(Bấm vào trên để đọc lịch trình trong năm)
Trang Chinh


LỚP  PHẬT PHÁP - BUDDHADHAMMA

Bài học - Thứ Bảy, Ngày 19-5-2012

NĂM LẠC THÀNH CHÙA PHÁP LUÂN


Giảng Sư: TT Giác Đẳng

XUYÊN TẠC NHƯ LAI

I. Đại lược

Chương II - Hai Pháp - III. Phẩm Người Ngu - Tăng Chi Bộ Kinh

2. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người độc ác với tâm đầy sân hận, và người có lòng tin với tà kiến. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.
3. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rõ Như Lai có nói, có thuyết là Như Lai không nói, không thuyết, và người nêu rõ Như Lai không nói, không thuyết là Như Lai có nói, có thuyết. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai.
4. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này không xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rõ Như Lai có nói, có thuyết là Như Lai có nói, có thuyết, và người nêu rõ Như Lai không nói, không thuyết là Như Lai không nói, không thuyết. Nầy các Tỷ-kheo, có hai hạng người này không xuyên tạc Như Lai
5. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rõ kinh cần phải giải nghĩa là kinh đã được giải nghĩa, và người nêu rõ kinh đã được giải nghĩa là kinh cần phải giải nghĩa. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, xuyên tạc Như Lai.
6. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, không xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rõ kinh cần phải giải nghĩa là kinh cần phải giải nghĩa, và người nêu rõ kinh đã được giải nghĩa là kinh đã được giải nghĩa. Hai hạng người này, này các Tỷ-kheo, không xuyên tạc Như Lai.

 


II. Những điểm lưu ý

1.
2.
3.


III. Thảo Luận: TT Giác Đẳng điều hợp

1. Tại sao người có tâm bất thiện, tâm ác độc hay có sự tà kiến thì lại là một sự xuyên tạc Đức Phật? - TT Tuệ Siêu

2. Chúng ta là những người Phật tử xuất gia và tại gia nên làm điều gì để giảm thiểu hay là để tránh trường hợp xuyên tạc Đức Phật một cách vô tình hay cố ý trong việc mà Đức Phật có nói thì mình nói là không hoặc Ngài không nói thì mình nói là có? - ĐĐ Tuệ Quyền

3. Chúng ta là những người Phật tử xuất gia và tại gia nên làm điều gì để giảm thiểu hay là để tránh trường hợp xuyên tạc Đức Phật một cách vô tình hay cố ý trong việc mà Đức Phật có nói thì mình nói là không hoặc Ngài không nói thì mình nói là có? - ĐĐ Pháp Đăng

4.Chúng ta là những người Phật tử xuất gia và tại gia nên làm điều gì để giảm thiểu hay là để tránh trường hợp xuyên tạc Đức Phật một cách vô tình hay cố ý trong việc mà Đức Phật có nói thì mình nói là không hoặc Ngài không nói thì mình nói là có? - ĐĐ Pháp Tân


IV. Đố Vui


a. .

b.

c.

d.

Xem câu trả lời đúng ở bên dưới phần Pháp Thoại


Pháp Thoại


Đức Phật Của Chúng Ta: Thưở Thiếu Thời

TT. Giác Đẳng giảng trong rơom Phật Pháp Buđdhadhamma - 19-04-2012

TT Giác Đẳng giảng: Bài học ngày hôm nay chúng ta sẽ dành thì giờ để nói về thưở thiếu thời của Thái Tử Sĩ Đạt Đa. Có ba điểm chúng ta sẽ đề cập đến tại đây: Điều thứ nhất là, bối cảnh và cuộc sống của Thái Tử Sĩ Đạt Đa khi Ngài chào đời cho đến khi thành niên. Điều thứ hai là, chúng ta thử nhìn lại hình ảnh của một vị đại bồ tát trong con đường dẫn đến quả vị toàn giác ở trong kiếp chót và một số đặc điểm hơn những con người khác như thế nào. Điều thứ ba là, chúng ta có thể suy ngẫm về tâm thái của một vị Phật tương lai. Những điều này đều cho chúng ta những bài học lớn.

Trước hết, chúng ta hãy nói về phương diện lịch sử. Ở trên phương diện lịch sử, Thái Tử sau khi chào đời được bảy ngày thì mẹ của Ngài là Hoàng Hậu Maha Maya lìa trần và từ đó trở đi sự chăm sóc được đặt dưới sự giám hộ trực tiếp của Hoàng Hậu Maha Pajapati Gotami. Tính theo huyết thống thì Hoàng Hậu Maha Pajapati Gotami vừa là dì ruột của Ngài bởi vì bà là em của Hoàng Hậu Maha Maya và cũng là kế mẫu. Vua Tịnh Phạn kết hôn với cả hai chị em là Hoàng Hậu Maya và Công Nương Maha Pajapati Gotami. Trong kinh chữ Hán thường dùng chữ Di Mẫu, di là dì, mẫu mẹ, không gọi là kế mẫu mà gọi là Di Mẫu. Theo trong kinh kể rằng chính Di Mẫu Maha Pajapati Gotami cũng có hai người con khác đó là Nanda và Nandi, nhưng vua Tịnh Phạn một khi đã giao Thái Tử Siddhattha cho Di Mẫu nuôi dưỡng thì Di Mẫu giao hai đứa con ruột của mình lại cho những người thị nữ và chính bản thân của bà lại là người nuôi dưỡng Thái Tử như một bà mẹ và có thể hơn một bà mẹ bình thường nữa. Ngài lớn lên với tất cả sự thương yêu và chẳng những như vậy mà bản thân là một vị hoàng tử của một vương quốc rất trù phú, Ngài có được rất nhiều tiện nghi của cuộc sống có thể gọi là một đời sống nhung lụa cực kỳ. Một điểm thú vị là, chúng ta nên nhớ rằng trong chánh tạng không có nhiều đoạn kể chi tiết về thuở thiếu thời, riêng trong kinh sách của tiếng Việt chúng ta ghi nhận có một vài tác phẩm tiêu biểu mà trong đó có tác phẩm Ánh Đạo Vàng của Võ Đình Cường, và một số tác phẩm khác đã dành rất nhiều thì giờ để mô tả về giai đoạn từ đản sanh cho đến lúc xuất gia. Nhưng trong kinh điển thì mô tả nhiều nhất là từ lúc xuất gia cho đến khi thành đạo và nhập Niết-bàn. Trong lúc đó các bộ Phật sử của Việt Nam thì mô tả từ lúc thành đạo cho đến Niết-bàn tương đối ngắn, bởi vì có quá nhiều do đó người ta kể không hết.

Ở trong bài kinh Thánh Cầu cũng như là một số bài kinh khác Đức Phật Ngài cho biết về cuộc sống nhung lụa của Ngài mà chúng ta nghe nói đến nhiều như, Ngài lớn lên ở trong cung có ba toà lâu đài, một cho mùa mưa, một cho mùa nóng, một cho mùa lạnh, chúng ta cũng được biết là tất cả những tơ lụa Ngài dùng đều đến từ xứ Kasi mà ngày nay chúng ta có thành phố Varanasi ngày xưa gọi là xứ Kasi nổi danh nhứt thời bấy giờ về tơ lụa. Đó chỉ là một thí dụ điển hình. Nhưng một điều ở trong sử và trong các bản sớ giải và trong chánh kinh chính Đức Phật Ngài diễn tả thì Ngài có một cuộc sống được bao bọc bởi gấm vóc lụa là bởi một cuộc sống giàu sang vương giả. Và ở trong sử cũng cho chúng ta biết một điều là vua Tịnh Phạn đã cung cấp cho Ngài một nền giáo dục xứng đáng với vị Hoàng Tử thời bấy giờ. Thời đó là thời người ta học theo cách gọi là dưới chân thầy, nhà vua cho mời những nhà thông thái những học giả lừng danh thời bấy giờ đến để dạy cho Thái Tử về rất nhiều môn. Là một người rất thông tuệ Thái Tử nhanh chóng học được tất cả những gì được truyền thụ, chẳng những vậy Ngài còn chứng minh được là Ngài vượt trội hơn tất cả những vị thầy đến dạy cho Ngài những môn học. Chúng ta cũng được biết ở trong thời niên thiếu Thái Tử là người được hun đúc huấn luyện trên cả hai phương diện văn cũng như võ, Ngài là người có một sức mạnh phi thường, những võ nghệ lừng danh thời bấy giờ như cung, kiếm thì Ngài đều là những bực quán trực, những người trong giòng họ Sakya giòng dõi Sắc Đế Lị không những chỉ nổi tiếng về quả cảm mà còn là những người có thể nói đặc biệt rất thiện xảo về nhiều môn võ nghệ, và Ngài được xem như là đệ nhất về võ nghệ thời bấy giờ trên phương diện sức mạnh cũng như tài năng. Đó là vài điều mà chúng ta được biết ghi nhận trong lịch sử thưở thiếu thời.

Bây giờ thì chúng ta thử nhìn qua một khía cạnh khác, kiếp sống cuối cùng của một vị Bồ Tát trước khi đắc quả Vô Thượng Chánh Giác. Như tất cả chúng ta đều biết rằng quả vị Phật không phải là một ngẫu nhiên hay do sự chọn lựa, mà quả vị Phật là kết tinh của nhiều đời nhiều kiếp huân tập ba la mật hạnh, ở trong kiếp sau cùng Ngài ra đời như một đoá hoa đúng thời đúng lúc nở ra với sắc với hương và chúng ta có thể nói không có một vị giáo chủ nào trên thế gian mà sự ra đời trọn vẹn về phúc về đức giống như Đức Bổn Sư của chúng ta. Ngài ra đời trong giòng dõi cao sang, xuất gia lúc tuổi thanh xuân, hành trình tu tập của Ngài là một hành trình chẳng những có dấn thân mà đạt đến chỗ cùng tận của bất cứ ai từng dấn thân. Thế rồi từ con đường trung đạo Ngài đạt thành quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Những năm hoàng đạo của Ngài được ghi lại rất rõ chi tiết trong kinh điển. 80 tuổi Ngài viên tịch ở giữa hai cây long thọ. Cuộc đời Ngài tròn đủ viên mãn, đẹp, đó là kết tinh của phúc của đức, và cuộc đời đó ở trong kiếp chót là một sự thể hiện trọn vẹn.

Xem Tiếp.


Dung sắc thù thắng của Ðức Thế Tôn

TT. Giác Đẳng giảng trong rơom Diệu Pháp ngày 28-05-2009

TT Giác Đẳng giảng: Một điều chúng ta đặc biệt thường nói về Đức Phật, Ngài là vị đã thành tựu quả vị vô thường Chánh Đẳng Chánh Giác sau một quá trình dài nhiều đời nhiều kiếp bồi đắp ba la mật hạnh, do vậy cuộc đời của Đức Thế Tôn là một kết tinh của đại phước, đại đức, đại trí, đại bi. Nếu chúng ta là người con Phật mà không ý thức được điều này thì đôi khi chúng ta không thấy được sự trọn vẹn về ý nghĩa cao qúi của sự ra đời của Đức Phật. Hôm nay chúng ta nói đến một khía cạnh đó là tôn dung của Đức Phật, dĩ nhiên về điều này không bao giờ quan trọng đối với bậc thánh, chỉ ít nhất chúng ta được biết là tất cả những nguồn kinh sách để lại mà chúng ta đọc được thì Đức Thế Tôn đã có một hình ảnh khả kính khả ái mang lại rất nhiều sự hoan hỉ an lạc cho những người được hữu duyên hữu phúc diện kiến Ngài.

