Tác Giả: SCK
Đại mộng thùy tiên giác
Bi`nh sinh ngã
tự tri
(Mộng lớn,
ai tỉnh mộng?
đời
ta, ta biết ta- Khổng Minh)
( Một chuyến
vượt biên tìm Thầy học Đạo)
Trọn đời, anh tha hồ lùng sục cái
được gọi là tình thương. Chúa có
dặn trong Thánh Kinh rằng : Con hãy tìm,
sẽ thấy. Con hãy gõ, cửa sẽ mở. Năm 1982, anh bỏ trường nội trú
về nhà, chịu cha mẹ rầy la để ngao du
phố phường như một kẻ vô gia cư đi
tìm thiên đàng.
Học để làm gì ?
Khi đã trưởng thành, đã lành nghề,
đời đã dầy dạn, dạn với thử thách
và dầy với tuổi tác, kinh nghiệm. Rồi cái chết, rồi bỏ lại tất
cả. Của cải, địa vị, vợ
đẹp con ngoan, hay vợ ngang con dại ... những gì
có được và không có được, còn nằm trong
mơ - mơ ước thuộc tâm linh hay vật chất,
cao cả hay phàm tục tầm phào. Cái gì
được đem theo? nếu
có kiếp sống khác ... Học để làm gì ? làm để làm gì ? Không có kiếp khác thì
đời càng đáng chán! lấy gì
hẹn nhau trong kiếp lai sinh. Các điểm
du lịch, rạp hát, tiệm cà phê, thể thao ... tất
cả tất, chẳng có gì khuây khỏa khắc khoải,
nỗi buồn kỳ bí và cụ non trong anh.
Ầm ! Cửa
sẽ mở đã mở, sẽ thấy đã
được thấy. Anh bước
chân vào cửa thiền, đầu năm 1983. Hai con
mắt thao láo, ngơ ngác. Sau một thời gian đê mê
trong niềm vui trăng mật với lý giải tìm
được trong đời, anh mơn
trớn giáo lý và mơn man ý thức hệ được
các thầy và huynh đệ hun đúc, căn bản và chín
chắn, đạt lấy phần nào điều mà trong
kinh gọi là Pháp dục. Với tình thầy trò và huynh
đệ, có giải tỏa tương đối
để an ủi kẻ đói cơm huyết cảm, anh
vẫn muốn xa rời tất cả, viễn ly theo ý riêng. Buổi đầu, nhiệt huyết nồng nàn
được đắm chìm trong chiều hướng
giải thoát, anh không còn lùng sục tình thương mà
muốn truy gom kiến giải, nhu cầu tầm học
càng lúc càng giãn rộng, không thỏa mãn và kiếm chuyện.
Anh lại mang bầu máu nóng hổi vừa
nông nổi vừa có phần ngông của tuổi trẻ
trước muôn vẻ đẹp và chân thiện thâm sâu
trong giáo lý mà nhiều người đeo đuổi nghiên
cứu và nhiều người đua đòi nghiên cứu.
Sau hai năm dịch kinh,
anh ra đi.
Mong rằng cũng là mười năm, nhưng ở
những xứ sở tự do anh được học
hành giáo điển sâu rộng hơn ở quê nhà, đây là
suy nghĩ và quyết định của anh vào năm 1985.
Khi mà ở đất mẹ, các vị cao tăng đã
lần lượt xác nhận định luật Vô
thường trường tồn bất di bất dịch
của nhà Phật. Các vị thở ra, không chịu thở
vào và làm cho nhân tài của Phật Giáo Việt Nam cũng
chỉ có ra! Các vị tuần tự sống với sự
chết, một số lại đang sống bất động
như đã đi rồi và dường như tre tàn
măng lụi Về thăm
cha mẹ và gia đình, nghĩ là lần cuối
trước khi đi, anh thật buồn và giấu kín
dự toán ẩu tả mà anh sắp liều lĩnh. Không ai
hay gì cả, mây vẫn lặng trôi, gió thoảng nhẹ.
Trời về chiều thật u ám,
một vài tia sáng hấp hối vất
vưởng trong không gian. Hoàng hôn như cái
đầu anh, vừa lấp lánh dự tính, vừa
quẩn bách phương tiện tiến hành. Bỏ
bớt những đám mây xam xám cho nhẹ, chỉ mang theo những gì cần thiết, loay hoay không
biết sao, anh đành tới thầy mượn ít
tiền lộ phí.
Đảnh lễ Thầy thật cung
kính đến mức bất thường, làm thầy anh
bỗng linh cảm thương anh mà không hiểu do lẽ
gì. Anh đoán qua ánh mắt, và vì lúc này chỉ có lý
tưởng trong trái tim buồn khổ
tự chịu đựng đúng nghĩa tu sĩ thôi. Cô
đơn đến gục mặt. Những câu thơ
của con chiên Tạ Ký chợt thấm đượm hồn
anh vô cùng.
... Tôi
muốn chạy nhưng đường lại nghẽn
lối
Chúa thì cao , Phật
vun vút tầng không
Phật tại tâm nhưng tâm lại
bồng bềnh
Tiếng chuông Chùa không ru
hồn kẻ khổ
Chính vì
tầm đạo, tầm tự do mà anh phải bỏ
xứ, gian nan, để khi quay
đầu lại thì quên cả lối về,
đường quen nghẽn lối cho việc tái lập
quá khứ, sống một đời tu tập lý
tưởng y như xưa. Tiếc cho anh, đồng
hồ chẳng bao giờ quay ngược !
