|
A talk given to a visiting monk who was getting discouraged in his practice. |
Một bài pháp thoại dành cho một vị khách Tăng, người đang cảm thấy nản lòng trong việc tu tập. |
|
WHEN IT COMES TO THE DHAMMA, we have to understand that our opinions are one thing; the Dhamma is something else. |
Khi nói đến Giáo Pháp (Dhamma), chúng ta phải hiểu những suy nghĩ của chúng ta là một chuyện, còn Giáo Pháp (Dhamma) lại là một chuyện khác. |
|
As for the practice, start out by establishing your powers of endurance and then contemplate. Contemplate your activities, your comings and goings. Contemplate what you’re up to. Whatever arises, the Buddha has us know all around. Whatever direction things come in from, he has us know all around. If we know all around, whatever comes at us from this way, we see it. Whatever comes at us from that way, we see it. Right we know. Wrong we know. Happy we know. Glad we know. We know all around. |
Về phương diện thực hành, hãy bắt đầu bằng việc thiết lập sức chịu đựng của chính mình, và sau đó hãy quán chiếu. Hãy quán chiếu những oai nghi của hành giả, sự đi lại, di chuyển của bạn. Hãy quán chiếu xem hành giả đang làm gì. Bất cứ điều gì khởi sinh, Đức Phật dạy ta nhận biết trọn vẹn. Bất cứ điều gì đến từ phương hướng nào, Ngài dạy ta phải nhận biết trọn vẹn. Nếu ta nhận biết trọn vẹn, thì bất cứ điều gì đến từ phía này, ta đều thấy rõ. Bất cứ điều gì đến từ phía kia, ta đều thấy rõ. Điều đúng, ta biết. Điều sai, ta biết. Cảm giác hạnh phúc, ta biết. Cảm giác hoan hỷ, ta biết. Ta nhận biết trọn vẹn. |
|
But our minds, when they contemplate, aren’t yet all around. We know just this side but leave that side wide open. It’s like putting a fence around a field or a house but it doesn’t go all around. If we put it up just on this side, thieves will come in that side, the side that the fence hasn’t gone around. Why is that? We haven’t closed the gate. Our fence isn’t yet good. It’s normal that they’ll have to come through that opening. So we contemplate again, adding more fence, closing things off, continually. |
Nhưng tâm của chúng ta, khi quán chiếu, vẫn chưa thực sự bao quát trọn vẹn. Ta chỉ nhận biết được phía này nhưng lại bỏ ngỏ phía kia. Điều này tựa như rào quanh một cánh đồng hay một ngôi nhà, nhưng hàng rào ấy lại không rào toàn bộ. Nếu ta chỉ rào ở phía này, thì kẻ trộm sẽ xâm nhập từ phía kia, chính là phía hàng rào chưa vây bọc tới. Tại sao vậy? Bởi vì ta vẫn chưa đóng cổng. Hàng rào của ta vẫn chưa thực sự vững chắc. Việc chúng xâm nhập qua khoảng hở là điều hoàn toàn tất yếu. Vì thế, ta lại tiếp tục quán chiếu, không ngừng bổ sung thêm hàng rào, liên tục khép kín mọi khoảng trống. |
|
Putting up a fence means establishing mindfulness and always being alert. If we do this, the Dhamma won’t go anywhere else. It’ll come right here. Good and bad, the Dhamma we should see and should know, will arise right here. |
Dựng một hàng rào nghĩa là thiết lập sự chánh niệm và luôn giữ sự tỉnh giác. Nếu làm được điều này, Pháp sẽ chẳng đi đâu; Pháp sẽ hiện hữu ngay tại đây. Dù là thiện hay ác, những Pháp mà ta cần thấy và cần biết, sẽ khởi sinh ngay tại nơi này. |
As for whatever we don’t need to know, we let it go for the time being. We don’t waste our time with the logs we aren’t yet strong enough to lift. Wait until we have a tractor or a ten-wheel truck before trying to move them. Focus for the time being just on the things you can lift. Keep at it, using your powers of endurance, bit by bit. |
Đối với bất cứ điều gì ta chưa cần biết, hãy để nó sang một bên. Ta không lãng phí thời gian vào những khúc gỗ mà ta chưa đủ sức để khiêng vác. Hãy đợi đến khi ta có một chiếc máy kéo hay một chiếc xe tải mười bánh, rồi hẵng thử di chuyển chúng. Trước mắt, hãy chỉ tập trung vào những thứ hành giả có thể nhấc lên được. Hãy kiên trì thực hiện, vận dụng sức bền của mình, từng chút một. |
|
If you stick with this steadily, your happy moods and sad moods, your desirable moods and undesirable moods, will all come in right there. That’s when you get to watch them. |
Nếu bạn kiên trì thực hành điều này đều đặn, thì những cảm xúc vui buồn, những cảm xúc mà bạn mong muốn cũng như những cảm xúc mà bạn không mong muốn, tất cả xuất hiện ngay tại đó. Đó chính là lúc bạn có thể quan sát chúng. |
|
Your moods and preoccupations are one thing; the mind is something else. They’re two different kinds of things. Usually when a mood hits, one that we like, we go running after it. If it’s one we don’t like, we turn our backs on it. When this is the case, we don’t see our own mind. We just keep running after our moods. The mood is the mood; the mind is the mind. You have to separate them out to see what the mind is like, what the mood is like. |
Những cảm xúc và những phiền não của bạn là một chuyện; tâm lại là một chuyện khác. Đó là hai phạm trù hoàn toàn khác biệt. Thường thì khi một cảm xúc ập đến, nếu đó là cảm xúc ta ưa thích, ta sẽ vội vã chạy theo nó. Nếu đó là cảm xúc ta không thích, ta sẽ quay lưng lại với nó. Khi rơi vào trạng thái này, ta không thể nhìn thấy chính tâm của mình. Ta chỉ biết mải miết chạy theo những cảm xúc ấy. Cảm xúc là cảm xúc; tâm là tâm. Bạn cần phải phân biệt chúng ra để thấy rõ bản chất của tâm là gì, và bản chất của cảm xúc là gì. |
|
As when we’re sitting here still: We feel at ease. But if someone comes along and insults us, we go running after the mood. We’ve left our spot. The mind that gets deluded by the mood goes running after the mood. We become a moody person, a person who panders to his moods. |
Cũng giống như khi ta đang ngồi yên tại đây: Ta cảm thấy thật an nhiên. Nhưng nếu có ai đó bước tới và xúc phạm ta, ta liền chạy theo sự xúc phạm ấy. Ta đã rời bỏ vị trí của chính mình. Tâm bị trạng thái kia mê mờ liền chạy đuổi theo nó. Ta trở thành một kẻ thất thường, một kẻ chỉ biết chiều theo những cảm xúc nhất thời của chính mình. |
|
You have to understand that all your moods are lies. There’s nothing true to them at all. They’re far from the Buddha’s teachings. All they can do is lie to us about everything of every sort. The Buddha taught us to meditate to see their truth—the truth of the world. |
Bạn phải hiểu rằng mọi trạng thái cảm xúc của mình đều là dối trá. Nó hoàn toàn không có chút chân thực nào. Chúng hoàn toàn xa rời những lời dạy của Đức Phật. Tất cả những gì chúng có thể làm chỉ là lừa dối chúng ta thuộc mọi khía cạnh. Đức Phật đã dạy chúng ta thiền định để thấu suốt chân tướng của chúng, chính là chân lý của thế gian này. |
|
The world is our moods, our preoccupations. Our preoccupations are the world. If we aren’t acquainted with the Dhamma, aren’t acquainted with the mind, aren’t acquainted with our preoccupations, we grab onto the mind and its preoccupations and get them all mixed up. “Whew! My mind feels no ease.” It’s like you have many minds, and they’re all in a turmoil. Actually, that’s not the case. You don’t have many minds. You have many moods and preoccupations. We’re not acquainted with our own mind, so we keep running after our preoccupations. If you sit meditating like that, things just keep running along in that way. |
Thế giới là những tâm trạng, những mối bận tâm của ta. Những mối bận tâm ấy chính là thế giới. Nếu chúng ta không thấu hiểu Giáo Pháp, không thấu hiểu tâm, không thấu hiểu những mối bận tâm của mình, ta sẽ dính mắc vào tâm cùng những mối bận tâm ấy, khiến tất cả trở nên rối loạn. "Ôi chao! Tâm ta chẳng chút an yên nào cả." Như thể bạn đang sở hữu rất nhiều tâm khác nhau, và tất cả đều đang trong trạng thái hỗn loạn. Thực tế thì không phải vậy. Bạn không hề có nhiều tâm. Mà chính là bạn có vô vàn những cảm xúc và mối bận tâm. Vì không thấu hiểu chính tâm mình, chúng ta cứ mãi chạy đuổi theo những mối bận tâm ấy. Nếu bạn ngồi thiền trong trạng thái như vậy, mọi thứ sẽ cứ thế tiếp diễn theo đà xáo động mà thôi. |
|
The Buddha taught us to look at things right there, right where they arise. When they arise, they don’t stay. They disband. They disband and then they arise. When they arise, they disband—but we don’t want them to be that way. When the mind is quiet, we want it to keep on being quiet. We don’t want it to get stirred up. We want to be at our ease. Our views are in opposition to the truth. The Buddha taught us first to see these things all around, from all sides. Only then will the mind really be quiet and still. As long as we don’t know these things, as long as we don’t understand our moods, we become a moody person. We lay claim to our moods. This turns into stubbornness and pride. |
Đức Phật dạy chúng ta hãy quán chiếu tất cả các pháp ngay tại chỗ, ngay nơi chúng khởi sinh. Khi vừa sinh, chúng không đứng yên. Mà chúng diệt. Diệt rồi lại sinh. Khi vừa khởi sinh, chúng lại diệt—nhưng chúng ta lại không muốn chúng diễn ra theo cách đó. Khi tâm đang tĩnh lặng, chúng ta lại muốn nó cứ mãi tĩnh lặng như thế. Chúng ta không muốn nó bị xao động. Chúng ta chỉ muốn được an nhiên tự tại. Những quan niệm của chúng ta đi ngược lại với chân lý. Đức Phật dạy chúng ta trước hết phải quán chiếu vạn pháp từ mọi phía, từ mọi góc độ. Chỉ khi ấy, tâm mới thực sự trở nên tĩnh lặng và an định. Chừng nào chúng ta chưa thấu rõ những điều này, chừng nào chúng ta chưa hiểu thấu những trạng thái cảm xúc của mình, thì chúng ta vẫn cứ mãi là một người hay thay đổi thất thường theo cảm xúc. Chúng ta tự nhận những cảm xúc ấy là của riêng mình. Điều này dần biến thành sự cố chấp và kiêu mạn. |
|
When we see this happening, the Buddha tells us to turn our attention to contemplating right there: “This kind of thinking is thinking; this kind of knowing is knowing; when things are like this, they’re like this.” Tell yourself that these things simply follow their own nature. This is what moods are like. This is what the mind is like. When this is the way things are, what can you do to be at your ease? What can you do to be at your ease? Well, just contemplate right there. |
Khi nhận thấy điều này đang diễn ra, Đức Phật dạy chúng ta hãy hướng sự chú ý để quán chiếu ngay tại đó: “Kiểu tư duy này chính là tư duy; kiểu nhận biết này chính là nhận biết; khi sự vật hiện hữu như thế, thì chúng đúng là như thế.” Hãy tự nhủ rằng những điều này đơn thuần chỉ đang vận hành theo đúng bản chất tự nhiên của chúng. Bản chất của những trạng thái cảm xúc là như vậy. Bản chất của tâm cũng là như vậy. Khi sự việc diễn ra theo lẽ tự nhiên, bạn có thể làm gì để tìm thấy sự an nhiên tự tại? Bạn có thể làm gì để tìm thấy sự an nhiên tự tại? À, đơn giản chỉ cần quán chiếu ngay tại chính khoảnh khắc ấy. |
|
We don’t want things to be like that: That’s the reason for our discomfort. No matter where you go to run away from these things, they’re still just like that. So we should understand that these things are just the way they are, that’s all. That’s the truth. To put it simply, that’s the Buddha, but we don’t see him there. We think it’s Devadatta, not the Buddha at all. The inconstancy of the Dhamma—inconstancy, stress, and not-self: There’s nothing wrong with these things. They’re just the way they are. We place too many labels and intentions on them. When you can see that happening, it’s really good. |
Chúng ta không muốn mọi việc diễn ra như thế: Đó chính là nguyên nhân gây ra sự bất an. Dù bạn có đi đến đâu để trốn chạy khỏi những điều này, thì chúng vẫn cứ y nguyên như vậy. Vì thế, chúng ta nên thấu hiểu rằng những điều này vốn dĩ là như thế, chỉ đơn giản là như thế. Đó chính là chân lý. Nói một cách đơn giản, đó chính là Đức Phật; thế nhưng chúng ta lại không nhận ra Ngài ở ngay trong đó. Chúng ta lại lầm tưởng đó là Đề-bà-đạt-đa, chứ không phải là Đức Phật. Tính vô thường của Pháp—vô thường, khổ và vô ngã: Bản thân những điều này chẳng hề có gì sai. Chúng vốn dĩ là như thế. Chỉ vì chúng ta đã gán ghép quá nhiều nhãn mác và ý niệm chủ quan lên chúng. Khi bạn có thể nhận diện được điều đó đang diễn ra, thì quả thực rất tuyệt vời. |
|
To put in simple terms: Suppose that when you sit in concentration today the mind is still. You think to yourself, “Mmm. This is really nice.” Just sitting there, you feel at ease. This keeps up for two or three days. “Mmm. I really like this.” Then the next day when you sit down to meditate, it’s like sitting on a red ants’ nest. You can’t stay seated. Nothing works. You’re all upset. You ask yourself, “Why isn’t it like the other day? Why was it so comfortable then?” You can’t stop thinking about the other day. You want it to be like the other day. Right there is where you’re deluded. |
Nói một cách đơn giản: Giả sử hôm nay, khi bạn ngồi thiền trong sự tập trung, tâm bạn hoàn toàn tĩnh lặng. Bạn tự nhủ: “Chà... Thật là tuyệt.” Chỉ đơn thuần ngồi đó thôi, bạn đã thấy thư thái. Trạng thái này cứ thế tiếp diễn trong suốt hai hoặc ba ngày. “Chà... Mình thực sự thích cảm giác này.” Thế rồi đến ngày hôm sau, khi bạn ngồi xuống để thiền, cảm giác lại chẳng khác nào đang ngồi trên một tổ kiến lửa. Bạn không thể nào ngồi yên được. Mọi nỗ lực đều vô ích. Bạn cảm thấy vô cùng khó chịu. Bạn tự hỏi chính mình: “Tại sao hôm nay lại không giống như mấy hôm trước nhỉ?” “Tại sao khi ấy mình lại cảm thấy thoải mái?” Bạn cứ mãi nghĩ về những ngày đã qua. Bạn khao khát mọi thứ được trở lại y như những ngày ấy. Chính ngay tại điểm đó, chính là lúc bạn đang rơi vào sự mê lầm. |
|
Preoccupations change. They’re not constant or sure; they’re not stable. They just keep following their nature. The Buddha taught us to see that that’s the way they are. Whatever arises is just old stuff coming back. There’s nothing to it, but we fix labels and make rules about things: “This I like. This I don’t like.” Whatever we like makes us happy—happy because of our delusion: happy because of our delusion, not happy because it’s right. |
Những mối bận tâm luôn thay đổi. Chúng không bất biến hay chắc chắn; chúng không ổn định. Chúng đơn thuần vận hành theo đúng bản chất của chúng. Đức Phật đã dạy chúng ta rằng, đó chính là bản chất thực sự của chúng. Bất cứ điều gì sinh, nó chỉ là những chuyện cũ tái diễn trở lại. Nó không có gì, nhưng chúng ta lại dán nhãn và chế định chúng. "Tôi thích cái này. Tôi không thích cái này." Bất cứ điều gì ta thích đều mang lại cho ta niềm vui—niềm vui xuất phát từ sự mê lầm của chính ta: vui vì ta đang chìm trong ảo tưởng, chứ không phải vui vì điều đó thực sự là đúng. |
|
When the mind is quiet, the Buddha tells us not to be intoxicated by it. When it’s distracted, he tells us not to be intoxicated by it. Things happen in all kinds of ways. There’s addition, subtraction, multiplication, and division. That’s how we can calculate numbers, but we want there to be just multiplication so that we can have lots of everything. We want to do away with addition, do away with subtraction, do away with division—and our calculations will all be stupid. If we had nothing but multiplication, would we have any space to put everything? If that’s how we think, we’ll stay in a turmoil. The Buddha said that that sort of thinking has no discernment. |
Khi tâm tĩnh lặng, Đức Phật dạy ta chớ nên chấp vào sự tĩnh lặng ấy. Khi tâm xao động, Ngài cũng dạy ta chớ nên chấp vào sự xao động ấy. Tất cả pháp diễn ra muôn vàn cách thức khác nhau. Có phép cộng, phép trừ, phép nhân và cả phép chia. Đó là cách ta tính những con số, nhưng, ta lại muốn phép nhân, để ta có thể sở hữu thật nhiều mọi thứ. Ta muốn loại bỏ phép cộng, loại bỏ phép trừ, loại bỏ cả phép chia—và khi ấy, mọi sự tính toán của ta sẽ trở nên thật ngu ngốc. Nếu chỉ có duy nhất phép nhân, liệu ta có đủ không gian để chứa đựng tất cả mọi thứ hay chăng? Nếu cứ giữ mãi lối tư duy như thế, ta sẽ mãi chìm đắm trong sự xáo động, bất an. Đức Phật đã dạy rằng, lối tư duy như vậy hoàn toàn thiếu vắng trí tuệ phân định. |
|
Stillness of mind—tranquility—comes from being far away from preoccupations. If you don’t hear much of anything, the mind settles down and is still. To get this kind of stillness, you have to go off into seclusion, to a place that’s quiet and still. If you can get away from your preoccupations, not seeing this, not knowing about that, the mind can settle down. But that’s like a disease, a disease like cancer. There’s a swelling but it doesn’t yet hurt. It’s not yet tormenting us, it doesn’t yet hurt, so we seem to be well—as if there were no defilements in the mind. |
Sự tĩnh lặng của tâm—sự an nhiên—sinh từ việc tách mình ra khỏi những mối bận tâm. Nếu không còn nghe thấy quá nhiều âm thanh, tâm sẽ lắng đọng và trở nên tĩnh lặng. Để đạt được trạng thái tĩnh lặng này, bạn cần phải tìm nơi ẩn dật, một chốn thật yên tĩnh và vắng lặng. Nếu có thể thoát ly khỏi những mối bận tâm, không nhìn thấy điều này, không hay biết chuyện kia, tâm sẽ có thể lắng đọng. Nhưng trạng thái ấy lại tựa như một căn bệnh, một căn bệnh giống như ung thư. Khối u đã hình thành, nhưng cơn đau thì vẫn chưa xuất hiện. Nó chưa gây ra sự giày vò, chưa khiến ta đau đớn, nên ta tưởng chừng như mình vẫn đang khỏe mạnh—cứ như thể trong tâm không hề có phiền não . |
|