Trong bài học ngày hôm nay, chúng tôi muốn nói đến bốn nhân khiến cho một người có ngoại hình đẹp và khả ái. Dĩ nhiên là từ bốn nhân này chúng ta có thể nhìn qua một khía cạnh khác.

1. Nhân đầu tiên chúng ta được biết một người có tướng hảo quang minh hay có thân tướng đẹp là do nghiệp ở trong quá khứ đã tạo. Một bài kinh ở trong Trường Bộ Kinh đó là kinh Lakkhana Sutta được dịch là Tướng Kinh nói về 32 đại trượng phu tướng của Đức Phật từ: răng, tóc, da, vóc dáng v.v.... Những thứ này đẹp, Đức Phật Ngài cho biết rằng mỗi một đặc điểm trong đại trượng phu tướng là kết tinh của thiện nghiệp trong quá khứ, và khi thiện nghiệp đó kết tinh trổ quả thì được cái tướng đó và chẳng những được cái tướng đó không mà từ cái tướng đó nó cũng tiêu biểu cái phúc quả liên quan đến tướng đó. Ngày hôm nay chúng ta không có thì giờ đi qua 32 đại trượng phu tướng nhưng nếu qúi Phật tử đọc bài kinh Tướng Kinh ở trong Trường Bộ Kinh chúng ta sẽ thấy ba khía cạnh luôn luôn được đề cập đến đó là nghiệp quá khứ và cái biểu tướng do quả của nghiệp quá khứ trổ ra trong hiện tại và điểm thứ ba là từ biểu tướng này một người được cái gì ở trong đời sống? được thọ mạng, được uy đức v.v... Thì Đức Phật suốt quá trình bốn a tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp Ngài đã tu đã tạo rất nhiều phước hạnh ba la mật do vậy Ngài sanh lên với một thân tướng đẹp, mà trong cuộc đời chúng tôi đi đó đi đây phải nói rằng không ít lần chúng tôi gặp những người có thể nói rằng cái tướng cách cái đẹp ngoại hình người đó giống như một pho tượng được tạc lên, điều đó không có sai ngoa. Ở trong thế giới loài người có người trong sự tự nhiên được cái thân tướng như vậy không phải là tình cờ mà là do nghiệp trong quá khứ.

2. Một đặc điểm khác, sau khi chúng ta nói về nghiệp quá khứ thì phải nói đến chủng loại. Dĩ nhiên chủng loại này bị ảnh hưởng bởi nghiệp quá khứ. Theo nhiều nhà nghiên cứu thì Đức Thế Tôn thuộc về chủng tộc Aryan, một chủng tộc ngày nay có mặt từ Âu Châu sang Á Châu. Trong thế giới chúng sanh ở trong đời này thì trong sự mô tả của kinh điển cho chúng ta biết thì bốn loài trong cõi khổ là, địa ngục, a tu la, ngả qủi và bàng sanh, thì có thiên hình vạn trạng nhiều thân tướng khác nhau duy chỉ có loài người là có một số có tướng cách giống như Phạm Thiên giống như Chư Thiên. Trong kinh thường dùng hai thuật ngữ: một thuật ngữ là bàng sanh, chữ bàng sanh có nghĩa là những chúng sanh đi ngang là loại đưa lưng lên trời chỉ cho loài bốn chân. Một loại khác chúng ta gọi là lưỡng túc là loài hai chân, loài hai chân thường được chỉ loài người, chỉ cho chư thiên, phạm thiên. Giữa các hàng hai chân chánh giác và tối thắng, đây là lời chúng ta đọc trong Tương Ưng Bộ Kinh: giữa các loài hai chân tức là đứng thẳng trên hai chân có ngoại hình giống như con người chúng ta thì có các bậc Chánh Giác và Tối Thắng. Thật ra thì về điểm này có đôi khi người ta tranh luận chữ "Lưỡng Túc Tôn." Chữ Lưỡng Túc Tôn thường người ta nói rằng bậc đức trí hay là bi trí vẹn toàn, nhưng chữ lưỡng túc là loài hai chân, chữ túc tôn nghĩa là bậc tối thắng giữa loài hai chân. Thì về phương diện chủng loại là một chủng loại có thân tương đối giống chư thiên và phạm thiên và giữa loài người thì có một số chủng loại đẹp từ màu da cho tới vóc dáng cho đến cử chỉ điệu bộ. Đức Thế Tôn thuộc về chủng loại Aryan

3. Điểm thứ ba là chúng ta nói về chân dung khả ái khả kính của Đức Phật phát xuất từ một lý do rất sâu kín mà về điểm này loài người ít có khi nhận ra, đó là tâm từ. Có thể nói rằng tâm từ và tâm sân không những chỉ về những trạng thái hoặc giả là nung nấu hoặc giả là làm mát mẻ nội tâm của chúng ta mà còn biểu hiện ra bên ngoài.

Có một lần Hoàng Hậu Millika nói chuyện với Đức Phật, và Đức Phật có đề cập rằng một trong những lý do làm cho con người xấu xí không được khả ái đó là vì họ có nhiều sân tâm, và một trong những lý do làm cho con người có màu da tươi sáng diện mạo khả ái đó là từ tâm. Cái đẹp của từ tâm là cái đẹp rất lạ lùng. Trong cuộc đời của chúng tôi được gặp một vài vị cao tăng, có vị là thiền sư, có vị là pháp sư, và tâm tư của các vị đó có rất nhiều lòng từ, mình biết mình cảm nhận được tâm từ ở trong tâm tư của những vị này, tuy rằng mình không đọc được tâm vị đó nhưng qua ánh mắt qua cử chỉ thái độ có nét khả ái khả kính lạ lùng. Về điểm này thì ở loài người ít có thấy. Người Việt Nam, chúng ta có đề cập đến một sự kiện khác biệt nói về cái đẹp thì có người có vóc dáng đẹp nhưng lại không có duyên, nhưng đôi khi có những người không đẹp nhưng họ có duyên, chữ có duyên đó là nói lên một sự khả ái mà không thể nói bằng lời. Chúng tôi nhớ có một lần tình cờ đọc một bài đăng trên tờ báo Houston Today nói về một số tài tử ở trong đó có bà Meryl Streep, nếu nói về nét đẹp về thẩm mỹ thì bà không phải là người đẹp nhưng người tài tử này đóng phim rất ăn khách tại vì có cái duyên. Dĩ nhiên, có nhiều lý do nhưng căn bản mà nói thì con người không phải chỉ đẹp là do màu sắc, do đường nét, do kích thước. Nhưng người đẹp của từ tâm thì chúng ta thường quan niệm là một sự biểu tỏ của một trạng thái sâu kín trong lòng có từ tâm. Người có từ tâm là người luôn luôn mang lại sự an lạc cho những người chung quanh mình, người có từ tâm là luôn luôn mát mẻ luôn luôn không nuôi sân tư duy, hại tư duy với những người chung quanh mình và cái từ tâm này mang lại cho họ cái nét đẹp một sự toả sáng rất đặc biệt.

Xem Tiếp.


Đức Phật Của Chúng Ta -Y Chỉ Chánh Pháp

TT. Giác Đẳng giảng trong rơom Phật Pháp Buddhadhamma ngày 21-4-2011

TT Giác Đẳng giảng: Ở trong đoạn Phật ngôn này chúng ta tìm thấy là một trong những ý nghĩa của Đức Thế Tôn sau ngày thành đạo ở gần cội Bồ Đề. Thật ra có nhiều người xem đoạn kinh này chỉ là một ghi nhận có tánh cách lịch sử và không có nhiều điều để quan tâm, cũng có nhiều người cảm thấy hơi lạ một chút, và nhiều người có phản cảm là câu Phật ngôn đó dường như những điều ghi đó không phù hợp với Đức Phật là vị Chánh Đẳng Chánh Giác. Lấy ví dụ như là, thật khó khăn để mà sống không y chỉ không nương tựa, ý nghĩ đó thì mình nghĩ rằng chỉ có những người yếu đuối phàm nhân mới nghĩ đến hoặc giả là đi tìm một người để cung kính thì chuyện đó chúng ta không nghĩ rằng thích hợp trong cái nhìn của một bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nhưng nếu chúng ta nhìn từ một khía cạnh khác thì những điều ghi nhận ở tại đây trong kinh điển chép lại ý nghĩ của Đức Phật tuy rằng chỉ là ý nghĩ nhưng lại là những điều rất hệ trọng rất quan yếu đối với nền tảng tín ngưỡng và tinh thần của tất cả các tôn giáo.

Bây giờ chúng ta thử dựa trên ba lãnh vực để chiêm nghiệm ý nghĩa này. Trước nhất, chúng ta thường nói câu "y pháp bất y nhân" trong ý nghĩa rất thường thức hàng ngày. Thí dụ như, qúi Phật tử đi chùa gặp một nhà sư có thể là có những cử chỉ lời nói không lịch sự không tốt nhưng mà các vị đó nói là mình chỉ y pháp chứ không y người. Đó là câu nói có tánh cách thường thức nhưng chúng ta cũng có thể hiểu được một khía cạnh khác trên phương diện tâm linh thì người ta nói đến tôn giáo có hai thứ: Một là tôn giáo đặc biệt sùng bái thần ngã và một là tôn giáo chú trọng về Pháp hay là về Đạo.

Hai nền văn hóa lớn của Phương Đông là Ấn Độ và Trung Hoa có cống hiến cho nhân loại hai chữ rất thú vị. Tại Ấn Độ người ta nói về chữ "Pháp - Dhamma" và ở Trung Hoa người ta nói đến chữ "Đạo." Hai chữ này mở ra những chân trời mới và rất khác biệt với quan niệm thần ngã mà chúng ta thấy xuất phát từ Trung Đông, xuất phát từ Tiểu Á, và khác hơn bất cứ quan niệm thần ngã nào khác.

Nói một cách khác, khi người ta nhìn vào sự tối thượng cao qúi của tôn giáo thì người ta nói đến một cá thể, chúng ta gọi là một thần ngã. Cá thể đó là Thượng Đế dù là Chúa con, Chúa cha, Chúa thánh thần, dù là vị Thượng Đế đó là vị Thượng Đế ở trên trời hay một người được lựa chọn để mang thông điệp của Chúa xuống trần gian này hay một đấng tiên tri. Thì thưa qúi vị, những tôn giáo thần ngã thường tạo dựng một hình ảnh mang tánh cách đặc biệt cá thể chúng ta gọi là personality. Cá thể là như vầy: đây là ý muốn của Thượng Đế, đây là tình yêu của Thượng Đế. Thượng đế muốn chúng ta như thế này và Thượng Đế trừng phạt chúng ta như thế kia, nhất cử nhất động từng chân răng từng cọng tóc thì chúng ta đều do sự quyết định của Thượng Đế, như vậy là Thượng Đế vĩ đại, almighty God đó là thượng đế toàn năng. Nhưng mà thưa qúi vị, hình ảnh một Thượng Đế toàn năng nếu nói cho cùng thì người ta vẽ ra một cái rất nghèo nàn, nếu chúng ta nghĩ về một con người tự tạo ra những sản phẩm của mình, như con người là một sản phẩm của Thượng Đế mà tạo vật là những phó sản của Thượng Đế thì người ta đã vẽ ra hình ảnh rất nghèo nàn của một người cao qúi không biết cao qúi chỗ nào. Chữ cao qúi trên phương diện cá nhân nó mang tánh cách thi thiết và đối đãi. Chúng tôi lấy một ví dụ như bây giờ ở trong rơom có Sư Trưởng là lớn nhất, Sư Trưởng lớn nhất là bởi vì có tánh cách thi thiết là Sư Trưởng là thầy lớn hơn TT Tuệ Siêu lớn hơn chúng tôi lớn hơn chư tăng khác, thì có mang tánh cách thi thiết ở trong phạm vi của rơom này để so sánh với người khác. Nhưng nếu chỉ có Thượng Đế không thì rất khó hiểu là so với ai, để làm cái gì, để cho là cao qúi là vĩ đại. Thật ra khi trong tôn giáo quan niệm về thần ngã thì người ta hay nói cá thể, Thượng Đế như là một con người mà nó là một địa vị mang tánh cách độc tôn, địa vị đó hoàn toàn cho chúng ta một sự cảm nhận rất khác với nền tâm linh văn hóa Đông Phương.