Không
biết tiếng Campuchia, tiếng Thái Lan
vẫn chỉ bập bẹ. Không một
người quen làm trạm dừng nghỉ ở
đất người. Và nếu có một
hướng đạo, họ sẽ bỏ mặc anh cho
ma quỷ dẫn đi đâu cho khuất mắt vì anh
thiếu cả xu đi xe nữa ...Tóm lại, những
chữ không trên
là thật và chỉ có sự tin tưởng mơ hồ
vào phước đã tạo dẫn bước cho anh,
khoảng mười chín cái xuân son, còn quá ngây thơ
đến khờ khạo để phòng bị mọi tình
huống trong chuyến viễn du có phần nguy hiểm
cả tính mạng này.
Mây vẫn lặng trôi ,
gió thoảng nhẹ. Và trời đất và
mọi thứ quái quỷ trong vũ trụ vẫn vận
hành tự nhiên, dường như anh chẳng có ký và
quyết định của anh không giúp cho mưa rơi
được vậy.
Đừng trách vạn
vật vô tình, người cũng thế thôi. Anh là cái gì
mới được chớ. Anh là gì?
Tôi là gì? Trọn đời, ai cũng có
thể tự hỏi như vậy và cũng có thể
hỏi thêm tại sao không có câu giải tỏa. Pourquoi?
Đón xe về Tân Châu, với lá y vàng
thật nổi bật trong thiên hạ phố phường , lại mang tâm trạng lén lút
của kẻ phạm pháp-vượt biên, anh dè dặt
hỏi đường đi và tự nghĩ tại sao
loài thú có tự do hơn.
Đêm đến, trên đường
đi Hố - Lươn, hồi tưởng lan man những cảnh đời đã
lăn, anh nhớ chùa thật da diết, nhớ huynh
đệ chung sống vô cùng. Không hiểu sao
những anh em đồng cam cộng khổ mà khổ
nhiều hơn cam ấy lại in trí anh sâu đậm
hơn cả anh em ruột thịt vậy. Thầy
lại luôn nổi bật trong nỗi nhớ thương đêm trường ấy.
Họ là những tuổi trẻ rời bỏ mái ấm
gia đình để đến với mái đại gia
đình tôn giáo đôi khi dột lổ chổ như mái Cô -
nhi viện vậy, để làm gì ?
Tôi (tác
giả) không muốn nói đến những ý giống
như thuyết giáo (moral) mà có muốn cũng khó đạt , vì niềm vui anh và họ tìm
thấy thật đa dạng và lớn lao tới mức
chấp nhận gắn cả đời hay một
đoạn vào cửa Từ. Niềm an lạc hơn
đời ấy, tôi không thể ngạo mạn nói ra cho
đủ, lạc đề truyện mất và chưa
chắc như ý hay ý sự thật .
Thấm đậm
những buồn nhớ, anh để yên cho nó trôi qua
Campuchia. Lên xe đò vào Phômpênh, anh chợt thấy
nhiều người chú ý đến anh một cách kỳ
lạ.
Anh không rõ những thói quen ở một
xứ Phật - Giáo . Đó cũng là
nguyên nhân anh sách động mấy lục Khmer đi cùng
trong chuyến thứ ba và thứ tư.
Anh ngồi dùng bánh mì ở băng ghế gần cuối,
với tâm trạng phạm pháp, càng tránh mặt thiên hạ
được càng tốt. Nhưng tại Campuchia, Sư sãi luôn
được mời ngồi hàng ghế đầu ưu
tiên và có ăn thì nên ghé tiệm, dân sẽ cúng dường
bàn riêng. Anh lạ, sợ, họ ngạc nhiên.
2) Lúc
bấy giờ, một vị lục khmer
từ Miền Tây Việt Nam qua, khoảng bốn năm
mươi tuổi cũng là quá trẻ huống hồ anh
chưa đầy hai mươi. Nạn diệt chủng
Pôn - Pốt đã làm Chư Tăng Campuchia chỉ còn
những sư cụ ngũ
tuần trở lên. Số chết, số ra
đời, số vượt biên ... hao tán hết rồi.
Vì tình hình
chính trị chưa ổn định, nên khi anh đến
Phnômpênh, anh phải đến mệt mỏi, lê chân
viếng nhiều chùa xin nghỉ lại qua đêm và
đều được chỉ đến chùa trung
ương Unaloma của Vua sãi. Không ai dám
nhận chứa khách lạ một đêm cả, dù anh
đủ mọi thứ giấy tờ, trừ passport.
........Đến Unaloma, một ngôi chùa
to lớn, đồ sộ, khang trang, sạch sẽ, và anh
cũng vừa sạch sẽ tiền xe.
Cho tới bây giờ, anh cũng không biết thủ giữ
tiền trong tay hay trong túi và nó
được anh xem như một phương tiện
giấy thôi. Tiền hết lúc ấy cũng chưa làm anh
băn khoăn chùn bước, không phải là mối quan
tâm chủ yếu như
số đông người trong tình thế ấy, hình
như anh ỷ lại quá nhiều vào hình thức anh
đang khoác: Ông sư tu hành làm gì có tiền, quá giang! còn ăn uống ... ?
