Điều này cũng tựa như ngôi nhà, ngôi chánh điện, hay những túp lều cùng khuôn viên bao quanh của chúng ta vậy. Nếu có người quét dọn và chăm sóc, chúng sẽ trở nên tốt đẹp. Chúng chẳng hề vương chút bụi bẩn nào—bởi lẽ đã có người tận tâm trông nom. Chính nhờ có người chăm sóc, mà những nơi chốn ấy mới có thể trở nên đẹp đẽ. |
The same with our bodily actions and speech: If there’s someone looking after them, they’re beautiful. Evil, obscene, dirty things can’t arise. Our practice is beautiful. fidi-kalyāṇaṁ, majjhe-kalyāṇaṁ, pariyosāna kalyāṇaṁ: Beautiful in the beginning, beautiful in the middle, beautiful in the end. What does this refer to? One, virtue; two, concentration; three, discernment. These things are beautiful. They start by being beautiful in the beginning. If the beginning is beautiful, then the middle is beautiful. If we can exercise restraint with ease, always being watchful and careful to the point where our mind is firmly established in the act of looking after things and exercising restraint, always intent, always firm, then this quality of being firm in your duties, firm in your restraint, is given a different name. It’s called “concentration.” |
Những hành động của thân và lời nói cũng vậy: Nếu có người biết trông nom, gìn giữ chúng, thì chúng sẽ trở nên tốt đẹp. Những điều xấu xa, thô tục hay ô uế sẽ không thể nảy sinh. Sự tu tập của chúng ta thật tốt đẹp. "Ādi-kalyāṇaṁ, majjhe-kalyāṇaṁ, pariyosāna-kalyāṇaṁ": Tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, và tốt đẹp ở phần cuối. Điều này muốn nói đến những gì? Thứ nhất là Giới (đức hạnh); thứ hai là Định (sự tập trung); thứ ba là Tuệ (sự sáng suốt). Những yếu tố này chính là sự tốt đẹp. Chúng bắt đầu bằng sự tốt đẹp ngay từ phần mở đầu. Nếu phần mở đầu đã tốt đẹp, thì phần giữa cũng sẽ tốt đẹp. Nếu chúng ta có thể thực hành sự gìn giữ, chế ngự một cách dễ dàng—luôn luôn tỉnh giác và cẩn trọng, đến mức tâm ta được an định vững chắc trong việc trông nom và chế ngự ấy; luôn luôn chuyên chú, luôn luôn kiên định—thì phẩm chất kiên định trong bổn phận và kiên định trong sự gìn giữ này sẽ được gọi bằng một cái tên khác. Đó chính là "Định" (sự tập trung). |
|
The quality of exercising restraint, always looking after your body, looking after your speech, looking after all the things that would arise in this way: This is called “virtue.” The quality of being firm in your restraint is called something else: “concentration,” the firm establishing of the mind. It’s firm in this preoccupation, firm in that preoccupation, always restrained. This is called concentration. This level of concentration is external, but it has an internal side as well. Make sure to have this with you always. This has to come first. |
Phẩm chất của việc tu tập sự ngăn giữ, luôn gìn giữ thân, gìn giữ lời nói, và gìn giữ mọi điều có thể khởi sinh theo cách ấy, được gọi là “đức hạnh.” Phẩm chất của sự kiên định trong việc thu thúc mang một tên gọi khác: “định”, tức là sự an trú vững chắc của tâm. Tâm vững vàng trong sự chú tâm này, vững vàng trong sự chú tâm kia, và luôn luôn giữ được sự thu thúc. Điều này được gọi là định. Cấp độ định này thuộc về phương diện ngoại tại, nhưng nó cũng bao hàm cả phương diện nội tại. Hãy luôn đảm bảo rằng hành giả gìn giữ được phẩm chất này bên mình mọi lúc. Đây là điều phải được đặt lên hàng đầu. |
|
When you’re firm in these things—when you have virtue and concentration—then you will also have the quality of contemplating what’s right and what’s wrong. “Is this right?” “Is this wrong?” These questions will arise with every preoccupation that comes into the mind: when sights make contact, when sounds make contact, when smells make contact, when tactile sensations make contact, when ideas make contact. A knower will appear, sometimes happy, sometimes sad, sometimes pleased. It will know good preoccupations, bad preoccupations. You’ll get to see all kinds of things. If you’re restrained, you’ll get to see all kinds of things coming in, as well as the reactions in the mind, in the knower. You’ll be able to contemplate them. Because you’ve exercised restraint and are firm in your restraint, then whatever passes in there, the reactions in terms of your bodily actions, your speech, and your mind will show themselves. Things good or evil, right or wrong will arise. And then when you choose or select the proper preoccupation, this is what’s called “a thin layer of discernment.” This discernment will appear in your heart. This is called virtue, concentration, and discernment all at once. This is how they first arise. |
Khi hành giả vững vàng trong những điều này—khi đã có Giới và Định—thì hành giả cũng có khả năng quán chiếu xem điều gì là đúng và điều gì là sai. “Điều này đúng chăng?” “Điều này sai chăng?” Những câu hỏi này sẽ khởi lên cùng với mỗi đối tượng tâm thức xuất hiện trong tâm: khi nhãn căn tiếp xúc với sắc trần, khi nhĩ căn tiếp xúc với thanh trần, khi tỷ căn tiếp xúc với hương trần, khi thân căn tiếp xúc với xúc trần, và khi ý căn tiếp xúc với pháp trần. Một "người biết" sẽ xuất hiện (tâm biết)—lúc thì vui, lúc thì buồn, lúc thì hài lòng. Nó sẽ nhận biết những đối tượng tâm thức tốt lành, cũng như những đối tượng tâm thức xấu ác. Hành giả sẽ có cơ hội nhìn thấy đủ thứ. Nếu hành giả thực hành sự chế ngự, hành giả sẽ thấy rõ đủ mọi thứ đang đi vào tâm, cũng như những phản ứng diễn ra bên trong tâm—bên trong cái "người biết" ấy. Hành giả sẽ có khả năng quán chiếu chúng. Bởi vì hành giả đã tu tập sự thu thúc và vững vàng trong sự thu thúc đó, nên bất cứ điều gì đi ngang qua tâm —cùng với những phản ứng biểu hiện qua hành động thân, khẩu và ý của hành giả—đều sẽ tự hiển lộ ra. Những điều thiện hay ác, đúng hay sai đều sẽ khởi lên. Và rồi, khi lựa chọn hoặc nắm bắt lấy đối tượng tâm thức phù hợp, đó chính là điều được gọi là “một lớp Tuệ mỏng manh”. Tuệ giác này sẽ hiển hiện ngay trong tâm hành giả. Đây chính là trạng thái Giới, Định và Tuệ cùng hiện hữu đồng thời. Đó chính là cách chúng bắt đầu khởi sinh. |
|
What arises next will be attachment. This is where you’re attached to goodness. You’ll be afraid that your mind will be negligent or mistaken in various ways, afraid that your concentration will be destroyed. This will arise because you love your concentration a lot. You’re very protective, very diligent, very persistent. When any preoccupation makes contact, you’re afraid of it. Wary. Concerned. You see this or that person acting wrongly, and you see everything. You’re very possessive. This is a level of virtue, a level of concentration, a level of discernment: the external level. You see things in line with the Buddha’s laws. This is a beginning stage. It has to be established in your mind. You need to have it in your mind. These qualities arise really strongly in the mind—to the point where, wherever you go, you see everyone acting wrongly. You get happy and sad, you start having doubts, all kinds of things. You’re always ready to pounce on other people’s mistakes. This is going overboard, but that’s not a problem for the time being. Let it go overboard for now. You first have to look after your bodily actions, look after your speech, look after your mind as much as you can. There’s nothing wrong with this. |
Điều nảy sinh tiếp theo sẽ là sự chấp thủ. Đây là giai đoạn hành giả chấp dính vào những điều thiện. Hành giả lo sợ tâm mình sẽ xao lãng hoặc sai lầm theo nhiều cách khác nhau; sợ rằng sự định tâm của mình sẽ bị phá vỡ. Điều này nảy sinh bởi vì hành giả yêu quý sự định tâm của mình. Hành giả rất bao bọc, rất tinh tấn và vô cùng kiên trì. Khi bất kỳ mối bận tâm nào chạm tới, hành giả đều cảm thấy sợ hãi. Thận trọng. Lo ngại. Khi nhìn thấy người này hay người kia hành xử sai trái, hành giả đều nhận thấy rõ ràng. Hành giả trở nên có tính chiếm hữu. Đây là một cấp độ của giới, một cấp độ của định, và một cấp độ của tuệ, cụ thể là cấp độ thuộc về ngoại cảnh. Bạn nhìn nhận mọi sự việc theo đúng với những quy luật của Đức Phật. Đây là giai đoạn khởi đầu. Những điều này cần phải được thiết lập vững chắc trong tâm. Hành giả cần phải nắm giữ chúng trong tâm. Những phẩm chất này nảy sinh trong tâm vô cùng mạnh mẽ—đến mức dù hành giả đi đến bất cứ đâu cũng đều nhìn thấy mọi người đang hành xử sai trái. Hành giả trải qua đủ mọi cung bậc cảm xúc, khi vui khi buồn, rồi bắt đầu nảy sinh những hoài nghi—tất cả mọi thứ đều xuất hiện. Hành giả luôn trong tư thế sẵn sàng săm soi những sai lầm của người khác. Việc này có phần thái quá, nhưng tạm thời thì đó chưa phải là vấn đề đáng ngại. Cứ để cho sự thái quá ấy diễn ra trong lúc này. Trước hết, hành giả cần phải nhìn vào những hành động của thân, khẩu, và ý của mình một cách trọn vẹn nhất có thể. Việc làm này không có gì sai trái. |