Chúng tôi nói rằng ở Ấn Độ người ta nói đến chữ Pháp-Dhamma và ở Trung Hoa người ta nói đến chữ Đạo. Chúng ta định nghĩa Pháp hay định nghĩa Đạo như thế nào cũng được, nhưng chúng ta có thể khẳng định ở trong ý nghĩa gần nhất mà chúng ta có thể hiểu; thứ nhất đó là tính tự nhiên của vạn pháp, đó là điều mà chúng tôi lấy ví dụ như là cái gì nặng thì nó chìm cái gì nhẹ thì nó nổi, hay con người chúng ta có tham sân si thì nóng nảy có dính mắc, con người của chúng ta không có phiền não thì nhẹ nhàng khinh an. Những thứ đó không thông qua sự phán quyết và nó không phải như là nghệ thuật như là văn hóa người ta lựa chọn hay không lựa chọn mà nó là tự nhiên như vậy. Bây giờ nếu một người sống trong lòng chất chứa đầy phiền não mà bảo rằng người đó được an lạc thì chuyện đó không có, và nếu một người sống nhẹ nhàng ít dính mắc mát mẻ mà bảo rằng người đó sống nặng nề thì chuyện đó không có. Đó là vấn đề của tự nhiên của Đạo của Dhamma của Pháp như thật.

Xem Tiếp.


Hình Ảnh Đức Phật Trong Thế Giới Hôm Nay

TT. Giác Đẳng thuyết pháp giảng trong lớp Diệu Pháp ngày 25 tháng 4 năm 2007

TT Giác Đẳng giảng: Đức Phật là vị giáo chủ với một giáo đoàn tăng lữ xưa nhất ở trong lịch sử của nhân loại. 2500 năm đã trôi qua và trong suốt 25 thế kỷ đó hình ảnh của Đức Phật được ghi nhận được lễ bái và được phát hoạ với nhiều đường nét khác nhau, người ta có thể nói một cách không sai lầm là ở trong lòng của những người Phật tử như mỗi chúng ta ở đây đều có hình ảnh của Đức Phật, nhưng chắc chắn hình ảnh từ dung của Ngài ở trong lòng của chúng ta không hoàn toàn giống nhau, mỗi người có một cách thế chiêm nghiệm, thờ phượng và tưởng nghĩ về Đức Phật khác nhau và không có nghi ngờ gì để nói rằng Đức Phật là một hình ảnh lớn rất lớn, lớn đến đỗi ở mỗi một thời kỳ mỗi một hoàn cảnh giai đọan của cuộc sống chính mình, đôi khi chúng ta phải tự đặt câu hỏi lại là hình ảnh của Đức Thế Tôn trong lòng của chúng ta như thế nào.

Cuộc sống ngày hôm nay càng lúc trở lên đa dạng đến độ kinh hoàng, chúng ta rất là kinh ngạc để thấy rằng khi đề cập đến cuộc sống của một người bên lũy tre làng, ngày rằm đến chùa lễ Phật, cách đây mới chừng hai ba mươi năm, nhưng bây giờ nghĩ lại thì đã xưa và xưa lắm. Chúng tôi nghe nhiều Phật tử về Việt Nam nói rằng: "Việt Nam bây giờ thay đổi rất nhiều, nếu Sư có trở về thì những con đường xưa từng đi qua bây giờ không còn nhận ra nữa." Chúng tôi chưa bao giờ được dịp trở về Việt Nam trong suốt 27 năm qua nhưng chúng tôi đã trở đi trở lại rất nhiều lần tại Thái Lan, chúng tôi đã hiểu, những mái chùa hiền hoà nằm trong khu làng nhỏ đang dần dà trở thành một trung tâm điểm của thành phố với những building mọc chung quanh, và từ một nơi rất thanh tịnh chùa bây giờ trở thành trung tâm văn hoá giữa phố phường. Dĩ nhiên cuộc sống bên ngoài thay đổi thì Đức Phật ở trong lòng của chúng ta cũng được lãnh hội từ một khung cảnh khác nhau. Một công chức, một thương gia khi nghĩ tưởng về Đức Phật có khác hơn là một người làm nông buổi sáng chờ ở bên đường để được để bát cúng dường Chư Tăng, tới ngày giới đến chùa để lạy Phật. Chuyện đó chúng ta không thể phủ nhận rằng hoàn cảnh có khác, chỗ đứng có khác, cái nhìn của chúng ta cũng khác đi, chưa bao giờ cuộc sống trở nên đa dạng như là ngày hôm nay, con người có thể nhìn vấn đề bằng rất nhiều cách thế góc cạnh khác nhau bởi vì truyền thông rộng rãi, ngay cả chuyện gặp nhau ở trên Internet như chúng ta gặp ở trong paltlak cũng khiến chúng ta nhìn vấn đề có khác đi so với nhiều năm về trước.

Đề cập đến hình ảnh của Đức Phật ở trong nghệ thuật hôm nay thì chúng tôi muốn nói đến bốn lãnh vực mà chúng tôi tin rằng bốn lãnh vực này đặc biệt quan trọng để chúng ta có một tập trung nhất định về những gì mà chúng ta muốn nói đến trong đề tài này.

Điểm đầu tiên mà chúng tôi muốn nói đó là về bản địa truyền thống là hình ảnh của Đức Phật qua một cái nhìn rất là truyền thống. Truyền thống đó đã được duy trì hàng bao nhiêu thế kỷ vừa qua và hình ảnh đó như thế nào để chúng ta có một sự tương phản so sánh khả dĩ có thể thấy được là ngày hôm nay chúng ta có khác.

Phần thứ hai chúng tôi sẽ nói về những luồng gió mới mà qua đó hình ảnh của Đức Phật có khác hơn với bản địa truyền thống từ khi mà người Tây Phương bắt đầu đến với đạo Phật và nhìn đạo Phật bằng quan điểm khác hẳn cha ông của họ cách đây năm sáu thế kỷ. Chúng tôi cũng nói đến những phong trào mang tính xã hội nhưng đặc biệt chi phối đến thời đại của chúng ta như phong trào Hippy của những thập niên 60 thế kỷ rồi, hoặc giả là New Age, hoặc giả là chúng ta nói đến trào lưu thời thượng mà có đôi lúc nó đã khó để cho chúng ta phủ nhận rằng dù muốn dù không thì những trào lưu này đã ghi đậm nét ở trong xã hội ở trong cuộc sống của chúng ta hôm nay, dĩ nhiên chúng tôi cũng muốn nói đến ảnh hưởng Internet của những phương tiện truyền thông hiện đại những thứ đó ảnh hưởng như thế nào trong cái nhìn của chúng ta đối với chân dung của Đức Phật, chúng tôi tạm gọi đó là những luồng gió mới.

Trong phần thứ ba của bài nói chuyện này thì chúng tôi đặc biệt dành nguyên cả phần để nói về hình ảnh Đức Phật của những người không là Phật tử. Đức Phật không còn là vị giáo chủ riêng của người Phật tử, hình ảnh những pho tượng Phật và kể cả khái niệm về Đức Phật đã được nhân loại đón nhận bằng vô số khía cạnh khác nhau trong đó có rất nhiều người họ đến với Đức Phật họ đặt để tượng Phật tại một nơi nào trong một ngôi nhà hay hoặc giả họ xử dụng tượng Phật bằng cách này hay cách khác, nhưng họ không phải là Phật tử, và họ hoàn toàn không ái ngại để nói rằng họ rất là quen thuộc pho tượng Phật mặc dù họ không phải là Phật tử.

Và sau cùng, ở trong sự phát triển muôn màu muôn sắc của nghệ thuật ngày hôm nay thì chúng tôi muốn nói đến là đi tìm một hình tượng hoàn vũ, một cái gì cho tất cả, không phải là hình ảnh những đường nét rất Ấn Độ hay là với pháp phục rất là Trung Hoa, hay là kiểu thân tượng như của Tây Tạng, mà người ta nghĩ đến rằng có một ngày nào đó phải chăng chúng ta sẽ tìm được một hình ảnh Đức Phật trong nghệ thuật và hình ảnh đó khả dĩ có thể là một hình ảnh quy hướng của tất cả văn hoá của tất cả châu lục mà chúng ta tạm gọi là một hình tượng hoàn vũ.

Xem Tiếp.


Bấm vào đây để xem mục lục các bài Pháp Thoại


Câu trả lời đúng của câu đố vui là:




TIN TỨC PHẬT GIÁO


Khởi Nguồn Chánh Pháp

Danh Ngôn Thế Giới - Lời Hay Ý Đẹp

Đời sống như một mũi tên do vậy bạn phải biết cái gì là điểm nhắm, dùng mũi tên như thế nào và rồi bắn nó về phía trước, và hãy để nói đi!

Henry Van Dyke



Sưu Tầm

Danh Tính Đức Phật.

TT Giác Đẳng giảng tại Tiền Ca Tỳ La Vệ, trong chuyến hành hương Ấn Độ ngày 24 tháng 3 năm 2010
Minh Hạnh chuyển biên

TT Giác Đẳng: Nhân lúc chúng ta đến thăm thành Ca Tỳ La Vệ thì chúng tôi xin nói đến một số danh tính của Đức Phật. Khi Ngài chào đời thì có 8 vị Bà La Môn được tuyển chọn ở trong số mấy trăm vị đến dự lễ đặt tên, đó là phong tục của Ấn Độ thời xưa và nay vẫn còn giữ là những người giàu có khi sanh ra họ không đặt tên cho đứa con ngay lúc mới sanh giống như cha mẹ ở Việt Nam mà thay vào đó thì tổ chức một buổi lễ ba ngày sau khi hài nhi chào đời, nhất là những gia tộc giàu có thì họ mời rất nhiều vị thầy chiêm tinh hay những giáo sĩ Bà La Môn đến để có lời tiên tri về tương lai của đứa bé. Trong 8 vị này ở trong đó có 7 vị đưa 2 ngón tay lên và tiên tri rằng Thái Tử lớn lên sẽ thành tựu được sở nguyện lớn lao của mình tức là vua thì sẽ trở thành một đại đế và nếu rời bỏ gia đình sống đời sống xuất gia thì sẽ trở thành một tôn sư vĩ đại, chỉ có một người trẻ duy nhất là đạo dĩ Kondanna tức là vị đạo sĩ Kiều Trần Như thì khẳng định rằng Thái tử sẽ đi theo con đường xuất thế, cho dù là tiên tri cách nào đi nữa thì mọi người đều nói rằng Thái Tử sẽ đạt thành sở nguyện vĩ đại của mình, do đó nhà vua đặt tên là Siddattha có nghĩa là là đạt thành sở nguyện hay viên thành sở nguyện. Như vậy Siddattha là tên của Đức Phật, nhưng chúng ta chỉ dùng tên này khi Ngài còn là Thái tử ở trong cung là Thái Tử Sĩ Đạt Đa. Ngài theo chế độ mẫu hệ do vậy mặc dầu Ngài sanh ra trong giòng Sakya nhưng mang họ mẹ, mẹ của Ngài họ là Gautami, Gautami là nói theo nữ tính còn Gautama là nam tính.