That’s what the mind is like at times like that. As long as you stay there, it’s quiet. But when it comes out to look at sights and hear sounds, that’s the end of it. It’s not at its ease anymore. How can you keep on staying alone like that so as not to see sights, hear sounds, smell aromas, taste flavors, or touch tactile sensations? Where can you go? There’s no place in the world like that at all. |
Đó chính là tâm vào những lúc như thế. Chừng nào bạn còn an trú tại đó, tâm tĩnh lặng. Nhưng một khi nó vươn ra để nhìn ngắm sắc tướng hay lắng nghe âm thanh, thì sự tĩnh lặng ấy cũng chấm dứt. Nó không còn giữ được sự an nhiên tự tại. Làm sao bạn có thể mãi sống đơn độc như thế, để không phải nhìn thấy sắc tướng, nghe thấy âm thanh, ngửi thấy mùi hương, nếm thấy vị giác hay cảm nhận xúc chạm? Bạn biết tìm đến nơi nào đây? Trên thế gian này, hoàn toàn chẳng hề có một nơi nào như thế cả. |
|
The Buddha wanted us to see sights, hear sounds, smell aromas, taste flavors, or touch tactile sensations: hot, cold, hard, soft. He wanted us to be acquainted with everything. He didn’t want us to run away and hide. He wanted us to look and, when we’ve looked, to understand: “Oh. That’s the way these things are.” He told us to give rise to discernment. |
Đức Phật muốn chúng ta nhìn thấy sắc, nghe âm thanh, ngửi mùi hương, nếm thấy vị, hoặc cảm nhận những xúc chạm: nóng, lạnh, cứng, mềm. Ngài muốn chúng ta làm quen với vạn pháp. Ngài không muốn chúng ta chạy trốn hay ẩn mình. Ngài muốn chúng ta quan sát, và khi đã quan sát, thì thấu hiểu rằng: “Ồh. Bản chất của vạn pháp là như thế đó.” Ngài dạy chúng ta hãy phát triển tuệ phân biệt. |
|
How do we give rise to discernment? The Buddha said that it’s not hard—if we keep at it. When distractions arise: “Oh. It’s not for sure. It’s inconstant.” When the mind is still, don’t say, “Oh. It’s really nice and still.” That, too, isn’t for sure. If you don’t believe me, give it a try. |
Làm thế nào để chúng ta phát triển tuệ phân biệt? Đức Phật dạy rằng điều này không khó—nếu chúng ta kiên trì thực hành. Khi những sự xao nhãng khởi lên: “Ồ. Điều này không chắc chắn. Nó là vô thường.” Khi tâm trở nên tĩnh lặng, đừng vội nói: “Ồ. Thật là dễ chịu và tĩnh lặng biết bao.” Điều đó, cũng chẳng hề chắc chắn. Nếu bạn không tin lời tôi, hãy thử xem sao. |
|
Suppose that you like a certain kind of food and you say, “Boy, do I really like this food!” Try eating it every day. How many months could you keep it up? It won’t be too long before you say, “Enough. I’m sick and tired of this.” Understand? “I’m really sick and tired of this.” You’re sick and tired of what you liked. |
Giả sử bạn thích một món ăn nào đó và thốt lên rằng: “Chà, tôi thực sự thích món này!” Hãy thử ăn nó mỗi ngày xem sao. Bạn sẽ duy trì được bao lâu? Chẳng bao lâu sau, bạn sẽ phải nói: “Thôi đủ rồi. Tôi ngán món này lắm rồi.” Bạn hiểu ý chứ? “Tôi thực sự ngán món này rồi.” Bạn đã ngán chính thứ mà trước đây mình từng thích. |
|
We depend on change in order to live, so just acquaint yourself with the fact that it’s all inconstant. Pleasure isn’t for sure; pain isn’t for sure; happiness isn’t for sure; stillness isn’t for sure, distraction isn’t for sure. Whatever, it all isn’t for sure. Whatever arises, you should tell it: “Don’t try to fool me. You’re not for sure.” That way everything loses its value. If you can think in that way, it’s really good. The things you don’t like are all not for sure. Everything that comes along isn’t for sure. It’s as if they were trying to sell you things, but everything has the same price: It’s not for sure—not for sure in any way at all. In other words, it’s inconstant. It keeps moving back and forth. |
Chúng ta sống với sự thay đổi, vì thế hãy làm quen với thực tế rằng vạn vật đều vô thường. Niềm vui không chắc chắn; nỗi đau không chắc chắn; hạnh phúc không chắc chắn; sự tĩnh lặng không chắc chắn; sự xao động cũng không chắc chắn. Dù là gì đi nữa, tất cả đều không chắc chắn. Bất cứ điều gì khởi sinh, bạn hãy nói với nó rằng: “Đừng hòng đánh lừa ta. Ngươi không hề chắc chắn.” Cách này mọi thứ đều mất đi giá trị của chúng. Nếu bạn có thể tư duy theo cách ấy, thì thật là tuyệt vời. Những điều mà bạn không thích tất cả đều không chắc chắn. Vạn pháp đến tất cả đều không chắc chắn. Nó giống như chúng đang cố bán cho bạn những món hàng, nhưng tất cả đều có cùng một mức giá: “Không chắc chắn”, hoàn toàn không chắc chắn dưới bất kỳ hình thức nào. Nói cách khác, chúng là vô thường. Chúng cứ liên tục đến rồi lại đi. |
|
To put it simply, that’s the Buddha. Inconstancy means that nothing’s for sure. That’s the truth. Why don’t we see the truth? Because we haven’t looked to see it clearly. “Whoever sees the Dhamma sees the Buddha.” If you see the inconstancy of each and every thing, you give rise to nibbidā: disenchantment. “That’s all this is: no big deal. That’s all that is: no big deal.” The concentration in the mind is—no big deal. |
Nói một cách đơn giản, đó chính là Đức Phật. Vô thường nghĩa là không có gì là chắc chắn cả. Đó là sự thật. Tại sao chúng ta lại không nhìn thấy sự thật ấy? Bởi vì chúng ta chưa nhìn để thấy rõ ràng. “Ai thấy được Pháp là thấy được Đức Phật.” Nếu bạn nhìn thấy sự vô thường nơi vạn pháp, bạn sẽ khởi sinh nibbidā: sự nhàm chán. “Tất cả những điều này cũng chỉ có thế thôi: chẳng có gì to lớn. Tất cả những điều kia cũng chỉ có thế thôi: chẳng có gì to lớn.” Sự định tâm trong tâm cũng vậy — chẳng có gì to tát cả. |
|
When you can do that, it’s no longer hard to contemplate. Whatever the preoccupation, you can say in your mind, “No big deal,” and it stops right there. Everything becomes empty and in vain: everything that’s unsteady, inconstant. It moves around and changes. It’s inconstant, stressful, and not-self. It’s not for sure. |
Khi bạn làm được điều đó, việc quán chiếu sẽ không còn khó khăn. Dù tâm đang bận tâm về điều gì, bạn vẫn có thể tự nhủ trong lòng rằng: “Chẳng có gì to lớn,” và ngay lập tức, mọi suy nghĩ sẽ dừng lại tại đó. Tất cả mọi thứ đều trở nên trống rỗng và vô nghĩa, mọi thứ vốn dĩ đều bất ổn và vô thường. Chúng luôn xê dịch và biến đổi không ngừng. Chúng vô thường, đầy khổ đau và vô ngã. Chúng không hề chắc chắn. |
It’s like a piece of iron that’s been heated until it’s red and glowing: Does it have any spot where it’s cool? Try touching it. If you touch it on top, it’s hot. If you touch it underneath, it’s hot. If you touch it on the sides, it’s hot. Why is it hot? Because the whole thing is a piece of red-hot iron. Where could it have a cool spot? That’s the way it is. When that’s the way it is, we don’t have to go touching it. We know it’s hot. If you think that “This is good; I really like it,” don’t give it your seal of guarantee. It’s a red-hot piece of iron. Wherever you touch it, wherever you hold onto it, it’ll immediately burn you in every way. |
Nó giống một thỏi sắt đã được nung đỏ rực và phát sáng: Liệu có bất kỳ điểm nào trên đó còn nguội lạnh chăng? Hãy thử chạm vào mà xem. Nếu chạm vào mặt trên, bạn sẽ thấy nóng. Nếu chạm vào mặt dưới, bạn cũng sẽ thấy nóng. Nếu chạm vào cạnh bên, bạn vẫn sẽ thấy nóng. Tại sao nó lại nóng? Bởi vì toàn bộ thỏi sắt ấy đều đang đỏ rực. Làm sao nó có thể có một điểm nguội lạnh được? Sự thật là như vậy. Khi sự việc đã như thế, chúng ta chẳng cần thiết chạm tay vào nó làm gì. Chúng ta biết nó nóng. Nếu bạn lại nghĩ rằng: “Điều này thật tốt; tôi thực sự thích nó,” thì chớ vội đóng dấu bảo chứng cho suy nghĩ ấy. Đó vốn dĩ là một thỏi sắt đang đỏ rực. Dù bạn chạm vào đâu, dù bạn nắm giữ ở chỗ nào, nó cũng sẽ ngay lập tức thiêu đốt bạn theo mọi cách thức. |
|
So keep on contemplating. Whether you’re standing or walking or whatever—even when you’re on the toilet or on your almsround: When you eat, don’t make it a big deal. When the food comes out the other end, don’t make it a big deal. Whatever it is, it’s inconstant. It’s not for sure. It’s not truthful in any way. It’s like touching a red-hot piece of iron. You don’t know where you can touch it because it’s hot all over. So you just stop touching it. “This is inconstant. That’s inconstant.” Nothing at all is for sure. |
Vậy hãy tiếp tục quán chiếu. Dù bạn đang đứng, đang đi, hay đang làm bất cứ điều gì—ngay cả khi đang ngồi trong nhà vệ sinh hay đang đi khất thực: Khi ăn, đừng xem đó là chuyện lớn. Khi thức ăn được bài tiết ra ngoài, cũng đừng xem đó là chuyện lớn. Dù là điều gì, nó đều vô thường. Nó không chắc chắn. Nó hoàn toàn không có chân thật. Giống như chạm tay vào một khối sắt đang nung đỏ. Bạn chẳng thể biết nên chạm vào chỗ nào, bởi vì toàn bộ khối sắt ấy đều nóng rực. Thế nên, bạn chỉ việc ngừng chạm vào nó. “Điều này vô thường. Điều kia cũng vô thường.” Chẳng có bất cứ điều gì là chắc chắn. |
|
Even our thoughts are inconstant. Why are they inconstant? They’re not-self. They’re not ours. They have to be the way they are. They’re unstable and inconstant. Boil everything down to that. Whatever you like isn’t for sure. No matter how much you like it, it isn’t for sure. Whatever the preoccupation, no matter how much you like it, you have to tell yourself, “This isn’t for sure. This is unstable and inconstant.” And keep on watching…. |
Ngay cả những suy nghĩ của chúng ta cũng vô thường. Tại sao chúng lại vô thường? Bởi vì chúng không phải là tự ngã. Chúng không thuộc về ta. Chúng hiện hữu theo đúng bản chất của chúng. Chúng vốn dĩ bất ổn và vô thường. Hãy quy mọi sự về lại điểm cốt lõi ấy. Bất cứ điều gì bạn thích cũng đều không chắc chắn. Dù bạn có yêu thích điều đó đến nhường nào đi nữa, thì nó vẫn không hề chắc chắn. Dù tâm bạn đang lo lắng về điều gì, dù bạn có thích nó đến đâu, bạn vẫn phải tự nhủ rằng: “Điều này không hề chắc chắn. Điều này vốn bất ổn và vô thường.” Và hãy cứ tiếp tục quan sát. |
|
Like this glass: It’s really pretty. You want to put it away so that it doesn’t break. But it’s not for sure. One day you put it right next to yourself and then, when you reach for something, you hit it by mistake. It falls to the floor and breaks. It’s not for sure. If it doesn’t break today, it’ll break tomorrow. If it doesn’t break tomorrow, it’ll break the next day—for it’s breakable. We’re taught not to place our trust in things like this, because they’re inconstant. |
Giống như chiếc ly này vậy: Nó thật sự rất đẹp. Bạn muốn cất nó đi để tránh bị vỡ. Nhưng chẳng có gì là chắc chắn cả. Một ngày nọ, bạn đặt nó ngay cạnh mình, rồi khi vươn tay lấy thứ gì đó, bạn vô tình va phải nó. Nó rơi xuống sàn và vỡ tan. Chẳng có gì là chắc chắn cả. Nếu hôm nay nó không vỡ, thì ngày mai nó sẽ vỡ. Nếu ngày mai nó không vỡ, thì ngày kia nó sẽ vỡ, bởi lẽ bản chất của nó là dễ vỡ. Chúng ta được dạy rằng không nên đặt niềm tin vào những thứ như thế, bởi lẽ chúng vốn dĩ vô thường. |
|
Things that are inconstant: The Buddha taught that they’re the truth. Think about it. If you see that there’s no truth to things, that’s the truth. That’s constant. For sure. When there’s birth, there has to be aging, illness, and death. That’s something constant and for sure. |
Vạn pháp điều vô thường: Đức Phật dạy rằng đó chính là chân lý. Hãy suy ngẫm về điều này. Nếu bạn nhận thấy rằng vạn vật vốn không có thực tính, thì chính sự nhận thức đó lại là chân lý. Điều đó là bất biến. Chắc chắn là như vậy. Khi có sinh, ắt có sự già nua, bệnh tật và cái chết. Đó là một điều bất biến và chắc chắn. |
|
What’s constant comes from things that aren’t constant. We say that things are inconstant and not for sure—and that turns everything around: That’s what’s constant and for sure. It doesn’t change. How is it constant? It’s constant in that that’s the way things keep on being. Even if you try to get in the way, you don’t have an effect. Things just keep on being that way. They arise and then they disband, disband and then arise. That’s the way it is with inconstancy. That’s how it becomes the truth. The Buddha and his noble disciples awakened because of inconstant things. |
Điều bất biến lại khởi nguồn từ những sự vật vốn vô thường. Chúng ta nói rằng vạn vật đều vô thường và bất định—và chính nhận thức ấy lại làm xoay chuyển toàn bộ sự việc: Đó mới chính là điều bất biến và chắc chắn. Nó không hề thay đổi. Nó bất biến như thế nào? Nó bất biến chính là quy luật vận hành liên tục của vạn vật. Ngay cả khi bạn cố gắng can thiệp hay cản trở, bạn cũng chẳng thể tạo ra bất kỳ tác động nào. Vạn vật vẫn cứ tiếp diễn theo đúng quy luật ấy. Chúng sinh rồi diệt; diệt rồi lại sinh. Đó chính là bản chất của sự vô thường. Và đó cũng chính là cách mà sự vô thường trở thành Chân lý. Đức Phật cùng các bậc Thánh đệ tử của Ngài đã đạt được sự giác ngộ chính nhờ thấu suốt bản chất vô thường của vạn pháp. |
|
When you see inconstancy, the result is nibbidā: disenchantment. Disenchantment isn’t disgust, you know. If you feel disgust, that’s wrong, the wrong kind of disenchantment. Disenchantment isn’t like our normal disgust. For example, if you live with your wife and children to the point where you get sick and tired of them, that’s not disenchantment. It’s actually a big defilement; it squeezes your heart. If you run away from things like that, it’s being sick and tired because of defilement. That’s not nibbidā. It’s actually a heavy defilement, but we think it’s disenchantment. |
Khi nhận thấy sự vô thường, kết quả sinh khởi chính là nibbidā, sự chán nản. Cần hiểu rằng, sự chán nản này không đồng nghĩa với cảm giác ghê tởm. Nếu bạn cảm thấy ghê tởm, thì đó là sai lầm, đó là một dạng chán nản không đúng. Sự chán nản đích thực không giống với cảm giác ghê tởm thông thường của chúng ta. Chẳng hạn, nếu bạn sống chung với vợ con mà cảm thấy chán ngán và mệt mỏi vì họ, thì đó không phải là sự chán nản đúng nghĩa. Thực chất, đó lại là một phiền não to lớn; nó bóp nghẹt trái tim bạn. Nếu bạn tìm cách chạy trốn khỏi những tình huống như vậy, thì đó chỉ là sự chán chường, mệt mỏi nảy sinh khởi từ phiền não. Đó không phải là nibbidā. Thực tế, đó là một phiền não nặng nề, nhưng chúng ta lại lầm tưởng rằng đó chính là sự chán nản, xả ly. |
|
Suppose that you’re kind to people. Whatever you have, you want to give to them. You sympathize with them, you see that they’re pretty and lovely and good to you. Your defilements are now coming around from the other side. Watch out! That’s not kindness through the Dhamma; it’s selfish kindness. You want something out of them, which is why you’re kind to them. |
Giả sử bạn tử tế với mọi người. Bất cứ thứ gì mình có, bạn đều muốn đem cho họ. Bạn cảm thông với họ, bạn thấy rằng họ thật xinh đẹp, đáng mến và đối xử tốt với bạn. Giờ đây, chính những phiền não của bạn lại trỗi dậy từ một khía cạnh khác. Hãy coi chừng! Đó không phải là lòng từ bi chân chính theo Phật Pháp (Dhamma); đó là lòng tốt mang tính ích kỷ. Bạn mong cầu một điều gì đó từ nơi họ, chính vì lẽ đó bạn mới đối xử tử tế với họ. |
|
It’s the same with disenchantment. “I’m sick and tired of this. I’m not going to stay any longer. I’m fed up.” That’s not right at all. It’s a big defilement. It’s disenchantment only in name. |
Nó giống như một sự thất vọng. “Tôi đã chán chuyện này rồi. Tôi sẽ không ở lại thêm nữa. Tôi chịu hết nổi rồi.” Điều đó hoàn toàn không đúng chút nào. Đó là một sự ô nhiễm lớn. Đó chỉ là sự thất vọng trên danh nghĩa mà thôi. |
|
The Buddha’s disenchantment is something else: leaving things alone, putting them down. You don’t kill them, you don’t beat them, you don’t punish them, you’re not nice to them. You just put them down. Everything. The same with everything. That’s how it has to be. Only then can you say that your mind has let go, that it’s empty: empty of clinging, empty of attachment. |
Sự xả ly của Đức Phật là một điều hoàn toàn khác: đó là để mọi sự tự nhiên, là buông bỏ chúng xuống. Bạn không diệt chúng, không đánh đập chúng, không trừng phạt chúng, và cũng không chiều chuộng chúng. Bạn chỉ đơn thuần buông bỏ chúng xuống. Buông bỏ tất cả. Đối với mọi sự việc đều như vậy. Đó chính là lẽ tất yếu. Chỉ khi ấy, bạn mới có thể nói rằng tâm mình đã buông xả, rằng nó đã trở nên trống rỗng: trống rỗng khỏi sự dính mắc, trống rỗng khỏi mọi sự chấp trước. |
|
Emptiness doesn’t mean nobody exists. Or like this glass: It’s not the case that it has to not exist for us to say that it’s empty. This thermos exists; people exist; everything exists, but those who know feel in their hearts that these things are truths, they’re not for sure, they simply follow their conditions: They’re dhammas that arise and disband, that’s all. |
Tình trạng rỗng không có nghĩa là không có ai hiện hữu. Hay cũng giống như chiếc ly này: Không nhất thiết nó phải không hiện hữu thì ta mới có thể nói nó trống rỗng. Chiếc bình giữ nhiệt này hiện hữu; con người hiện hữu; mọi sự đều hiện hữu, nhưng những ai thấu hiểu sẽ cảm nhận sâu trong lòng rằng những điều này tuy là chân lý, song chúng không phải là những thực thể bất biến; chúng đơn thuần chỉ vận hành theo các điều kiện của chúng: Chúng là những pháp (dhammas) sinh rồi diệt, chỉ có thế thôi. |
|