Sau khi hỏi qua giấy tờ và nói
những lời thăm hỏi căn bản
được thông dịch, vị sư già đãi anh
một bình trà và một dĩa đường hắt
hiu. Sư cụ
ốm quá, như cái nền kinh tế mối mọt
của quê hương ông vậy, da nhăn từng lớp
thời gian như hoa văn trên tường chùa và đen
cái màu giữa xám, nâu và đen thật. Toát lên
đức độ của một tu sĩ thâm niên, vẻ
mệt mỏi của cổ thụ cao niên, ánh mắt
cụ khi sáng khi hững hờ trãi qua chiến tranh trên
đất nước Let it go này. Quyền
ở anh, anh sẽ cho lấy mẫu người sư
cụ, dựng biểu tượng cho mọi thứ
ở đây. Campuchia 1985.
Trời sụp tối, có đói anh
cũng không màng dĩa đường được phép
dùng vào buổi chiều đó, anh gục ngã trên
giường và đánh một giấc ngon lành tận sáng,
không lo nghĩ đến chuyện lớn đang làm,
chuyện gì đến sẽ đến! Nhắm
mắt lại, anh trút bỏ mọi triết lý trong
đầu, mọi kế hoạch, mọi giải pháp
vượt trở ngại trên đường, mọi
dự toán và tất cả, mọi thứ nhỏ nhặt
hay cao xa, cao cả khác. Lúc này, ngủ có
giá trị nhất. Công an có lỡ bước thì anh
cũng sẽ xin họ vui lòng khoan hồng, ngồi chờ
anh ngủ dậy, thư giãn cái mệt
rã rời, rã ruột đã.
Mở mắt ra, anh vội
xin đi. Anh
luôn ngại dừng chân lâu trên bước đường
, thấp thỏm và nóng lòng muốn thấy kết
quả chuyến đi, sợ công an Campuchia thức dậy
trước anh hay sao đó! Người chùa có mời
ở lại chan bo-bo, dùng cháo điểm tâm, nhưng
bộ tiêu hóa đồng ý với thần kinh chịu
thắt lưng buộc thực quản, nhanh chân trong
cuộc trốn chạy trước đi, chấp
nhận thương đau thì
đừng hỏi tại sao.
Dũng cảm từ chối, anh cám
ơn và hỏi đường ra bến xe
đi Battambang, vùng biên giới Campuchia - Thailand mà có lần
anh nghe một người kể lại anh ta đã
đến như thế nào.
Các phương tiện nhỏ như xe ôm, cyclo, toyota ... có khi lấy tiền xe
của sư sãi, còn các loại xe đò, xe vận tải
lớn ...thường thì không. Do không biết tiếng
họ, hiểu ý được mời lên cabin nhưng anh
mừng rỡ leo lên thùng sau xe tải. Bên
tai anh, đã im lìm tịch lặng, không
còn bị quấy nhiễu bởi những ngữ nghĩa
thô tục của ngôn ngữ cãi vả và cả những ý
nghĩa kính nhường của tôn giáo.
Trên đường, dân chúng chú ý
đến anh một cách kỳ lạ, dù anh đã cố
gắng tu theo kiểu Miên, cạo bỏ
luôn chân mày ngay đêm biên giới. Lầu
đầu cạo, hai nền lông trắng xanh viền trên
mắt làm con người thấy sao có kẻ mắt
ếch xuất hiện trên trần và con ếch thấy sao
có kẻ lại giống người đến thế.
Gần giờ ngọ, có
khi hành khách Phật tử dâng cơm, có hôm là bánh, có hôm
họ quên.
Trễ giờ ngọ thì dâng nước ngọt hay quên
hẳn luôn hay cố tình quên. Dân còn nghèo quá mà.
Giàu thiện tâm.
Anh được thấy 80% dân Campuchia
là phật tử, 20% còn lại hầu hết cũng là con
Phật. Họ có ra dấu cho anh cất giữ bánh,
nhưng anh chỉ dùng vừa đủ, đúng theo
giới luật, rồi trao lại họ, không nghĩ
đến chuyện dự trữ thường tình, thánh thiện dễ sợ! Và những tâm thiện của dân chúng làm anh xúc
động vô cùng, nhất là những giây phút gần
giờ ngọ.
Tới Battambang, thế giới còn
lại trên mười ngón tay mô tả ra
hiệu. Người Việt ở đây ít
hơn ở thủ đô, trừ quân đội.
Người Campuchia thật hiền lành, chân chất và khi
đêm đến thì chính họ cũng không biết ai là Khmer Đỏ.
Nhờ lý do tôn giáo, trên đường
anh không bị hỏi giấy tờ hay bị xét vật
dụng như dự đoán, ngay cả ở biên giới
Việt Nam. Với bộ đội biên phòng Việt,
nhờ anh đi trúng chuyến tàu biết cách tránh trạm,
hướng dẫn cho khách đi đường vòng trên bộ .