Chúng ta thường nghe những người ngoại đạo gọi Ngài là Samon Cồ Đàm lấy từ chữ Samon Gautama. Chữ Cồ Đàm có khi chúng ta còn âm thành Kiều Đàm như Kiều-Đàm-Di tức là Gautami là Di Mẫu Cồ Đàm. Thì Cồ Đàm hay Gautama là họ mẹ, Ngài không lấy họ cha vì chế độ mẫu hệ hồi xưa.

Chúng ta có một danh từ khác thường dùng đó là Đức Phật Thích Ca, đúng ra nói cho đủ là Thích Ca Mâu Ni hay Sakyamuni. Chữ Mu Ni âm là Mâu Ni từ tiếng Phạn có nghĩa là bậc hiền triết hay bậc ẩn sĩ. Sakyamuni hay là Thích Ca Mâu Ni là bậc thánh triết hay bậc hiền triết giòng họ Thích Ca.

Những vị tỳ kheo tu theo Đức Phật thường gọi là Sakyaputta là Thích tử tức là con của giòng họ Thích Ca, hay là Sakyadhita là Thích nữ là con gái của giòng họ Thích Ca trong trường hợp như vậy thì dùng chữ Sakya. Người Phật tử thì không dùng chữ Gautama để gọi Đức Phật mà thường người ngoại đạo mới dùng chữ Gautama hay chữ Cồ Đàm để gọi Đức Phật, ví dụ như họ gọi samôn Cồ Đàm, và trong kinh điển thì cũng rất ít trường hợp gọi Đức Phật là Sakyamuni tức là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngày hôm nay chúng ta thường là dùng chữ Bhagavato là Đức Thế Tôn để chỉ cho Đức Phật. Như trong kinh Tôn Giả Ananda thường trì tụng Tam Tạng chẳng hạn "Như vầy tôi nghe một thời Đức Thế Tôn", thì chữ Đức Thế Tôn dùng chữ Bhagavato chứ không dùng chữ Gautama, Cồ Đàm hay dùng chữ Buddha. Bây giờ chúng ta hay dùng chữ Phật Đà để chỉ Đức Phật nhưng thời xưa thì dùng chữ Đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn có nghĩa là bậc tối cao tối trọng ở trong cuộc đời này.

Mỗi thời có một cách gọi nhưng chúng tôi xin được nhắc lại là chữ Thích Ca Mâu Ni thì chữ Mâu Ni có nghĩa là ẩn sĩ là vị hiền triết là bậc thánh triết giòng họ Thích Ca, chữ Sakya là tên của một giòng tộc Thích Ca, và vương quốc này cũng là vương quốc Sakya kingdom tức là vương quốc của Thích Ca.

Theo trong kinh thì trong bản sớ giải cho chúng ta biết rằng thời rất xa xưa ở xứ Kashi có một vị vua và vị vua này có tám người con, sau khi sanh người con thứ tám thì vài năm sau hoàng hậu qua đời và nhà vua đi một bước nữa cưới một phụ nữ khác về làm hoàng hậu, trong lúc vua và hoàng hậu sau này ở trong những giờ phút rất thân mật thì vị hoàng hậu có một lời thỉnh nguyện là mong rằng đứa con của bà sanh ra mai mốt sẽ thừa kế ngai vàng, trong lúc vì quá thương hoàng hậu nên nhà vua đã hứa, sau khi hứa xong nhà vua mới chạnh lòng bởi vì hoàng tử do hoàng hậu sau sanh ra là hoàng tử nhỏ nhất, trong lúc đó nhà vua đã có tám người con, nhà vua không biết phải làm gì khác hơn là gọi tám người con đến và tám người con đó đứa nhỏ nhất thì cũng 16 tuổi, nhà vua mới nói rằng:

"Ta vì một chốc bốc đồng mà hứa sẽ trao vương quyền lại cho đứa bé sơ sinh tức là thái tử út mới chào đời, ta thật sự có lỗi với các con, vậy đây là vàng, đây là bạc, đây là xe ngựa, đây là tùy tùng, anh em các con hãy lấy tất cả những thứ này lên đường tới một nơi nào đó thật xa khỏi quốc độ này, hãy lập một vương quốc riêng của mình thì như vậy ta mới cảm thấy an lòng và mẹ của các con cũng cảm thấy ngậm cười."

Tám vị hoàng tử và công chúa đảnh lễ phụ hoàng và lên đường cùng với tùy tùng và xa mã châu báu, họ đi về phía bắc đến gần chân núi Hi Mã Lạp Sơn tại vùng đất này, tại đây họ tìm thấy một bình nguyên bằng phẳng và đẹp mà không có vua chúa do đó họ quyết định lập nghiệp tại đây. Lúc đó họ đã gặp một vị đạo sĩ tên là Kapila sống trong rừng. Đạo sĩ Kapila vốn trước kia cũng đến từ Varanasi là một người thông hiểu triều nghi thông hiểu luật pháp vì chán nản sự đời bỏ lại tất cả để đến đây tu tập một mình. Khi gặp tám vị hoàng tử và công chúa thì đạo sĩ Kapila rất thương có lẽ là có túc duyên từ kiếp trước, do đó đạo sĩ Kapila đã chỉ dẫn cho tám vị hoàng tử và công chúa từ cách lựa chọn mảnh đất nào xây dựng thành kinh đô và những bước đầu cần phải làm để xây dựng một triều đình một biên cương mới, tức là họ tạo một giang sơn đầu tiên của họ, và một vài năm sau thì quốc gia trở thành phú cường, nơi này trở thành vùng đất giàu có.

Tám vị hoàng tử và công chúa đã trọn một số tùy tùng trong những người đi theo họ để trở thành một phái bộ về thăm lại vua cha ở Kashi. Khi về thăm lại vua cha thì phái bộ kể tất cả sự việc của hoàng tử và công chúa tại vùng đất mới mà họ đã chiếm ngự và xây dựng một vương quốc như thế nào họ đã xây dựng kinh đô như thế nào, thì nghe xong thì nhà vua thốt lên một câu là "Sakya Sakya" tức là "thật là anh hùng thật là anh hùng." Chữ Sakya đó lại là một chữ mà phái bộ ghi nhớ và khi trở về thì thuật lại cho các vị hoàng tử và công chúa thì những người đó rất vui mừng và nói chuyện với đạo sĩ Kapila sau đó họ đã quyết định chọn tên của giòng tộc mới hoàn toàn là Sakya có nghĩa là bậc anh hùng, từ đó trở đi chúng ta có giòng họ Sakya là giòng họ Thích Ca. Về sau này để nhớ ơn vị đạo sĩ đã giúp cho họ nên họ đã chọn tên của vị đạo sĩ là tên của kinh đô là Kapilavatthu (Ca Tỳ La Vệ) vatthu có nghĩa là vùng đất một quần thể một sự việc thì Kapilavatthu có nghĩa là vùng đất xuất phát từ đạo sĩ Kapila. Kapila là tên của vị đạo sĩ đầu tiên đã giúp cho tám vị hoàng tử và công chúa dựng lên vương quốc tại nơi này, thì như vậy thì chúng ta có giòng Thích Ca chúng ta cũng có kinh đô Kapilavatthu.

Có một vài sự kiện liên quan đến giòng họ Sakya theo văn hoá thời xưa thì người ta rất trọng về huyết thống tức là họ không muốn cho có sự pha lẫn giòng máu này với giòng máu kia. Thời xa xưa người Aryan từ Trung Á đổ xuống đây thì tại nơi này có rất nhiều những thổ dân như chúng ta thấy ở tại đây và những thổ dân này thuộc cấp nô lệ và do vậy người Aryan có một thái độ kỳ thị rất lớn, thái độ kỳ thị đó là họ luôn luôn xem chuyện gọi là quần chủng là một yếu tố khẳng định giá trị tồn tại của họ nên người Aryan không lấy những người khác chủng tộc mà họ thường lấy những người trong giòng tộc giòng họ của họ, điều này có khác với người Trung Hoa, người Trung Hoa thì nếu là bên nội tức là chú bác thì tuyệt đối là không được cưới gả với nhau trong lúc đó bên ngoại thì có thể cưới gả với nhau, lấy ví dụ như là một người con gái của Trung Hoa không thể nào lấy một người anh hay là em gọi là chú bác gọi là đường ca thì họ không lấy nhau, nhưng nếu bên ngoại là con bạn dì ruột họ gọi là biểu ca thì họ có thể cưới gả với nhau được, thì việc này rất là bình thường ví dụ qúi vị xem phim Thiên Long Bát Bộ thì Vương Ngọc Yến yêu Mộ Dung Phục tính trong vai vế là con cậu ruột, họ có thể nghĩ tới chuyện hôn nhân thì đó là quan niệm của người Trung Hoa, nhưng người Ấn Độ thời xưa cho đến bây giờ thì họ đặt nặng về vấn đề quần chủng gọi là huyết thống thanh tịnh bảy đời, huyết thống thanh tịnh bảy đời tức là nhiều đời giòng máu không bị pha lẫn với người ngoài, về phần này chúng ta có thể tìm thấy ở Ai Cập thời xưa cũng có những chuyện là trong một hoàng tộc như vậy họ lấy nhau chứ họ không lấy người ngoài, đúng ra thì nếu chúng ta đọc lịch sử của Anh Quốc lịch sử Âu Châu thì chúng ta thấy rằng vua Đan Mạch, Nga hoàng, vua Tây Ban Nha và Anh Quốc đều là bà con với nhau, thời xưa thì họ cưới gả qua lại chứ họ không lấy người thường dân ở bên ngoài, dĩ nhiên quan niệm này từ từ đã khóa sổ đã thay đổi, tại Nhật Bản thì Thiên Hoàng mới hai thế kỷ vừa qua thì vị thái tử lập gia đình với người thường dân mà thôi chứ không lấy người trong hoàng tộc đó là câu chuyện rất phổ thông ở nhiều nơi trên thế giới và điều đó cũng xảy ra ở giòng họ Thích Ca.

Chúng tôi xin nhắc lại là tên của Đức Phật là Siddattha mà chúng ta âm là Sĩ Đạt Đa, họ của Ngài là Gautama mà chúng ta âm là họ Cồ Đàm hay là Kiều Đàm, đúng ra trong khuynh hướng ni bộ thường âm là Kiều Đàm bên tăng là Cồ Đàm, nhưng Gautama mà chúng ta đọc ở trong kinh thì đó là họ của Đức Phật, và chữ Sakya là Thích Ca là tên của giòng tộc chứ không phải là họ cũng không phải là tên của Đức Phật, mà là giòng Thích Ca, như vậy nói theo Phạn âm thì là tên Sĩ Đạt Đa họ Cồ Đàm người giòng tộc Thích Ca, người ngoại đạo gọi Đức Phật là Samôn Cồ Đàm, samôn có nghĩa là vị tu sĩ và người Phật tử thường gọi Đức Phật là Bhagavato là Đức Thế Tôn.


Mỗi Ngày Một Câu Chuyện Thiền

Tri Kiến, Giác Ngộ, Minh Triết cho đời sống



THỜI GIAN ĐỂ HỌC

Một người trẻ tuổi nhưng là thiền sinh nghiêm chỉnh đã thăm dò ý kiến sư phụ của hắn, và đã hỏi vị Thiền Sư.