|
This is called one level of virtue. Virtue, concentration, and discernment are all there together. In terms of the perfections, this is the first level of the perfections: dāna-pāramī, sīla-pāramī. That’s one level, the one you’ve already reached. The next level—dāna-upapāramī, sīla upapāramī—is something else that has to grow out of this. It takes things to a level more refined than this. You’re distilling something refined out of something crude, that’s all. You don’t get the next level from anything else far away. |
Điều này được gọi là cấp độ của giới. Giới, định và tuệ tất cả đều sinh khởi cùng nhau. Xét về phương diện các "pāramī" (Ba-la-mật) đây chính là cấp độ thứ nhất của sự viên mãn: *dāna-pāramī* (Bố thí Ba-la-mật) và *sīla-pāramī* (Trì giới Ba-la-mật). Đó là một cấp độ, là cấp độ hành giả đã đạt đến. Cấp độ tiếp theo—"dāna-upapāramī" (Bố thí Thượng Ba-la-mật) và "sīla-upapāramī" (Trì giới Thượng Ba-la-mật)—lại là một điều gì đó khác, vốn phải được phát triển lên từ chính nền tảng này. Nó đưa mọi sự lên một cấp độ tinh tế hơn so với hiện tại. Hành giả đang lọc những gì tinh tế từ những gì thô tháo, chỉ vậy thôi. Bạn sẽ không tìm thấy cấp độ tiếp theo từ bất cứ nguồn nào khác ở đâu xa. |
|
When you’ve established this foundation, practicing it in your heart in the first stage, you develop a sense of conscience, a sense of fear both in private and in public places. The heart is really afraid, on edge at all times. The mind takes its sense of right and wrong as its preoccupation at all times. It’s preoccupied with exercising restraint over your bodily actions and speech, always firm in this way. It’s really firmly attached. This is virtue, concentration, and discernment in line with the Buddha’s rules. |
Khi hành giả đã duy trì được nền tảng này, việc tu tập nó trong tâm ngay từ giai đoạn đầu, hành giả sẽ phát triển sự ý thức về lương tâm biết tàm quí trước những điều sai trái, dù ở nơi riêng tư hay chốn đông người. Tâm thực sự luôn cảnh giác nỗi sợ hãi, luôn ở trong trạng thái cảnh giác cao độ. Ý thức lúc nào cũng chuyên chú vào việc phân biệt rõ ràng giữa điều đúng và điều sai. Nó luôn bận tâm đến việc thực hành thu thúc những hành vi của thân và khẩu, luôn kiên định vững vàng theo phương cách ấy. Tâm bám trụ vào sự kiên định này một cách vô cùng vững chắc. Đây chính là Giới, Định và Tuệ, những yếu tố hoàn toàn phù hợp với giáo pháp của Đức Phật. |
|
As you keep looking after things in this way, keep practicing continually, continually, continually in this way, these qualities will grow full in your heart. But this level of virtue, concentration, and discernment hasn’t yet reached the level of jhāna. These things are still fairly crude. They’re refined, but they’re the refined level of what’s crude. They’re the refinement of ordinary, run-of-the-mill people who’ve never done this before, never restrained their behavior before, never meditated, never practiced before. So for them, this level is refined. |
Khi hành giả duy trì sự quan sát mọi việc theo cách này, và không ngừng thực hành, liên tục, liên tục, liên tục, thì những phẩm chất ấy sẽ ngày càng phát triển viên mãn trong tâm hành giả. Tuy nhiên, mức độ giới, định và tuệ này vẫn chưa đạt đến cảnh giới của thiền định (Jhāna). Những điều này vẫn còn khá thô tháo. Chúng tuy có sự tinh tế, nhưng chỉ là sự tinh tế ở cấp độ của cái thô tháo. Đó là sự tinh tế của những người phàm tục, những người chưa từng làm những việc này bao giờ, chưa từng biết thu thúc các hành vi của mình, chưa từng ngồi thiền hay thực hành tu tập trước đây. Vì thế, đối với họ, với mức độ này đã được xem là tinh tế rồi. |
|
It’s like five baht or ten baht, which have meaning for poor people. For people who have money by the millions, five or ten baht mean nothing. That’s the way it is. If you’re poor, you want a baht or two. This has meaning only for people who are poor and lacking. Your ability to abandon gross forms of harm has meaning for ordinary run-of-the-mill people who’ve never abandoned them before. And you can be proud on this level. You’ve fully completed this level. You’ll see this for yourself. All those who practice have to maintain this in their hearts. |
Nó giống như năm hay mười baht nó to lớn đối với những người nghèo khó. Còn đối với những người có hàng triệu baht, năm hay mười baht chẳng có ý nghĩa nào cả. Đời là thế. Khi đã nghèo khó, người ta chỉ mong có được dù chỉ một hay hai baht. Điều này chỉ thực sự có ý nghĩa đối với những ai đang sống trong cảnh nghèo túng và thiếu thốn. Khả năng từ bỏ những hành vi gây hại thô thiển của hành giả mang một ý nghĩa đặc biệt đối với những người bình thường, những người vốn dĩ chưa bao giờ làm được điều đó trước đây. Và ở cấp độ này hành giả có quyền tự hào. Hành giả đã hoàn thành trọn vẹn cấp độ tu tập này. Hành giả sẽ tự mình nhận thấy điều đó. Tất cả những ai đang tu tập đều cần phải luôn khắc ghi điều này trong tâm. |
|
When this is the case, you’re said to be walking the path of virtue, the path of concentration, the path of discernment: virtue, concentration, and discernment all at once. They can’t separate out. When your virtue is good, the firmness of the mind grows even firmer. When the mind is firm, your discernment gets sharper. These things become synonyms for one another. You practice continually, continually. It’s right practice without gaps. |
Khi đạt đến trạng thái này, hành giả nói rằng đang bước đi trên con đường của Giới, con đường của Định, và con đường của Tuệ: Giới, Định và Tuệ cùng hiện hữu một lúc. Chúng không thể tách rời nhau. Khi Giới hạnh của hành giả được vẹn toàn, sự kiên định của tâm sẽ càng trở nên vững hơn. Khi tâm đã vững vàng, Tuệ giác của hành giả sẽ trở nên sắc bén hơn. Những yếu tố này trở thành những từ đồng nghĩa bổ trợ nhau. Hành giả tu tập một cách liên tục, không ngừng nghỉ. Đó chính là sự tu tập đúng, không hề có bất kỳ khoảng hở nào. |
|
So if you practice in this way, you’re said to have entered the first stage of the path of practice. This is a crude level, something a little hard to maintain, but the refined levels of virtue, concentration, and discernment all come out of this. It’s as if they’re distilled from this same thing. To put it in simple terms, it’s like a coconut tree. A coconut tree absorbs ordinary water up through its trunk, but when the water reaches the coconuts, it’s sweet and clean. It comes from ordinary water, the trunk, the crude dirt. But as the water gets absorbed up the tree, it gets distilled. It’s the same water but when it reaches the coconuts it’s cleaner than before. And sweet. In the same way, the virtue, concentration, and discernment of your path are crude, but if the mind contemplates these things until they’re more and more refined, their crudeness will disappear. They get more and more refined, so that the area you have to maintain grows smaller and smaller, into the mind. Then it’s easy. Things get closer to you |