Take this thermos: If we like it, it doesn’t react or say anything. The liking is all on our side. Even if we hate it and throw it into the woods, it still doesn’t react. It doesn’t respond to us. Why? Because it’s just the way it is. We like it or dislike it because of our own attachment. We see that it’s good or no good. The view that it’s good squeezes our heart. The view that it’s no good squeezes our heart. Both are defilements. |
Chiếc bình giữ nhiệt này: Nếu ta thích nó, nó chẳng hề phản ứng hay nói lời nào. Sự thích ấy hoàn toàn chỉ xuất phát từ chúng ta. Ngay cả khi ta ghét bỏ nó và ném nó vào rừng sâu, nó vẫn chẳng hề phản ứng. Nó không hề đáp lại ta. Tại sao ư? Bởi vì bản chất của nó vốn dĩ là như thế. Ta thích hay ghét bỏ nó là do chính sự chấp trước của ta. Ta tự gán cho nó cái nhìn là "tốt" hay "không tốt". Cái nhìn cho rằng nó "tốt" sẽ khiến tâm ta bị thắt nghẹn. Cái nhìn cho rằng nó "không tốt" cũng sẽ khiến tâm ta bị thắt nghẹn. Cả hai đều là những sự phiền não. |
|
So you don’t have to run away from things like this. Just understand this principle and keep contemplating. That’s all there is to it. The mind will see that these things are no big deal. They’re just the way they are. If we hate them, they don’t respond. If we like them, they don’t respond. We’re simply crazy of our own accord. Nothing disturbs us, but we get all worked up. Try to see everything in this way. |
Do vậy bạn không cần trốn tránh những điều như thế. Chỉ cần thấu hiểu nguyên lý này và không ngừng quán chiếu. Mọi chuyện chỉ đơn giản như vậy. Tâm sẽ nhận ra rằng những điều này chẳng quan trọng. Chúng vốn dĩ là như thế. Nếu ta ghét chúng, chúng cũng chẳng hề phản ứng. Nếu ta thích chúng, chúng cũng chẳng hề phản ứng. Ta chỉ đơn thuần là tự mình làm cho mình trở nên điên đảo. Chẳng có điều gì làm ta xáo động, thế mà ta lại cứ tự mình kích động lên. Hãy thử nhìn nhận mọi sự theo cách này. |
|
It’s the same with the body; it’s the same with the mind; it’s the same with the moods and preoccupations that make contact: See them as inconstant, stressful, and not-self. They’re just the way they are. We suffer because we don’t want them to be that way. We want to get things that we simply can’t get. |
Đối với thân cũng vậy; đối với tâm cũng vậy; đối với những cảm xúc và những mối bận tâm mà ta tiếp xúc cũng vậy: Hãy quán chiếu chúng là vô thường, khổ và vô ngã. Chúng vốn dĩ là như thế. Ta đau khổ là bởi vì ta không muốn chúng là như thế. Ta muốn đạt được những điều mà ta đơn thuần không thể đạt được. |
|
Is there something you want? |
Có điều gì bạn muốn không? |
|
“I guess it’s like when I want concentration. I want the mind to be quiet.” |
Tôi nghĩ điều đó cũng giống như khi tôi muốn tập trung. Tôi muốn tâm được tĩnh lặng. |
|
Okay, it’s true that you want that. But what’s the cause that keeps your mind from being quiet? The Buddha says that all things arise from causes, but we want just the results. We eat watermelons but we’ve never planted any watermelons. We don’t know where they come from. We see when they’re sliced open and they’re nice and red: “Mmm. Looks sweet.” We try eating them, and they taste good and sweet, but that’s all we know. Why watermelons are the way they are, we have no idea. |
Bạn mong muốn điều đó, không sao. Nhưng đâu là nguyên nhân khiến tâm bạn không thể tĩnh lặng? Đức Phật dạy rằng vạn pháp đều khởi sinh từ các nhân duyên, nhưng chúng ta lại chỉ muốn nhận những kết quả. Chúng ta ăn dưa hấu, nhưng chưa bao giờ tự trồng lấy một quả. Chúng ta chẳng hề biết chúng đến từ đâu. Chúng ta chỉ thấy khi quả dưa được bổ đôi, lộ ra sắc đỏ tươi ngon: “Mmm... Trông có vẻ ngọt.” Chúng ta nếm thử, cảm nhận vị ngon ngọt của dưa, nhưng đó cũng là tất cả những gì chúng ta biết. Còn tại sao quả dưa hấu lại có hình hài và tính chất như thế, thì chúng ta hoàn toàn không biết. |
|
That’s because we aren’t all-around. All-around in what way? It’s like watering vegetables. Wherever we forget to water doesn’t grow. Wherever we forget to give fertilizer doesn’t grow. Contemplate this principle and you’ll give rise to discernment. |
Đó là bởi vì chúng ta không toàn diện. Toàn diện theo khía cạnh nào? Điều này cũng tựa như việc tưới rau vậy: chỗ nào ta quên tưới nước thì sẽ không phát triển; chỗ nào ta quên bón phân thì cũng chẳng thể lớn. Hãy suy ngẫm thấu đáo nguyên lý này, và bạn sẽ phát khởi được trí tuệ sáng suốt. |
|
When you’ve finished with things outside, you look at your own mind. Look at the affairs of your body and mind. Now that we’re born, why do we suffer? We suffer from the same old things, but we haven’t thought them through. We don’t know them thoroughly. We suffer but we don’t really see suffering. When we live at home, we suffer from our wife and children, but no matter how much we suffer, we don’t really see suffering—so we keep on suffering. |
Khi đã hoàn thành những việc bên ngoài, bạn hãy quay lại quán chiếu tâm mình. Hãy quán sát những sự việc liên quan đến thân và tâm của bạn. Khi đã sinh ra nơi cõi đời này, tại sao chúng ta lại phải chịu khổ đau? Chúng ta chịu khổ vì những chuyện cũ lặp đi lặp lại, nhưng lại chưa từng suy xét thấu đáo về chúng. Chúng ta chưa thực sự thấu hiểu tường tận những điều ấy. Chúng ta đang chịu khổ, nhưng lại không thực sự nhìn thấy bản chất của sự khổ đau. Khi sống trong gia đình, chúng ta chịu khổ vì vợ con; nhưng, dù có phải chịu đựng nhiều, chúng ta vẫn không thực sự nhìn thấy được nỗi khổ ấy—và thế chúng ta cứ mãi chìm đắm trong khổ đau. |
|
It’s the same when the mind doesn’t get concentrated. We don’t know why it won’t get concentrated. We don’t really see what’s actually arising. The Buddha told us to look for the causes of what’s arising. All things arise from causes. |
Giống như khi tâm không đạt được định tâm. Chúng ta không biết tại sao lại không thể định tâm. Chúng ta thực sự không nhìn thấy được điều gì đang thực sự khởi sinh. Đức Phật đã dạy chúng ta hãy tìm kiếm nguyên nhân của những điều đang khởi sinh. Tất cả pháp đều khởi sinh từ các nhân duyên. |
|
It’s like putting water in a bottle and giving it to someone to drink. Once he’s finished drinking it, he’ll have to come back and ask for more—for the water isn’t water in a spring. It’s water in a bottle. But if you show the spring to the person and tell him to get water there, he can sit there and keep on drinking water and won’t ask you for any more, for the water never runs out. |
Điều này giống như bạn rót nước vào một cái chai rồi đưa cho ai đó uống. Một khi đã uống cạn, người ấy sẽ phải quay lại và xin thêm nữa—bởi lẽ nguồn nước đó không phải là nước từ một con suối. Đó chỉ là nước đựng trong chai. Nhưng nếu bạn chỉ cho người ấy suối nước và bảo họ hãy tự lấy nước tại đó, họ có thể ngồi đó mà uống mãi, chẳng cần phải xin thêm nữa—bởi lẽ nguồn nước ấy không bao giờ cạn. |
|
It’s the same when we see inconstancy, stress, and not-self. It goes deep, for we really know, we know all the way in. Ordinary knowledge doesn’t know all the way in. If we know all the way in, it never grows stale. Whatever arises, it’s already right. When it disbands, it’s already right. As a result, it’s right without stop. |
Nó giống như khi ta nhận thấy sự vô thường, sự khổ và tính vô ngã. Sự thấu hiểu này đi rất sâu, bởi lẽ ta thực sự biết, ta biết một cách trọn vẹn, thấu suốt đến tận cùng. Kiến thức thông thường không thể thấu suốt đến tận cùng như thế. Nếu ta thấu suốt đến tận cùng, thì không bao giờ trở nên cũ kỹ hay nhàm chán. Bất cứ điều gì sinh, nó vốn dĩ đúng. Khi nó diệt, nó cũng vốn dĩ đã đúng. Nhờ vậy, sự đúng ấy diễn ra không ngừng nghỉ. |
|
The view that says, “That’s the way it is. It’s right the way it is”: That’s when you’ve got it. That’s when you’re skilled and at ease. You don’t have to suffer. The problems that we get involved with and cling to will gradually unravel. As the Buddha said, see simply that things arise and then disband, disband and then arise, arise and then disband. Keep watching this Dhamma constantly, doing it constantly, developing it constantly, cultivating it constantly, and you’ll arrive at a sense of disenchantment. Disenchanted with what? Disenchanted with everything of every sort. |
Quan điểm cho rằng: “Mọi sự vốn là như thế. Mọi sự vốn dĩ đã đúng”: Đó chính là lúc bạn đã thực sự thấu đạt. Đó chính là lúc bạn đã trở nên thuần thục và tự tại. Bạn không còn phải chịu đựng khổ đau. Những vấn đề mà ta thường vướng mắc và bám chấp vào sẽ dần dần tự tháo gỡ. Như lời Đức Phật đã dạy: hãy đơn thuần quán sát rằng vạn sự sinh rồi diệt, diệt rồi sinh, sinh rồi diệt. Hãy không ngừng quán sát Pháp này, không ngừng thực hành, không ngừng phát triển và không ngừng tu dưỡng; rồi bạn sẽ đạt đến trạng thái xả ly, không còn luyến chấp. Không còn luyến chấp điều gì? Không còn luyến chấp bất cứ điều gì, thuộc bất cứ loại nào. |
|
The things that come by way of the ears, we already understand them; by way of the eyes, we already understand them; by way of the nose, we already understand them; by way of the tongue, we already understand them. The things that arise at the mind, we already understand them. They’re all the same sort of thing—all of them, the same sort of thing: eko dhammo, one Dhamma. This Dhamma is inconstant, stressful, and not-self. You shouldn’t cling to anything at all. That way, disenchantment will arise. |
Những pháp đến qua đường tai, ta đã thấu hiểu; qua đường mắt, ta đã thấu hiểu; qua đường mũi, ta đã thấu hiểu; qua đường lưỡi, ta đã thấu hiểu. Những điều khởi sinh nơi tâm ý, ta cũng đã thấu hiểu. Tất cả chúng đều thuộc cùng một bản chất—tất cả, đều là một loại duy nhất: *eko dhammo*—một Pháp duy nhất. Pháp này là vô thường, khổ, và vô ngã. Ngươi chớ nên chấp thủ vào bất cứ điều gì. Nhờ đó, sự nhàm chán và buông xả sẽ khởi sinh. |
|
When the eye sees a form, you already understand it. When the ear hears a sound, you already understand it. You understand all about it. These things will sometimes make us happy, sometimes sad, sometimes make us feel love, sometimes make us feel hatred. We already know all about these sorts of things. If we cling to them, they turn into issues. If we let them go—let forms go the way of forms, sounds the way of sounds—if we send them back and let them go their own way: When we can stay at this level, the Buddha said that we’ll see all about inconstancy. Whatever the preoccupations that arise, they’re all empty and in vain. They’re all deceptions. |
Khi mắt nhìn thấy một hình tướng, bạn đã thấu hiểu nó. Khi tai nghe một âm thanh, bạn cũng đã thấu hiểu nó. Bạn hiểu rõ tường tận mọi điều về chúng. Những điều này đôi khi khiến ta vui, đôi khi khiến ta buồn; đôi khi khơi dậy tình yêu thương, đôi khi lại nhen nhóm lòng thù hận. Ta vốn dĩ đã hiểu rõ tường tận về những điều như thế. Nếu ta cứ bám chấp vào chúng, chúng sẽ trở thành những vấn đề rắc rối. Ngược lại, nếu ta biết buông bỏ—để hình tướng cứ đi theo quy luật của hình tướng, âm thanh cứ đi theo quy luật của âm thanh—nếu ta trả chúng về đúng vị trí và để mặc chúng tự đi theo con đường riêng của mình: Khi ta có thể duy trì được trạng thái này, Đức Phật dạy rằng ta sẽ thấu suốt trọn vẹn về bản chất vô thường của các pháp. Bất kể những mối bận tâm nào có khởi sinh đi nữa, tất cả đều là hư không và vô nghĩa. Tất cả đều chỉ là những sự đánh lừa. |
|
When we see through the things that used to deceive us—when we’re intent on staying at ease, mindful, alert, and discerning—it’s not that we see anything else. We simply see that all the preoccupations that arise are simply the way they are. Even if, while we’re sitting perfectly still, the mind thinks about this or that, it doesn’t matter. It’s just an affair of thinking. You don’t have to believe what it’s thinking about. If the mind is peaceful and you feel, “Ah, it’s nice and peaceful,” the peace doesn’t matter, either. Peace is inconstant, too. There’s nothing but things that are inconstant. You can sit and watch the Dhamma right there. Discernment arises: What reason is there to suffer? |
Khi nhìn thấu những điều từng đánh lừa ta—khi ta chuyên tâm duy trì sự thảnh thơi, chánh niệm, tỉnh thức và minh mẫn—thì không phải là ta nhìn thấy một điều gì khác lạ. Ta chỉ đơn thuần nhận thấy rằng mọi mối bận tâm khởi sinh đều vốn dĩ là như thế. Ngay cả khi ta đang ngồi yên bất động, mà tâm lại suy nghĩ chuyện này chuyện nọ, thì điều đó cũng chẳng hề gì. Đó chỉ đơn thuần là chuyện của tư duy. Bạn không nhất thiết phải tin vào những gì tâm suy nghĩ. Nếu tâm an bình và bạn cảm thấy: "À, thật dễ chịu và an bình biết bao," thì sự an bình ấy cũng chẳng quan trọng. An bình cũng là thứ vô thường. Chẳng có gì tồn tại ngoài những điều vô thường. Bạn có thể ngồi yên và quán chiếu Pháp ngay tại đó. Tuệ giác liền khởi sinh: Còn lý do gì để phải chịu khổ đau nữa? |
|
We suffer over things that never amount to much. We want to get this, we want it to be like that, we want to be something. If you want to be an arahant, you immediately suffer, right here and now. Arahants have stopped wanting to be like this or like that, but we want to get this and get that, to be this and be that—so we’re sure to suffer. If you see that this spot is good or that spot is excellent, it all comes out of you. If you see yourself, that’s the end of saying things like that. |
Chúng ta đau khổ vì những điều chẳng bao giờ có giá trị gì to tát. Chúng ta muốn được điều này, muốn mọi việc phải theo cách kia, và muốn trở thành một ai đó. Nếu bạn muốn trở thành A-la-hán, ngay lập tức bạn sẽ khổ đau, ngay tại đây và lúc này. Các vị A-la-hán không còn mong cầu trở thành thế này hay thế kia nữa; nhưng chúng ta lại cứ mãi muốn đạt được điều này, nắm bắt điều kia, muốn trở thành người này hay người nọ—do vậy chúng ta chắc chắn sẽ khổ đau. Nếu bạn cho rằng nơi này tốt đẹp, hay nơi kia tuyệt vời, thì tất cả đều chỉ khởi sinh từ nội tâm của bạn. Nếu bạn thực sự thấu suốt được chính bản thân mình, thì những lời lẽ phân biệt như thế sẽ hoàn toàn chấm dứt. |
|
I’ll give you a simple comparison. This food is good. This tray is worth this many hundreds; that tray, this many tens. They’re all nothing but good things. When they’re on plates: “This is mine. This is yours.” But when they’ve gone into the stomach and come out the other end, nobody argues over whose is whose—or would you still want to argue? That’s what it’s like. When you’re willing to admit the way things are, that’s just what it’s like. If we don’t really understand, we argue over what’s mine and what’s yours. But when they all come together as the same sort of thing, nobody lays any claims. They’re simply the condition they are. No matter how wonderful the food might be, when it comes out the other end, if you wanted to give it as a gift to your brothers and sisters, no one would want it—or would you still want it? Nobody would fight over it at all. |
Tôi sẽ đưa ra cho bạn một sự so sánh đơn giản. Món ăn này thật ngon. Khay thức ăn này đáng giá hàng trăm; còn khay kia thì chỉ đáng giá hàng chục. Tất cả chúng không là gì nhưng lại tốt đẹp. Khi chúng còn nằm trên đĩa: "Đây là của tôi. Kia là của bạn." Nhưng khi chúng đã đi vào dạ dày và đi ra ở đầu bên kia, chẳng còn ai tranh cãi xem cái nào là của ai nữa—hay là bạn vẫn muốn tranh cãi chăng? Sự việc vốn dĩ là như thế. Khi bạn thừa nhận bản chất thực sự của các pháp, thì mọi chuyện đúng là như vậy. Nếu chúng ta không thực sự hiểu, chúng ta sẽ tranh giành xem đâu là của tôi và đâu là của bạn. Nhưng khi tất cả hòa quyện lại thành cùng một dạng vật chất, chẳng còn ai đưa ra bất kỳ sự đòi hỏi hay quyền sở hữu nào nữa. Chúng đơn thuần chỉ là những cái chúng đang hiện hữu. Cho dù món ăn có tuyệt vời đến đâu đi nữa, thì khi nó đã đi ra ở đầu bên kia, nếu bạn muốn đem nó làm quà tặng cho anh chị em mình, sẽ chẳng có ai muốn nhận cả—hay là bạn vẫn muốn nhận nó chăng? Chắc chắn sẽ chẳng có ai thèm tranh giành. |
|
For this reason, if we gather things together as eko dhammo—one single dhamma—and see that their characteristics are all the same, it gives rise to disenchantment. This disenchantment isn’t disgust. The mind simply loosens its grip, it’s had enough, it’s empty, it’s sobered up. There’s no love, no hatred, no fixating on anything. If you have things, okay. If you don’t, it’s still okay. You’re at ease. At peace. |
Chính lý do này, nếu ta gom mọi sự vật lại thành eko dhammo — một Pháp duy nhất — và nhận thấy rằng bản chất của chúng đều đồng nhất, thì sự xả ly sẽ khởi sinh. Sự xả ly này không phải là cảm giác chán ghét. Tâm đơn thuần buông bỏ sự nắm giữ; nó đã thấy đủ, trở nên trống rỗng và hoàn toàn tỉnh táo. Không còn yêu thương, không còn thù hận, cũng chẳng còn sự chấp dính vào bất cứ điều gì. Nếu có được mọi thứ, thì cũng tốt. Nếu không có, thì cũng vẫn tốt. Bạn cảm thấy thảnh thơi. An lạc. |
|
Nibbānaṁ paramaṁ sukhaṁ |
Niết-bàn là an lạc tối thượng |
|
Nibbāna is the ultimate happiness. Nibbāna is the ultimate peace, emptiness. Listen carefully. Worldly happiness isn’t the ultimate happiness. Worldly emptiness isn’t the ultimate emptiness. The ultimate emptiness is empty of clinging. The ultimate happiness is peace. There’s peace and then there’s emptiness, the ultimate emptiness. At the moment, though, the mind is at peace but it’s not ultimate. It’s happy, but it’s not ultimate. |