"Nếu con cố gắng làm việc chăm chỉ và siêng năng cần cù thì con phải bao lâu để đạt được thiền."

Vị Thiền Sư suy nghĩ về điều này, và rồi trả lời, "Mười năm."

Vị thiền sinh khi đó nói, "Nhưng điều gì nếu con hết sức cố gắng, rất cố gắng và thực sự ghép mình vào để học nhanh -- Vậy thì bao lâu?"

Vị Thiền Sư trả lời, "Vậy thì, hai mươi năm."

"Nhưng, nếu con thật sự, thật sự con làm việc đó. Vậy thì bao lâu?" vị thiền sinh hỏi.

"Ba mươi năm," Vị Thiền sư trả lời.

"Nhưng, con khong hiểu," vị thiền sinh thất vọng nói. "Với mỗi lần con nói con sẽ cố gắng hơn nữa, Sư Phụ nói nó sẽ khiến con kéodài hơn. Tại sao Sư Phụ nói như thế?"

Vị Thiền Sư trả lời, "Khi con có một con mắt trên mục đích, con chỉ có một mắt trên con đường đạo."


Sưu Tầm


Chuyện Cười

Chúc mừng địa điểm mới của bạn

Một thương gia mở cửa hàng và những người bạn của ông chủ muốn gửi hoa trong dịp này.Hoa được đưa tới điểm kinh doanh mới và ông chủ đọc tấm thiệp. Trong đó viết:

-” Yên nghỉ trong tĩnh lặng.”

Ông chủ nổi giận và gọi người bán hoa tới để than phiền.Ông ta cho người bán hoa biết một cách quả quyết là ông ta giận dữ như thế nào về cái lỗi rành rành kia.

Người bán hoa khôn ngoan làm giảm cơn giận của người đàn ông khi cô ta điềm tĩnh nói:

-”Thưa ông, tôi thật sự lấy làm tiếc về sai sót này, nhưng chỉ cần tưởng tượng điều này … ở nơi nào đó có một đám tang diễn ra hôm nay, và họ nhận vòng hoa với dòng chữ :”Chúc mừng địa điểm mới của bạn!”


TRUYỆN NGẮN

Bàn tay năm ngón

Tác giả: Bình-nguyên Lộc

Thầy giáo dò tên trong sổ rồi lại liếc học trò như để bắt mạch chúng, coi đứa nào xanh mặt vì không thuộc bài. Không thấy đứa nào tỏ vẻ lo sợ, thầy nhắm mắt chấm đùa thì trúng tên trò Kinh.

- Kinh, lên bảng trả bài ám độc.

Trò Kinh vừa đứng dậy, vừa nói lên cử động của mình, bằng tiếng Pháp:

- Tôi đứng dậy, tôi ra khỏi bàn, tôi lên bảng và tôi đọc. Rồi tôi trả bài cũng bằng tiếng Pháp: „Đây là bàn tay của tôi, nó có năm ngón.“

- Sáu ...

- Sáu ...

- Sáu chớ ...

Cả lớp cười rộ lên một cái rần. Kinh giựt mình, ngưng đọc. Thoạt tiên anh không hiểu gì hết. Nhưng chợt nhớ thì bàn tay mặt anh có sáu ngón, mặt, tai anh ửng đỏ. Anh vội giấu bàn tay mặt dưới cùi chỏ tay trái đương khoanh trước ngực.

Thầy giáo đập thước rầm rầm lên bàn và la:

- Cười cái gì. Trò nào còn cười bị phạt chép năm chục trương bài nầy. Trò Quang, ta không nên ... làm sao ?

Trò Ouang đứng dậy. Sợ sệt đọc: “Ta không nên nhạo báng người tàn tật”.

- Tốt, giỏi, ngồi xuống !

Kinh lăn qua, trở lại mãi, không sao nhấm mắt được. Anh nhớ rõ từng chi tiết buổi học trên đây, mười sáu năm về trước và thương hại cậu bé tội nghiệp, thuở ấy đã chịu biết bao khổ nhục giữa đám trẻ tàn ác, cũng vì cái ngón thứ sáu nầy.

Anh giơ bàn tay lên xem. Cái ngón dư đó, mọc từ bên hông ngón cái, cong quát vô như càng tôm, càng cua. Da nó non, mịn, hơi ửng hồng. Đầu ngón, một móng tay nhỏ xíu, nhọn hoắc, cong như ngói ống lợp chùa.

Thật là dị kỳ, không giống anh em nó chút nào, y như là ai mới nghịch gắn nó vào đó, và nó làm bằng những chất gì khác hơn là thịt và da.

Hèn chi trẻ nhỏ hồi đó và người lớn bây giờ không đùa sao được. Phải chi ai cũng có sáu ngón, thì anh sẽ được coi như người thường, đàng nầy...

- Ờ, Kinh nghĩ, tại sao người đời cứ muốn cái gì cũng giống nhau hết, khác một chút là họ không tha. Mình mặc một bộ đồ mốt xưa họ cũng cười, mình dạy con theo phương pháp riêng của mình, họ cũng công kích. Mình có một tư tưởng nào hơi bạo, hơi đi trước họ, họ không khỏi nhìn mình như nhìn một người điên.

Kinh bật cười, nghĩ đến một người kia bỗng dưng mọc đuôi dài. Chàng thấy trong trí đám người đi theo thằng cha có đuôi, mặc sức mà bàn tán mà chế giễu. Rồi chàng nhớ đến bọn đầu cơ, luôn luôn rình một dịp tốt để hốt tiền. Bọn nầy không khỏi thương thuyết với người có đuôi, nhốt va lại trong một cái lều bằng bố, giữa chợ đông, rồi thì lùng tùng xòa, lùng tùng xoèn mại vô, mại vô, người có đuôi, năm cắc vô cửa nè !

Kinh lại nhớ đến những bức tranh khôi hài ở một tờ báo ngoại quốc kia. Tranh vẽ một nhà thông thái chế ra một hỏa tiễn rồi bắn mình lên sao Mars. Tới nơi thấy người sao Mars có ba chơn, mũi dài như vòi voi, không trái tai. Những người nầy bu quanh nhà thông thái và nói với nhau: “Các anh coi, thằng người dưới quả địa cầu mới dị tướng, xấu xí làm sao !”

Thì ra óc loài người rất hủ lậu. Cái người thượng cổ đã dựng lên một cái chòi để ở, không thích ở lỗ nữa, không biết đã bị đồng loại rầy rà, làm tình, làm tội đến bao nhiêu.

Kinh thở ra dài: Loài người cứ muốn giống nhau, lại muốn cái gì cũng giống loài người. Họ bày ra đấng Tạo Hóa, đấng Cứu Thế với hình ảnh giống hình ảnh họ, với tư tưởng và tình cảm gần gần họ, hơi khoáng đạt, trong sạch hơn một chút, một chút thôi. Còn cái anh chàng nào đã tạo ra Tiên đó, thì lại càng giản dị hơn nữa. Va cho Tiên là người phàm tu thành và vẫn còn giữ rất nhiều phàm tánh.

Phải chăng vì tánh đó, thâu hẹp lại, mà thuở nhỏ anh đọc truyện Tàu cứ tưởng tượng Trương Phi, Tiết Nhơn Quí là người Việt Nam, rồi đến mười lăm mười sáu tuổi, khi biết rõ lại họ là người Tàu, anh tức mình sao những nhơn vật anh yêu lại không phải người đồng chủng.

Kinh rờ ngón tay dư. Nó mềm mụp như bằng bột. Tuy ngón tay đó cũng nghe được xúc giác, nhưng anh cảm thấy sự đụng chạm đó không giống khi anh rờ những ngón khác. Như là ngón thứ sáu đó không thuộc vào thân thể anh.

Kinh có tiếng người lập dị. Đó là lời xét đoán của người chung quanh anh. Thật ra những cái dị ấy, anh tự nhiên mà có, chớ không cố ý lập ra, và không cần dư luận, anh không thèm sửa đổi cho giống người ta.

Nhưng cái dị của ngón tay nầy thật là để không được nữa.

Anh làm ở Bưu điện. Mấy năm nay anh ngồi phòng bút toán ở trong. Năm nay anh đổi ra “ghi-sê”.

Thật là phiền. Mỗi khi anh bán ra một con cò, là có cả chục con mắt ở ngoài dòm cái ngón tay chướng ấy. Chắc ngoài họ bảo nhau: “Ở sở Bưu điện có thầy sáu ngón”. Khi họ sai thằng nhỏ đi mua cò, chắc họ dặn: “Mầy cứ lại chỗ thầy sáu ngón tay là đúng chỗ bán cò.”

Kinh khổ sở tưởng như nội Sài Gòn người ta cứ ăn no rồi bàn nhau về cái ngón dư của anh.

Ra đường, anh đoán ai cũng nhận ra anh, và luôn luôn anh nhét tay vào túi quần.

Phiền nhứt là phải thối tiền cho phụ nữ. Hễ thối tiền thì phải chưng bày cái bàn tay (khổ, lại là bàn tay mặt là bàn tay làm việc) có tật ấy ra lâu hơn khi bán cò. Những cái mỉm cười kín đáo của những cô gái đẹp trước cục thịt dư sao mà nó mỉa mai, hỗn láo đến thế ?

Một hôm một bà đầm già thân mật hỏi: “Sao thầy không cắt nó đi ?” Mà lại hỏi trước một công chúng phụ nữ đông đảo. Anh muốn hụp xuống phía sau ghi-sê mà trốn những nụ cười tàn ác kia.

À, cái mụ đầm mới vô lễ chưa. Mắc mớ gì đến mụ chớ ?

Kinh thầm oán mụ đầm đó, nhưng từ ngày ấy anh mới sực nhớ ra là có thể loại cái khó chịu nầy ra khỏi thân thể anh.

„Ờ, ờ, tại sao thuở giờ mình không nghĩ đến. Có gì đâu, phụp một cái là mình được như người thường. Mình không đến đỗi xấu trai. Nếu không có cục nợ ấy thì cũng là người dễ coi như ai. Ờ, mà có đau đớn lắm không nè ?“ Anh đi hỏi thăm một bác sĩ hẹn ngày giờ cẩn thận.

- Không, không đau đớn gì đâu, bác sĩ nói, như con kiến cắn é mà !

Kinh yên lòng. Nhưng đêm nay, cái đêm trước ngày „long trọng“ ấy, anh nghe ngài ngại. Không biết nó sẽ đau đến bực nào. Không, mà mình sẽ bậm môi rán chịu, không rên la chi cho bác sĩ cười. Làm trai mà ! Anh nghĩ cái ý làm trai một cách trịnh trọng như là một chiến sĩ sắp ra trận ngày mai.

Kinh cầm ngón tay lúc lắc, bụng bùi ngùi:

- Mấy mươi năm rồi, mầy ở với tao. Thôi mai nầy vĩnh biệt nhé !

Kinh ngạc nhiên vì chợt nghe mình thành thật buồn vì sự chia ly nầy.

- Mình đa cảm đến thế à ?

*

- Lại chích lần nữa à, thưa ông ?

Bác sĩ cười hì hì đáp:

- Nhiều lần nữa chớ. Thứ thuốc tê nầy, chích đâu thì có hiệu quả đó, chỉ ở đó thôi. Thành ra tôi phải chích ít lắm là bốn phát chung quanh gốc ngón tay.

Bác sĩ rút kim ra, lụi phía bên kia, Kinh đau điếng.

- Phải dè đau như vầy, tôi không đòi thuốc tê. Để vậy cắt có lẽ ít đau hơn.