Vì vậy nếu hành giả tu tập theo cách này, hành giả được xem là đã bước vào giai đoạn đầu tiên của con đường tu tập. Đây là một cấp độ thô sơ, điều gì đó hơi khó để duy trì; tuy nhiên, những cấp độ tinh tế hơn về giới, định và tuệ đều nảy sinh từ chính nền tảng này. Cứ như thể chúng được lọc ra từ cùng một nguồn gốc. Nói một cách đơn giản, điều này tựa như một cây dừa. Cây dừa hút nước bình thường thông qua thân cây; nhưng khi dòng nước ấy đưa đến trái dừa, nó lại trở nên ngọt lành và tinh khiết. Nguồn nước ấy vốn bắt nguồn từ nước thường, từ thân cây và từ cả lớp đất thô sơ. Thế nhưng, khi dòng nước được đưa dần lên khắp thân cây, nó lại trải qua quá trình chắt lọc và tinh chế. Vẫn là dòng nước ấy, nhưng khi chảy vào trong trái dừa, nó trở nên tinh khiết hơn hẳn so với lúc ban đầu. Và thật ngọt ngào. Cũng theo cách tương tự, giới, định và tuệ trên con đường tu tập của hành giả thoạt đầu có vẻ thô sơ; nhưng nếu tâm hành giả quán chiếu những yếu tố này cho đến khi chúng ngày càng trở nên tinh tế hơn, thì sự thô sơ ấy sẽ tan biến. Chúng ngày càng trở nên tinh tế hơn, đến mức phạm vi mà hành giả cần phải duy trì và gìn giữ ngày càng thu hẹp lại, cho đến khi chỉ còn nằm gọn trong chính tâm của bạn. Khi ấy, mọi việc trở nên thật dễ dàng. Mọi sự vật, hiện tượng đều trở nên gần gũi hơn với chính bản thân hành giả. |
|
Now at this stage, you don’t make any big mistakes. It’s simply that when any issue strikes the heart, a question arises. For example, “Is acting in this way right or wrong?” Or: “Is speaking in this way right?” “Is speaking in this way wrong?”: this sort of thing. You abandon things and come closer and closer in—continually, continually closer in. Your concentration is even firmer; your discernment sees even more easily. |
Trong giai đoạn này bây giờ hành giả không còn mắc phải những sai lầm lớn nào nữa. Đơn giản là khi bất cứ vấn đề gì chạm đến tâm, một câu hỏi sẽ nảy sinh. Chẳng hạn như: “Hành xử theo cách này là đúng hay sai?” Hoặc: “Nói năng theo cách này có đúng không?” “Nói năng theo cách này có sai không?”—những câu hỏi đại loại như thế. Bạn buông bỏ mọi sự và ngày càng hướng tâm đi sâu vào bên trong—liên tục, không ngừng đi sâu vào. Sự định tâm của bạn trở nên vững vàng hơn; tuệ giác của bạn cũng quán chiếu mọi sự dễ dàng hơn. |
|
The end result is that you see things simply in terms of the mind and its preoccupations. You don’t go splitting off to bodily actions or speech. You don’t go splitting off to anything at all. When we talk about affairs of body and mind, the body and mind depend on each other. You see what exercises control over the body: the mind. Whatever the body does is because of the mind. Now, before the mind exercises control over the body, the impulse comes from the preoccupations making contact with the mind and then exercising control over the mind. So as you keep on contemplating inwardly, inwardly, your subtlety will gradually develop. The end result is that there’s nothing but the mind and its preoccupations. In other words, the body, which is a physical phenomenon, becomes non-physical. The mind no longer grasps at its physicality. It turns its aspect as a physical thing into something non physical: a mind object or preoccupation that makes contact with the mind. Eventually, everything is just a matter of the mind and its preoccupations—the preoccupations that arise along with our mind. |
Kết quả cuối cùng là hành giả thấy sự việc đơn thuần trên phương diện của tâm và những mối bận tâm của nó. Hành giả không còn bị phân tán sang các hành động của thân hay lời nói nữa. Hành giả hoàn toàn không còn bị phân tán sang bất cứ điều gì khác. Khi chúng ta nói về các vấn đề của thân và tâm, ta thấy rằng thân và tâm luôn nương tựa vào nhau. Hành giả nhận ra được yếu tố nào đang chi phối thân: chính là tâm. Mọi hành động của thân đều bắt nguồn từ tâm. Giờ đây, trước khi tâm thực sự chi phối thân, thì lực khởi phát lại đến từ những mối bận tâm—chúng tiếp xúc với tâm, và sau đó lại chi phối ngược lại chính tâm ấy. Vì vậy, khi hành giả không ngừng quán chiếu vào bên trong, ngày càng đi sâu vào nội tâm, sự tinh tế trong nhận thức của hành giả sẽ dần dần được phát triển. Kết quả rốt ráo là chẳng còn gì hiện hữu ngoại trừ tâm và những mối bận tâm của nó. Nói cách khác, thân, vốn là một hiện tượng vật lý, giờ đây trở thành một thực thể phi vật lý. Tâm không còn bám chấp vào tính vật lý của thân nữa. Nó chuyển hóa bản chất vật lý của thân thành một thứ phi vật lý: một đối tượng của tâm, hay một mối bận tâm đang tiếp xúc trực tiếp với tâm. Rốt cuộc, mọi sự việc đều chỉ xoay quanh vấn đề của tâm và những mối bận tâm của nó, những mối bận tâm vốn luôn khởi sinh song hành cùng với tâm của chúng ta. |
|
Our mind. This is where we begin to fathom the nature of our mind. Our mind has no issues. It’s like a scrap of cloth or a flag that’s fastened to the end of a pole and just stays there: Nothing happens. Or like a leaf left to its own nature: It stays still; nothing happens. The fact that the leaf flutters is because of something else: the wind. The nature of the leaf itself is that it stays still and doesn’t do anything to anybody. The fact that it moves is because something else comes and makes contact. When the wind makes contact, the leaf flutters back and forth. |
Tâm của chúng ta. Đây là nơi ta bắt đầu thấu hiểu bản chất của tâm mình. Tâm của chúng ta vốn dĩ không hề có vấn đề gì. Nó tựa như một mảnh vải hay một lá cờ được buộc vào đầu một chiếc cột và cứ thế đứng yên tại chỗ: Chẳng có điều gì xảy ra cả. Hoặc giống như một chiếc lá được để tự nhiên theo bản tính tự nhiên của nó: Nó đứng yên; chẳng có điều gì xảy ra. Việc chiếc lá rung rinh lay động là do một yếu tố khác tác động: chính là cơn gió. Bản chất tự thân của chiếc lá là sự tĩnh lặng, và nó chẳng hề gây hại hay làm phiền đến bất cứ ai. Việc nó chuyển động là bởi có một yếu tố khác tìm đến và tiếp xúc với nó. Khi cơn gió chạm tới, chiếc lá liền rung rinh lay động qua lại. |
|
It’s the same with the nature of our mind. There’s no love, no hatred, no blaming of anyone. It stays as it is in that way—a condition that’s really pure, clear, and clean. It stays in peace, with no pleasure, no pain, no feelings at all. That’s the genuine condition of the mind. The reason we practice is to explore inwardly, explore inwardly, explore inwardly, to contemplate inwardly until we reach the primal mind: the primal mind that’s called the pure mind. The pure mind is the mind without any issues. No preoccupations are passing by. In other words, it doesn’t go running after preoccupations. It doesn’t criticize this or that, doesn’t get pleasure in this way or that. It’s not happy about this thing or sad about that. And yet the mind is always aware. It knows what’s going on. |
Tâm chúng ta bản chất cũng y như vậy. Ở đó không có yêu thương, không có thù hận, cũng chẳng có sự oán trách bất kỳ ai. Nó cứ an trú nguyên vẹn như thế—một trạng thái thực sự thuần khiết, trong sáng và thanh tịnh. Nó an trú trong sự bình an, không có khoái lạc, không có khổ đau, và hoàn toàn không có bất kỳ cảm thọ nào. Đó chính là trạng thái chân thực của tâm. Lý do chúng ta tu tập là để hướng tâm vào bên trong quán chiếu, liên tục hướng vào bên trong, hướng vào bên trong, cho đến khi ta chạm đến bản tâm nguyên sơ: cái bản tâm nguyên sơ được gọi là tâm thuần khiết. Tâm thuần khiết là tâm không vướng mắc bất kỳ vấn đề nào. Không có những mối bận tâm nào lướt qua tâm. Nói cách khác, nó không chạy đuổi theo những mối bận tâm ấy. Nó không phê phán điều này hay điều kia, cũng không tìm kiếm khoái lạc theo cách này hay cách nọ. Nó không vui mừng vì chuyện này, cũng chẳng buồn vì chuyện kia. Thế nhưng, tâm vẫn luôn luôn tỉnh giác. Nó thấu rõ mọi sự đang diễn ra. |
|
When the mind is in this state, then when preoccupations come blowing through—good, bad, whatever the preoccupations: When they come blowing or cogitating in, the mind is aware of them but stays as it is. It doesn’t have any issues. It doesn’t waver. Why? Because it’s aware of itself. It’s aware of itself. It’s constructed freedom within itself. It’s reached its own condition. How has it been able to reconstruct its primal condition? Because the knower has contemplated in a subtle way to see that all things are simply manifestations of properties and elements. There’s nobody doing anything to anybody. As when pleasure or pain arises: When pleasure arises, it’s just pleasure, that’s all. When pain arises, it’s just pain, that’s all. It doesn’t have any owner. The mind doesn’t make itself the owner of pleasure, doesn’t make itself the owner of pain. It watches these things and sees that there’s nothing for it to take. They’re separate kinds of things, separate kinds of affairs. Pleasure is just pleasure, that’s all. Pain is just pain, that’s all. The mind is simply what knows these things. |