Niết Bàn là hạnh phúc tối thượng. Niết Bàn là sự an bình tối thượng, là sự trống không. Hãy lắng nghe thật kỹ. Hạnh phúc thế gian không phải là hạnh phúc tối thượng. Sự trống không thế gian không phải là sự trống không tối thượng. Sự trống không tối thượng là sự vắng bặt mọi sự chấp thủ. Hạnh phúc tối thượng chính là sự an bình. Có sự an bình, và rồi có sự trống không — sự trống không tối thượng. Tuy nhiên, ngay lúc này đây, tâm tuy đang an bình, nhưng đó chưa phải là sự an bình tối thượng. Nó đang hạnh phúc, nhưng đó chưa phải là hạnh phúc tối thượng. |
|
This is why the Buddha described nibbāna as the ultimate emptiness, its happiness as the ultimate happiness. It changes the nature of happiness to be peace. It’s happy but not fixated on any object. Pains still exist, but you see the pains and pleasures that arise as equal to each other. They have the same price. The objects we like and don’t like are equal to each other. |
Chính vì lẽ đó, Đức Phật đã mô tả Niết-bàn là sự trống rỗng tối thượng, và niềm hạnh phúc nơi đó là hạnh phúc tối thượng. Điều này chuyển bản chất của hạnh phúc thành sự an bình. Đó là niềm hạnh phúc, nhưng không hề bám chấp vào bất kỳ đối tượng nào. Những nỗi đau vẫn hiện hữu, nhưng bạn nhìn nhận những nỗi đau và niềm lạc thú khi chúng khởi sinh là như nhau. Chúng mang cùng một giá trị. Những đối tượng ta ưa thích hay không ưa thích đều bình đẳng như nhau. |
|
But as for us right now, these things aren’t equal. The objects we like are really pleasing. The objects we don’t like, we want to smash. That means they’re not equal. But their reality is that they’re equal. So think in a way that makes them equal. They’re not stable. They’re not constant—like the food I mentioned just now. “This is good. That’s wonderful.” But when they’re all brought together, they’re equal. Nobody says, “Give me a little more. I didn’t get enough.” It’s all been brought together to the way it is. |
Nhưng ngay lúc này đối với chúng ta, những sự vật này lại không bình đẳng. Những thứ ta yêu thích thì cảm giác vô cùng dễ chịu. Còn những thứ ta không thích, thì muốn đập tan. Điều đó có nghĩa là chúng không bình đẳng. Thế nhưng, thực tại vốn dĩ là chúng bình đẳng. Vì vậy hãy tư duy theo cách nhìn nhận sự bình đẳng nơi chúng. Chúng không hề ổn định. Chúng không hề bất biến—giống như món ăn mà tôi vừa nhắc đến vậy. “Món này ngon quá. Món kia thật tuyệt vời.” Nhưng khi tất cả được gom lại cùng nhau, chúng trở nên bình đẳng như nhau. Chẳng ai nói rằng: “Hãy cho tôi thêm một chút nữa; tôi vẫn chưa được ăn đủ.” Bởi lẽ, tất cả đã được quy tụ lại thành đúng bản chất vốn có của chúng. |
|
If we don’t drop the principles of inconstancy, stress, and not-self, we’re on the path. We see with every moment. We see the eye, we see the mind, we see the body. |
Nếu chúng ta không buông bỏ các nguyên lý về vô thường, khổ và vô ngã, thì chúng ta đang ở trên con đường đạo. Chúng ta thấy rõ trong từng sát na. Chúng ta thấy mắt, chúng ta thấy tâm, chúng ta thấy thân. |
|
Like when you sit in meditation. After a moment the mind goes off in a flash, so you pull it back. No matter what you do, it won’t stay. Try holding your breath. Will it go away then? Yyb! It goes, but not far. It’s not going to go now. It circles around right here—because your mind feels like it’s about to die. |
Giống như khi bạn ngồi thiền. Chỉ sau thoáng chốc, tâm đã vụt bay đi mất, thế là bạn lại kéo nó trở về. Dù bạn có làm gì đi nữa, nó cũng chẳng chịu ở yên. Hãy thử nín thở xem sao. Liệu lúc đó nó có biến mất không? Có đấy! Nó có đi, nhưng chẳng đi xa được. Giờ thì nó sẽ chẳng đi đâu cả. Nó cứ lẩn quẩn ngay tại đây thôi—bởi vì tâm bạn đang cảm thấy như thể mình sắp chết. |
|
The same with sounds. I once stuffed my ears with beeswax. Noises bothered me, so I stuffed my ears. Things were totally quiet, with just the sound from within my ears themselves. Why did I do it? I contemplated what I was doing; I didn’t torment myself just out of stupidity. I thought about the matter. “Oh. If people could become noble ones from not hearing anything, then every deaf person would be a noble one. Every blind person would be a noble one. They’d all be arahants.” So I listened to my thoughts, and—Oh!—discernment arose. |
Giống như vậy với âm thanh. Đã có lần tôi nhét sáp ong vào tai mình. Những tiếng ồn làm tôi khó chịu, thế nên tôi đã nhét kín tai lại. Mọi thứ trở nên tĩnh lặng tuyệt đối, chỉ còn lại âm thanh vọng ra từ chính bên trong đôi tai tôi. Tại sao tôi lại làm như vậy? Tôi đã quán chiếu về hành động của mình; tôi không tự hành hạ bản thân chỉ vì sự ngu ngốc. Tôi đã suy ngẫm thấu đáo về vấn đề này. “Ồ. Nếu con người có thể trở thành bậc Thánh chỉ nhờ việc không nghe thấy bất cứ điều gì, thì những người bị điếc đều đã là bậc Thánh rồi. Mọi người bị mù cũng đều đã là bậc Thánh. Tất cả họ hẳn đều đã là những vị A-la-hán.” Thế rồi tôi lắng nghe dòng suy nghĩ ấy, và—Ồ!—trí tuệ đã bừng nở. |
|
“Is there any use in stuffing your ears? In closing your eyes? It’s self-torment.” But I did learn from it. I learned and then stopped doing it. I stopped trying to close things off. |
“Nhét bông gòn vào tai thì có ích gì? Nhắm mắt lại thì có ích gì? Đó chỉ là tự đày đọa bản thân.” Nhưng tôi đã học được từ chính điều đó. Tôi đã học được, và rồi tôi dừng lại. Tôi không còn cố gắng khép kín mọi thứ nữa. |
|
Don’t go wrestling and attacking, don’t go cutting down the trunks of trees that have already died. It gets you nowhere. You end up tired and stand there looking like a fool. |
Đừng lao vào đô vật hay tấn công; cũng đừng đi đốn hạ những thân cây đã chết rồi. Làm vậy chẳng đi đến đâu cả. Rốt cuộc bạn chỉ chuốc lấy sự mệt mỏi, rồi đứng đó trông chẳng khác nào một kẻ ngốc. |
|
They were such a waste, such a real waste, my early years as a meditator. When I think about them, I see that I was really deluded. The Buddha taught us to meditate to gain release from suffering, but I simply scooped up more suffering for myself. I couldn’t sit in peace, couldn’t lie down in peace. |
Những năm tháng đầu khi tu tập thiền định của tôi quả là một sự lãng phí, một sự lãng phí thực sự. Mỗi khi nghĩ lại quãng thời gian ấy, tôi nhận ra rằng mình đã thật sự mê lầm. Đức Phật đã dạy chúng ta thiền định để tìm thấy sự giải thoát khỏi khổ đau, nhưng tôi lại chỉ chuốc thêm nhiều khổ đau hơn cho chính mình. Tôi chẳng thể nào ngồi yên trong sự an lạc, cũng chẳng thể nào nằm xuống trong sự bình an. |
|
The reason we live in physical seclusion (kāya-viveka) is to get the mind in mental seclusion (citta-viveka) from the objects that stir up its moods. These things are synonyms that follow one after the other. Upadhi-viveka refers to seclusion from our defilements: When we know what’s what, we can pull out of them; we pull out from whatever the state the mind is in. This is the only purpose of physical seclusion. If you don’t have any discernment, you can create difficulties for yourself when you go off into physical seclusion. |
Lý do chúng ta sống trong sự viễn ly về thân (kāya-viveka) là để đưa tâm vào trạng thái tâm viễn ly (citta-viveka) khỏi những đối tượng ngoại cảnh thường khuấy động nó. Những điều này đồng nghĩa chúng nối tiếp nhau một cách tuần tự. Sanh y viễn ly (Upadhi-viveka) đề cập đến trạng thái tâm tách rời khỏi các "sinh y" (những nguyên nhân, điều kiện trói buộc dẫn đến tái sinh và khổ đau sinh tử luân hồi). Khi đã thấu rõ bản chất của sự vật, chúng ta có thể rút mình ra khỏi chúng; chúng ta rút mình ra khỏi bất cứ trạng thái nào mà tâm đang hiện hữu trong đó. Đây chính là mục đích duy nhất của sự thân viễn ly. Nếu thiếu tuệ phân định, bạn có thể tự tạo ra những khó khăn cho chính mình khi tìm đến lối sống thân viễn ly. |
|
When you go live in the wilderness, don’t get stuck on the wilderness. If you get stuck on the wilderness, you become a monkey. When you see the trees, you miss the trees. You start jumping around just like the monkey you were before. The Buddha never taught us to be this or be that. When you live in a peaceful place, the mind becomes peaceful. “Mmm. Peace at last. The mind is at peace.” But when you leave the wilderness, is the mind at peace? Not any more. So what do you do then? |
Khi bạn vào sống chốn hoang dã, đừng để tâm mắc kẹt vào sự hoang dã ấy. Nếu tâm bạn dính mắc vào sự hoang dã, bạn sẽ trở thành một con khỉ. Khi nhìn thấy những hàng cây, bạn lại đánh mất chính những hàng cây ấy. Bạn bắt đầu nhảy nhót lung tung, hệt như con khỉ mà bạn từng là trước đó. Đức Phật chưa bao giờ dạy chúng ta phải trở thành thế này hay thế kia. Khi sống ở một nơi thanh bình, tâm ta cũng trở nên an lạc. "À... Cuối cùng cũng tìm thấy sự bình yên. Tâm giờ đây thật tĩnh lặng." Nhưng, khi rời khỏi chốn hoang dã ấy, liệu tâm bạn có còn giữ được sự bình yên chăng? Không còn nữa rồi. Vậy thì, lúc đó bạn sẽ làm gì đây? |
|
The Buddha didn’t have us stay in the wilderness. He had us use the wilderness as a place to train. You go to the wilderness to find some peace so that your meditation will develop, so that you’ll develop discernment. That’s so that when you go into the city and deal with people, with sights, sounds, smells, tastes, and tactile sensations, you’ll have strength, you’ll have your strategies. You’ll have your firm foundation for contemplating things, to see how they’re not for sure. Going to the wilderness in this way is something that can really help give you strength. If you think that you can live anywhere, that you can live with lots of people, it’s like a knife with a double-edged blade. If you don’t have inner strength, you can create difficulties for yourself. |
Đức Phật không bắt buộc chúng ta phải sống nơi hoang dã. Ngài chỉ muốn chúng ta sử dụng chốn hoang dã như một nơi để tu tập. Bạn tìm đến chốn hoang dã để tìm sự tĩnh lặng, nhờ đó việc thiền định của bạn được phát triển, và trí tuệ quán chiếu của bạn được khai mở. Mục đích là để khi bạn bước vào chốn thị thành, đối diện với bao người, bao cảnh sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm và những xúc chạm, bạn sẽ có đủ nội lực và những phương cách ứng phó cần thiết. Bạn sẽ có một nền tảng vững chắc để quán chiếu vạn pháp, để nhận thấy rằng vạn pháp không có tính chất chắc chắn. Việc tìm đến chốn hoang dã theo cách này thực sự là một phương cách hữu hiệu giúp bạn tích lũy thêm sức mạnh nội tâm. Nếu bạn nghĩ rằng mình có thể sống ở bất cứ đâu, hay có thể sống chung giữa chốn đông người, thì suy nghĩ ấy chẳng khác nào một con dao hai lưỡi. Bởi lẽ, nếu thiếu đi sức mạnh nội tâm, chính bạn sẽ tự tạo ra những khó khăn, chướng ngại cho chính mình. |
|
It’s like monks who study the Abhidhamma. They say that when you study the Abhidhamma you don’t have to cling to anything, don’t have to fixate on anything. It’s nice and easy. You don’t have to observe the precepts. You just focus right on the mind. That’s what monks who study the Abhidhamma say. |
Điều này giống như những vị Tăng tu Vi Diệu Pháp vậy. Họ cho rằng, khi nghiên cứu Vi Diệu Pháp, ta không cần phải chấp trước vào bất cứ điều gì, cũng chẳng cần phải cố chấp vào bất cứ thứ gì. Thật nhẹ nhàng và dễ dàng biết bao. Ta không cần phải giữ giới. Ta chỉ việc tập trung thẳng vào tâm. Đó chính là điều mà những vị Tăng tu Vi Diệu Pháp thường nói. |
|
“As for women, what’s the matter with getting near them? Women are just like our mothers. We ourselves were born right out of that spot.” That’s bragging too much. They ordained just yesterday and yet they refuse to be careful around women. That’s not the real Abhidhamma. That’s not what the Abhidhamma says. |
“Về phụ nữ, thì có gì là sai trái khi lại gần họ chứ? Phụ nữ cũng giống hệt như những người mẹ của chúng ta vậy. Chính bản thân chúng ta cũng được sinh ra từ chính người mẹ.” Nói như thế là quá huênh hoang rồi. Họ mới thọ giới xuất gia hôm qua thôi, vậy mà lại từ chối giữ gìn sự cẩn trọng khi ở gần phụ nữ. Đó không phải là Vi Diệu Pháp chân chính. Đó không phải là điều mà Vi Diệu Pháp đã dạy. |
|
But they say that the Abhidhamma is on a level higher than the human level. “When you’re that high, it doesn’t matter whether you’re near someone or not. There’s no near, no far. There’s nothing to be afraid of. Women are people just like us. Just pretend that they’re men. That way you can get near them, touch them, feel them. Just pretend that they’re men.” |
Nhưng người ta nói rằng Vi Diệu Pháp nằm ở một tầng cao hơn cả tầng của con người. “Khi đã đạt đến độ cao ấy, việc bạn ở gần hay xa một ai đó đều trở nên vô nghĩa. Không còn khái niệm gần hay xa nữa. Cũng chẳng còn điều gì đáng phải sợ hãi. Phụ nữ cũng là con người, giống như chúng ta vậy. Cứ hãy giả vờ rằng họ là đàn ông đi. Làm thế, bạn sẽ có thể lại gần họ, chạm vào họ, cảm nhận họ. Cứ hãy giả vờ rằng họ là đàn ông.” |
|
But is that the sort of thing you can pretend? It’s a double-edged blade. If we were talking genuine Abhidhamma, there wouldn’t be a problem. But this Abhidhamma is fake. |
Nhưng đó có phải là điều chúng ta có thể giả vờ được không? Nó là con dao hai lưỡi. Nếu chúng ta đang bàn về Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) thì đó chẳng có vấn đề gì. Đằng này, thứ Vi Diệu Pháp đó lại là đồ giả. |
|
The Buddha taught us to live in the wilderness. The proper way, when a monk goes into the wilderness, is to stay in a quiet place; to wander in the quiet wilderness; not to be entangled with friends and companions and other sorts of things. That’s the right way to do it. But most of us don’t follow the right way. We live in a quiet place and get attached to the quiet. As soon as we see a form, it gives rise to defilement. In our ears there’s nothing but defilement. That’s going too far. It lacks discernment. |
Đức Phật đã dạy chúng ta sống nơi rừng vắng. Khi một vị tỳ-kheo vào rừng, cách thực hành đúng là trú ngụ tại nơi yên tĩnh, an trú giữa chốn rừng sâu thanh vắng, và không để tâm vướng bận vào bạn bè, bằng hữu hay những chuyện thế sự khác. Đó mới là cách thực hành đúng. Tuy nhiên, phần lớn chúng ta lại không làm theo cách đó. Chúng ta sống nơi yên tĩnh nhưng lại dính mắc vào sự yên tĩnh ấy. Ngay khi mắt nhìn thấy hình sắc, phiền não liền khởi sinh; tai nghe âm thanh cũng chỉ toàn phiền não. Như vậy là đi quá xa rồi, thiếu đi sự sáng suốt và tỉnh giác. |
|
If you bring things together, they come together at the path—the right path, or right view. That’s where things come together. If you have right view, you can live with a large group of people and there’s no problem. You can live with a small group of people and there’s no problem. You can live in the forest or in a cave and there’s no problem. But this is something you can’t just attain without any effort. You have to get so that’s the way the mind really is. |
Nếu bạn kết hợp mọi thứ lại, chúng sẽ hội tụ nơi con đường đạo—con đường chân chính, hay chánh kiến. Đó chính là nơi mọi sự hội tụ. Nếu có chánh kiến, bạn có thể sống giữa một tập thể đông người mà không gặp trở ngại nào; bạn cũng có thể sống trong một nhóm nhỏ hay thậm chí sống một mình giữa rừng sâu hoặc trong hang đá mà vẫn an ổn. Tuy nhiên, đây không phải là điều có thể đạt được mà không cần nỗ lực; bạn cần tu tập để tâm mình thực sự an trú trong trạng thái ấy. |
|
Make the mind know the Dhamma. When it knows the Dhamma, make it see the Dhamma. Practice the Dhamma so that the mind is Dhamma. You don’t want to be able just to speak about the Dhamma. It’s something very different. The Buddha taught all the way to the truth, but we only go halfway, in half measures. That’s why progress is difficult. |
Hãy để tâm thấu hiểu Giáo pháp. Khi đã thấu hiểu, hãy để tâm nhìn thấy Giáo pháp. Hãy thực hành Giáo pháp để chính tâm trở thành Giáo pháp. Bạn không dừng lại ở việc nói suông về Giáo pháp. Nó là hoàn toàn khác. Đức Phật đã chỉ dạy con đường đi tới chân lý, nhưng chúng ta thường chỉ đi được nửa chặng đường hoặc thực hành một cách nửa vời. Đó chính là lý do tại sao sự tiến bộ trở nên khó khăn. |
|
If we come to live in the wilderness, we get to train ourselves—like training ourselves to grow rice. Once we plant it, it grows gradually. If nothing eats it, it’s okay. But what happens? As soon as the rice grains begin to appear, a baby water buffalo comes to eat them. We chase it away and look after the plant, but as soon as more grains appear the baby water buffalo comes to eat them again, keeps on eating as soon as the grains begin to fill out. If that’s the case, how are we going to get any rice? |
Nếu chúng ta sống nơi hoang dã, chúng ta có cơ hội rèn luyện bản thân—giống như việc trồng lúa vậy. Một khi đã gieo trồng, cây lúa sẽ lớn dần. Nếu không bị con gì ăn mất thì mọi chuyện vẫn ổn. Nhưng chuyện gì xảy ra? Ngay khi những hạt lúa bắt đầu nhú ra, một con nghé con đến ăn. Chúng ta xua đuổi nó và chăm sóc cây lúa, nhưng hễ lúa trổ thêm hạt thì con nghé ấy quay lại ăn; nó cứ tiếp tục ăn ngay khi hạt lúa bắt đầu mẩy lên. Nếu cứ như thế thì làm sao chúng ta thu hoạch được lúa? |