Trong việc lót tay,
người Campuchia không cần văn vẻ vòng vo, họ
ra giá cho mỗi người vào đất nước
họ một cách thẳng thắn và rõ ràng, như ta mua vé
vào rạp vậy. Đất nước này
đang hỗn loạn quá. Anh đã
tận mắt chứng kiến sự mặc cả
xuất nhập khẩu giữa lính biên phòng Campuchia và khách
từ Việt Nam, cả dân Khmer Nam bộ. Xét hỏi
qua loa, thương lượng lộ thiên giữa
đồng cỏ với phong cảnh dành cho văn nhân thi
sĩ, họ
đã soạn thảo quy ước xuất nhập
cảnh có vẻ đơn giản nhất thế
giới.
- Bon - mal? ( Bao nhiêu/ 1 người )
-
Ha
sấp! ( Năm mươi/ tiền Ria )
-
Gọn. Rõ ràng. Dứt
khoát. Dù anh có tự giác trình giấy tùy thân và
đưa hành lý cho khám nhưng họ sợ hãi, xua tay, không dám đụng tới, dù chỉ
để xem thôi. Họ xem anh như là không
xem, vô hình, người thuộc về bàn thờ. Bạn với thẻ nhang và ngoài tầm lý
luận thường dân.
Có đôi chút hãnh diện
tầm phào nổi lên trong anh với dân Việt cùng đi. Họ có ánh
mắt và thái độ khác, giúp anh lẻ loi hơn.
Anh mua sự cách biệt với đồng hương
bằng 50 Ria vì dân Campuchia không bán lòng
mộ đạo quá rẻ và không bán, lúc ấy.
Chính vì vậy nên khi đến một
ngã ba quân sự gần biên giới Thái Lan, lính trạm kiểm soát
bất đắc dĩ đành chắp tay cung kính xin
được khảo sát giấy tờ. Anh
chỉ có giấy tu sĩ và chứng minh nhân dân dán hình tu
sĩ là chính, đáng tin. Họ hỏi thăm khá
nhiều, nhưng anh không hiểu họ đang tụng kinh
gì và khi anh trả lời cho họ không hiểu như anh,
anh được coi như hợp pháp vì lòng thành của
cửu huyền thất tổ, ông bà tổ tiên họ
để lại và chính họ nữa.
Dân tộc họ có phong
tục tốt đẹp là Tu gieo duyên báo hiếu bảy
ngày, ba tháng hay ba năm cho mỗi thanh thiếu niên. Sau đó, tu
luôn càng tốt. Một điều nhất
định là trưởng nam thường phải
đắp y tu báo hiếu bảy ngày hay ba tháng sau khi cha
chết, rồi hoàn tục cũng được. Rồi
bon chen gọi là góp mặt trong cộng đồng xã
hội. Tả tơi, bầm dập, vì miếng cơm manh
áo để xây dựng đất nước!
Thành phần tu lâu, có khi trên hai ba
mươi năm, giỏi Pháp Luật nhà Phật, có
thể làm bậc thầy a-cha (acàriya): là gạch nối
trung gian giữa tín đồ và tăng lữ, có khi dạy
giáo lý cho mấy vị tân sư, nhất là ở thời
hao tán tăng tài vì quốc nạn diệt chủng Pôn
Pốt. Họ làm hàng rào đức tin vững chắc cho
nền chùa, xung quanh chùa (nguyên văn Campuchia: tín đồ
chân chùa). Và có cả những cao tăng ngày xưa giờ
đang đứng giữ cái hàng rào Campuchia-Thailand ở
trước mặt anh.
Nếu chọn hai rể cùng
điểm cầm-kỳ-thi-họa hay công-ngôn-dung-hạnh
hay giàu nghèo như nhau, má Campuchia sẽ chọn anh rể
đã có xuất gia, tức là chọn chữ Đức, dù
có ít hơn anh kia một vài điểm trong tám chữ vàng
trên (1985). Lớp bình dân Nam bộ Việt Nam hiểu
lầm: Người Miên có đi tu mới cưới
được vợ!.
Đó chỉ là tiêu
chuẩn quan trọng của đàng Vu Quy, cưới
vợ không phải là mục đích của đời tu
hành khắc khổ. Dù ở tôn giáo nào, đất nước
nào, hiền thê tương lai của họ đều còn
sống và không có mặt trên bàn thờ, nơi đặt
mục đích cho người tu nương gá, nguyện
cầu, cho nên cái chuyện tu hành dưới ngôn luận
nông dân quả là hấp dẫn.
Được tự do du hành trên vùng
biên giới Thái, anh thấy phong tục tốt đẹp
của họ đẹp hơn bao giờ hết. Anh lại thất thiểu bộ hành dưới
nắng chói chang và chính mình cũng không hiểu đang
đi về đâu. Không hướng
đạo, đi quàng xiên như thằng khùng. Là nhà sư nên không thể ngồi nghỉ mát
bất cứ nơi nào như thường dân
được. Vài người hỏi thăm
nhưng những câu đơn giản nhất anh vẫn
không hiểu, lòng cứ phó mặc Chư thiên phù hộ
người tu tìm đạo.
Đến lúc anh có thể hiểu
được tiếng người thì đó là lời
Việt của vài anh bộ đội đóng quân gần
đó, đi cùng xe lôi và vô tình ghi một đoạn vào
hồi ký của anh, bằng lời mời anh vào
đồn nghỉ. Thật là nản!