Khi tâm ở trong trạng thái này, thì những mối bận tâm có ùa đến, dù tốt, dù xấu, hay bất kể là mối bận tâm gì đi nữa: Khi chúng đến hay khởi lên, tâm nhận biết về chúng nhưng vẫn giữ nguyên trạng thái vốn có. Nó không gặp phải bất cứ vấn đề gì. Nó không hề xao động. Tại sao? Bởi vì nó nhận biết chính mình. Nó nhận biết chính mình. Nó đã kiến tạo nên sự giải thoát ngay trong nội tại. Nó đã đạt đến trạng thái chân nguyên của chính mình. Làm thế nào nó có thể khôi phục lại trạng thái nguyên sơ ấy? Bởi vì tâm đã quán chiếu một cách vi tế để thấu hiểu rằng vạn vật chẳng qua chỉ là những biểu hiện của các thuộc tính và yếu tố cấu thành. Chẳng có ai đang làm điều gì tác động lên bất cứ ai cả. Cũng giống như khi cảm giác vui hay đau khổ khởi sinh: Khi niềm vui khởi sinh, đó chỉ đơn thuần là niềm vui, thế thôi. Khi nỗi đau khởi sinh, đó chỉ đơn thuần là nỗi đau, thế thôi. Chúng không hề có bất cứ chủ sở hữu nào. Tâm không tự coi mình là chủ nhân của niềm vui, cũng không tự coi mình là chủ nhân của nỗi đau. Nó quan sát những sự việc này và nhận thấy chẳng có gì để nó phải nắm bắt hay chiếm hữu. Chúng là những loại sự vật riêng biệt, những loại sự việc hoàn toàn tách rời. Niềm vui chỉ là niềm vui, thế thôi. Nỗi đau chỉ là nỗi đau, thế thôi. Tâm đơn thuần chỉ là thực thể nhận biết về những điều này. |
|
Before, when there was a basis for greed, aversion, or delusion, the mind would take these things on as soon as it saw them. It would take on pleasure; it would take on pain. It went right into them to feed on them. “We” took pleasure and pain without stop. That’s a sign that the mind wasn’t aware of what it was doing. It wasn’t bright. It didn’t have any freedom. It went running after its preoccupations. A mind that runs after its preoccupations is a destitute mind. When it gets a good preoccupation, it’s good along with it. When it gets a bad preoccupation, it’s bad along with it. It forgets itself, that its primal nature is something neither good nor bad. If the mind is good along with its preoccupations, that’s a deluded mind. When bad comes and it’s bad, too; when pain comes and it’s pained, too; when pleasure comes and it’s pleased, too, the mind turns into a world. Its preoccupations are a world. They’re stuck with the world. They give rise to pleasure, pain, good, bad—all kinds of things. And they’re all not for sure. If the mind leaves its primal nature, nothing’s for sure. There’s nothing but taking birth and dying, quivering and wavering, suffering and lacking—nothing but difficulties for a long, long time. These things have no way of coming to closure. They’re all just part of the cycle. When we contemplate them with subtlety, we see that they have to keep on being the way they’ve been in the past. |
Trước đây, khi tham, sân hoặc si khởi sinh, tâm liền nắm bắt lấy những điều ấy ngay khi vừa nhận thấy. Nó nắm bắt cảm giác khoái lạc; nó nắm bắt cảm giác khổ đau. Nó lao thẳng vào những cảm giác ấy để nuôi dưỡng chúng. "Ta" cứ thế không ngừng nắm bắt lấy khoái lạc và khổ đau. Đó là dấu hiệu cho thấy tâm khi ấy không hề ý thức được những gì mình đang làm. Nó thiếu đi sự sáng suốt. Nó hoàn toàn không có chút tự do nào. Nó cứ mãi chạy đuổi theo những đối tượng bận tâm của chính mình. Một tâm cứ mãi chạy đuổi theo những đối tượng bận tâm là một tâm nghèo nàn. Khi gặp được một đối tượng tốt đẹp, tâm cũng trở nên tốt đẹp theo đối tượng ấy. Khi gặp phải một đối tượng xấu, tâm cũng trở nên xấu theo đối tượng ấy. Nó quên chính bản thân mình, quên rằng bản tánh nguyên sơ của nó vốn là một trạng thái không thiện không ác. Nếu tâm cứ biến đổi theo những đối tượng bên ngoài, thì đó chính là một tâm đang chìm trong si mê. Khi điều xấu đến, tâm cũng xấu theo; khi khổ đau ập đến, tâm cũng cảm thấy khổ đau; khi khoái lạc xuất hiện, tâm cũng cảm thấy thỏa mãn theo, tâm đã tự biến mình thành một "thế giới". Những đối tượng bận tâm của nó chính là một thế giới. Chúng bị trói buộc chặt vào thế giới ấy. Chúng làm nảy sinh đủ mọi thứ: khoái lạc, khổ đau, thiện, ác, tất cả mọi cảm thọ. Và tất cả những điều ấy đều là những thứ vô thường, không có gì là chắc chắn. Nếu tâm đánh mất bản tánh nguyên sơ của chính mình, thì chẳng còn điều gì là chắc chắn nữa. Chẳng còn gì khác ngoài sự sinh rồi diệt, sự chao đảo và bất định, sự khổ đau và thiếu thốn, chẳng còn gì ngoài những khó khăn chồng chất kéo dài mãi mãi. Những điều này không bao giờ tìm được lối thoát hay điểm kết thúc. Tất cả chúng chỉ là một phần của vòng luân hồi bất tận. Khi chúng ta quán chiếu những điều này một cách thật thâm sâu và vi tế, chúng ta sẽ nhận thấy rằng chúng buộc phải tiếp diễn theo đúng cái cách mà chúng đã từng diễn ra trong quá khứ. |
|
As for the mind, it doesn’t have any issues. When it does have issues, it’s because we grasp onto things. Like the praise and blame of human beings: If someone says, “You’re evil,” why do you suffer? You suffer because you understand that they’re criticizing you. So you pick that up and put it in your heart. The act of picking it up—knowing it and taking it on that way —is because you’re not wise to what it is, and so you catch hold of it. When you do that, it’s called stabbing yourself with clinging. When you’ve stabbed yourself, there’s becoming that gives rise to birth. |
Về phần tâm, tự thân nó vốn không hề có vấn đề gì. Khi tâm nảy sinh vấn đề, đó là vì chúng ta đã bám chấp vào mọi sự vật. Cũng giống như chuyện khen chê giữa người với người vậy: Nếu có ai đó nói rằng: "Ngươi thật độc ác!", thì tại sao hành giả lại cảm thấy khổ đau? Hành giả khổ đau, là do hành giả đã hiểu rằng họ đang chỉ trích mình. Thế là hành giả nhặt lấy lời nói ấy và ôm trọn vào lòng. Cái hành động nhận lấy nó—tức là nhận biết nó và đón nhận nó theo cách đó—xảy ra là bởi vì hành giả thiếu trí tuệ để thấu rõ bản chất thực sự của sự việc; và chính vì thế, hành giả đã nắm chặt lấy nó. Khi hành giả làm như vậy, gọi là tự đâm chính mình bằng sự bám chấp. Một khi đã tự đâm chính mình, thì sự hiện hữu (trở thành) sẽ khởi sinh, và từ đó dẫn đến sự tái sinh. |
|
With some people’s words, if we don’t pay them any attention or take them on—when we leave them simply as sounds, that’s all—then there are no issues. Say a Khmer person curses you: You hear it, but it’s just sounds—Khmer sounds, that’s all. They’re just sounds. When you don’t know their meaning, that they’re cursing you, the mind doesn’t take them on. In this way, you can be at your ease. Or if Vietnamese or any other people of different languages curse you, all you hear are sounds. You’re at your ease because you don’t bring them in to stab the mind. |
Đối với lời nói của một số người, nếu ta không bận tâm hay đón nhận chúng—mà chỉ để chúng trôi qua như những âm thanh đơn thuần, thế thôi—thì sẽ không có vấn đề gì. Giả sử có một người Khmer chửi bạn: Bạn nghe thấy đấy, nhưng chúng chỉ là những âm thanh—những âm thanh tiếng Khmer, chỉ vậy thôi. Chúng đơn thuần chỉ là những âm thanh. Khi bạn không hiểu ý nghĩa của chúng—rằng họ đang chửi rủa mình—thì tâm sẽ không đón nhận những lời đó. Nhờ vậy, bạn có thể giữ được sự thảnh thơi, an nhiên. Hoặc giả như người Việt hay bất kỳ ai nói ngôn ngữ khác chửi rủa bạn, tất cả những gì bạn nghe thấy cũng chỉ là những âm thanh mà thôi. Bạn cảm thấy an nhiên bởi vì bạn không rước những lời đó vào để đâm cứa tâm mình. |
|
This mind: Speaking about the arising and passing away of the mind, these things are easy to know when we keep on contemplating in this way continually, continually inward. The mind gradually becomes more and more refined because it has passed through the crude stages of the practice. Your concentration gets even more inwardly firm, more inwardly focused. The more it contemplates inwardly, the more sure it is that this state of mind isn’t influenced by anything. The mind like this is really convinced that it isn’t influenced by anything, by any preoccupations. Preoccupations are preoccupations; the mind is the mind. The fact that the mind is pleased or pained, good or bad, is because it falls for its preoccupations. If it doesn’t fall for its preoccupations, it has no issues. It doesn’t waver. This condition is called a condition of awareness. All the things that it knows are manifestations of the properties and elements. They simply arise and pass away, arise and pass away. |