|
The strategies you’ll need will grow from within the mind. Whoever has discernment gains intuitive knowledge. Whoever has intuitive knowledge gains discernment. That’s the way it is. Are intuitive knowledge and discernment different from each other? If you say they aren’t, why are there two different words? One is called intuitive knowledge; one is called discernment. Can you have only intuitive knowledge? No. You need to have discernment, too. Can you have only discernment? No. You need to have intuitive knowledge, too. Whoever has discernment gains intuitive knowledge. Whoever has intuitive knowledge gains discernment. These things arise from your own experience. You can’t go looking for them in this book or that. They arise in your own mind. Don’t be timid. |
Những phương cách bạn cần sẽ nảy sinh từ chính tâm bạn. Ai có sự sáng suốt sẽ đạt được tri kiến trực giác. Ai có tri kiến trực giác sẽ đạt được sự sáng suốt. Mọi sự là như vậy. Liệu tri kiến trực giác và sự sáng suốt có khác nhau không? Nếu bảo rằng chúng không khác nhau, thì tại sao lại có hai từ ngữ riêng biệt? Một đằng gọi là tri kiến trực giác; một đằng gọi là sự sáng suốt. Liệu bạn có thể chỉ sở hữu tri kiến trực giác không? Không. Bạn cần phải có cả sự sáng suốt nữa. Liệu bạn có thể chỉ cần sở hữu sự sáng suốt thôi được không? Không. Bạn cần phải có cả tri kiến trực giác nữa. Ai có sự sáng suốt sẽ đạt được tri kiến trực giác. Ai có tri kiến trực giác sẽ đạt được sự sáng suốt. Những điều này nảy sinh từ chính trải nghiệm của bạn. Bạn không thể tìm thấy chúng trong cuốn sách này hay cuốn sách nọ. Chúng nảy sinh ngay trong tâm bạn. Đừng e ngại. |
|
I once read in a Jātaka tale about our Buddha when he was still a bodhisatta. He was like you: He had ordained and encountered a lot of difficulties, but when he thought of disrobing he was ashamed of what other people would think—that he had ordained all these years and yet still wanted to disrobe. Still, things didn’t go the way he wanted, so he thought he’d leave. He came across a squirrel whose baby had been blown into the ocean by the wind. He saw the squirrel running down to the water and then back up again. He didn’t know what it was doing. It ran down to the water and stuck its tail in the water, and then ran up to the beach and shook out its tail. Then it ran down and stuck its tail in the water again. So he asked it, “What are you doing?” |
Tôi từng đọc câu chuyện Tiền thân (Jātaka) kể về Đức Phật khi Ngài còn là một vị Bồ-tát. Ngài cũng giống như bạn vậy: Ngài đã xuất gia và gặp phải nhiều gian nan, trắc trở; khi nảy sinh ý định hoàn tục, Ngài cảm thấy hổ thẹn vì sợ người đời sẽ nghĩ ngợi—rằng Ngài đã tu hành bao năm tháng mà rốt cuộc vẫn muốn từ bỏ đời sống xuất gia. Tuy nhiên, mọi việc không diễn ra như ý muốn, nên Ngài đã định rời đi. Trên đường đi, Ngài bắt gặp một con sóc có con sóc con bị gió thổi rơi xuống biển. Ngài quan sát thấy con sóc cứ chạy xuống mép nước rồi lại chạy ngược lên. Ngài không hiểu nó đang làm gì. Nó chạy xuống nước, nhúng cái đuôi vào đó, rồi lại chạy lên bãi cát và vẩy mạnh đuôi. Sau đó, nó lại chạy xuống và nhúng đuôi vào nước một lần nữa. Thế là Ngài cất tiếng hỏi: "Ngươi đang làm gì vậy?" |
|
“Oh, my baby has fallen into the water. I miss it and I want to fetch it out.” |
“Ôi, con của tôi bị rơi xuống nước rồi. Tôi nhớ nó lắm và muốn vớt nó lên.” |
|
“How are you going to do that?” |
Bạn định làm như thế nào? |
|
“I’m going to use my tail to bail water out of the ocean until it’s dry so that I can fetch my baby out.” |
“Ta sẽ dùng đuôi tát cạn nước biển để đưa con ta ra ngoài.” |
|
“Oho. When will the ocean ever go dry?” |
“Ồ. Bao giờ thì đại dương mới cạn nước?” |
|
“That’s not the issue. This is the way it is with the practice. You keep bailing out the water, bailing out the water, and don’t care whether it ever goes dry. When you’re going to be a Buddha, you can’t abandon your efforts.” |
“Đó không phải là vấn đề. Việc tu tập là như vậy: cứ mãi tát nước, tát nước, mà chẳng bận tâm liệu nước có bao giờ cạn hết hay không. Khi đã hướng tới quả vị Phật, bạn không thể từ bỏ nỗ lực của mình.” |
|
When the bodhisatta heard this, it flashed in his heart. He got up and pushed through with his efforts. He didn’t retreat. That’s how he became the Buddha. |
Khi Bồ Tát nghe điều này Ngài liền bừng tỉnh. Ngài đứng dậy và nỗ lực kiên trì thực hiện mục tiêu. Ngài không hề lùi bước. Chính nhờ vậy mà Ngài đã thành Phật. |
|
It’s the same with us. Wherever things aren’t going well, that’s where they will go well. You make them happen where they aren’t yet happening. Wherever you’re deluded, that’s where knowledge will arise. If you don’t believe me, spit right here. That’ll make it dirty. But when you wipe it away, it’ll be clean right here—right where it’s dirty. It won’t become clean out there in the grounds of the monastery. Keep coming back to the same place over and over again. |
Nó cũng vậy với chúng ta. Nơi nào mọi việc chưa được suôn sẻ, thì chính tại đó chúng sẽ trở nên tốt đẹp. Bạn tạo ra sự chuyển biến ngay tại nơi mà mọi thứ chưa diễn ra như ý. Nơi nào bạn còn mê lầm, thì chính tại đó trí tuệ sẽ nảy sinh. Nếu không tin tôi, hãy thử nhổ nước bọt xuống ngay chỗ này xem. Chỗ đó sẽ bị vấy bẩn. Nhưng khi bạn lau sạch nó đi, thì chính ngay chỗ đó—nơi vừa bị bẩn—sẽ trở nên sạch sẽ. Nó sẽ không thể sạch ở ngoài sân của tu viện được. Hãy cứ quay trở lại cùng một nơi chốn ấy, lặp đi lặp lại nhiều lần. |
|
Ajahn Thongrat once said to me, “Chah, drill the hole right in line with the dowel.” |
Ngài Ajahn Thongrat từng bảo tôi: “Chah, hãy khoan lỗ sao cho thẳng hàng với cái chốt.” |
|
That’s all he said. I had just started practicing and didn’t understand what he was saying. |
Ngài chỉ nói như vậy. Khi đó tôi mới bắt đầu tu tập và không hiểu Ngài đang nói gì. |
|
“If it comes low, jump over its head.” That’s what he said". |
“Nếu nó lao tới ở tầm thấp, hãy nhảy qua đầu nó.” Đó là điều Ngài đã nói". |
|
“If it comes high, slip under it.” |
"Nếu bóng bay cao, hãy cúi người luồn xuống dưới nó". |
|
I didn’t know what he was saying. So I went off to meditate and kept contemplating it. |
Tôi không hiểu Ngài đang nói gì. Thế là tôi đi thiền và cứ mãi suy ngẫm về điều đó. |
|
Actually, he was telling me how to solve my problems. “Drill the hole right in line with the dowel” means, “Wherever the problem arises, contemplate right there; wherever you’re deluded, contemplate right there. If you’re attached to a sight, contemplate the sight. Right around right there.” That’s what it means, “Drill the hole right in line with the dowel.” Don’t go drilling far away. Drill right there at the dowel. |
Thực ra, Ngài đang chỉ cho tôi cách giải quyết các vấn đề của mình. Câu "Khoan lỗ thẳng hàng với chốt" có nghĩa là: "Vấn đề nảy sinh ở đâu thì hãy quán chiếu ngay tại đó; nơi nào bạn đang mê lầm thì hãy quán chiếu ngay tại đó. Nếu bạn dính mắc vào một hình ảnh, hãy quán chiếu hình ảnh ấy. Ngay tại chính chỗ đó." Đó chính là ý nghĩa của câu "Khoan lỗ thẳng hàng với chốt". Đừng khoan ở nơi xa xôi nào khác; hãy khoan ngay tại vị trí cái chốt ấy. |
|
It’s the same as when we step on a thorn. You take a needle and probe right there where the thorn is. Don’t go probing anywhere else. Probe right where the thorn is stuck in your foot. Even if it hurts, you have to endure it. Keep probing all around it and then pry it out. That’s how you get the thorn out. If the thorn is stuck in your foot, but you go probing around your rear, when will you ever be done with it? |
Cũng giống như khi ta giẫm phải gai. Ta phải dùng kim chọc đúng vào chỗ có cái gai đó. Đừng chọc lung tung ở những chỗ khác. Hãy chọc đúng vào nơi cái gai đang cắm trong chân mình. Dù đau cũng phải chịu đựng. Cứ chọc dò xung quanh rồi nạy nó ra. Đó là cách lấy cái gai ra. Nếu gai cắm ở chân mà ta lại đi chọc dò ở mông, thì làm sao mà xong việc được? |
|
So I contemplated this. “Oh. Teachers meditate in line with the language of their own minds. They don’t go groping around in the formulations in the books the way we do. Their own formulations arise from reality.” |
Do vậy tôi suy ngẫm về điều này. “Ồ. Các bậc thầy hành thiền dựa trên ngôn ngữ của chính tâm mình. Họ không loay hoay tìm kiếm trong những cách diễn đạt của sách vở như chúng ta. Những cách diễn đạt của chính họ nảy sinh từ thực tại.” |
|
So what comes low and what comes high? |
Vậy thì cái gì ở mức thấp và cái gì ở mức cao? |
|
“If it comes low, jump over its head. If it comes high, slip under it.” I kept contemplating this. Here he was talking about my moods and preoccupations. Some of them come low; some of them come high. You have to watch them to see how you can avoid them. If they come low, jump over their heads. If they come high, slip under them. Do what you can so that they don’t hit you. |
“Nếu nó ập đến ở tầm thấp, hãy nhảy qua đầu nó. Nếu nó ập đến ở tầm cao, hãy luồn xuống dưới nó.” Tôi cứ mãi suy ngẫm về điều này. Ngài đang nói về những tâm trạng và nỗi bận tâm của tôi. Có những thứ ập đến ở tầm thấp; có những thứ ập đến ở tầm cao. Bạn phải quan sát chúng để biết cách né tránh. Nếu chúng ập đến ở tầm thấp, hãy nhảy qua đầu chúng. Nếu chúng ập đến ở tầm cao, hãy luồn dưới chúng. Hãy làm mọi cách để chúng không va vào bạn. |
|
This is the practice. You contemplate right where you’re deluded so that you’ll know right there. Any other issue is just duck shit and chicken shit. You don’t have to go groping after it. That’s how you have to take things on in meditation. |
Đây chính là sự tu tập. Bạn quán chiếu ngay tại nơi mình đang mê lầm để có thể nhận biết ngay tại đó. Mọi vấn đề khác chỉ là chuyện không đáng bận tâm. Bạn không cần phải đi tìm kiếm hay bám víu vào chúng. Đó là cách bạn cần đối diện với mọi việc trong khi thiền định. |
|
But actually, it’s not a matter of taking. You take them on by abandoning them. This is how the suppositions of language have things all backwards. You let things go. You practice letting go. You don’t have to become a stream-winner or a once-returner. You don’t have to make those suppositions. You don’t have to be those things. If you are anything, it’s a turmoil. If you are this or are that, you are a problem. So you don’t have to be anything. There’s nothing but letting go—letting go and then knowing in line with what things do. When you know in line with what things do in every way, there’s no more doubt. And you aren’t anything. |
Nhưng thực ra, vấn đề không phải là chuyện nắm bắt. Bạn chế ngự chúng bằng cách buông bỏ chúng. Đây là điểm mà những giả định của ngôn ngữ khiến mọi sự bị đảo ngược. Bạn để mọi sự trôi đi. Bạn thực hành sự buông bỏ. Bạn không cần phải trở thành bậc Nhập Lưu hay bậc Nhất Lai. Bạn không cần phải đặt ra những giả định đó. Bạn không cần phải là những điều đó. Nếu bạn là một cái gì đó, thì đó chỉ là sự xáo trộn. Nếu bạn là cái này hay cái kia, thì bạn chính là vấn đề. Vì vậy, bạn không cần phải là bất cứ điều gì. Chẳng có gì ngoài việc buông bỏ—buông bỏ và rồi nhận biết đúng theo bản chất vận hành của pháp. Khi bạn nhận biết đúng theo bản chất vận hành của pháp trong mọi khía cạnh, sẽ không còn nghi ngờ nữa. Và bạn không còn là bất cứ điều gì. |
|
Think about it in a simple way. If someone yells at you but you don’t rear up in response, that’s the end of the matter. It doesn’t reach you. But if you grab hold of it and won’t let go, you’re in bad shape. Why put their words into yourself? If they yell at you, just leave it at that. But if they yell at you over there in the ordination hall and you bring it into your ears while you’re sitting here, it’s as if you like to suffer. This is called not understanding suffering. You stir things up with your thinking and give rise to all kinds of issues. |
Hãy nghĩ một cách đơn giản. Nếu ai đó quát mắng bạn mà bạn không phản ứng lại, thì chuyện dừng lại ở đó. Nó không tác động được đến bạn. Nhưng nếu bạn cứ chấp vào lời nói đó và không chịu buông bỏ, thì bạn sẽ phiền não. Tại sao lại để những lời nói của họ xâm nhập vào tâm mình? Nếu họ quát mắng bạn, thì cứ để chuyện đó trôi qua. Nhưng nếu họ quát mắng bạn ở ngoài chánh điện mà bạn lại cứ để những lời đó ám ảnh trong đầu khi đang ngồi đây, chẳng khác nào bạn đang tự chuốc lấy khổ đau. Đó gọi là không thấu hiểu về khổ đau. Chính những suy nghĩ của bạn đã khuấy động mọi chuyện và sinh ra đủ thứ phiền não. |
|
The practice is actually something short, and not at all long. If you say it’s long, it’s longer than long. If you say it’s short, it’s shorter than short. When it comes to the practice, you can’t use your ordinary ways of thinking. |
Việc tu tập thực ra là điều gì đó rất ngắn, hoàn toàn không hề dài. Nếu bảo là dài, thì nó còn dài hơn cả cái dài; nếu bảo là ngắn, thì nó còn ngắn hơn cả cái ngắn. Khi nói đến việc tu tập, bạn không thể dùng những lối tư duy thông thường của mình. |
|
You need to have patience and endurance. You need to make an effort. Whatever happens, you don’t have to pick it up and carry it around. When things are a certain way, that’s all they are. When we see the Dhamma in this way, we don’t hold onto anything. Pleasure we know. Pain we know. |
Bạn cần kiên nhẫn và lòng bền bỉ. Bạn cần phải nỗ lực. Dù chuyện gì xảy ra, bạn không nhất thiết phải vơ lấy và mang vác nó theo mình. Mọi sự vật, sự việc vốn dĩ chỉ là như vậy. Khi nhìn nhận Giáo pháp theo cách này, chúng ta sẽ không bám víu vào bất cứ điều gì. Ta biết đến niềm vui, và ta cũng biết đến nỗi đau. |
|
The Buddha and his arahant disciples, when they gain awakening: It’s not the case that coconut-milk sweets aren’t sweet for them. They’re sweet in the same way they’re sweet for us. When the noble ones eat a sour tamarind, they squeeze their eyes shut just like us. Do you understand? Things are just the same way they were before, simply that noble ones don’t hold onto them or get fixated on them. If you argue with them that the tamarind is sour, they’ll say, “Sour is fine. Sweet is fine. Neither sour nor sweet is fine.” That’s what they’ll say. |
Khi Đức Phật và các đệ tử A-la-hán của Ngài đạt được sự giác ngộ: Nước cốt dừa ngọt không phải là từ nước cốt dừa trở nên bớt ngọt đối với các Ngài. Nước vẫn ngọt y như khi ta uống vậy. Khi các bậc Thánh ăn quả me chua, các Ngài cũng nheo mắt lại y hệt như chúng ta. Bạn có hiểu không? Mọi sự vật hiện tượng vẫn y nguyên như trước; chỉ khác là các bậc Thánh không bám víu hay dính mắc vào chúng. Nếu bạn tranh luận với các Ngài rằng quả me có vị chua, các Ngài sẽ nói: "Chua cũng được. Ngọt cũng được. Không chua không ngọt cũng được." Đó chính là điều các Ngài sẽ nói. |
|
The same principle applies here. When people come and say wrong things, we can hear them and it doesn’t matter. We just leave it at that. If you can do this, then even though you’re as old as you are now, you can be young. You can get a lot younger. |
Sự việc tương tự cũng áp dụng trong trường hợp này. Khi người ta đến và nói những điều không hay, ta vẫn có thể nghe thấy nhưng chẳng cần bận tâm. Ta cứ để mọi chuyện dừng lại ở đó. Nếu làm được như vậy, thì dù đang ở độ tuổi hiện tại, bạn vẫn có thể giữ được sự trẻ trung. Bạn thậm chí có thể trở nên trẻ trung hơn. |
|
You don’t have to carry these things over your shoulder. I’ve seen some old monks wandering dhutaṅga-style, but I don’t know what they’re going for. They carry huge umbrella tents. Old monks don’t like small umbrella tents the way young monks do, you know. They like to carry around big umbrella tents. In the morning they fold up their umbrella tents. As soon as the sun comes up, they fold up their tents. They can’t leave them up in the open fields to protect themselves from the wind, for the tents won’t stand up to the wind. So they fold up their tents and carry them off under the hot sun. Then in the evening they put their umbrella tents up again. I don’t know why—there’s no more sun. They wake up the next day and fold up their tents and carry them off under the hot sun again. |
Bạn không nhất thiết phải vác những thứ này trên vai. Tôi từng thấy vài vị sư lớn tuổi đi bộ hành theo hạnh đầu đà, nhưng tôi không rõ mục đích cụ thể của họ là gì. Họ mang theo những chiếc lều dù cỡ lớn. Bạn biết đấy, các vị sư lớn tuổi không thích loại lều dù nhỏ như các vị sư trẻ. Họ thích mang theo những chiếc lều dù loại lớn. Buổi sáng, họ thu dọn lều dù lại. Ngay khi mặt trời vừa ló dạng, họ liền xếp lều lại. Họ không thể cứ để lều dựng giữa cánh đồng trống để chắn gió, vì loại lều này không chịu nổi sức gió. Thế là họ xếp lều lại và mang đi dưới cái nắng gay gắt. Rồi đến chiều tối, họ lại dựng lều dù lên. Tôi chẳng hiểu tại sao—lúc đó đâu còn nắng nữa. Hôm sau thức dậy, họ lại xếp lều và mang đi dưới cái nắng gay gắt như vậy. |
|