Họ muốn cho anh so sánh
phong tục tốt đẹp giữa hai dân tộc?
Không dám đâu. Sếp
anh ta lại hỏi đến những lá bùa tùy thân không
mấy hiệu nghiệm của anh. Đang gay gắt
với mớ giấy lộn và người lộn đó,
sếp bỗng dịu giọng ...nhờ anh đang trả
lời, chợt xuống giọng, có lẽ do quá mệt
trên con đường vô định, tự do tìm tự do.
Giây phút đổi giọng đó mang âm sắc tình cảm
làm sĩ quan chạnh lòng nhớ cố hương
, thương đồng hương là cái thằng
tôi trong anh chăng ?
Anh cố tình trả
lời ngớ ngẩn và không đâu vào đâu như
một trẻ đi lạc. Vẻ măng sữa không pha chút cà phê trên nét mặt ở lứa
tuổi trăng méo đó gợi tình thương của
tập thể đang vây quanh và tập bắn vào anh
bằng quá nhiều câu hỏi không nên dành cho kẻ quá
mệt. Tình cảm của đám đông
thường tùy thuộc vào người trong đối
thoại. Sếp dịu giọng thì lính trở nên thân
tình trong thẩm vấn!
Họ muốn đãi cơm nhưng anh
không có can đảm ngồi lâu, ăn
của người có khả năng giam giữ. Anh chỉ nhấm nước để có cớ
giấu sự lúng túng của kẻ phạm pháp và có
thời gian nghĩ ra cách thức giao tiếp với
những khối tình đối diện, cách thức từ
giã êm đẹp nhất. Có sức liều, đói ráng
chịu. Giao tiếp là để bắt tay
sa-mắc-gi (sàmaggì: friendship), nhưng với anh là
để chia tay cho sớm. Họ hỏi anh có muốn
ở lại, họ giúp cho vào ở chùa Campuchia tại
đó nhưng anh từ chối vì trước thất bại,
anh còn mong gì hơn hồi hương.
Hay sĩ quan đó muốn thử anh? có trời biết, tình cảm và lý trí khác nhau
ra sao. Dù gì sếp cũng tha cho anh, anh bỗng nhớ quê nhà
kinh khủng , trong cô đơn và
nắng gắt trơ trọi. Khi anh hỏi
đường, một ông thợ hớt tóc bên hè tự
nhận biết tiếng Việt, trả lời chậm
rãi theo tay chỉ:
-
Đường-này-đi-Xiêm! ...
Xiêm là Thái Lan (Siam)? Anh
mừng rỡ, không dè vận may đến tình cờ và
trắng trợn chốn đông người như
vậy.
.....Nhưng ông trời Miên đâu có
hiểu cho anh là ai mà giúp đột xuất như vậy
trong ván bài một chín, chín bù của anh. Nên sau khoảnh
khắc, ông thợ già bỗng làm anh cụt hứng trong câu
lập lại được suy nghĩ, cân nhắc
từng từ Việt ngữ, nói ra thật khó khăn
như đàn bà đẻ vậy :
-
Đường
- này - đi - Xiêm ...Rệp !
-
Đời anh, anh thấy chữ
rệp dư đến thế là cùng.
Dù sao cũng xin cám ơn ông già tốt bụng , đã ban cho anh một cơn
mừng hụt giữa biển sầu chói chang và chỉ ra
con đường cho anh đi ngược lại!
Ra bến xe, xin quá
giang mấy chuyến cuối về Thủ Đô không
được, cũng có lúc họ không pha trộn
đức tin vào chuyện tiền xe nên anh đành nghỉ
lại. Anh ghé một nhà dân thuận lợi
gần đó, có người để ý, anh ra dấu xin
nghỉ nhờ một đêm. Họ sẵn lòng và
sẵn sàng mọi thứ cho giấc điệp của
một cái xác thấy mà thương. Xung quanh, xóm giềng
xúm lại chiêm ngưỡng một nhà sư trẻ mà quá
lâu họ mới được gặp, nhìn bằng ánh
mắt của mấy anh nông dân Lục Tỉnh lần
đầu vào Sở Thú Sài Gòn. Vừa thành
kính, là lạ, hiếu kỳ và thưong hại.
Thân anh chỉ còn là cái xác ,
chính anh cũng cảm thấy tội nghiệp và thương
nó nữa! Đói quá. Mỗi ngày chỉ
được phép dùng một bữa cơm chính
trước giờ ngọ và nhiều giờ ngọ linh
thiêng đã trôi qua trong cô đơn lạnh nhạt và
lạt lưỡi nhà sư. Chiều tối rồi,
họ đâu thể có sáng kiến bù đắp bình xăng
cho chuyến đi của anh, bằng cái gì đó. Sáng
sớm, anh không dám làm phiền họ thêm, Dép đứt, y
rách, tám hôm không tắm giặt và mồ hôi muối xé Cà sa anh! tả tơi.