- Phải có thuốc tê vì còn đốt.

- Đốt ?

Bác sĩ không trả lời, cắt sực một cái, ngón tay đã rớt xuống mâm.

Ông tiếp lấy cái sắt trắng nướng đỏ mà thầy khán hộ vừa trao tới.

Kinh nghe lạnh cả mình. Nhưng không sao. Chỉ nóng vừa thôi khi cây sắt lửa ấy rà lên vết thương.

Trên đường về, Kinh nghe nhẹ người, tuy cái ngón dư ấy chỉ cân nặng độ hai chục gơ-ram.

Chỉ nửa phút thôi là anh biến ra một người thường, sung sướng y như người khác. Bắt tay ai họ không còn nhìn xuống nữa. Thôi, từ đây tha hồ mà thối tiền nhé.

Kinh lấy làm lạ sao người đời thương hại sự thiếu, như là nhường nhịn người cụt tay chẳng hạn, mà không ưa sự dư. Có ông Phán trong sở chỉ vì dư tiền nhiều mà bị anh em ghét. Còn cái thằng cha Quân, thua xiểng liểng, nợ tứ giáng lại được họ thành thật thương xót.

Được sống như người thường ? Ý nghĩ đó cứ trở lại làm anh hớn hở như mới được của quí. Tâm trạng anh là tâm trạng của một người tù mới mãn hạn. Anh nhìn mọi người qua đường tự hào rằng ta đây cũng như ai.

*

Nhưng từ đó, Kinh thấy đời mình thật là nhỏ nhoi, tầm thường như những cái tầm thường khác.

Ở ghi-sê không có lấy một cô gái đẹp nào tỏ vẻ thán phục bàn tay năm ngón của anh hết. Anh cố ý xỉa tiền chầm chậm, và chỉ làm cho người ta bực mình. Cho đến cái cô má lún đồng tiền thường lui tới Bưu điện, cái cô mà nụ cười tinh quái hơn ai hết trước kia, bây giờ hình như cũng quên rằng có một thời anh đã mang một bàn tay khác phàm.

Mà nghĩ cũng phải. Bàn tay của anh chỉ là một bàn tay thường thôi, có gì đâu mà người ta phải chú ý đến ? Và chủ nó chỉ là một anh thơ ký thường như muôn ngàn anh thơ ký thường khác.

Kinh thở dài:

- Được yên thân lại không thú bằng bị quấy rầy !

Anh cảm thấy đã hiểu tầm hạnh phúc. Hạnh phúc của anh là ở những khi ao ước được như người thường, ở những lúc tưởng tượng mình chỉ có năm ngón như ai. Anh triết lý: “Hạnh phúc ở chỗ muốn, chớ không phải ở chỗ được”.

Bỗng anh nhớ ra một điều, thành thật và thấm thía hơn ý tưởng trên: “Bây giờ mình mới biết sợ sự tầm thường !”.


Những câu chuyện ngụ ngôn hay

Con công

Loài chim họp nhau lại bầu ra vua. Con công xòe to cái đuôi của mình và tự đề cử mình làm vua. Tất cả loài chim vì vẻ đẹp của nó đã chọn nó làm vua. Các loài khác bèn nói:

- Anh công này, anh hãy nói cho bọn chúng tôi biết; khi anh lên làm vua, anh sẽ che chở cho chúng tôi khỏi lũ diều hâu như thế nào nếu chúng rợt đuổi chúng tôi?

Công không biết trả lời ra sao, thế là tất cả loài chim suy nghĩ xem liệu công có là ông vua tốt của chúng không? Và chúng không chọn công làm vua nữa, mà chọn đại bàng. .


Cổ Học Tinh Hoa


77. HỌA PHÚC KHÔN LƯỜNG


Một ông lão ở gần cửa ải có con ngựa tự nhiên đi sang nước Hồ mất. Người quen kẻ thuộc đều đến hỏi thăm.
Ông lão nói:
Mất ngựa thế mà phúc cho tôi đấy biết đâu.

Cách mấy tháng con ngựa về lại quyến thêm được một con ngựa hay nữa. Người quen kẻ thuộc đều đến mừng rỡ.
Ông lão nói:
Được ngựa thế mà họa cho tôi biết đâu.

Từ khi được ngựa hay, con ông lão thích cưỡi, chẳng may ngã què chân. Người quen kẻ thuộc đều đến hỏi thăm.
Ông lão nói:
Con què thế mà phúc cho tôi đấy biết đâu.

Cách một năm, có giặc Hồ. Nhà vua bắt lính đi đánh giặc. Quân lính mười người chết đến chín. Chỉ con ông lão, vì què không phải đi lính, mà cha con vẫn có nhau.

Hoài Nam Tử

GIẢI NGHĨA

.Hồ : tức là Hung nô ở phía bắc nước Tàu hay vào nhiễu loạn nước Tàu
Hoài Nam Tử: tên là Lưu An, tôn thất nhà Tây Hán, tức Hoài Nam Vương, làm sách nói về đạo đức.

LỜI BÀN

họa phúc xoay vần, khó lòng biết được. Trong cái phúc thường có cái họa nấp sẵn ở đấy, trong cái họa thường khi lại có cái phúc nấp sẵn ở đây. Cho nên, đối với sự họa phúc, ta không nên vội lấy việc chỉ có một thời mà quyết định cho là hay mãi hay dở mãi được. Ta chỉ nên, khi gặp phúc, thì thao thủ cẩn thận, đừng có kiêu xa phóng túng,may mà giữ được phúc lâu dài, khi gặp họa, thì tu tỉnh lấy thân, đừng có ngã lòng, đừng có oán trách, may mà qua được họa lại gặp phúc chăng.


Chùa Pháp Luân

13913 S. Post Oak Rd
Houston TX 77045
Phone: (713) 433-4364
Fax: (832) 550-2889





Trụ Trì: TT. Giác Đẳng (xem tiểu sử)


Thông Báo:


Thơ Mời Pháp Hội Khánh Đản

Đại lễ Phật Đản năm nay tại chùa Pháp Luân tổ chức vào Pháp Hội Tháng Năm, một trong mười hai pháp hội của Năm Lạc Thành. Chủ đề của Pháp Hội là Bước Chân Đại Từ. Nội dung nói về bảy hình ảnh của Đức Phật trong bốn mươi lăm năm hoằng đạo, qua đó, loài người cảm nhận được sự dung hợp huyền diệu của tình thương và trí tuệ.

Đại lễ tổ chức vào Chủ nhật 20-5-2012. Chương trình khởi sự lúc 10:30 sáng. Sau lễ Trai Tăng là nghi thức cúng dường Đức Như Lai, pháp thoại Bước Chân Đại Từ bằng Việt ngữ và Anh ngữ, lễ mộc dục và kinh cầu nguyện. Sau hết là cơm trưa của đại chúng.

Kính mời quí Phật tử xa gần về chùa tham dự đại lễ để tất cả chúng ta dành trọn tâm tư tưởng nhớ và rước Phật vào lòng nhân mùa Khánh Đản.

Trụ Trì


Tỳ Kheo Giác Đẳng







Nhâm Thìn
2012
NĂM LẠC THÀNH CHÙA PHÁP LUÂN

Năm 2011 Chùa Pháp Luân hoàn tất công trình trùng tu. Năm 2012 tổ chức Lạc Thành. Không phải tổ chức trong một thời điểm mà trọn năm 2012 với 12 pháp hội.


Pháp Hội Tháng Giêng: TƯ LƯƠNG KHỞI HÀNH
Chủ Nhật 22 -1 đến Thứ Tư 25-1

Nguyên Đán là khởi đầu của tân niên. Nội dụng của pháp hội là giới thiệu những lời Phật dạy thiết yếu cho hành trình của đời sống. Những bài pháp đầu năm gồm ba đề tài: Biết Nhìn Về Quá Khứ (theo Kinh Thánh Cầu), Sống Với Hiện Tại (theo Kinh Nhất Dạ Hiền), Chuẩn Bị Cho Tương Lai (theo Kinh Kalama).

Pháp Hội Tháng Hai: HUYỀN NGHĨA HOA SEN
Chủ Nhật 26-2-2012 12 giờ trưa

Nội dung nói về những ý nghĩa hoa sen tìm thấy trong Tam Tạng Thánh Điển Phật giáo được thể hiện qua 12 họa phẩm tuyệt đẹp của bốn họa sĩ tài hoa thuộc nền văn minh Lanna. Tổng Vụ Văn Hóa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ và Chùa Pháp Luân phối hợp tổ chức.

Pháp Hội Tháng Ba: NGƯỢC DÒNG THỜI GIAN
Hai tuần lễ từ 2-3 đến 16-3

Hành hương thăm viếng hai quốc gia Phật giáo Miến Điện và Tích Lan. Một quốc gia thịnh hành thiền tứ niệm xứ và A tỳ đàm; một quốc gia đóng vai trò quan yếu trong lịch sử truyền thừa Phật Pháp. Bốn cố đô Phật giáo ghi đậm nét thời hoàng kim của lịch sử Yangon, Pagan, Kandy, Anuradhapura là trọng điểm của chuyến hành hương.

Pháp Hội Tháng Tư: THIỀN QUÁN
23-4 đến 29 -4

Khóa tu thiền quán 7 ngày. Bằng kinh nghiệm của nhiều năm hướng dẫn thiền tứ niệm xứ, Ngài Thiền Sư sẽ giới thiệu về phương pháp huân tu chánh niệm cho những hành giả muốn dành trọn tuần lễ sống tại chùa tu tập. Những thiền sinh sẽ khám pháp tại sao thiền quán chẳng những là tinh hoa của Phật Pháp mà còn có thể ứng dụng đa năng trong đời sống hằng ngày.

Pháp Hội Tháng Năm: BƯỚC CHÂN BẬC ĐẠI TỪ
Chủ Nhật 20-5

Chiêm nghiệm những bước chân kỳ vĩ của Đức Phật nhân mùa Khánh Đản Phật lịch 2556 qua 9 họa phẩm mô tả đấng Thiên Nhơn Chi Đạo Sư. Nghi thức cúng dường sẽ thể hiện bằng sự kết hợp năm truyền thống nghi lễ của Phật Giáo Á Châu.

Pháp Hội Tháng Sáu: HẠT GIỐNG HÒA BÌNH

Thứ Bảy và Chủ Nhật 23, 24-6

“Người Phật tử gieo trồng và trưởng dưỡng tinh thần hòa bình giữa thế giới hận thù bằng cách nào” Đó là nội dung được chia sẽ bởi nhà lãnh đạo Phật Giáo Tây Tạng. Một quốc gia bị ngoại xâm với hơn 120 ngàn dân tị nạn lưu vong khắp nơi trên thế giới, Phật giáo Tây Tạng chẳng những bảo lưu được truyền thống văn hóa đặc thù cho chính mình mà còn tích cực hoằng hóa Phật pháp và xã hội Tây Phương với những thành công đáng kể. Ngoài những bài nói chuyện còn có nhạc lễ và thiết lập mạn đà la.

Pháp Hội Tháng Bảy: TIN HỌC VÀ PHẬT HỌC

Thứ Bảy và Chủ Nhật 21,22 -7

Khoa học kỹ thuật ngày nay cho con người những phương tiện mà cách đây mấy mươi năm không ai có thể tượng tượng. Áp dụng những kỹ thuật đó vào việc học Phật là điều mang lại lợi ích lớn lao. Tổng Vụ Truyền Thông GHPGVNTN-HK phối hợp với chùa Pháp Luân giới thiệu những tận dụng kỹ thuật tin học cho việc đọc kinh sách, thiền tập và nghiên cứu Phật Pháp. Sáu chuyên gia sẽ trình bày những ứng dụng qua ba hệ thống IOS, Android, và Windows.