Tâm này: Khi nói về sự sinh diệt của tâm, những điều này thật dễ nhận biết nếu ta liên tục quán chiếu theo cách này, liên tục hướng vào bên trong. Tâm dần trở nên ngày càng vi tế hơn, bởi lẽ nó đã vượt qua những giai đoạn thô thiển của sự tu tập. Định lực của bạn càng trở nên vững chắc hơn, càng tập trung sâu sắc hơn vào nội tâm. Càng quán chiếu vào bên trong, tâm càng nhận thức rõ ràng và chắc chắn rằng trạng thái tâm này không hề bị bất cứ điều gì tác động. Một tâm thức như thế thực sự tin tưởng tuyệt đối rằng nó không bị ảnh hưởng bởi bất cứ điều gì, hay bởi bất kỳ sự bận tâm nào. Những sự bận tâm vẫn là những sự bận tâm; còn tâm vẫn là tâm. Việc tâm cảm thấy vui hay khổ, thiện hay ác, là do nó đã bị dính mắc vào những sự bận tâm của chính mình. Nếu không bị dính mắc vào những sự bận tâm ấy, tâm sẽ chẳng gặp vấn đề gì cả. Nó không hề dao động. Trạng thái này được gọi là trạng thái của sự tỉnh giác. Tất cả những gì tâm nhận biết đều là những biểu hiện của các tính chất và các yếu tố cấu thành. Chúng đơn thuần chỉ sinh rồi diệt, sinh rồi lại diệt. |
|
Even though you sense this, you can’t yet let go. But at this point, whether you can or can’t let go doesn’t matter. Simply hold to this awareness or this perception as a first stage in dealing with the mind. You keep going inward, grinding down and killing your defilements continually |
Mặc dù đã cảm nhận được điều này, hành giả vẫn chưa thể buông bỏ. Tuy nhiên, vào thời điểm này, việc hành giả có thể hay không thể buông bỏ cũng không quan trọng nữa. Hãy đơn thuần duy trì sự nhận biết hay tri giác này như là bước đầu tiên trong quá trình đối trị với tâm. Hãy tiếp tục hướng vào nội tâm, không ngừng mài giũa và diệt trừ những phiền não cấu uế của chính mình. |
|
And when you then see, the mind withdraws. Our Foremost Teacher or the texts call this the “change-of-lineage mind” (gotarabhū-citta). This is the mind transcending the human lineage—the mind of a run-of-the-mill person—and heading toward being a noble one, which comes out of run of-the-mill people like us. The gotarabhū individual steps into the nibbāna mind but can’t yet go all the way. He withdraws to continue practicing on another level. To compare this with a person, it’s like a person who’s trying to cross a stream. One foot is on this bank of the stream; the other foot is on the far bank of the stream. He realizes that there is a this bank and a far bank, but he can’t yet get across. So he pulls back. The state of understanding that there is both a this bank and a far bank: That’s the gotarabhū individual or the gotarabhū mind. What this means is that he understands but can’t yet get across. He pulls back after realizing that these things exist. Then he carries on, developing his perfections. He sees that this is for sure, that this is the way things are, and that he’s going to have to end up going right there. |
Và khi hành giả nhìn thấy sự thật, tâm sẽ rút lui.Vị Thầy Tối thượng (Đức Phật) của chúng ta, hay các kinh điển, gọi trạng thái này là "tâm chuyển tộc" (gotarabhū-citta). Đây là tâm vượt thoát khỏi dòng tộc phàm nhân—tức là tâm của một người bình thường—để hướng tới việc trở thành một bậc Thánh nhân; một bậc Thánh nhân vốn xuất thân từ chính những người phàm tục như chúng ta. Người ở trạng thái gotarabhū bước chân vào cảnh giới tâm Niết-bàn, nhưng chưa thể đi trọn vẹn đến đích. Người ấy rút lui để tiếp tục tu tập ở một cấp độ khác. Để ví von điều này với một con người cụ thể, thì nó tựa như một người đang cố gắng băng qua một dòng suối. Một chân người ấy đang đặt ở bờ bên này của dòng suối; chân kia lại đặt ở bờ bên kia. Người ấy nhận ra rằng có tồn tại cả bờ bên này lẫn bờ bên kia, nhưng chưa thể hoàn toàn bước sang bờ bên kia được. Vì thế, người ấy rút chân lại. Trạng thái nhận thức rằng có tồn tại cả bờ bên này lẫn bờ bên kia: Đó chính là người ở trạng thái gotarabhū, hay là tâm gotarabhū (tâm chuyển tộc). Điều này có nghĩa là người ấy đã thấu hiểu, nhưng chưa thể hoàn toàn bước sang bờ bên kia. Người ấy rút lui sau khi đã nhận thức rõ ràng rằng những điều này thực sự hiện hữu. Sau đó, người ấy tiếp tục hành trình, trau dồi và viên mãn các Ba-la-mật của mình. Người ấy thấy rõ một cách chắc chắn rằng điều này là có thật, rằng bản chất sự vật đúng là như vậy, và rằng rốt cuộc thì người ấy sẽ phải đi đến chính đích điểm đó. |
|
To put it in simple terms, at this point we see the condition of our practice: that if we really contemplate what’s happened, we’ll see that the mind has a path it will have to follow. We know the first step of the path is that gladness and sadness are not the path for us to follow. We’re sure to understand this—and that’s the way it really is. If you’re glad, it’s not the path because it can give rise to stress. If you’re sad, it can give rise to stress. We think in these terms, but we can’t yet let these things go. |
Nói một cách đơn giản, ở điểm này chúng ta biết được thực trạng tu tập của mình: đó là nếu thực sự quán chiếu những gì đã diễn ra, ta sẽ thấy rằng tâm vốn có một con đường mà nó buộc phải đi theo. Chúng ta biết bước đầu tiên trên con đường ấy chính là: niềm vui và nỗi buồn không phải là lối đi mà ta phải theo. Chúng ta chắc chắn sẽ hiểu điều này—và thực tế đúng là như vậy. Nếu hành giả vui, đó không phải là con đường đúng, bởi lẽ niềm vui ấy có thể khơi dậy sự căng thẳng. Nếu hành giả buồn, điều đó cũng có thể dẫn đến sự căng thẳng. Chúng ta tư duy theo hướng này, nhưng lại vẫn chưa thể buông bỏ được những cảm xúc ấy. |
|
So where will we go so that it’s right? We take gladness and sadness, put them on either side, and try to walk right down the middle. When we keep this in mind, we’re right on the path. We comprehend this, but we can’t yet do it. As long as we can’t yet do it, then if we get stuck on pleasure or pain, we always know we’re stuck—and that’s when we can be right |
Vậy ta phải đi về đâu để có thể đi đúng? Ta đón nhận cả niềm vui lẫn nỗi buồn, đặt chúng sang hai bên, rồi cố gắng bước đi ngay chính giữa. Khi luôn ghi nhớ điều này, ta đang đi đúng trên con đường chân chính. Ta thấu hiểu điều đó, nhưng vẫn chưa thể thực hành được ngay. Chừng nào ta còn chưa làm được, thì mỗi khi bị mắc kẹt vào những cảm giác khoái lạc hay khổ đau, ta vẫn luôn nhận biết được rằng mình đang bị mắc kẹt—và chính vào khoảnh khắc ấy, ta mới thực sự đang đi đúng hướng. |
|
When the mind is stuck on pleasure in this way, we don’t approve of it. When the mind is stuck on pain, we don’t despise it. We now get to watch them. Pleasure is wrong. Pain is wrong. We understand that they’re not the path. We know, yet even though we know, we can’t let them go. We can’t let them go, and yet we know. When we know, we don’t approve of pleasure, we don’t approve of pain. We don’t approve of either of them, and we have no doubts, for we know that they’re the same in not being the path. This way isn’t the path; that way isn’t the path—so we take the middle as our constant preoccupation. |
Khi tâm dính mắc vào sự khoái lạc theo cách này, ta không tán thành điều đó. Khi tâm dính mắc vào nỗi khổ đau, ta không hề chán ghét nó. Giờ đây, ta có thể quan sát chúng. Khoái lạc là sai. Khổ đau cũng là sai. Ta thấu hiểu rằng chúng không phải là con đường đạo. Ta biết rõ; nhưng dẫu đã biết, ta vẫn chẳng thể buông bỏ chúng. Ta chẳng thể buông bỏ, dẫu ta đã biết. Khi đã biết, ta không tán thành khoái lạc, cũng chẳng tán thành khổ đau. Ta không tán thành bất cứ điều nào trong hai thứ ấy, và ta không còn chút hoài nghi nào nữa; bởi lẽ ta biết rằng, xét trên phương diện không phải là con đường chân chính, thì cả hai đều hoàn toàn như nhau. Hướng này không phải là con đường; hướng kia cũng chẳng phải là con đường—vì thế, ta chọn con đường Trung đạo để tu tập thường trực của chính mình. |
|
If we can gain release from pleasure and pain, this will appear as the path. Our mind will step into it and know, but it can’t yet go all the way. So it withdraws to continue practicing |