Lại trễ ngọ, bầu trời
dư dã nhiệt lượng nên nghèo từ tâm khi phả
tới tấp cái nóng vào anh, như phản đối
chuyến quay về nhưng đi tiếp cũng không giúp . Khát đắng họng, lột da môi,
anh đã ngửa tay xin một anh bộ đội Việt
trên xe một Ria để mua bọc trà đá, mà đá thì
coi như không kịp thấy trước khi nó tan, còn
nước chắc mới xách dưới giếng lên pha
vào trà cốt nên có màu của nắng.
Cũng may là anh và nhà hảo tâm bất
chợt đó ngồi băng cuối, đỡ mắc
cỡ với tín đồ Campuchia, đồng tiền Ria
ăn mày đó anh đã nhiều cố gắng nhưng
không quên được. Trở lại
Phnômpênh, rồi Hố Lươn, lên tàu về cố
hương. Đêm ấy,anh
nghỉ trên mũi tàu để tránh chung đụng, và
sương xuống lạnh lùng như muốn vỗ về, xoa dịu một
cách quá đáng vào khổ thân chịu nhiều nắng
lửa từ sáng tới giờ và đã nhiều cái từ
sáng tới giờ.
Anh quyết định sáng mai
trước khi tàu chạy, phải đi liều vào làng
gần đó khất thực bằng bình bát mang theo. Do suốt ngày trên xe và không rõ phong tục
tôn giáo xứ họ, ngoài giáo lý chính còn gì là đặc
sản của Campuchia không, có gì là lệ làng mà không
biết, sợ họ sẽ nghĩ chung về Sư sãi
Việt Nam... về phần tinh thần đó, nếu
sơ hở anh tự nghĩ phải chịu trách nhiệm
với lương tâm, bỗng thấy mình quan trọng nên
đói suốt mấy ngày qua. Bây giờ đói quá lại
nghĩ khác, khất thực đúng theo
luật Đức Phật đã dạy thôi, chắc không
có lệ gì đâu, nếu có thì họ đặt ra họ
giữ luôn đi. Đói quá rồi, chỉ
luật Phật cũng nhiều rồi.
Chợt anh nghe mui tàu bên cạnh
, một chị đi buôn hỏi vọng sang:
-
Thầy
có lạnh không ? đắp
tấm nylon này nè !
-
Vậy là có quý nhân phò hộ rồi . Nhưng anh từ
chối, quen hạn chế tối đa sự nhờ
cậy, e phiền họ. Và do lối giáo dục
kỳ lạ ở một số bà mẹ Việt Nam nên anh
quen từ nhỏ rồi, không thể chấp nhận
thực liền được, biết đâu họ
mời lơi!....trời , họ chưa
mời tiếp theo bài bản mẹ dạy để anh
nhận cho đỡ lạnh, thì đã thoáng nghe một câu
có lẽ trọn đời anh không quên, của đức
ông chồng giành tấm nylon từ tay chị.
Cái lạnh bên ngoài đâu bằng cái
lạnh bên trong!
Vậy là anh ta đã phơi luôn nỗi
lòng cô quạnh của anh rồi, đành phải: -Thôi
được rồi, cám ơn anh chị !
Sáng hôm sau , gởi
vật dụng bên một quán nhỏ ven đường,
anh ôm bình bát đầu đội trời chân đạp
phải phân bò, đi vào làng xin ăn. Sự xuất
hiện của một nhà sư nhi đồng làm xuất
hiện nét hân hoan trong ngắm nhìn của mỗi
người dân xóm nhỏ ấy và người già, thanh
niên, cho đến những em đứng dưới
thắt lưng anh, đều biết dỡ nón chào ông Lục ! khi đi ngang qua.
Họ dâng tiền Ria khá nhiều, nhưng theo luật
không được nhận tiền khi đi khất
thực, nên dù rất cần những hơi thở
giấy ấy , anh đã khí khái từ chối, mong đó là
cách tạo thiện cảm cho họ với chư tăng
Việt Nam sau này.
Một em nhỏ chạy theo
đến tàu, quyết xin đặt cho bằng
được gói bánh của em. Anh từ chối vì
đầy rồi, không phải vì gói bánh đó cũng
ngọt luôn, nhưng em đặt đại lên trên nắp
bát rồi bỏ chạy một cách dễ thương,
với ba tiếng Campuchia trả lời, là ba tiếng anh
học được như là lần đầu tiên, do
đoán nghĩa :
Oït ché Quyệt-Nam ! (không biết tiếng Việt Nam!)
Anh không biết làm sao cho em
hiểu. Em
không hiểu chữ Việt đầy bát rồi con! cũng như em không thể hiểu tâm em
đang đầy thiện như thế nào. Em tốt quá,
tấm lòng em làm xúc cảm anh , giọng
em thật thanh trong và âm vang mãi trong anh. Không hiểu
trước Đức Phật, ai là người sáng
chế ra cái vụ tu hành này. Gác qua một bên tâm tu và
việc xúc phạm niềm tin thiêng liêng của em, phải
chi em lớn gấp đôi tuổi hiện có, anh
cưới em làm vợ cho rồi!
Em không đẹp, đen
nữa, anh không dám chê xấu, nhưng thấy sao mình
khổ quá.
Anh mơ cái giường và thả trôi mọi điều
liên quan đến lý tưởng, mọi triết
thuyết và mọi ước vọng cao xa theo
mây gió. Anh đang ở vị trí thánh thiện
hơn quỷ sứ và quỷ quái với thánh thần.