Pháp Hội Tháng Tám: HIẾU VÀ ĐẠO

Chủ Nhật 26-8

Đại lễ Vu Lan với ba bài thuyết trình về chữ Hiếu theo văn hóa, theo Phật Pháp và theo thực tế cuộc sống hôm nay. Nghi thức cầu thọ cho phụ mẫu hiện tiền và kỳ siêu cho cha mẹ quá vãng được hướng dẫn từng phần một. Chương trình thực hiện bằng hai ngôn ngữ Việt và Anh cho những người nói tiếng Việt cũng như không hiểu tiếng Việt.

Pháp Hội Tháng Chín: TUỔI TRẺ VÀ ĐỜI SỐNG NỘI TÂM

Chủ Nhật 30-9

Tuổi trẻ hôm nay lớn lên với những hấp lực to lớn cuốn phăng khỏi những giá trị truyền thống gia đình. Hơn thế nữa những hướng dẫn về đời sống nội tâm ngày càng ít đi. Thay vào đó là những đam mê kỹ thuật khiến tâm hồn suy nghĩ một cách máy móc. Ba nhà giáo dục: một chuyên về sư phạm, một chuyên về thiền định, một chuyên về gia đình sẽ chủ trì chương trình hội thảo về đời sống tâm tinh của người trẻ hôm nay.

Pháp Hội Tháng Mười: ĐẠO PHẬT VÀ DÂN TỘC

Chủ Nhật 14-10

Dân tộc Việt Nam trãi qua nhiều giai đoạn thăng trầm của chiến tranh và ngoại xâm. Đạo Phật Việt Nam gắn bó mật thiết với dân tộc trong mọi thời đại. Lịch sử đương đại của đất nước và đạo Phật để lại nhiều bài học quan trọng. Văn Phòng II Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tổ chức buổi hội thảo về Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Đức Đệ Tứ Tăng Thống và những viễn kiến về đất nước. Sẽ có lễ cầu nguyện cho những người đã hy sinh để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ.

Pháp Hội Tháng Mười Một: TRUYỀN THỐNG TĂNG GIÀ

Chủ Nhật 25-11

Giáo đoàn Tăng lữ được Đức Phật thiết lập 26 thế kỷ qua là tổ chức tồn tại miên tục lâu đời nhất của nhân loại. Cơ chế tổ chức không giống bất cứ hình thái khác trong xã hội loài người. 2 bài thuyết trình giới thiệu chủ đề trong đại lễ kiết giới Sima chánh điện và lễ Tăng y Kathina là hình ảnh cụ thể của truyền thống tổ chức đặt trên những giá trị thiêng liêng.

Pháp Hội Tháng Mười Hai: HƯỚNG NGUYỆN
Chủ Nhật 16-12

Phật Giáo sẽ đi về đâu trong 50 tới dự trên những bài học lịch sử. Đó là nội dụng được thảo luận bởi 5 học giả Phật Giáo. Năm chủ đề: Sự suy tàn của Phật giáo Ấn Độ, Phật giáo và chế độ thuộc địa, Phật giáo và chế độ cộng sản, Phật giáo và sự phát triển khoa học kỷ thuật, Sự phổ biến của thiền học Phật giáo trong thế kỷ 20.


          Thành Tâm Cầu Nguyện.

Cố Tu Nữ Diệu Từ thân mẫu TT Giác Đẳng mãn phần ngày 8 tháng 8 năm 2010 được về cõi an lạc.

Xem Tiếp.


DVD Hành Hương Ấn Độ tháng 3 năm 2010

Lưu Ý: Tất cả 15 DVD đã được đưa vào trang web

Bấm vào hàng dưới để coi DVD

Mục Lục DVD Hành Hương Ấn Độ


Tin Tức Phật Giáo


TT Giác Đẳng tường trình tin tức Phật Giáo từ chùa Pháp Luân qua rơom Lớp Phật Pháp Buđdhadhamma ngày 1-5-2012

Minh Hạnh chuyển biên

Bản tin thứ nhất:

Chủ Nhật ngày 29-4, Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ đã tổ chức đại lễ Phật Đản chung tại miền Nam California ở chùa Điều Ngự trụ sở của Giáo Hội Văn Phòng II Viện Hoá Đạo. Năm nay đại lễ Phật Đản có một chút tranh luận và chỉ trích từ một số người ở trong cộng đồng địa phương bởi vì đại lễ Phật Đản nhằm cuối tuần, một cuối tuần mà chúng ta gọi là cuối tuần của 30 tháng Tư. Ngày 30 tháng Tư thường là một ngày mà cộng đồng người Việt Nam ở đây tổ chức sinh hoạt gọi là ngày "Quốc hận". Những người chỉ trích họ quan niệm rằng đó là một ngày không thể tổ chức những đại lễ như là tôn giáo hay các đại nhạc hội hay bất cứ sinh hoạt gì có tụ họp ngoài những sinh hoạt có tánh cách là tưởng niệm cho ngày "Quốc hận".

Và về phía văn phòng II Viện Hoá Đạo thì việc tổ chức này không có vấn đề gì gọi là trái chống với ngày lễ 30 tháng Tư:
- Thứ nhất là Giáo Hội vẫn tham dự tất cả những buổi lễ tưởng niệm ở tại miền Nam California.
- Thứ hai là ngay tại trong lễ Phật Đản cũng có phần cầu nguyện cho quê hương, cho dân tộc, cho những người đã nằm xuống.

Một số vị trong ban tổ chức thì trả lời lý do tại sao đại lễ Phật Đản chung của giáo hội tổ chức ở trong tuần lễ vừa qua. Vì lý do là trong những tuần lễ tiếp theo sắp tới là tuần lễ của mùa Khánh Đản mùa Vesak tất cả các chùa đều rất là bận rộn và một điều rất là trở ngại cho ban tổ chức đó là mời thỉnh đông đảo Chư Tăng. Đại lễ của Giáo Hội thì thường cần đến sự có mặt đông đảo của Chư Tăng Ni đến từ các chùa nhất là những ngôi chùa của các quốc gia trong các cộng đồng sắc tộc khác, thí dụ như là Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện, Đại Hàn, Nhật Bản .v.v... Nếu mà Giáo Hội tổ chức vào đúng trong mùa Phật Đản đúng ngày rằm như tuần tới chẳng hạn thì thật sự ban tổ chức sẽ không thỉnh được đông đảo số lượng Chư Tăng như đã thỉnh vừa qua.

Tuy vậy về phía những người chỉ trích thì phải nhận rằng họ đã dùng những lời chỉ trích rất nặng nề đầy ác ý. Ở trong lời chỉ trích nặng nề đầy ác ý đó họ thậm chí cáo buộc cả văn phòng II Viện Hóa Đạo Việt Nam Thống Nhất là những người theo cộng sản v.v... Thái độ của những người đó cho thấy rằng có một bộ phận ở trong cộng đồng người Việt Nam dù vô tình hay cố ý nhưng mà họ sẵn sàng có những đánh phá một cách rất là thiếu ý thức.

Điều mà chúng ta có thể nhận thấy rõ ràng là đại lễ vừa qua ở tại chùa Điều Ngự miền Nam California đã có sự tham dự rất đông đảo của đồng bào. Tờ báo người Việt tại miền Nam California đã đăng một bài báo mà qua đó nói rằng số người tham dự đông đảo ngoài sức tưởng tượng, bản thân của chúng tôi dự lễ có những lúc đi lại trong khuôn viên chùa không có chỗ để mà bước thì phải nói rằng số lượng người tham dự đặc biệt rất là đông trong năm nay.

Và trong buổi lễ Khánh Đản, ngoài buổi lễ đánh dấu sự ra đời của Đức Phật thì còn có một phần tổ chức lễ nghi thức đặt viên đá đầu tiên xây dựng chùa Điều Ngự. Theo HT Thích Viên Lý viện chủ chùa Điều Ngự thì chương trình xây cất kéo dài trong hai năm sẽ hoàn tất. Phải nói rằng đây là một nỗ lực rất lớn nhằm xây dựng trụ sở trung ương của Giáo Hội nằm ngay ở trong lòng thủ đô của người Việt Nam tại miền Nam California

2. Bản tin thứ hai:

Ở tại chùa Pháp Luân thì tuần lễ vừa qua có một khóa thiền do Ngài Thiền Sư Kim Triệu giảng dạy. Khóa thiền kéo dài trong bảy ngày và số người tham dự nghỉ lại qua đêm ước chừng 45 người, còn một số người khác đến và đi. Nhưng phải nói rằng lần đầu tiên tổ chức một khóa thiền dài ngày với tiện nghi ở chùa có thể được xem là khả quan. Và cuối tuần vừa qua. mặc dầu cá nhân chúng tôi là vị trụ trì chùa nhưng không có mặt ở chùa nhưng tại chùa cũng tổ chức một buổi lễ mà qua đó Ngài Thiền Sư Kim Triệu đã chính thức có một nghi lễ trồng những cây kiểng trước chánh điện như là một biểu tượng của lễ Lạc Thành và Ngài cũng có một pháp thoại cho đại chúng nhân lễ Lạc Thành nhân Pháp Hội Thiền Quán vào ngày Chủ Nhật vừa qua.

Như vậy pháp hội tháng Giêng, tháng Hai, tháng Ba, tháng Tư đã hoàn mãn và bây giờ thì chùa sẽ tổ chức pháp hội tháng Năm trong năm lễ Lạc Thành đó là Pháp Hội Theo Chân Từ Phụ, pháp hội này được tổ chức vào ngày 20 tháng 5. Pháp Hội tháng Năm được tổ chức đúng vào ngày đại lễ Phật Đản nhằm tạo một cơ duyên cho những người Phật tử đến tham dự có dịp ôn nhắc và chiêm nghiệm về cuộc đời của Đức Phật qua chín giai thoại mà mỗi một giai thoại cho chúng ta thấy một hình ảnh khác nhau về cuộc đời của Đức Phật và con đường hoằng pháp độ sanh của Ngài. Pháp Hội Tháng Năm sẽ là một pháp hội tổ chức nhân mùa Khánh Đản mừng sự ra đời của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni.

Cũng nên nhắc về Pháp Hội Tháng Sáu sẽ là một pháp hội nói về những cộng hưởng những chia sẻ và những ảnh hưởng tương tác qua lại giữa các quốc gia Phật Giáo nhất là Phật Giáo Tây Tạng, Phật Giáo Miến Điện, Phật Giáo Tích Lan, những quốc gia Phật Giáo trải qua những cơn khổ nạn nội chiến do chế độ độc tài đảng trị hoặc là nạn ngoại xâm để từ đó chúng ta phải nhìn lại đất nước Việt Nam. Đó là đề tài cho Pháp Hội Tháng Sáu

Pháp Hội Tháng Bảy sẽ do Tổng Vụ Truyền Thông của Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ cùng với chùa Pháp Luân tổ chức, đề tài là sự ứng dụng kỹ thuật tin học vào Phật học. Nói một cách khác là qua những phương tiện mà chúng ta có ngày nay từ internet điện toán, máy điện thoại, máy vi tính v.v... Những điều đó có thể được tận dụng để giúp cho người nghiên cứu Phật học như thế nào. Đó là nội dung của Pháp Hội Tháng Bảy.