I did this sort of thing until I got sick and tired of it. I went wandering dhutaṅga-style but ended up suffering in the jungle. Then I realized that it wasn’t for the purpose of suffering in the jungle, so I kept finding my way out of the jungle. That’s why I became a find-your-way-out-of-the-jungle monk. [Here Ajahn Chah is playing with the Thai words for dhutaṅga (thudong), suffering in the jungle (thukdong), and finding your way through the jungle (thaludong).] |
Tôi đã làm những việc như vậy cho đến khi chán. Tôi đi lang thang theo kiểu khổ hạnh (dhutaṅga) nhưng cuối cùng lại chịu khổ trong rừng sâu. Rồi tôi nhận ra rằng mục đích không phải là chịu khổ trong rừng, vì vậy tôi tìm đường ra khỏi rừng. Đó là lý do tại sao tôi trở thành một nhà sư tìm đường ra khỏi rừng. [Ở đây, Ajahn Chah đang chơi chữ với các từ tiếng Thái cho dhutaṅga (thudong), khổ trong rừng (thukdong), và tìm đường xuyên qua rừng (thaludong).] |
|
Actually, the reason why the Buddha taught us to go into the wilderness is for us to gain discernment. You encounter suffering, you encounter reality, so that you can see and understand it, and eventually you get tired of the actions that cause it. It’s not that going into the wilderness isn’t good. It is good. It gives rise to discernment. |
Thực ra, lý do Đức Phật dạy chúng ta vào chốn hoang vắng là để chúng ta phát triển trí tuệ sáng suốt. Khi đối diện với khổ đau và thực tại, ta có thể nhìn thấy rõ và hiểu chúng, để rồi cuối cùng cảm thấy nhàm chán những hành động vốn gây ra nỗi khổ ấy. Không phải là việc vào chốn hoang vắng là không tốt; trái lại, điều đó rất tốt vì nó giúp khơi dậy trí tuệ sáng suốt. |
|
Speaking of dhutaṅga, it’s not a matter of slinging your bowl and umbrella tent over your shoulder, exposing yourself to the sun and wind until you’re about to die, the way farmers go to sell water buffaloes in the Central Plains. It’s a matter of the practice. You learn to be content with little. You learn a sense of moderation in eating, a sense of moderation in sleep. You get to grow thin, to make things shrink, make them shorter, gather them in well. It’s like casting a net for fish. You gather one end firmly under your belt and then you gradually gather the net in, gather it in, gradually, gradually. You tie off one end and then, when you’ve got your fish, you quickly tie off the other. Tie up the fish behind the gills and you’ve got it. |
Nói về hạnh đầu đà (dhutaṅga), đó không phải là chuyện khoác bình bát và lều dù lên vai rồi dầm mưa dãi nắng đến kiệt sức, giống như kiểu nông dân đi bán trâu vùng Đồng Bằng Trung Nguyên. Đó là vấn đề của sự tu tập. Bạn học cách tri túc, bằng lòng với những gì ít ỏi. Bạn học cách tiết chế trong ăn uống và ngủ nghỉ. Bạn học cách sống giản dị, thu gọn mọi thứ lại, tinh giản và quy tụ chúng một cách hoàn hảo. Điều này cũng giống như khi quăng chài bắt cá. Bạn buột chặt một đầu dây chài nơi thắt lưng, rồi từ từ thu lưới về, thu dần, thu dần từng chút một. Bạn buộc chặt một đầu dây, và khi đã bắt được cá, bạn nhanh chóng buộc nốt đầu kia lại. Buộc chặt ngay đầu kia lại, thế là bạn đã nắm chắc được con cá rồi. |
|
You don’t have to look elsewhere. You don’t have to read a lot of books. Watch your own mind. The basic principles lie right here. This way you can meditate without getting deluded. |
Bạn không cần phải tìm kiếm ở nơi nào khác. Bạn không cần phải đọc nhiều sách. Hãy quan sát chính tâm mình. Những nguyên lý cơ bản nằm ngay tại đây. Nhờ vậy, bạn có thể hành thiền mà không bị rơi vào ảo tưởng. |
|
If people speak to you in a way that grates against your ears, that makes you mad, tell yourself, “It’s not for sure. It’s inconstant.” If you eat something delicious and think, “Mmm. It’s really good,” remind yourself that it’s not for sure. Whatever comes your way, tell yourself, “It’s not for sure.” Why? Because that’s where the Dhamma lies. Gather things in, in the direction of the Buddha, the direction of inconstancy. Inconstancy—that things aren’t for sure: That’s the Buddha on the level of the mind. |
Nếu có người nói với bạn những lời chói tai, khiến bạn nổi giận, hãy tự nhủ: “Điều này không chắc chắn. Nó là vô thường.” Nếu bạn ăn một món ngon và nghĩ: “Chà, ngon thật đấy,” hãy tự nhắc mình rằng điều đó không chắc chắn. Bất cứ điều gì đến với bạn, hãy tự nhủ: “Điều này không chắc chắn.” Tại sao vậy? Bởi vì đó chính là nơi Giáo pháp hiện diện. Hãy quy hướng mọi sự về phía Đức Phật, về phía sự vô thường. Vô thường—nghĩa là mọi sự đều không chắc chắn: Đó chính là Đức Phật hiện diện ngay trong tâm bạn. |
|
If you really see inconstancy, you see the Dhamma. Why wouldn’t you see it?—for the truth lies right there. If you see the Dhamma, you see the Buddha. These things go in both directions. If you see the Buddha, you see the Dhamma. When you see in this way, you can live anywhere at all. When you sit, the Buddha is giving you a sermon. When you lie down, he’s giving you a sermon. Whatever you do, he’s giving you a sermon. The Dhamma arises and the Dhamma looks after those who practice it, so that they don’t fall into the evil path. |
Nếu thực sự nhìn thấy sự vô thường, bạn sẽ thấy được Giáo pháp. Tại sao lại không thấy?—bởi vì sự thật nằm ngay ở đó. Nếu thấy Giáo pháp, bạn sẽ thấy Đức Phật. Mối liên hệ này mang tính hai chiều: nếu thấy Đức Phật, bạn cũng sẽ thấy Giáo pháp. Khi nhìn nhận như vậy, bạn có thể sống ở bất cứ đâu. Lúc ngồi, Đức Phật đang thuyết pháp cho bạn nghe. Lúc nằm xuống, Ngài cũng đang thuyết pháp. Dù bạn làm bất cứ việc gì, Ngài vẫn đang thuyết pháp cho bạn. Giáo pháp khởi sinh và che chở những ai thực hành nó, giúp họ không rơi vào đường ác. |
|
When the Dhamma is in charge, the mind is always aware of things. It knows that “This is wrong. This is right. This is good. This is evil. This is suffering. This is the cause of suffering. This is the disbanding of suffering. This is the practice that reaches the disbanding of suffering.” |
Khi tâm có Chánh pháp, tâm luôn luôn nhận thức được vạn pháp. Nó biết rằng “Điều này là sai. Điều này là đúng. Điều này là tốt. Điều này là xấu. Điều này là khổ. Đây là nguyên nhân của khổ. Đây là cách diệt khổ. Đây là pháp tu tập dẫn đến sự giải thoát khổ.” |
|
That’s the path. Everything gathers into the path. As you strengthen the path, your defilements decrease. The defilements are like an army, you know. If they increase, the path decreases. If the path gets strengthened, the defilements gradually go away, go away. Their strength decreases. You stay only with what’s right. Whatever’s wrong, you give it up, give it all up, and the wrong path peters out. |
Đó chính là con đường đạo. Mọi thứ đều quy tụ về con đường đạo. Khi bạn tu tập con đường đạo này, các phiền não sẽ giảm bớt. Bạn biết đấy, các phiền não cũng giống như một đạo quân ma. Nếu chúng gia tăng, thì con đường đạo sẽ suy yếu. Nếu con đường đạo được tu tập, các phiền não sẽ dần dần tan biến. Sức mạnh của chúng sẽ suy giảm. Bạn chỉ còn lại những gì đúng. Còn những gì sai trái, bạn buông bỏ hết—buông bỏ tất cả—và con đường sai lầm ấy sẽ dần lụi tàn. |
|
That’s when the right path gets established, and you can live wherever you want. Gaining is the same as losing; losing, the same as gaining. There’s no problem any more. The mind is at peace—at peace through discernment. When you see in this way, you’re not fixated on this or that. If someone brings you something to trade this for that, you’re not interested. You don’t believe them. That’s when things are for sure. Remember this point well. |
Đó là lúc con đường chánh đạo được xác lập, và bạn có thể sống ở bất cứ đâu mình muốn. Được cũng như mất; mất cũng như được. Khi ấy, chẳng còn vấn đề gì nữa. Tâm được an tịnh—an tịnh nhờ vào sự sáng suốt, thấu hiểu. Khi nhìn nhận sự việc theo cách này, bạn không còn bám chấp vào điều này hay điều kia. Nếu ai đó đến đề nghị đổi cái này lấy cái kia, bạn cũng chẳng hề quan tâm. Bạn không tin vào những lời ấy. Đó là lúc mọi sự trở nên chắc chắn, vững vàng. Hãy ghi nhớ kỹ điều này. |
|
It’s like knowing fruits: This is an olive, this is a guava, this is a mango. Once you know them, people can pour them all into a tray and someone can pick them up one by one and ask you what they are. |
Cũng giống như việc nhận biết các loại trái cây: đây là quả ô liu, đây là quả ổi, còn đây là quả xoài. Một khi đã nhận biết được chúng, người ta có thể đổ tất cả vào một cái khay, rồi ai đó có thể nhặt từng quả lên và hỏi bạn xem đó là loại quả gì. |
|
“What’s this?” |
"Đây là quả gì?" |
|
The person can keep doing this for a hundred trays of fruit, a thousand trays of fruit, and you won’t be deceived by any of them. You see a mango as a mango, a guava as a guava—whatever it is, you see it for what it is. That’s when things are for sure. Nobody can deceive you. You can’t wander off the path, for everything in the mind is the right path. When you’re sitting, you have right view. When you’re walking, you have right view. When you’re lying down, you have right view. The mind is all the same, always like it has been: at ease, at peace. These sorts of things are hard to describe. |
Người ấy có thể tiếp tục làm như vậy với hàng trăm, hàng nghìn khay trái cây, mà bạn vẫn không hề bị đánh lừa bởi bất cứ thứ gì trong số đó. Bạn nhìn quả xoài thì thấy đúng là quả xoài, nhìn quả ổi thì thấy đúng là quả ổi—bất kể là vật gì, bạn đều nhìn thấy đúng bản chất của nó. Đó là lúc mọi sự đều chắc thật. Không ai có thể đánh lừa được bạn. Bạn không thể đi chệch khỏi con đường chánh đạo, bởi vì mọi trạng thái trong tâm đều là con đường chánh đạo. Khi ngồi, bạn có chánh kiến. Khi đi, bạn có chánh kiến. Khi nằm, bạn có chánh kiến. Tâm vẫn luôn như vậy, vẫn luôn giữ nguyên trạng thái: an nhiên, tĩnh lặng. Những điều này thật khó diễn tả. |
|
Pleasure isn’t the highest level of Dhamma. It’s peace because it’s no longer disturbed by pleasure or pain. It’s empty. It stays unfixated, unattached. Wherever you go, it keeps staying that way. |
Sự hài lòng không phải là đỉnh cao của Giáo Pháp. Đỉnh cao của Giáo Pháp là sự an tịnh, bởi tâm không còn bị xao động bởi lạc hay khổ. Đó là trạng thái rỗng lặng, không bám víu hay dính mắc. Dù bạn đi đâu, trạng thái ấy vẫn luôn hiện hữu như vậy. |
|
For instance, if somebody’s mood comes to hit you—“You know, venerable father, you’re just like a dog”—you stay at your ease. Once you’re sure of yourself, that’s the way it is. But if they call you a dog and you really become a dog, biting them, that shows you’re not sure of yourself. You’re not for sure. Once you’re for sure, you’re not anything. Why would you want to be anything? Venerable Father Sii, Venerable Father Saa, Venerable Father Maa: It’s not the case that you’ve had these names all along. They were given to you not all that long ago. |
Ví dụ, nếu có ai trút cơn giận lên bạn—"Này ông sư, ông chẳng khác nào một con chó"—thì bạn vẫn cứ an nhiên, tự tại. Một khi đã thực sự vững vàng nơi chính mình, thì mọi chuyện là như vậy. Nhưng nếu họ gọi bạn là chó mà bạn thực sự trở thành chó, quay lại cắn họ, thì điều đó chứng tỏ bạn chưa thực sự vững vàng. Bạn chưa chắc chắn về chính mình. Một khi đã chắc chắn rồi, thì bạn chẳng còn là gì cả. Tại sao lại muốn trở thành một cái gì đó chứ? Nào là Sư Sii, Sư Saa, Sư Maa: Đâu phải bạn đã mang những cái tên này từ thuở ban đầu. Chúng mới chỉ được đặt cho bạn cách đây chưa lâu mà thôi. |
|
Like that eight-precept man over there: Where did he come from? Was he born with a label affixed to him? His parents gave him a name just a little while ago. If they call you a person, what’s there to get so happy about? If they call you a dog, what’s there to get so upset about? Isn’t that a sign you’re already in sad shape? |
Hãy nhìn người đang giữ tám giới: Ông ấy từ đâu đến? Có phải khi sinh ra, trên người ông ấy đã dán sẵn một cái nhãn không? Cha mẹ ông ấy mới chỉ đặt cho ông cái tên đó cách đây không lâu thôi. Nếu người ta gọi bạn là "người", thì có gì đáng để vui mừng? Nếu người ta gọi bạn là "chó", thì có gì đáng để bực bội? Chẳng phải đó là dấu hiệu cho thấy tình cảnh của bạn đã rất thảm hại rồi sao? |
|
So we keep on contemplating, keep on looking, until we keep on getting it right, getting it right. You get it right while you’re sitting down, right while you’re lying down. Whatever you do, it’s right. It keeps on staying right. But if you start arguing about the Dhamma, you can’t escape suffering |
Vì vậy cứ tiếp tục quán chiếu, tiếp tục quan sát, cho đến khi đạt được sự đúng đắn trọn vẹn. Sự đúng đắn ấy hiện hữu ngay cả khi ta đang ngồi hay đang nằm; dù làm bất cứ việc gì, mọi sự vẫn đúng đắn và duy trì sự đúng đắn ấy. Nhưng nếu bắt đầu tranh luận về Giáo pháp, ta sẽ không thể thoát khỏi khổ đau. |
|
It’s like the piece of iron that’s red-hot all over. It doesn’t have any cool spot. If you touch it on top, it’s hot. If you touch it underneath, it’s hot. If you touch it on the sides, it’s hot. Why is it hot? Because the whole thing is a piece of red-hot iron. Where would it be cool? |
Nó giống như một khối sắt đang đỏ rực hoàn toàn. Nó không có một chỗ nào nguội cả. Chạm vào mặt trên, thấy nóng. Chạm vào mặt dưới, cũng thấy nóng. Chạm vào các mặt bên, vẫn thấy nóng. Tại sao nó lại nóng? Bởi vì toàn bộ khối sắt đó đều đang đỏ rực. Làm sao có thể có chỗ nào nguội được chứ? |
|
It’s the same here. Once you latch onto anything—whatever it is— you’re immediately wrong. Everything is wrong, everything is suffering. If you latch onto what’s evil, you suffer. If you latch onto what’s good, you suffer |
Giống như vậy. Một khi bạn bám víu vào bất cứ điều gì—bất kể đó là gì—thì ngay lập tức bạn đã sai lầm. Mọi thứ đều sai lệch, mọi thứ đều là khổ đau. Nếu bám víu vào điều xấu, bạn sẽ khổ; nếu bám víu vào điều tốt, bạn cũng sẽ khổ. |
|
For the most part, the good things are what lead people to be very deluded. They’re deluded by what’s good. When good isn’t just right, it’s not good, you know. Have you noticed the rainfall this year? It was so good that it went past just right, flooding people’s houses. This is what happens when good goes past just right. |
Phần lớn, chính những điều tốt đẹp lại khiến con người trở nên lầm lạc. Họ bị đánh lừa bởi chính cái tốt đó. Bạn biết đấy, khi cái tốt vượt quá mức vừa phải thì nó không còn là điều tốt nữa. Bạn có để ý lượng mưa năm nay không? Mưa nhiều vượt quá mức vừa phải và gây ngập lụt nhà cửa của người dân. Đó chính là điều xảy ra khi cái tốt đi quá giới hạn vừa phải. |
|
The Buddha taught us to be intelligent. |
Đức Phật dạy chúng ta phải thông minh. |
|
Take these three principles with you. Focus right there, and the problem won’t get away from you. This is the genuine truth. This is what it’s like. Don’t focus on whether you’re old or young, or how many days and nights have passed, or which day of the week it is. Just keep working on your mind in this way. |
Hãy ghi nhớ ba nguyên tắc này. Hãy tập trung vào đó, và vấn đề sẽ không vượt khỏi tầm kiểm soát của bạn. Đây là sự thật đích thực. Mọi chuyện là như vậy. Đừng bận tâm chuyện mình già hay trẻ, đã bao nhiêu ngày đêm trôi qua, hay hôm nay là thứ mấy trong tuần. Chỉ cần tiếp tục rèn luyện tâm theo cách này. |
|
In practicing, don’t think that you have to sit in order for it to be meditation, that you have to walk back and forth in order for it to be meditation. Don’t think like that. Meditation is simply a matter of practice. Whether you’re giving a sermon, sitting here listening, or going away from here, keep up the practice in your heart. Be alert to what’s proper and what’s not. |
Trong quá trình tu tập, đừng nghĩ rằng phải ngồi mới là thiền, hay phải đi qua đi lại mới là thiền. Đừng nghĩ như vậy. Thiền đơn thuần là chuyện thực hành. Dù bạn đang thuyết pháp, hay đang ngồi nghe tại đây, hay đang rời khỏi nơi này, hãy luôn duy trì sự thực hành trong tâm mình. Hãy tỉnh giác nhận biết điều gì là đúng và điều gì không. |
|
Don’t decide that it’s okay to observe the dhutaṅga practices during the Rains retreat and then drop them when the retreat is over. It’s not okay. Things don’t balance out in that way. It’s like clearing a field. We keep cutting away, cutting away, and then stop to rest when we’re tired. We put away our hoe and then come back a month or two later. The weeds are now all taller than the stumps. If we try to clear away the area we cleared away before, it’s too much for us. |
Đừng cho rằng việc tu tập hạnh đầu đà (dhutaṅga) chỉ trong mùa An cư kiết hạ rồi khi mùa an cư kết thúc thì bỏ không tu nữa là điều ổn thỏa. Điều đó không ổn chút nào. Mọi việc không vận hành như vậy. Giống như việc phát quang một mảnh đất. Chúng ta cứ miệt mài phát dọn, rồi lại dừng tay nghỉ ngơi khi thấy mệt. Ta cất cuốc sang một bên và quay lại sau một hoặc hai tháng. Lúc này, đám cỏ dại đã mọc cao hơn cả những gốc cây bị chặt. Nếu ta cố gắng dọn dẹp lại khu vực mình từng phát quang trước đó, thì nó sẽ trở nên quá sức chịu đựng cho chúng ta. |
|
Ajaan Mun once said that we have to make our practice the shape of a circle. A circle never comes to an end. Keep it going continually. Keep the practice going continually without stop. I listened to him and I thought, “When I’ve finished listening to this talk, what should I do?” |