Nhưng không còn là con người, không
thuộc loại người. Không thuộc cõi trên,
đàng dưới, hay nhân loại, dường như anh
trực thuộc một thế giới khác, một cõi
đầy cấm đoán.
Một bà khách Việt khoảng bốn
mươi tuổi trên tàu, có vẻ đẹp phúc hậu,
đã dâng cho một đĩa cơm và anh ăn thật
ngon lành, như là miếng cơm sau khi dứt sữa
ấu thơ, hay vì vậy mà bà có vẻ đẹp phúc
hậu. Phúc hậu có cho bà không chứ với anh cái hậu
thật đắng cay . Một
ông đại tá quân đội vừa rút lui khỏi bàn
nhậu không hiểu duyên gì lại đi cùng tàu mà
để ý đến bà với ánh mắt nặng mùi
sắc dục. Có lẽ phân bì sự quan
tâm của bà đến một kẻ tu hành ốm đói và
phờ phạc, ông đã ra oai bằng sự hỏi
thăm giấy tờ.
Làm tâm đểm cho mọi ánh
mắt+mệt+đói+khát...những gì ông nói ra pha lẫn chọc ghẹo, hiếp đáp,
hạch sách dây dưa, lè nhè, thật ra đã làm nặng
không khí thêm và anh đã không kềm chế nỗi nữa,
anh đã ngu xuẩn khi buộc miệng: Chú say rồi!
Ông nổi giận ,
hăm dọa bắt anh !
Khi lên bờ, tất cả hàng khách
đã chứng kiến sự việc và phần đông khá
tốt bụng khi thúc anh trốn đi trong lúc mọi
người lên xuống lộn xộn, ông ta không
để ý. Vì y phục tu sĩ, anh chỉ có thể đi
nhanh, không chạy được, cũng không thông minh
trốn tạm vào lùm cây ven bờ nào đó. Trời
tối, rượt theo anh không phải
là chuyện khó và ông đã giao xác anh vào trạm biên phòng
để anh nghỉ lưng tối. Cái mệt mỏi làm
anh thật sự không màng cái gì đang xảy ra! Họ khám
xét trên tinh thần chiếu lệ, cho can phạm ngủ
để chính mình không mất giấc ngủ và sang tay trạm kế đó sáng hôm sau, chuyện
này với họ thường quá rồi. Những thức ăn hôi thiu còn lại trong bát
được anh đổ bỏ như hất hủi
những kỷ niệm máu lệ vất vưỡng
vừa qua.
Điều anh nhớ nhất trong
cuộc hỏi cung là người hỏi càng lớn
tuổi càng có vẻ điềm đạm và có cảm tình
với anh hơn, anh đã cho là tu từ nhỏ nên không rành
luật Nhà Nước!. Ông già ngũ tuần thật hiền lành đã
dạy một điều anh không quên: anh phải biết
lãnh trách nhiệm đã tạo, không nên đổ cho chùa là
nơi dưỡng dạy mình: vì tu từ nhỏ nên ngây
thơ!
Anh ra ngồi ở bóng mát ngoài sân
để xem đá banh, tỉnh bơ
theo dõi như một khán giả không có dính dáng gì với các
cầu thủ quân đội. Họ giam lỏng một
ngày xem anh có dũng cảm trốn không, nhưng anh lại
mong được nghỉ chân như vậy, có cơm
với đậu hủ ăn nữa. Muốn quên hết trần đời.
Chiều, ông già có vẻ
đẹp phúc hậu ra lệnh thả.
Bằng mắt, anh có một chút xíu
luyến tiếc chia tay, rồi cúi
đầu đi nhanh trong y phục xốc xếch
dưới ánh mắt thương hại của ông và vài
anh lính. Ông đại tá bắt anh đã làm cho anh không ưa
bộ quân phục từ khi ông tự khoe giấy tờ
nghĩ là cao cấp của mình, nhưng nếu không có ông
thì đâu biết được còn có những con
người tốt bụng, ông già rất phúc hậu trong
quân đội, đã thả anh.
Thật buồn cười, chỉ vì
lá y mà cho là anh có thể liên can chính trị, làm giao liên, sao anh
không giả dạng thường dân cho trót lọt nhỉ?
Bao nhiêu khách Việt, cả dân Campuchia nữa, trên các con tàu,
chỉ bắt anh, cật vấn, giam lỏng, thả ra,
mừng rỡ, cám ơn, đi như chạy...
Không hiểu sao, đặt chân lên
đất Mẹ, anh cảm thấy vui mừng như trút
được gánh mệt nhọc và như được
lại cái gì đó, hơn cả lúc bỏ quê nhà
vượt biên qua được nước hàng xóm,
nỗi mừng vui lâng lâng vừa nhẹ nhõm vừa có
phần thiêng liêng, được nói lại tiếng
Việt ...chắc anh có cốt yêu nước!
Vừa nhẹ nhõm vừa có phần
thiêng liêng, là khói nhang sám hối đất Mẹ. Anh
muốn vốc một nắm đất lên hôn ghê! để sau có thành danh nhân thì có dã sử.
Chỉ ngại các chúng sinh ngạc nhiên và cho danh nhân
tương lai này không được bình tĩnh theo lối của họ.