Nếu ta có thể thoát ly khỏi vui sướng và khổ đau, thì con đường ấy sẽ hiện ra. Tâm ta sẽ bước vào đó và thấu hiểu, nhưng vẫn chưa thể đi trọn vẹn đến đích. Vì thế, nó rút lui để tiếp tục tu tập. |
|
When pleasure arises and we get stuck on it, we take the pleasure up to contemplate. When pain arises and we get stuck on it, we take the pain up to contemplate—until our knowledge is equal to the pleasure, equal to the pain: That’s when the mind will let go of pleasure, let go of pain, let go of gladness, let go of sadness. It lets go of all these worlds. The mind can become lokavidū, expert with regard to worlds. When it lets go, when the knower lets go, it settles right down at that spot. Why can it settle there? Because it already entered there before—that spot that it knew but couldn’t go to. |
Khi niềm vui sinh khởi và ta dính mắc vào đó, ta hãy quán chiếu niềm vui ấy. Khi nỗi đau sinh khởi và ta dính mắc vào đó, ta hãy quán chiếu nỗi đau ấy—cho đến khi sự hiểu biết của ta trở nên ngang bằng với niềm vui, ngang bằng với nỗi đau: Đó chính là lúc tâm sẽ buông bỏ niềm vui, buông bỏ nỗi đau, buông bỏ sự hân hoan, buông bỏ nỗi buồn. Nó buông bỏ tất cả việc thế gian. Tâm có thể trở thành lokavidū, bậc thấu suốt thế giới. Khi nó buông bỏ, khi chủ thể nhận biết buông bỏ, nó liền an trú ngay tại điểm đó. Tại sao nó có thể an trú ở đó? Bởi vì nó đã từng bước vào nơi ấy từ trước—cái điểm mà nó đã biết đến, nhưng lại chưa thể đặt chân tới. |
|
So when the mind is stuck on pleasure and pain, and yet we don’t fall for them, we keep trying to clear them away: That’s when we reach the level of a yogāvacara—a person traveling the path but not yet reaching the end. |
Do đó khi tâm còn vướng mắc vào những cảm thọ lạc và khổ, nhưng ta lại không để mình bị lôi cuốn, và vẫn không ngừng nỗ lực để diệt trừ chúng—đó chính là lúc ta đạt đến cảnh giới của một yogāvacara, là hành giả đang bước đi trên con đường tu tập nhưng chưa chạm tới đích cuối cùng. |
|
These conditions are things we can focus on in the moments of our own mind. We don’t have to examine any preoccupations at all. When we’re stuck on either side, we make ourselves know that they’re wrong for sure, because both sides are stuck in the world. Pleasure is stuck in the world. Pain is stuck in the world. When we’re stuck in the world, the world can come into being. Why? This world can come into being and get established because our knowledge isn’t quick enough. The world doesn’t come into being from anything else. And because our knowledge isn’t quick enough, we enter in and label things, fabricate fabrications. |
Những trạng thái này là những điều ta có thể tập trung trong từng sát na của chính tâm mình. Ta không cần bận tâm đến bất kỳ mối vướng mắc nào khác. Khi ta bị kẹt lại ở bất kỳ thái cực nào, dù là bên này hay bên kia, ta cần tự nhận thức rõ ràng rằng những thái cực ấy chắc chắn là sai lầm; bởi lẽ, cả hai thái cực ấy đều chỉ là những sự mắc kẹt trong thế gian này. Cảm giác khoái lạc là sự dính mắc trong thế gian. Cảm giác khổ đau cũng là sự dính mắc trong thế gian. Khi ta còn bị dính mắc trong thế gian, thì thế gian ấy mới có cơ hội hiện hữu. Tại sao? Tại vì thế gian này có thể hiện hữu và trở nên kiên cố chính là vì sự nhận biết của ta chưa đủ nhạy bén. Thế gian này không hề khởi sinh từ bất cứ điều gì khác ngoài chính điều đó. Và chính vì sự nhận biết của ta chưa đủ nhạy bén, nên ta mới can dự vào, dán nhãn cho mọi sự vật, và tự tạo tác nên những ảo tưởng. |
|
Right here is where the practice is fun. Whatever we’re stuck on, we attack it right away without letting up. If we’re stuck on pleasure, we attack it right away. The mind doesn’t let up. If we’re stuck on pain, we catch it right away and contemplate it. |
Chính tại đây là lúc việc tu tập trở nên thú vị. Bất kể chúng ta đang vướng mắc ở điểm nào, ta sẽ lập tức tấn công vào đó mà không hề buông lỏng. Nếu ta đang vướng mắc vào sự khoái lạc, ta sẽ lập tức tấn công vào nó. Tâm không hề ngơi nghỉ. Nếu ta đang vướng mắc vào nỗi đau, ta sẽ nhận diện ngay lập tức và quán chiếu nó. |
|
This is where the thread is about to enter the eye of the needle. The mind doesn’t let up on these preoccupations—and it doesn’t resist the practice. Even when we’re wrong, we know we’re wrong. The mind isn’t heedless. That big mind isn’t heedless. |
Đây chính là khoảnh khắc sợi chỉ sắp xỏ qua lỗ kim. Tâm không hề buông bỏ những mối bận tâm này—nhưng cũng chẳng hề kháng cự việc thực hành. Ngay cả khi ta sai, ta vẫn biết mình đang sai. Tâm không hề xao lãng. Cái Tâm rộng lớn ấy không hề xao lãng. |
|
It’s kind of like walking along and stepping on a thorn. We don’t want to step on thorns, we’re as careful as can be, and yet we still step on it. Are we content to step on it? When we step on it, we’re not content when we know the path. We know that this is the world, this is stress, this is the cycle. We know—and yet we still step on it anyhow. The mind goes along with pleasure—happy or sad—and yet we’re not content. We try to eradicate these things, eradicate the world out of the mind at all times. The mind at this point keeps building, practicing, developing: This is the effort of the practice. The mind contemplates, talks to itself about what’s happening inside it. |
Nó tựa như việc đang bước đi rồi vô tình giẫm phải cái gai. Chúng ta không muốn giẫm phải gai; chúng ta đã thận trọng hết mức có thể, thế mà rốt cuộc vẫn giẫm phải. Ta có thỏa mãn khi giẫm phải nó chăng? Khi giẫm phải gai, ta chẳng hề thấy thỏa mãn chút nào, nhất là khi ta đã biết rõ con đường mình đang đi. Ta biết rằng đây chính là thế gian, đây chính là những căng thẳng, đây chính là vòng luân hồi. Ta biết rõ điều đó—thế mà ta vẫn cứ giẫm phải chúng. Tâm cứ mải miết chạy theo những cảm thọ—dẫu là vui hay buồn—thế nhưng ta lại chẳng hề cảm thấy thỏa mãn. Ta nỗ lực để đoạn trừ những điều ấy, nỗ lực gạt bỏ thế giới trần tục ra khỏi tâm vào mọi lúc, mọi nơi. Tại thời điểm này, tâm không ngừng kiến tạo, không ngừng rèn luyện và phát triển: Đó chính là sự nỗ lực trong quá trình tu tập. Tâm quán chiếu, tự đối thoại với chính mình về những gì đang diễn ra ngay bên trong nó. |
|
These sorts of things: When the mind uproots a world, it keeps moving inward, moving inward. At this point all the knowers, when they know, simply know without reacting. Their knowledge is equal to things, totally clear, and they don’t take part in anything at all. They’re not slaves to anyone. They don’t take part in anything. They know, but they don’t take. They know and put things down. They know and let go. There’s still pleasure there, there’s still pain—whatever there is, it’s still there, but the mind doesn’t take it up. |
Những điều như thế: Khi tâm nhổ tận gốc thế gian, tiếp tục nó hướng vào bên trong, hướng mãi vào bên trong. Tại thời điểm này, tất cả những bậc thấu triệt, khi họ nhận biết, chỉ đơn thuần là nhận biết mà không hề phản ứng. Sự nhận biết của họ tương ứng trọn vẹn với thực tại, hoàn toàn sáng suốt, và họ không hề can dự vào bất cứ điều gì. Họ không làm nô lệ cho bất cứ ai. Họ không can dự vào bất cứ điều gì. Họ nhận biết, nhưng họ không nắm giữ. Họ nhận biết và buông bỏ xuống. Họ nhận biết và xả ly. Vẫn còn đó niềm vui, vẫn còn đó nỗi đau—bất cứ điều gì hiện hữu, nó vẫn cứ hiện hữu ở đó—nhưng tâm không hề nắm bắt lấy chúng. |
|
When we see this, we know: Oh. This is what the mind is like; this is what preoccupations are like. The mind separates from preoccupations. Preoccupations separate from the mind. The mind is the mind. Preoccupations are preoccupations. When you’re aware of both these things, then when they make contact, you know right then. When the mind makes contact with preoccupations, you know right then. |
Khi ta nhìn thấy điều này, ta hiểu: Oh. Tâm là như thế; những mối bận tâm là như thế. Tâm tách biệt khỏi những mối bận tâm. Những mối bận tâm tách biệt khỏi tâm. Tâm là tâm. Những phiền não là những phiền não. Khi hành giả biết được cả hai điều này, thì khi chúng tiếp xúc với nhau, hành giả sẽ nhận biết ngay lập tức. Khi tâm tiếp xúc với những phiền não, hành giả sẽ nhận biết ngay lập tức. |
|