Ngài Ajaan Mun từng nói rằng chúng ta cần thiết lập sự tu tập của mình theo dạng một vòng tròn. Vòng tròn thì không bao giờ có điểm kết thúc. Hãy duy trì nó một cách liên tục. Hãy tiếp tục việc tu tập không ngừng nghỉ. Khi nghe Ngài nói vậy, tôi đã tự hỏi: "Sau khi nghe xong bài pháp này, mình nên làm gì đây?" |
|
The answer is to make your alertness akāliko: timeless. Make sure that the mind knows and sees what’s proper and what’s not, at all times. |
Câu trả lời là hãy làm cho sự tỉnh giác của bạn trở nên vượt thời gian (akāliko). Hãy đảm bảo rằng tâm luôn nhận biết và nhìn thấy rõ điều gì là đúng, điều gì sai, trong mọi thời điểm. |
|
It’s like the water in this kettle. If you tilt it so that there’s a long time between the drops—glug … glug—those are called water drops. If you tilt it a little further, the drops become more frequent: glug-glug-glug. If you tilt it a little bit further, the water flows in a stream. What does the stream of water stream come from? It comes from the drops of water. If they’re not continuous, they’re called drops of water. |
Như nước trong chiếc ấm này. Nếu bạn nghiêng ấm sao cho khoảng cách giữa các lần nước chảy ra khá dài—ục... ục—thì đó gọi là từng giọt nước. Nếu nghiêng thêm một chút, các giọt nước sẽ rơi nhanh hơn: ục-ục-ục. Và nếu nghiêng thêm chút nữa, nước sẽ chảy thành dòng. Vậy dòng nước đó bắt nguồn từ đâu? Nó bắt nguồn từ chính những giọt nước. Khi chúng không chảy liên tục, ta gọi đó là những giọt nước. |
|
The water here is like our awareness. If you accelerate your efforts, if your awareness is continuous, your mindfulness will become full. Both by day and by night, it’ll keep staying full like that. It becomes a stream of water. As we’re taught, the noble ones have continuous mindfulness. The water is a stream of water. Make your awareness continuous. Whenever there’s anything wrong or lacking in any way, you’ll know immediately. Your awareness will be a circle, all around. That’s the shape of the practice. |
Dòng nước ở đây giống như sự tỉnh giác của chúng ta. Nếu bạn nỗ lực nhiều hơn và duy trì sự tỉnh giác liên tục, chánh niệm của bạn sẽ trở nên trọn vẹn. Dù ngày hay đêm, trạng thái trọn vẹn ấy vẫn luôn được duy trì. Nó trở thành một dòng chảy liên tục. Như lời dạy, các bậc Thánh luôn duy trì chánh niệm không gián đoạn. Nó tựa như một dòng nước chảy mãi. Hãy giữ cho sự tỉnh giác của bạn được liên tục. Bất cứ khi nào có điều gì sai sót hay khiếm khuyết, bạn sẽ nhận biết được ngay lập tức. Sự tỉnh giác của bạn sẽ tạo thành một vòng tròn bao quát trọn vẹn. Đó chính là hình thức của sự thực hành. |
|
It’s not that you have to drive yourself really hard. Some people get really earnest when they sit in concentration: “Let my blood drain away, let my skin split open, if I don’t gain awakening I’m willing to die.” They’ve read that in the biography of the Buddha, but when it comes to them, the body starts pulsating in pain all the way up to the base of the skull. Their determination gradually deflates, until they finally open their eyes to look at the incense stick burning in front of them. |
Không nhất thiết phải ép mình quá mức. Một số người tỏ ra vô cùng quyết liệt khi ngồi thiền: "Dù máu có cạn khô, da thịt có nứt toác, nếu không đạt được giác ngộ thì thà chết còn hơn." Họ từng đọc những điều này trong tiểu sử Đức Phật, nhưng khi thực sự bắt tay vào hành trì, cơ thể họ lại bắt đầu đau nhức dữ dội, cơn đau lan tỏa lên tận vùng gáy. Quyết tâm của họ dần dần nguội lạnh, cho đến khi họ buộc phải mở mắt nhìn vào nén hương đang cháy dở phía trước. |
|
“Gosh, I thought it’d be almost burned out, but there’s still a lot left!” |
"Trời ơi, tôi cứ tưởng nhang sắp cháy hết rồi chứ, ai dè vẫn còn nhiều lắm! " |
|
So they take a deep breath and make the determination that as long as the incense stick hasn’t burned all the way out, they won’t open their eyes no matter what. But after a while the pain gets really heavy and dull at the base of the skull, so they open their eyes. |
Thế là họ hít một hơi thật sâu và tự nhủ rằng, chừng nào nén hương chưa cháy hết thì dù có chuyện gì đi nữa, họ cũng nhất quyết không mở mắt. Tuy nhiên, một lúc sau, cơn đau trở nên vô cùng nặng nề và âm ỉ ở vùng gáy, khiến họ buộc phải mở mắt ra. |
|
“Gosh, I thought it’d be all burned out, but there’s still a lot left!” |
"Trời ơi, tôi cứ tưởng nhang sắp cháy hết rồi chứ, ai dè vẫn còn nhiều lắm! " |
|
Eventually, they give up even before the incense has burned out. Later they sit and think, “I’m really a sad case.” They don’t know who to get mad at, so they get mad at themselves. “I’m not true to my word.” They curse themselves. |
Cuối cùng họ bỏ cuộc ngay cả khi nén hương còn chưa cháy hết. Sau đó, họ ngồi ngẫm nghĩ: “Mình thật là một kẻ đáng chán.” Chẳng biết trút giận vào đâu, họ đâm ra giận chính mình. “Mình chẳng giữ được lời hứa.” Họ tự trách móc bản thân. |
|
“There’s no hope for me. I’m making a lot of bad kamma. I’m a denizen of hell.” All kinds of things. |
“Tôi chẳng còn hy vọng gì nữa. Tôi đang tạo ra biết bao ác nghiệp. Tôi là kẻ thuộc về địa ngục.” Đủ mọi suy nghĩ như vậy. |
|
“Why should I stay on as a monk if I can’t even do this? All my bad kamma is going to eat up my head.” They’ve given themselves a reason to jump ship. |
“Tại sao tôi phải tiếp tục làm tu sĩ nếu ngay cả việc này tôi cũng không làm nổi? Nghiệp xấu sẽ tràn ngập tâm tôi.” Họ đã tự tìm cho mình một cái cớ để từ bỏ con đường tu hành. |
|
“Wouldn’t it be better to live as a layperson and observe the five precepts?” They think to themselves and don’t tell anyone else. The more they think, the more convinced they are. |
“Chẳng phải sống như một người cư sĩ và giữ năm giới sẽ tốt hơn sao?” Họ tự nhủ thầm trong lòng mà không nói với ai khác. Càng suy nghĩ, họ càng thêm tin chắc vào điều đó. |
|
Why should we set goals for ourselves like that? The Buddha taught that when we meditate, we should have a sense of ourselves. Like merchants when they put merchandise into their carts: They have a sense of what they’re doing—how many oxen they have, how big and strong the oxen are, how big their carts are. They know that sort of thing: how many sacks of rice they can put in each cart. They know how much to put in, in line with the strength of their oxen and the strength of their carts. |
Tại sao chúng ta lại đặt ra những mục tiêu như vậy cho bản thân? Đức Phật dạy khi hành thiền, chúng ta cần có ý thức rõ ràng về bản thân mình. Hãy ví như những người buôn bán khi xếp hàng hóa lên xe: Họ luôn ý thức được những gì mình đang làm—chẳng hạn như họ có bao nhiêu con bò, bò khỏe và to lớn ra sao, hay xe của họ lớn đến mức nào. Họ nắm rõ những điều đó: biết được mỗi chiếc xe có thể chở được bao nhiêu bao gạo. Họ biết cần xếp bao nhiêu hàng hóa lên xe cho phù hợp với sức kéo của đàn bò và độ bền chắc của chiếc xe. |
|
When you practice, it has to be in line with your own strength. Here you have a single cart and your ox is the size of your fist, and yet you want the cart to carry as much as a ten-wheeled truck. You see ten-wheeled trucks passing you on the road and you want to be like them. But you’re not a ten-wheeled truck. You’re just a cart. It’s sure to break down. You’re what’s called a fruit that’s ripe even before it’s half-ripe, food that’s burned even before it’s cooked. |
Khi tu tập, bạn cần phải liệu sức mình. Bạn chỉ có một chiếc xe kéo và con bò của bạn thì bé bằng nắm tay, vậy mà bạn lại muốn chiếc xe đó chở nặng ngang ngửa một chiếc xe tải mười bánh. Bạn thấy những chiếc xe tải mười bánh chạy ngang qua và muốn được như chúng. Nhưng bạn đâu phải là xe tải mười bánh. Bạn chỉ là một chiếc xe kéo mà thôi. Chắc chắn nó sẽ hỏng giữa chừng. Bạn giống như loại quả chín rục khi còn chưa kịp chín tới, hay món ăn đã cháy đen khi còn chưa kịp chín. |
|
So in the end those earnest meditators end up disrobing. After they’ve disrobed, they start thinking again. “You know, back when I was ordained things were going a lot better than they are now. Maybe I should ordain again. That path was a lot brighter. It wasn’t as dark as this.” After they think about it for a while, they ordain again. Make a fresh start. At first they look like they’re going to do well, like a new boxer who doesn’t yet need water. Their strength is good, they’re diligent, they make good progress. But then they gradually grow weaker, weaker. |
Cuối cùng những hành giả từng tu tập rất nghiêm túc ấy lại hoàn tục. Sau khi hoàn tục, họ bắt đầu suy nghĩ lại. “Hồi còn xuất gia, mọi chuyện suôn sẻ hơn bây giờ nhiều. Có lẽ mình nên xuất gia lần nữa. Con đường đó tươi sáng hơn nhiều. Nó không tăm tối như bây giờ.” Sau khi suy ngẫm một hồi, họ lại xuất gia lần nữa. Bắt đầu lại từ đầu. Ban đầu, trông họ có vẻ sẽ làm tốt, tựa như một võ sĩ quyền anh mới vào nghề, chưa cần đến sự tiếp sức. Họ có sức lực tốt, siêng năng và tiến bộ rõ rệt. Nhưng rồi dần dần, họ lại trở nên yếu đi, yếu dần. |
|
“It looks like I’m going to fail again. This is my second time around and still it looks like I won’t make it. If I stay in the robes, I’m going to break down even more. I’d better disrobe. I’m not going to get anywhere. Some of the Buddha’s disciples ordained and disrobed up to seven times.” They’re now taking those who ordained and disrobed seven times as their model. Don’t take their bad example as your model. |
“Có vẻ như mình sẽ thất bại nữa. Đây là lần thứ hai rồi mà xem chừng mình vẫn không làm nổi. Nếu cứ tiếp tục khoác áo tu, mình sẽ càng suy sụp thêm. Tốt hơn là mình nên hoàn tục. Mình sẽ chẳng đi đến đâu cả. Có những đệ tử của Đức Phật đã từng xuất gia rồi hoàn tục tới bảy lần.” Giờ đây, họ lại lấy những người từng xuất gia rồi hoàn tục bảy lần đó làm gương cho mình. Đừng lấy tấm gương xấu đó làm mẫu cho bản thân. |
|
“They had to wait until their seventh time before they gained awakening. Maybe if I give it my all seven times I’ll gain awakening like them.” They keep on talking nonsense. |
“Họ phải đợi đến lần thứ bảy mới đạt được sự giác ngộ. Có lẽ nếu mình dốc toàn lực trong cả bảy lần thì cũng sẽ giác ngộ giống như họ.” Họ cứ mãi nói những điều vô ích. |
|
There’s nothing in the Dhamma taught by the Buddha that lies beyond human capabilities. Don’t go focusing on things you can’t see: heaven or nibbāna up there in the sky. All the Dhammas we need to know and see, the Buddha explained in full. As for things you can’t see, don’t pay them any mind. Don’t pay them any attention. Look instead at the present. How are you leading your life? If suffering arises, why is there suffering? What’s going on? How can you settle the problem right there? What are you stuck on? It’s attachment and fixation. You grasp at the idea that you’re better than other people, or equal to other people, or worse than other people. All kinds of things. When you live with other people, you get disgusted with them. “This person is acting badly. That person is acting badly.” You go off to live by yourself and don’t know who to get disgusted with, so you end up disgusted with yourself. |
Trong Giáo pháp Đức Phật giảng dạy không có điều gì vượt quá khả năng của con người. Đừng bận tâm đến những điều bạn không thể nhìn thấy: như cõi trời hay Niết-bàn ở tít trên cao. Tất cả những gì cần biết và cần thấy về Giáo pháp đều đã được Đức Phật giải thích trọn vẹn. Còn những điều không thể nhìn thấy, đừng bận tâm đến chúng. Đừng để tâm đến chúng. Thay vào đó, hãy nhìn vào hiện tại. Bạn đang sống cuộc đời mình như thế nào? Nếu khổ đau khởi lên, tại sao lại có khổ đau? Chuyện gì đang xảy ra? Làm sao để giải quyết vấn đề ngay tại đó? Bạn đang bị mắc kẹt ở đâu? Đó chính là sự bám víu và cố chấp. Bạn bám víu vào ý niệm rằng mình giỏi hơn người khác, ngang bằng với người khác, hay kém cỏi hơn người khác. Đủ mọi chuyện như thế. Khi sống cùng người khác, bạn sinh lòng chán ghét họ. "Người này cư xử tệ. Người kia cư xử tệ." Bạn bỏ đi sống một mình và chẳng còn biết chán ghét ai nữa, rốt cuộc lại quay sang chán ghét chính bản thân mình. |
|
Just like you said. |
Đúng như bạn đã nói. |
The Knower
|
Người Biết'
|
|
An excerpt from a recorded conversation between Ven. Ajahn Chah and some of his Western monk disciples |
Một trích đoạn từ cuộc trò chuyện được ghi lại giữa Thiền sư Ajahn Chah và một số đệ tử xuất gia người Tây phương của ngài. |
|
AJAHN CHAH: Do you know how some people think? “Do tranquility to the end point of tranquility. Observe the precepts to the end point of the precepts. Do concentration to the end point of concentration.” But where the end point of these things is, they have no idea. Actually, you don’t have to keep pounding away at anything a lot. If you have discernment, then once you strip away the suppositions that people suppose into being, once you strip them away then that’s the end of the matter. It’s release. Empty of suppositions. Things that are supposed to be this or that, we strip them away so as to see release. That’s when you gain release from all of those things. So get acquainted with your own mind. You don’t have to follow a lot of things. Just this is enough. |
AJAHN CHAH: Bạn có biết người ta thường nghĩ thế nào không? “Hãy thực hành sự an tịnh cho đến tận cùng của sự an tịnh. Hãy giữ giới cho đến tận cùng của giới luật. Hãy thực hành định cho đến tận cùng của định.” Nhưng điểm tận cùng của những điều này nằm ở đâu thì họ lại chẳng hề hay biết. Thực ra, bạn không cần phải cứ mãi miết nỗ lực thái quá vào bất cứ điều gì. Nếu có trí tuệ sáng suốt, thì một khi bạn gạt bỏ được những khái niệm giả định mà người đời tự đặt ra, thì mọi chuyện coi như đã xong. Đó chính là sự giải thoát. Trống không khỏi những khái niệm giả định. Những điều vốn bị gán cho cái nhãn này hay cái tên kia, ta gạt bỏ chúng đi để thấy được sự giải thoát. Đó là lúc bạn đạt được sự giải thoát khỏi tất cả những điều ấy. Vì vậy, hãy làm quen với chính tâm mình. Bạn không cần phải chạy theo quá nhiều thứ. Chỉ cần bấy nhiêu thôi là đủ. |
|
This problem is really complicated. Some people create difficulties for themselves. They think too far, so they miss the main point. They think that if you do things a lot, it’ll be good. Actually, everything’s good, but they have no idea of what’s too much and what’s too little. It’s like people —rich people and poor people. Rich people are good, but how are they good? Poor people are good, but how are they poor? When you come right down to it, they’re equal. Rich people and poor people are equal. That’s the way it has to be when you come right down to it. It’s the same with this. |
Vấn đề này thực sự phức tạp. Một số người tự gây khó khăn cho chính mình. Họ suy nghĩ quá xa, nên bỏ lỡ điều chính. Họ nghĩ rằng làm nhiều thì sẽ tốt. Thực ra, mọi thứ đều tốt cả, nhưng họ lại không biết thế nào là quá nhiều hay quá ít. Cũng giống như con người vậy — người giàu và người nghèo. Người giàu thì tốt, nhưng tốt là như thế nào? Người nghèo thì tốt, nhưng tại sao họ lại nghèo? Xét cho cùng thì họ cũng ngang bằng nhau. Người giàu và người nghèo là ngang bằng nhau. Xét đến cùng thì mọi chuyện phải là như vậy. Vấn đề này cũng thế thôi. |
|
Question: Just now you spoke about getting the mind quiet enough and then contemplating fabrications. I’ve heard you talk many times about contemplating fabrications, such as contemplating the 32 parts of the body. If you use perceptions and thought-fabrications to do this, will it give rise to insight? |
Câu hỏi: Vừa rồi, Ngài có nói về việc làm cho tâm vừa đủ tĩnh lặng rồi sau đó quán chiếu các pháp hữu vi. Con đã nhiều lần nghe Ngài nói về việc quán chiếu các pháp hữu vi, chẳng hạn như quán chiếu 32 thể trược của thân thể. Nếu sử dụng các tri giác và sự suy tư, tạo tác của tâm để thực hiện điều này, liệu nó có làm phát sinh tuệ giác hay không? |
|
Ajahn Chah: That’s right. You have to use those things at first, start with those things first. But when you get down to the way things are, then it’s not a matter of those things at all. It’s not a matter of thinking— thinking good, thinking bad—at all. If you were to use those things all the time, would you come to the end of them? And how will you come to the end of them? When I think out loud for people to listen, when I speak for children to listen, I say that you have to do this and do that. But in actuality, when you come to the end of the matter, there’s nothing left. Don’t follow your thought-fabrications. When you see the activity of fabrications, that’s discernment. But if you keep on running to get inside them, it’s all just fabrication. That kind of knowing isn’t really you, so you have to discard that, too. Consciousness is just consciousness, that’s all. It’s not a being, not a person, not a self, not “us” or “them.” So you discard it, too. That’s the end of the matter. And what else would you want? Where would you go from there? You’d just be putting yourself to difficulties, you know. |