Bản tin thứ Ba:

Mùa Vesak hay là mùa Khánh Đản đã trở về với người con Phật khắp năm châu kể từ tuần lễ vừa qua, đó đây thì người ta nhìn thấy rất nhiều nỗ lực long trọng cử hành sự ra đời của Đức Phật. Nếu nhìn lại hơn 2600 năm từ khi Đức Thế Tôn ra đời cho đến hôm nay thì phải nhận rằng mỗi một mùa Khánh Đản thì chúng ta có một nhận thức khác nhau khi cảm nhận sự ra đời của Đức Phật, sự thành đạo của Ngài, và sự hoàn tất con đường hoằng đạo của Ngài khi Ngài viên tịch Niết-bàn.

Những gì Ngài để lại cho nhân loại ngày hôm nay quả thật là lớn. Ngày hôm nay chúng ta biết là kho tàng kinh điển của Đạo Phật là kho tàng kinh điển lớn nhất ở trong tất cả các tôn giáo. Chúng tôi lấy một thí dụ là riêng về bộ Tam Tạng gọi là Chánh Tạng của Pali Tạng thì người ta ướt chừng là dầy gấp 11 lần bộ kinh thánh Cựu Ước và Tân Ước, chúng ta chỉ nói về lượng thôi, nhưng nói về phẩm thì phải nhận rằng kho tàng kinh điển của đạo Phật đã bao gồm rất nhiều góc cạnh khác nhau nhiều lời giải khác nhau. Ở trên thế giới ngày nay thì có hơn 1 triệu năm trăm ngàn nam nữ tu sĩ Phật giáo những vị cạo đầu xuất gia vào chùa và sự ghi nhận đông đúc là ở tại Miến Điện sau đó là Thái Lan và sau đó mới kể những quốc gia Phật giáo khác.

Chúng ta cũng nói rằng kỷ niệm ngày Khánh Đản Phật lịch 2556 nếu chúng ta nhìn lại ngày hôm nay thì Phật giáo đã thực sự có mặt khắp năm châu riêng ở tại Hoa Kỳ chúng tôi đang có mặt ở miền Nam California sang đây đọc những thơ mời của những ngôi chùa gửi đến như chùa Pháp Vân thì chúng ta thấy rằng không khí tại miền Nam California vào mùa Khánh Đản quả thật rất là đặc biệt. Từ chương trình thiền định của chùa Watt Dhammakaya của Phật Giáo Thái Lan ở thành phố Azusa, California, cho đến văn phòng II Viện Hóa Đạo chùa Điều Ngự ở thành phố Westminster, California cho đến nhiều ngôi chùa khác mà chúng ta thấy mỗi một ngôi chùa đều mong muốn tạo những sinh hoạt và những sinh hoạt đó khiến cho ngày Vesak trở nên có ý nghĩa. Và có lẽ ở mỗi một nơi có một không khí khác nhau, ở tại Hoa Kỳ điều đáng nói nhất nếu một người sống tại Hoa Kỳ và có điều kiện đi lại ở tại Hoa Kỳ thì chúng ta thấy sự sinh hoạt Phật Giáo giữa các quốc gia quả thật đáng hoan hỉ.

Ngày hôm qua thứ Hai, chúng tôi cũng có dịp đến thăm ba ngôi chùa ở tại đây, lý do đến thăm viếng là tại vì muốn thỉnh qúi Ngài các vị Trưởng Lão vị danh Tăng về để chứng minh và tham dự các Pháp Hội của Chùa Pháp Luân. Phải nói rằng ngày hôm qua là một ngày rất là thù thắng bởi vì ba ngôi chùa mà chúng tôi đến thăm viếng thì đều nhận được sự hứa khả sự chấp nhận lời mời của chúng tôi.

Ở trong đó thì, Ngài Milinada là vị Tăng Trưởng của Phật Giáo Tích Lan, Ngài là một trong những vị Tăng mà chúng tôi quen đầu tiên khi chúng tôi đặt chân đến Hoa Kỳ, hiện nay Ngài có nhiều cơ sở ở tại Hoa Kỳ và Ngài được nổi tiếng là một vị giáo thọ là một bậc Thầy rất là kiên nhẫn, Ngài đã dạy được nhiều lớp tăng ni Phật tử tại đây. Ngài đã nhận lời để về chùa Pháp Luân vào cuối tháng Chín và trong tuần lễ này Ngài sẽ tổ chức trọn một tuần cho những người phát tâm tu gieo duyên tức là nam nữ Phật tử muốn phát tâm xuất gia ở tại chùa trong một tuần lễ. Không phải Ngài chỉ trao truyền quy giới cho những vị này xuất gia tạm tu gieo duyên mà Ngài sẽ đích thân để hướng dẫn cho những người này có thể sống đời sống xuất gia trọn một tuần lễ từ ngày 20 cho đến ngày 29 tháng 9 năm 2012 ở tại chùa Pháp Luân trong Pháp Hội chúng ta gọi là "Đạo Phật và Tuổi Trẻ". Tuy rằng Pháp Hội mang tên là "Đạo Phật và Tuổi Trẻ" nhưng mà Pháp Hội này được mở rộng cho tất cả mọi tầng lớp Phật tử muốn xuất gia gieo duyên.

Chúng tôi cũng đến thăm ngôi chùa Miến Điện ngôi chùa này là trung tâm thiền định của Ngài Mahasi mà hiện tại bây giờ là Ngài Pandita được xem như là đệ tử trưởng tràng của Ngài Mahasi đang là vị điều hành nguyên cả hệ thống. Thì Ngài Nyanavaro là vị Thiền Sư của thiền đường này Ngài cũng đặc biệt hứa sang chùa Pháp Luân để hướng dẫn một chương trình tu học hai ngày thứ Bảy và Chủ Nhật. Và điều đặc biệt là khi Ngài đặt chân đến Hoa Kỳ năm 1973 thì Ngài đã mang theo một cây Bồ Đề, cây Bồ Đề đó Ngài thỉnh từ Bồ Đề Đạo Tràng nơi Đức Thế Tôn thành đạo sang Hoa Kỳ. Ngày hôm nay thì cội Bồ Đề đã lớn và Ngài đã chiết ra nhiều cây và Ngài sẽ mang một cây Bồ Đề sang chùa Pháp Luân đây là một cội Bồ Đề lấy gốc từ Bồ Đề Đạo Tràng và sự việc Ngài sang dạy khóa thiền và mang theo cội Bồ Đề để cúng cho chùa nhân một pháp hội quả thật là một điểm đặc biệt rất là hoan hỉ rất là vui mừng đối với cá nhân chúng tôi và tất cả Chư Tăng Phật tử ở tại chùa.

Chúng tôi cũng đến thăm một ngôi chùa Phật Giáo Thái Lan ở gần Riverside vị trụ trì của chùa là TT. Nekkhamarato. TT. Nekkhamarato là một nhà sư Thái có thể nói rằng đặc biệt được đào tạo trong cả hai truyền thống văn hóa rất nổi bậc của Ngài Pannawuntha một vị cao tăng của Thái Lan, và cũng là vị đã đi học và tốt nghiệp ở Hoa Kỳ ,vị này rất là giỏi về điện toán giỏi về kỹ thuật và đã có những sự thành công rất lớn trong việc mở một chương trình Phật học qua video tại Thái Lan. TT Nekkhamarato sẽ sang chùa Pháp Luân để tham dự chương trình ứng dụng kỹ thuật tin học vào Phật học, TT sẽ mang đến cho đại chúng rất nhiều sự cống hiến mà qua đó chúng ta thấy rằng nếu chúng ta khéo tận dụng những phương tiện khoa học kỹ thuật ngày nay thì sẽ giúp ích rất là nhiều cho công việc nghiên cứu Phật học của mình.

Nói tóm lại là ngày hôm qua là ngày thứ Hai là một ngày mà chúng tôi đi thăm viếng các ngôi chùa và nhận được rất là nhiều kết quả thù thắng về việc hứa khả của Chư Tôn Đức cũng như sự thăm viếng của các Ngài, chúng tôi xem rằng đó là một ngày rất đẹp trời ở tại miền Nam California ./.


Học giả Phật giáo muốn nhà khoa học phải suy nghĩ lại lời tuyên bố về thiền .

by Catherine Armitage, Sydney Morening Herald, April 10, 2012
Nguyễn Văn Hoà Việt dịch

 

 

 

 

 

 

 

Sydney, Australia - Những nghiên cứu khoa học có mục đích chứng minh việc hành thiền theo phương pháp Phật giáo cổ xưa dẫn đến những thay đổi có lợi ích lâu dài cho trí não đã dựa trên các nền tảng vụng về, cơ quan thẩm quyền Phật giáo thế giới đã cảnh báo.

Trong một cuộc thảo luận ý tưởng mới đây tại Sydney, giáo sư Bernard Faure, một giáo sư thỉnh giảng về nghiên cứu Phật giáo tại viện đại học Sydney, đã nói rằng sự hiểu biết về tác động của hành thiền đối với não bộ thật là quá ít ỏi, và sự giải thích về những kết quả nghiên cứu đã có “rất nhiều mơ tưởng.”

Những nghiên cứu về thần kinh não bộ từ năm 2004 đã cho rằng tâm trí của những người thiền theo phương pháp Phật giáo được ổn định hơn, có khả năng nhẩn nại hơn và phần não bộ liên qua đến sức khỏe có mức độ hoạt động cao hơn.

Việc xác định giá trị hổ tương giữa Phật giáo Tây Tạng và khoa học tâm linh đã tiêu hao một số kinh phí lớn lao cho cả hai phía.” Giáo sư Faure nói

Nhưng giáo sư Faure, chủ tịch KAO của tôn giáo Nhật tại Đại học Columbia, Hoa Kỳ, đã nói sự mong muốn có kết quả nhanh chóng đã ngăn chận được những lời công kích nặng nề.” Ông nói một điều cần lưu ý là việc xử dụng nhiệt kế trực tràng (trực tràng = hậu môn) và dùng điện cực trên cơ thể có khả năng làm gián đoạn sự tập trung tư tưởng của người hành thiền trong những cuộc thí nghiệm

Hơn nữa tầm vóc của việc nghiên cứu lại hạn hẹp khó tin tưởng, và mặc dù có thể có sự liên hệ tới kết quả của nguồn gốc đặc biệt về văn hóa và kết quả của ý nghĩa của trạng thái tinh thần được nghiên cứu, các khoa học gia chuyên về thần kinh đã không nổ lực tìm hiểu những kết quả này.

Chủ tịch hội đồng Phật giáo của tiểu bang NSW (Úc) ông Brian White, đã nói rằng sự lưu tâm về thiền “nói chung đã gia tăng vì những khía cạnh khoa học của thiền đã được biết đến nhiều hơn.”

Tu nữ Thubten Chokyi, một nữ tu Phật giáo Tây Tạng và cũng là một phối hợp viên chương trình tôn giáo tại viện Vajrayana ở Ashfield, đã nói rằng sự hài hòa trong tâm cũng như giảm thiểu về áp lực và lo lắng là những sản phẩm phụ của việc hành thiền, chúng đều mang đến lợi lạc dù thiền định có được thực hành theo ý nghĩa tôn giáo hay không. “ Cả hai đều có vị thế của nó,” Bà nói.

Giám Đốc trung tâm thiền Sydney, Ông Kevin Hume, người đứng đầu các lớp thiền dành cho “những chuyên gia trí thức” đã nói rằng trong khi các thiền sinh đều đã biết đến những nghiên cứu khoa học về ích lợi của thiền, nhưng cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu mới thật sự làm số lượng thiền sinh gia tăng thật đáng kể.” .


Bấm vào đây để xem Tin Tức Phật Giáo Lưu Trữ


 
Free Hit Counters
Powered by technology.