When the practice of a yogāvacara senses this at all times—whether standing, walking, sitting, or lying down—that’s called practicing the practice in the shape of a circle. It’s right practice. We don’t lose presence of mind. We don’t look simply at crude things. We look inwardly at things that are refined. We put external matters aside and watch just the mind and the body, or just the mind and its preoccupations. We watch them arise, watch them disband, watch them arise and disband, watch them disband and arise—disbanding, arising, arising, disbanding, disbanding and then arising, arising and then disbanding—until ultimately we watch just the disbanding: khaya-vaya, ending, disintegrating. Ending and disintegrating are their normal nature |
Khi người tu tập thiền biết được điều này vào mọi lúc—dù đang đứng, đi, ngồi hay nằm—thì đó được gọi là thực hành theo hình thức một vòng tròn. Đó chính là sự thực hành đúng. Chúng ta không đánh mất sự tỉnh giác. Chúng ta không chỉ nhìn vào những sự vật thô thiển bên ngoài. Chúng ta hướng cái nhìn vào bên trong, quán sát những điều vi tế. Chúng ta gác lại những vấn đề bên ngoài để chỉ quán sát tâm và thân, hoặc chỉ quán sát tâm cùng những phiền não của nó. Chúng ta quán sát chúng sinh, quán sát chúng diệt; quán sát chúng sinh rồi diệt, quán sát chúng diệt rồi sinh—sinh rồi diệt, diệt rồi sinh, sinh rồi lại diệt, diệt rồi lại sinh—cho đến cuối cùng, chúng ta chỉ còn quán sát sự diệt: *khaya-vaya*—sự chấm dứt, sự tan rã. Chấm dứt và tan rã chính là bản chất tự nhiên của chúng. |
|
When the mind is like this, it doesn’t trace things anywhere. It’s up on what it’s doing. When it sees, it simply sees, that’s all. When it knows, it simply knows, that’s all. It does this on its own. This is something that can’t be fabricated. |
Khi tâm ở trạng thái này, nó không còn truy tìm sự vật ở bất cứ đâu nữa. Nó hoàn toàn tỉnh giác về những gì mình đang làm. Khi thấy, nó chỉ đơn thuần là thấy, chỉ vậy thôi. Khi biết, nó chỉ đơn thuần là biết, chỉ vậy thôi. Điều này diễn ra một cách tự nhiên. Đây là điều không thể tạo tác được. |
|
So don’t go groping around in your practice. Don’t have any doubts. This applies to your following the precepts, as I’ve already said. Contemplate to see what’s wrong and what’s not. When you’ve seen that it’s wrong, abandon it. Don’t have any doubts. The same with your concentration: Keep making the mind quiet, making it peaceful. If there are thoughts, don’t worry about it. If there are no thoughts, don’t worry about it. Get acquainted with the workings of the mind. Some people want the mind to be peaceful but they don’t understand peace. They don’t understand the peace of the mind. |
Vì vậy đừng mò mẫm lung tung trong quá trình tu tập của mình. Đừng nuôi dưỡng bất kỳ sự nghi ngờ nào. Điều này cũng áp dụng cho việc hành giả gìn giữ giới luật, như tôi đã từng đề cập. Hãy quán chiếu để thấy rõ điều gì là sai, điều gì là đúng. Khi đã nhận thấy điều đó là sai, hãy buông bỏ nó. Đừng nuôi dưỡng bất kỳ sự nghi ngờ nào. Đối với việc tu tập định tâm cũng vậy: Hãy không ngừng làm cho tâm trở nên tĩnh lặng, trở nên an bình. Nếu có những suy nghĩ khởi lên, đừng bận tâm về chúng. Nếu không có suy nghĩ nào, cũng đừng bận tâm về điều đó. Hãy làm quen và thấu hiểu sự vận hành của tâm. Một số người mong cầu sự an bình cho tâm, nhưng họ lại không thực sự hiểu thế nào là sự an bình. Họ không thấu hiểu được sự an bình đích thực của tâm. |
|
There are two kinds of peace: the peace of concentration and the peace of discernment. The peace of concentration is deluded, very deluded. The peace of concentration comes when the mind grows still from not having any preoccupations—and then it gets stuck on the pleasure. But when it meets up with preoccupations, it crumbles. It’s afraid of preoccupations, afraid of pleasure, afraid of pain, afraid of criticism, afraid of praise, afraid of sights, sounds, smells, tastes. This kind of concentration is afraid of everything. Once you gain it, you don’t want to come out to the rest of the world. A person with this kind of concentration stays only in caves, feeding on pleasure, and doesn’t want to come out. Wherever it’s quiet, that’s where he goes to hide out. It’s really stressful, this kind of concentration. You can’t come out and live with other people. You can’t stand to look at sights, listen to sounds—you can’t stand to experience anything. You have to keep staying in a quiet place; you can’t let anyone speak. The place has to be quiet. |
Có hai loại an bình: an bình của định và an bình của tuệ. An bình của định là sự mê lầm, một sự mê lầm sâu sắc. An bình của định xuất hiện khi tâm tĩnh lặng vì không còn vướng bận bất cứ điều gì, nhưng rồi nó lại bị mắc kẹt vào cảm giác hài lòng. Nhưng khi phải đối mặt với những phiền não, trạng thái an bình ấy liền sụp đổ. Nó sợ hãi những phiền não; sợ hãi cả niềm vui lẫn khổ đau; sợ hãi lời chê cũng như lời tán dương; sợ hãi mọi cảnh sắc, âm thanh, mùi hương và vị giác. Loại định này sợ hãi tất cả mọi thứ. Một khi đã đạt được nó, hành giả sẽ chẳng còn muốn bước ra ngoài để hòa nhập với thế giới xung quanh. Người đạt được loại định này chỉ muốn ẩn mình trong hang động, sống dựa vào cảm giác hài lòng và không muốn bước chân ra ngoài. Bất cứ nơi nào yên tĩnh, đó chính là nơi họ tìm đến để ẩn náu. Quả thực, loại định này mang lại một sự căng thẳng vô cùng lớn. Hành giả không thể ra ngoài để sống cùng mọi người. Hành giả không thể chịu đựng việc phải nhìn ngắm cảnh vật hay lắng nghe âm thanh—nói cách khác, hành giả không thể chịu đựng việc phải trải nghiệm bất cứ điều gì của cuộc sống. Hành giả buộc phải mãi ẩn mình trong một chốn tĩnh mịch; hành giả không muốn bất cứ ai nói. Nơi chốn ấy nhất thiết phải hoàn toàn yên tĩnh. |
|
This kind of peace is useless. When you reach that level of peace, you have to come out. The Buddha never said to practice in that way. If you’re practicing in that way, stop. When you’re peaceful, come out to contemplate. Use the peace of the mind to contemplate. Apply it to preoccupations. Use it to contemplate sights, sounds, smells, tastes, tactile sensations, and ideas. First come out and then use the peace to contemplate. For instance, you can contemplate hair of the head, hair of the body, nails, teeth, skin—these kinds of things. Contemplate inconstancy, stress, and not-self. Contemplate the entire world. |
Loại an tịnh này vô ích. Khi đạt đến mức độ an tịnh ấy, hành giả phải bước ra ngoài. Đức Phật chưa bao giờ dạy thực hành theo cách đó. Nếu hành giả đang thực hành như vậy, hãy dừng lại. Khi tâm đã an tịnh, hãy bước ra để quán chiếu. Hãy vận dụng sự an tịnh của tâm để quán chiếu. Hãy hướng sự quán chiếu ấy vào những phiền não. Hãy dùng nó để quán chiếu sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Trước hết hãy bước ra, rồi sau đó mới dùng sự an tịnh để quán chiếu. Chẳng hạn, hành giả có thể quán chiếu tóc trên đầu, lông trên thân, móng, răng, da—những thứ đại loại như thế. Hãy quán chiếu về sự vô thường, khổ và vô ngã. Hãy quán chiếu toàn bộ thế giới này. |
|
Once you’ve used the peace of the mind to contemplate, then when the time comes to be quiet, sit in concentration and let the mind grow peaceful inwardly. Then bring the peace out again to contemplate. Use it to train yourself, to cleanse the mind, to contend with things. When you develop awareness, bring it out to contend with things. Use it to train yourself, to practice—because if your awareness stays only in there, you won’t know anything. It simply pacifies the mind. Keep bringing it out to contemplate what’s outside and then let it go back in to be quiet, like this over and over again until the mind’s big level of peace arises. |
Một khi hành giả đã an tĩnh tâm để quán chiếu, thì khi đến lúc cần sự tĩnh lặng, hãy ngồi xuống trong sự định tâm và để cho tâm trở nên an bình từ bên trong. Sau đó đưa sự an bình ấy trở ra để tiếp tục quán chiếu. Hãy dùng nó để rèn luyện bản thân, để thanh lọc tâm, và để đối diện với các pháp. Khi bạn đã phát triển được sự tỉnh giác, hãy đưa nó ra bên ngoài để đối diện với thực tại. Hãy dùng nó để tu tập bản thân—bởi lẽ nếu sự tỉnh giác của bạn chỉ mãi ẩn sâu bên trong, bạn sẽ chẳng thể thấu hiểu được điều gì cả. Việc ấy đơn thuần chỉ giúp xoa dịu tâm. Hãy liên tục đưa sự tỉnh giác ra bên ngoài để quán chiếu những gì đang diễn ra, rồi lại để nó quay vào bên trong để tìm về sự tĩnh lặng; cứ lặp đi lặp lại như thế cho đến khi một trạng thái an bình sâu sắc và vững chãi thực sự khởi sinh trong tâm. |