Ajahn Chah: Đúng vậy. Đầu tiên con quán chiếu 32 thể trược, bắt đầu với chúng trước. Nhưng khi đã thấu suốt bản chất thực sự của các pháp, thì những thứ đó không còn là vấn đề nữa. Sự suy nghĩ không quan trọng—dù là nghĩ thiện hay nghĩ ác. Nếu cứ mãi sử dụng những thứ đó, liệu con có bao giờ đi đến điểm cuối của chúng không? Và làm thế nào để con có thể chấm dứt chúng? Khi ta nói ra suy nghĩ của mình cho mọi người nghe, hay khi ta giảng giải cho trẻ nhỏ, ta thường bảo rằng phải làm thế này hay thế kia. Nhưng thực tế, khi đi đến tận cùng của vấn đề, thì chẳng còn lại gì cả. Đừng chạy theo những sự tạo tác của tư duy. Khi con nhận thấy sự vận hành của các sự tạo tác ấy, đó chính là trí tuệ sáng suốt. Nhưng nếu con cứ mãi chạy theo để chìm đắm vào chúng, thì tất cả cũng chỉ là sự tạo tác mà thôi. Kiểu hiểu biết đó không thực sự là con, nên con cũng phải buông bỏ nó. Ý Thức chỉ đơn thuần là thức, thế thôi. Nó không phải là một chúng sinh, một con người, một cái "tôi", hay là "chúng ta" hay "họ". Vì vậy, con cũng phải buông bỏ nó. Đó mới là điểm cuối cùng của vấn đề. Và con còn mong cầu điều gì nữa? Từ đó, con sẽ đi đâu? Con chỉ đang tự chuốc lấy phiền toái cho chính mình mà thôi. |
|
Question: Excuse me, sir, but when you say “quiet enough,” how quiet is that? |
Câu hỏi: Thưa Ngài, nhưng khi ngài nói "đủ yên tĩnh" thì mức độ yên tĩnh đó cụ thể là như thế nào? |
|
Ajahn Chah: Enough to be able to contemplate. Enough to have mindfulness; enough to be able to contemplate. |
Ajahn Chah: Chỉ cần đủ để có thể quán chiếu. Đủ để có chánh niệm; đủ để có thể quán chiếu. |
|
Question: You stay with the present without thinking about past or future? |
Câu hỏi: Ngài sống trọn vẹn với hiện tại mà không nghĩ về quá khứ hay tương lai? |
|
Ajahn Chah: You can think about the past or future, but you don’t take it seriously. You can think all kinds of things, but you don’t take them seriously. It’s just a matter of thinking, so don’t follow it. If you follow the issues of fabrication, they’ll keep on fabricating issues all the time. Will they run out that way? Not at all. When you see that the mind is just the mind, that’s all—not a being, not a person, not a self, not “us” or “them”—that’s called cittānupassanā: keeping track of the mind. It’s not ours, right? Pleasure is just pleasure, that’s all. Pain is just pain, that’s all. They’re all just “that’s all” kinds of things. If you see into that, if your contemplation takes you that far, then there will be no doubts. |
Ajahn Chah: Bạn có thể nghĩ về quá khứ hay tương lai, nhưng đừng bận tâm hay coi trọng chúng. Bạn có thể nghĩ đủ mọi chuyện, nhưng đừng để tâm quá mức vào chúng. Đó chỉ là một sự suy nghĩ thôi, nên đừng chạy theo nó. Nếu cứ chạy theo những chuyện do tâm thêu dệt, thì tâm sẽ cứ mãi tạo ra thêm chuyện mà thôi. Liệu làm vậy có bao giờ dứt được không? Chẳng bao giờ cả. Khi bạn thấy rằng tâm chỉ là tâm, chỉ có vậy thôi—không phải là một chúng sinh, một con người, một cái tôi, hay là "ta" hay "người"—thì đó gọi là *cittānupassanā*: Quán Tâm hay Tâm Quán Niệm Xứ. Nó đâu phải là của mình, phải không? Hài lòng chỉ là hài lòng, vậy thôi. Đau khổ chỉ là đau khổ, vậy thôi. Tất cả chúng chỉ là như vậy thôi. Nếu bạn thấu hiểu được điều đó, nếu sự quán chiếu đưa bạn đến mức độ ấy, thì sẽ chẳng còn chút nghi ngờ nào nữa. |
|
Question: When contemplating this way, as we normally say, it really is contemplation, right? You have to use thought-fabrications. You have to use thinking. |
Câu hỏi: Khi quán chiếu theo cách này – như cách chúng ta thường nói – thì đó thực sự là sự quán chiếu, phải không? Hành giả phải sử dụng các sự kiến tạo của tư duy. Hành giả phải vận dụng suy nghĩ, phải không? |
|
Ajahn Chah: You use thinking, but you also see. You see above and beyond your thinking right there. And then you don’t believe in line with that kind of thing any more. Do you understand? Your sensations are just sensations, that’s all. But what you’ve reached doesn’t arise, doesn’t disband. It’s just the way it is. It doesn’t arise and it doesn’t die. In simple terms, as with our mind: We suppose that the mind knows sensations. But when we really speak about the mind, this is something above the mind. Whatever the mind arises from, we call it the mind. The mind arises and disbands. It arises and disbands, this mind. |
Ajahn Chah: Hành giả sử dụng sự tư duy, nhưng đồng thời hành giả cũng nhìn thấy. Ngay tại đó, hành giả nhìn thấy cái gì đó vượt lên trên cả những suy nghĩ của mình. Và rồi, hành giả không còn tin vào những điều thuộc về phạm trù tư duy ấy nữa. Bạn có hiểu không? Những cảm giác của hành giả chỉ đơn thuần là cảm giác, chỉ có vậy thôi. Nhưng cái mà bạn đã đạt tới thì không sinh ra, cũng chẳng diệt đi. Nó vốn dĩ là như vậy. Nó không sinh và cũng không diệt. Nói một cách đơn giản, xét về tâm của chúng ta: Chúng ta thường cho rằng tâm là cái biết các cảm giác. Nhưng khi thực sự bàn về tâm, thì lại có một cái gì đó vượt lên trên cả cái tâm ấy. Bất cứ thứ gì mà từ đó tâm sinh khởi, ta gọi đó là tâm. Tâm sinh rồi diệt. Nó sinh rồi diệt, cái tâm này là như vậy. |
|
But this other thing isn’t the mind that arises and disbands. It’s a different experience. All the things that are that truth: They don’t arise and don’t disband. They’re just the way they are. They go past the issues of arising and disbanding. But when you call them the mind, it’s just in terms of suppositions. When you speak in terms of suppositions, you believe in your own mind—and then what happens? Where does this mind come from? You’ve believed in this mind for so long, and there’s no ease. Right? |
Nhưng cái khác này không phải là tâm thức sinh rồi diệt. Đó là một trải nghiệm khác biệt. Mọi sự vật thuộc về chân lý ấy đều không sinh và cũng chẳng diệt. Chúng vốn dĩ là như vậy. Chúng vượt xa khỏi phạm trù sinh và diệt. Nhưng khi ta gọi chúng là "tâm", thì đó chỉ là cách gọi dựa trên những giả định mà thôi. Khi nói dựa trên những giả định, bạn tin vào cái tâm của chính mình—và rồi chuyện gì xảy ra? Cái tâm này từ đâu mà ra? Bạn đã tin vào cái tâm này từ rất lâu rồi, nhưng không thấy an tĩnh, phải không? |
|
In the beginning you know about inconstancy, stress, and not-self. These are issues of the mind. But that reality doesn’t have any issues. It lets go. It lets go of the things that the mind arises with and depends on, but it doesn’t arise or disband at all. The things that arise and disband depend on perceptions and fabrications. We think that because contemplation uses perceptions, then they must be discernment. And so we latch onto fabrications, thinking they’re discernment. But that’s not genuine discernment. Genuine discernment puts an end to issues. It knows, and that’s the end of issues. There are still fabrications, but you don’t follow in line with them. There are sensations, you’re aware of them, but you don’t follow in line with them. You keep knowing that they’re not the path any more. |
Khởi đầu bạn nhận biết về sự vô thường, khổ và vô ngã. Đó là những vấn đề của tâm. Nhưng điều đó thì không hề có vấn đề gì cả. Hãy buông bỏ nó. Hãy buông bỏ những gì mà tâm tạo tác và nương tựa vào, nhưng bản thân nó thì không hề sinh hay diệt. Những gì sinh và diệt đều phụ thuộc vào tri giác và các sự tạo tác của tâm. Chúng ta tưởng rằng quán chiếu sử dụng tri giác, nên tri giác ấy chính là sự sáng suốt. Và thế là ta bám víu vào các sự tạo tác, ngỡ rằng đó là trí tuệ. Nhưng đó không phải là trí tuệ đích thực. Trí tuệ đích thực chấm dứt mọi vấn đề. Nó chỉ cần biết, và thế là vấn đề chấm dứt. Các sự tạo tác vẫn hiện hữu, nhưng bạn không chạy theo chúng. Các cảm thọ vẫn hiện hữu, bạn nhận biết chúng, nhưng không chạy theo chúng. Bạn luôn ý thức rằng chúng không còn là con đường dẫn đến sự giải thoát nữa. |
|
Question: What do we do to find this point, the point of the genuine mind? |
Câu hỏi: Chúng ta cần làm gì để tìm ra điểm này, điểm của tâm chân thật? |
|
Ajahn Chah: You keep track of this mind, first. You see that it’s inconstant, not for sure. See that clearly. You see that there’s nothing to take hold of, and so you let go. The mind lets go of itself. It understands itself. It lets go of this mind. At that point, there’s no more need to fabricate it, but there are no more doubts about anything. That’s called… Whatever name you call it, it’s a matter of supposition and formulation. You make suppositions about it for people to learn about it, but that nature is just the way it is. It’s like the ground. What spins around is on top of the ground. But this thing is the ground. What doesn’t arise or disband is the ground. What arises and runs around on top, we call “the mind,” or “perception,” or “fabrication.” To put it in simple terms, there are no forms, feelings, perceptions, fabrications, or consciousness in the ground. In terms of supposition, form, feelings, perceptions, fabrications, and consciousness arise and disband. But they’re not in this. They disband. |
Ajahn Chah: Trước hết, bạn quan sát tâm này. Bạn thấy rằng nó vô thường, không chắc chắn. Hãy nhìn thấy điều đó thật rõ ràng. Bạn thấy rằng chẳng có gì để nắm giữ cả, và do vậy bạn buông bỏ. Tâm tự buông bỏ chính nó. Nó tự thấu hiểu bản thân. Nó buông bỏ cái tâm này. Đến lúc đó, không còn cần phải tạo tác nó, nhưng cũng chẳng còn chút nghi ngờ nào về bất cứ điều gì. Đó gọi là... Dù bạn gọi nó bằng tên gì đi nữa, thì đó cũng chỉ là chuyện của quy ước và sự tạo thành. Người ta đặt ra các quy ước về nó để mọi người có thể học hỏi, nhưng bản chất thực sự của nó thì vốn dĩ là như vậy. Nó giống như mặt đất vậy. Những gì xoay chuyển thì nằm ở bên trên mặt đất. Nhưng cái này chính là mặt đất. Thứ không sinh hay diệt chính là mặt đất. Còn những gì sinh khởi và chạy loạn ở bên trên, ta gọi là "tâm", hay "tri giác", hoặc "sự tạo tác". Nói một cách đơn giản: nơi mặt đất ấy không có sắc, thọ, tưởng, hành hay thức. Xét về mặt quy ước thì sắc, thọ, tưởng, hành và thức có sinh và diệt. Nhưng chúng không nằm trong cái này. Chúng diệt. |
|
It’s like the question that Ven. Sāriputta asked Ven. Puṇṇa Mantāniputta. Have you ever read that? Ven. Puṇṇa Mantāniputta was going out into the forest to follow the ascetic practices. His teacher had taught him about the ascetic practices. So Ven. Sāriputta asked him, “Puṇṇa Mantāniputta, when you go out into the forest, suppose someone asks you this question, ‘When an arahant dies, what is he?’ How would you answer?” |
Điều này cũng giống như câu hỏi mà Tôn giả Sāriputta (Xá-Lợi-Phất) đã đặt ra cho Tôn giả Puṇṇa Mantāniputta (Phú-lâu-na). Bạn đã từng đọc về chuyện đó chưa? Khi ấy, Tôn giả Puṇṇa Mantāniputta đang chuẩn bị vào rừng để thực hành các hạnh đầu đà. Ngài đã được thầy mình chỉ dạy về các hạnh đầu đà này. Vì vậy, Tôn giả Xá-lợi-phất mới hỏi ngài: "Này Puṇṇa Mantāniputta, khi ông vào rừng, giả sử có người hỏi ông câu này: 'Khi một vị A-la-hán qua đời, vị ấy là gì?' thì ông sẽ trả lời như thế nào?" |
|
That’s because this had already happened. |
Đó là vì chuyện này đã xảy ra rồi. |
|
Ven. Puṇṇa Mantāniputta said, “I’ll answer that form, feeling, perceptions, fabrications, and consciousness arise and disband. That’s all.” |
Tôn giả Puṇṇa Mantāniputta nói: “Tôi sẽ trả lời rằng sắc, thọ, tưởng, hành và thức sinh khởi rồi diệt đi. Chỉ có vậy thôi.” |
|
Ven. Sāriputta said, “That’ll do. That’ll do.” |
Tôn giả Sāriputta nói: "Thế là đủ rồi. Thế là đủ rồi." |
|
When you understand this much, that’s the end of issues. When you understand it, you take it to contemplate so as to give rise to discernment. See clearly all the way in. It’s not just a matter of simply arising and disbanding, you know. That’s not the case at all. You have to look into the causes within your own mind. You’re just the same way: arising and disbanding. Look until there’s no pleasure or pain. Keep following in until there’s nothing: no attachment. That’s how you go beyond these things. Really see it that way; see your mind in that way. This is not just something to talk about. Get so that wherever you are, there’s nothing. Things arise and disband, arise and disband, and that’s all. You don’t depend on fabrications. You don’t run after fabrications. But normally, we monks fabricate in one way; lay people fabricate in crude ways. But it’s all a matter of fabrication. If we always follow in line with them, if we don’t know, they grow more and more until we don’t know up from down. |
Khi hiểu được đến mức này, mọi vấn đề coi như chấm dứt. Khi bạn hiểu nó, bạn cần quán chiếu để trí tuệ sinh khởi; hãy nhìn thấu suốt bản chất của sự việc. Vấn đề không chỉ đơn thuần là chuyện sinh rồi diệt, bạn biết.Hoàn toàn không phải vậy. Bạn phải quán sát những nguyên nhân ngay trong tâm mình. Chính bạn cũng như vậy: sinh rồi diệt. Hãy quán sát cho đến khi không còn cảm giác hài lòng hay khổ đau. Tiếp tục quán sát sâu vào bên trong cho đến khi không còn gì cả: không còn sự bám víu. Đó là cách để bạn vượt thoát khỏi những điều này. Hãy thực sự nhìn nhận như vậy; hãy quán sát tâm mình theo cách đó. Đây không phải là chuyện nói suông. Hãy rèn luyện để dù ở bất cứ đâu, tâm bạn vẫn trống rỗng, không vướng bận điều gì. Vạn pháp sinh rồi diệt, sinh rồi diệt, chỉ có vậy thôi. Bạn không nương tựa vào các sự tạo tác của tâm. Bạn không chạy theo những sự tạo tác ấy. Thông thường, các nhà sư tạo tác theo một kiểu, còn người cư sĩ lại tạo tác theo những cách thô thiển hơn. Nhưng suy cho cùng, tất cả đều là sự tạo tác. Nếu cứ mãi chạy theo chúng mà không nhận biết được, chúng sẽ ngày càng gia tăng cho đến khi ta mất phương hướng, chẳng còn phân biệt được đâu là đúng sai, phải trái. |
|
Question: But there’s still the primal mind, right? |
^^^^ |
|
Ajahn Chah: What? |
^^^^ |
|
Question: Just now when you were speaking, it sounded as if there were something aside from the five aggregates. What else is there? You spoke as if there were something. What would you call it? The primal mind? Or what? |
^^^^ |
|
Ajahn Chah: You don’t call it anything. Everything ends right there. There’s no more calling it “primal.” That ends right there. “What’s primal” ends. |
^^^^ |
|
Question: Would you call it the primal mind? |
^^^^ |
|
Ajahn Chah: You can give it that supposition if you want. When there are no suppositions, there’s no way to talk. There are no words to talk. But there’s nothing there, no issues. It’s primal; it’s old. There are no issues at all. But what I’m saying here is just suppositions. “Old,” “new”: These are just affairs of supposition. If there were no suppositions, we wouldn’t understand anything. We’d just sit here silent without understanding one another. So understand that. |
^^^^ |
|
Question: To reach this, what amount of concentration is needed? |
^^^^ |
|
Ajahn Chah: Concentration has to be in control. With no concentration, what could you do? If you have no concentration, you can’t get this far at all. You need enough concentration to know, to give rise to discernment. But I don’t know how you’d measure the amount of mental stillness needed. Just develop the amount where there are no doubts, that’s all. If you ask, that’s the way it is. |
^^^^ |
|
Question: The primal mind and the knower: Are they the same thing? |
^^^^ |
|
Ajahn Chah: Not at all. The knower can change. It’s your awareness. Everyone has a knower. |
^^^^ |
|
Question: But not everyone has a primal mind? |
^^^^ |
|
Ajahn Chah: Everyone has one. Everyone has a knower, but it hasn’t reached the end of its issues, the knower. |
^^^^ |
|
Question: But everyone has both? |
^^^^ |
|
Ajahn Chah: Yes. Everyone has both, but they haven’t explored all the way into the other one. |
^^^^ |
|
Question: Does the knower have a self? |
^^^^ |
|
Ajahn Chah: No. Does it feel like it has one? Has it felt that way from the very beginning? |
^^^^ |
|
Question: When people sleep soundly, is there still a knower there? |
^^^^ |
|
Ajahn Chah: There is. It doesn’t stop. Even in the bhavaṅga of sleep. |
^^^^ |
|
Question: Oh. The bhavaṅga. |
^^^^ |
|
Ajahn Chah: The bhavaṅga of sleep. |
^^^^ |
|
It’s like a child who’s never seen anything. He comes out to the countryside and sees a chicken. “Daddy, what’s that over there?” He sees a duck. “Daddy, what’s that?” He sees a pig. “Daddy, what’s that over there?” The father gets tired of answering. The more he answers, the more the child keeps asking—because he’s never seen these things. After a while, the father simply says, “Hmm.” If you keep playing along with the child’s every question, you die of fatigue. The child doesn’t get fatigued. Whatever it sees, “What’s that? What’s this?” It never comes to an end. Finally the father says, “When you grow bigger, you’ll know for yourself.” |
^^^^ |
|
That’s the way it is with meditation. I used to be like that. I really was. But when you understand, there are none of those questions. You’ve grown up. So be intent on contemplating until you understand, and things will gradually unravel themselves. That’s the way it is. Keep watch over yourself as much as you can. Keep watch over yourself as much as you can, to see if you’re lying to yourself. That’s what’s called keeping watch over yourself. |
^^^^ |
Notes N OTE |
Notes^^^^ |
|
|