Một chị gái thấy anh quá giang xe nên cho tiền. Nhưng lúc ấy, mang tâm
trạng của kẻ bất đắc chí sanh bất
cần, te tua cho tả tơi luôn, anh
từ chối, (lại từ chối nữa!). Ánh mắt chị nặng nề
lòng thương trước một người tu ốm
rách, mặt măng sữa, túi rỗng không, không màng
đến tình thương được thể hiện
và quy ra hiện kim ấy. Chị nắm
y anh kéo lại: chưa ai dâng cúng kiểu này cả, nên anh
không quên kỷ niệm vừa buồn cười vừa
động lòng như vậy. Dùng áp lực cúng dường!
Cám ơn chị! Thầy
quá giang được rồi.
Anh khước từ thật sự,
nhưng chị đã nhờ ông xã nhét tiền vào túi vải
hở mui
của anh. Lại thêm hai người có
vẻ đẹp phúc hậu. Anh
thuộc về cái giới tiếp xúc mọi giới trong
xã hội, mọi tầng lớp và tuổi tác. Anh
đã nhận hương khói từ bao tín thí sang cả
ngất nghểu, nhưng chỉ có những đồng
tiền có dấu ấn như vậy mới dễ
ngất ngây và in tim anh. Không nói thì ai
cũng hiểu anh không thuộc những gì từ chủ nghĩa Marx,
cũng không thành kiến với người giàu hay với
của cải vật chất nhưng anh dễ hòa
đồng, gần gũi và có tình cảm với dân nghèo hơn.
Người nặng túi
cũng có số đông nhiều đức tốt và bình
dân như vậy, nhưng khó mà sống THỰC với
họ được, phải đạo mạo. Tóm lại,
anh muốn quăng bỏ hình thức, rất tôn trọng
giai cấp nón lá, như họ đối với anh.
Họ là những người: con của ba má đông nên là
người bừng tỉnh trong đêm ngắm trăng
trên mùng và nhớ rõ khạp còn bao nhiêu gạo, mai ăn gì. Phải kiên nhẫn trong ngành an ủi khổ đau, chịu đựng
sự đầy đọa thính giác, anh thương
họ trong than van:
Đời
đau khổ lệ tràn đầy khóe mắt
Nghìn đau thương xin đổ
trút vào chùa (N.TH)
.......Mỗi năm, các nhà sư phải
an cư kiết hạ, là ở yên
một nơi tu tập ba tháng. Anh về
tới chùa đúng vào tối kiết hạ, bằng tâm
trạng thất trận trên chân không, thất thiểu trong
cơn mưa tầm tã tàn nhẫn từ đường
lộ vào chùa gần một cây số. Trời
phạt hay mừng đón anh về, có trời biết!
Mưa vẫn nặng
hạt. Tối hù.
Xin một bộ y cũ thay bộ y quá
ảm đạm, thủng rách đầy ân
tình, anh ngủ trong mệt mỏi và trằn trọc, không
ngon lắm với băn khoăn việc gặp thầy
hôm sau. Thầy có nằm mơ thấy anh về không ?
Anh nguyện nhập hạ với
sự chứng kiến của vài huynh đệ
.
Chờ thầy mở cửa đi
vệ sinh sáng, anh hấp tấp đến đảnh
lễ và trình là mình đã nguyện nhập hạ tối
hôm qua, không dám đánh thức làm phiền sư phụ.
Gặp PônPốt-Iêngsary chưa
?
Chỉ một câu. Thầy đi mất! Ai
cũng lo cho anh, không bị công an Việt Nam giữ, liên
lụy chùa, thì anh cũng có thể chết vì Khmer
Đỏ, gặp mìn mà lặng trôi theo mây gió hay khổ
gần như chết(nguyên văn trong Kinh) chẳng hạn ...
Tới chiều, hồi hộp
trước tập thể một lúc, anh mới
được dịp kể tất cả, trong thành thực
và khôi hài, tiếu lâm, lỗi lầm của anh sớm
được cho qua do mục đích chuyến đi,
bằng thông cảm pha cảm phục, căn cứ theo
tiểu sử các Hòa Thượng, các vị tiền
bối đã xuất dương tự do tìm đạo.
Theo Kinh, sắc diện thể hiện
nội tâm, nên khi anh có cố làm nghiêm cũng chỉ gây
buồn cười cho đối diện một cách
như vô cớ thôi, anh có quá nhiều suy nghĩ ngộ
nghĩnh! Anh có thể là tâm điểm
của tập thể, của buổi họp mặt,
đã là niềm vui cho nhiều người. Nhưng
trong cái tương lai khi mờ khi tỏ, nay chùa này mai
tịnh thất kia, có lúc bị công an xua đuổi
phảù tá túc nhà tín đồ, có lúc ở nhà trọ, khi nghe
họ bày tỏ hay ngưỡng mộ như vậy, thì
anh thêm phần mặc cảm: mình đang là một nhà mô
phạm đạo đức tôn giáo hay thằng hề gây
vui, kiếm chút tình cảm chủ nhà đây?
Phải, anh đói khát tình thương
trong cộng đồng nhân loại , gia
đình, xã hội và cả tôn giáo nữa...nhưng
đơn độc, anh hiểu anh hơn %