|
As for the peace of discernment: When the mind is peaceful and then comes out, discernment isn’t afraid of sights, sounds, smells, tastes, tactile sensations, or ideas. It’s fearless. As soon as these things make contact, it knows them. As soon as they make contact, it discards them, puts them down, lets them go. This is the peace of discernment. |
Về sự an lạc của tuệ giác: Khi tâm đã an tịnh và rồi vươn ra ngoài, tuệ giác không hề e ngại trước sắc, thanh, hương, vị, xúc hay các ý. Nó hoàn toàn vô úy. Ngay khi những đối tượng này vừa tiếp xúc, nó liền nhận biết. Ngay khi chúng vừa tiếp xúc, nó liền xả bỏ, buông xuống và để chúng trôi đi. Đó chính là sự an lạc của tuệ giác. |
|
When the mind reaches this stage, it’s more refined than the peace of concentration. It has lots of strength. When it has lots of strength, it doesn’t run away. When it has strength, it’s not afraid. Before, we were afraid of these things, but now that we know them, we’re not afraid. We know our strength. When we see a sight, we contemplate the sight. When we hear a sound, we contemplate the sound. That’s because we can contemplate. We can hold our ground. We’re fearless. Brave. Whatever the manifestations of things like sights, sounds, or smells, when we see them today, we let them go today. Whatever they are, we can let them all go. We see pleasure, we let it go. We see pain, we let it go. Wherever we see these things, we let them go right there. Mmm. We let them go right there, discard them right there, continually. We don’t take up anything as a preoccupation. We leave things where they are. We’ve come to our home. |
Khi tâm đạt đến giai đoạn này, nó trở nên tinh tế hơn cả sự an tịnh của định tâm. Nó sở hữu một sức mạnh to lớn. Khi đã có sức mạnh to lớn ấy, nó sẽ không còn chạy trốn nữa. Khi đã có sức mạnh, nó sẽ không còn sợ hãi. Trước đây, ta từng sợ hãi những điều này; nhưng giờ đây, khi đã thấu hiểu chúng, ta không còn sợ hãi nữa. Ta đã biết được sức mạnh nội tại của chính mình. Khi một cảnh sắc hiện ra, ta quán chiếu cảnh sắc ấy. Khi một âm thanh vang lên, ta quán chiếu âm thanh ấy. Đó là bởi vì ta đã có khả năng quán chiếu. Ta có thể trụ vững. Ta trở nên vô úy. Dũng cảm. Dù cho những hiện tượng như cảnh sắc, âm thanh hay mùi hương có biểu hiện ra sao đi nữa, thì khi ta bắt gặp chúng trong hiện tại, ta liền buông bỏ chúng ngay trong hiện tại ấy. Dù chúng là gì đi nữa, ta đều có thể buông bỏ tất cả. Ta thấy sự lạc thú, ta buông bỏ. Ta thấy nỗi khổ đau, ta buông bỏ. Bất cứ nơi nào ta bắt gặp những điều này, ta đều buông bỏ chúng ngay tại chính nơi đó. Ta buông bỏ chúng ngay tại đó, xả bỏ chúng ngay tại đó, một cách liên tục không ngừng. Ta không nắm giữ bất cứ điều gì để biến chúng thành phiền não hay sự chấp trước. Ta để mọi sự vật, hiện tượng ở nguyên vị trí của chúng. |
|
When we see something, we discard it. Whatever we see, we look. When we’ve looked, we let go. All these things come to have no value. They can’t do anything to us. This is the strength of insight (vipassanā). |
Khi ta nhìn thấy điều gì, ta buông xả. Bất cứ điều gì ta thấy, ta đều quán sát. Khi đã quán sát xong, ta buông xả. Tất cả những điều này trở nên vô giá trị. Chúng không thể tác động đến ta. Đây chính là sức mạnh của thiền quán (vipassanā). |
|
When we reach this stage, we change the name to “insight.” We see things clearly in line with the truth. That’s it: We see things clearly in line with the truth. This is a higher level of peace: the peace of insight |
Khi đạt đến giai đoạn này, chúng ta gọi tên nó là “tuệ giác”. Chúng ta nhìn nhận mọi sự một cách sáng rõ, đúng như bản chất chân thật của chúng. Chỉ đơn giản là vậy: Chúng ta nhìn nhận mọi sự một cách sáng rõ, đúng như bản chất chân thật. Đây là một cấp độ bình an cao hơn: sự bình an của tuệ giác. |
|
The peace that comes through concentration is hard. It’s really hard, for it’s really afraid. So when the mind is fully peaceful, what do you do? You bring it out to train, to contemplate. Don’t be afraid. Don’t stay stuck. When you do concentration, you tend to get stuck on nothing but pleasure. Yet you can’t just sit there and do nothing. Come out. When there’s a battle, you’re taught to fight. You can’t just stay in a foxhole and avoid the bullets. When the time comes really to do battle, when the guns are firing—boom! boom!—then if you’re in a foxhole, you’ve got to come out. When the time really comes, you can’t fight by crouching in a foxhole. It’s the same here. You can’t let the mind stay there cowering. |
Sự an lạc đạt được nhờ định tâm là một điều khó. Thật sự rất khó, bởi lẽ tâm đang sợ hãi. Vậy thì khi tâm đã hoàn toàn an tịnh, hành giả sẽ làm gì? Hành giả phải đưa nó ra ngoài để rèn luyện, để quán chiếu. Đừng sợ hãi. Đừng để mình bị mắc kẹt. Khi tu tập định tâm, hành giả thường có xu hướng bị mắc kẹt lại, chỉ đắm chìm trong cảm giác sự hài lòng đơn thuần. Thế nhưng hành giả không ngồi đó mà chẳng làm gì. Hãy bước ra ngoài. Khi chiến trận nổ ra, hành giả được dạy phải chiến đấu. Hành giả không thể ẩn nấp trong hầm hào để né tránh những làn đạn. Khi thời khắc quyết chiến thực sự điểm, khi tiếng súng bắt đầu rền vang—đoàng! đoàng!—thì dù đang ẩn mình trong hầm hào, hành giả vẫn buộc phải bước ra ngoài. Khi thời khắc quyết định thực sự đến, hành giả không thể chiến đấu chỉ bằng cách co rúm người trong hầm hào. Trong trường hợp này cũng vậy. Hành giả không thể để tâm cứ mãi co rúm, ẩn nấp một cách khiếp nhược ở mãi nơi đó. |
|
This is what you have to pass through in the beginning stages with virtue and concentration. You have to train yourself to explore in line with the established maps and methods. That’s the path you have to follow. |
Đây là những gì hành giả phải trải qua trong các giai đoạn đầu, với sự hỗ trợ của giới và định. Hành giả phải rèn luyện bản thân để khám phá theo đúng những sắp đặt và các phương pháp đã định. Đó chính là con đường mà hành giả phải theo. |
|
At any rate, what I’ve told you here is just a sketch. When you practice, don’t have any doubts. Don’t doubt these instructions. When there’s pleasure, look at pleasure. When there’s pain, look at pain. As you look at it, try to grind it down, kill it, put it down, let it go. When you know preoccupations, keep letting them go. Whether you want to sit in concentration, do walking meditation, or think about things, it doesn’t matter. Try to make your awareness up to the moment, equal to what’s going on in the mind. If you’re thinking a lot, gather all your thoughts together and cut them off in this way: “The things you’re thinking, the things you’re describing are nothing but thoughts, that’s all. All these things are inconstant, stressful, and not-self. None of them are for sure.” Discard them right then and there. |
Dù sao thì những điều Sư chia sẻ với các hành giả ở đây chỉ là một phác họa. Khi thực hành, đừng để nảy sinh bất kỳ sự nghi ngờ nào. Đừng hoài nghi những lời chỉ dẫn này. Khi cảm giác dễ chịu xuất hiện, hãy quán sát sự dễ chịu ấy. Khi nỗi đau xuất hiện, hãy quán sát nỗi đau ấy. Trong khi quán chiếu, hãy cố gắng nghiền nát nó, tiêu diệt nó, buông bỏ nó, và để nó trôi đi. Khi nhận biết được những phiền não đang hiện hữu, hãy liên tục buông bỏ chúng. Dù hành giả muốn tọa thiền định, hành thiền đi, hay suy tư về các vấn đề, điều đó đều không quan trọng. Hãy cố gắng giữ cho sự tỉnh giác của hành giả luôn hiện diện trọn vẹn trong từng sát na, tương ứng với những gì đang diễn ra trong tâm. Nếu tâm hành giả đang suy nghĩ quá nhiều, hãy gom tụ tất cả những dòng suy nghĩ ấy lại và dứt khoát cắt đứt chúng theo cách: “Những điều ngươi đang nghĩ, những điều ngươi đang tự diễn giải, thực chất chẳng là gì khác ngoài những dòng suy nghĩ đơn thuần—chỉ có vậy thôi. Tất cả những điều này đều vô thường, khổ đau và vô ngã. Chẳng có điều gì là chắc chắn hay thật sự thuộc về ta cả.” Hãy dứt khoát buông bỏ chúng ngay tại sát na ấy. |
|
|