Pope John Paul II's recent book, Crossing the Threshold of Hope, is a collection of reflections primarily on issues of Christian faith, but the book also features the Pope's assessment of other religions, including a short chapter on Buddhism. The Pontiff's words in this chapter are far from appreciative. The release of the book in Sri Lanka on the eve of the Pope's visit to this country this past January stirred up waves of indignation in the Buddhist community that spread as far as the Vatican. The Buddhist prelates announced that they would not attend an inter-religious meeting requested by the Pope unless he formally retracted his unfavorable remarks about Buddhism. Although on arrival the Pope tried to appease the feelings of Buddhist leaders by declaring his esteem for their religion, even quoting the Dhammapada, he fell short of proffering a full apology, and this did not satisfy the Sangha elders.

The following essay is intended as a short corrective to the Pope's demeaning characterization of Buddhism. It addresses the issues solely at the level of ideas, without delving into the question whether ulterior motives lay behind the Pope's pronouncements. The essay is based on an article written for a Polish publisher, Source (Katowice), which is presently compiling a book on the Buddhist response to the Pope's book.

Cuốn sách mới đây của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, Vượt qua ngưỡng cửa Hy vọng, là tập hợp những suy ngẫm chủ yếu xoay quanh các vấn đề thuộc đức tin Kitô giáo; tuy nhiên, cuốn sách cũng bao gồm những nhận định của Đức Giáo hoàng về các tôn giáo khác, trong đó có một chương ngắn viết về Phật giáo. Những lời lẽ của Đức Giáo hoàng trong chương này hoàn toàn không mang sắc thái trân trọng. Việc cuốn sách được phát hành tại Sri Lanka vào đêm trước chuyến thăm của Đức Giáo hoàng tới quốc gia này hồi tháng Một vừa qua đã dấy lên làn sóng phẫn nộ trong cộng đồng Phật giáo, lan rộng tới tận Vatican. Các giáo phẩm Phật giáo tuyên bố sẽ không tham dự cuộc gặp gỡ liên tôn theo lời đề nghị của Đức Giáo hoàng, trừ khi ông chính thức rút lại những phát ngôn bất lợi về Phật giáo. Mặc dù khi vừa đặt chân đến, Đức Giáo hoàng đã nỗ lực xoa dịu tình cảm của các nhà lãnh đạo Phật giáo bằng cách bày tỏ sự trân trọng đối với tôn giáo của họ, thậm chí còn trích dẫn kinh Pháp Cú, nhưng ông vẫn chưa đưa ra một lời xin lỗi trọn vẹn, và điều này đã không làm hài lòng các vị trưởng lão trong Tăng đoàn.

Bài tiểu luận sau đây nhằm mục đích đưa ra một sự đính chính ngắn gọn đối với cách mô tả hạ thấp Phật giáo của Đức Giáo hoàng. Văn bản này chỉ giải quyết các vấn đề ở cấp độ ý tưởng, mà không đi sâu vào câu hỏi liệu có những động cơ thầm kín nào ẩn sau các tuyên bố của Đức Giáo hoàng hay không. Bài tiểu luận này dựa trên một bài viết dành cho một nhà xuất bản Ba Lan - Source (Katowice) - hiện đang biên soạn một cuốn sách về phản hồi của Phật giáo đối với cuốn sách của Đức Giáo hoàng.

The Pope states that "the Buddhist tradition and the methods deriving from it have an almost exclusively negative soteriology (doctrine of salvation)." Such a view of the Buddhist teachings was widespread among Christian missionaries in Asia during the 19th century, serving to justify their evangelical incursions into the heartlands of Buddhism. Serious scholars of comparative religion have long recognized this view to be a misrepresentation, rooted, in the case of the early missionaries, partly in misunderstanding, partly in deliberate distortion. It is therefore puzzling that the present head of the Catholic Church, otherwise so well informed, should repeat these worn-out lines, particularly at a time when greater mutual understanding is expected from the leaders of different religions.

The Pope does not explain exactly why he regards Buddhist soteriology as negative. Most likely, he takes this view because the Buddhist path of deliverance does not recognize a personal God as the agent and end of salvation. Like beauty, however, what is negative and what is positive lies in the eye of the beholder, and what is negative for one may turn out to be another's supreme ideal. If one seeks an everlasting union between one's eternal soul and a creator God, then a doctrine that denies the existence of an eternal soul and a Divine Creator will inevitably appear negative. If one regards everything conditioned as impermanent and devoid of self, and seeks deliverance in Nibbana, the Deathless Element, then a doctrine of everlasting union between God and the soul will seem — not negative perhaps — but founded upon wishful thinking and unacceptable articles of faith. For the ordinary reader, however, the word "negative," when applied to Buddhism, will suggest something far different from a philosophically acute way of approaching the Ultimate, conjuring up pictures of a bleak doctrine of escapism aimed at personal annihilation. Behind the Pope's words we can detect echoes of the ancient texts: "There are, monks, some recluses and brahmans who charge me with being an annihilationist, saying that the recluse Gotama teaches the annihilation of an existent being. That is false misrepresentation. What I teach, in the past as also now, is suffering and the cessation of suffering" (MN 22).

Đức Giáo hoàng nhận định rằng: "truyền thống Phật giáo và các phương pháp bắt nguồn từ đó sở hữu một nền cứu độ học (học thuyết về sự cứu rỗi) mang tính tiêu cực gần như tuyệt đối." Quan điểm như vậy về giáo lý Phật giáo đã phổ biến rộng rãi trong giới truyền giáo Cơ Đốc tại châu Á suốt thế kỷ 19, đóng vai trò biện minh cho những cuộc thâm nhập truyền giáo của họ vào tận những vùng trung tâm của Phật giáo. Các học giả uyên bác trong lĩnh vực so sánh tôn giáo học từ lâu đã nhận định rằng quan điểm này là một sự xuyên tạc, vốn bắt nguồn từ trường hợp của các nhà truyền giáo thời kỳ đầu, một phần đến từ sự hiểu lầm và một phần từ sự bóp méo có chủ ý. Do đó, thật khó hiểu khi vị lãnh đạo hiện tại của Giáo hội Công giáo - vốn dĩ là người rất am tường - lại lặp lại những luận điệu cũ rích này, đặc biệt là vào thời điểm mà người ta đang kỳ vọng nhiều hơn vào sự thấu hiểu lẫn nhau từ các nhà lãnh đạo của những tôn giáo khác nhau.

Đức Giáo hoàng không giải thích chính xác lý do tại sao ngài lại coi học thuyết cứu độ của Phật giáo là tiêu cực. Nhiều khả năng, ông giữ quan điểm này bởi lẽ con đường giải thoát của Phật giáo không thừa nhận một Thượng đế mang tính ngôi vị là chủ thể cũng như cứu cánh của sự cứu rỗi. Tuy nhiên, cũng giống như cái đẹp, điều gì là tiêu cực và điều gì là tích cực lại nằm ở con mắt của người nhìn; và điều tiêu cực đối với người này có thể lại hóa thành lý tưởng tối thượng của người khác. Nếu một người tìm kiếm sự kết hợp vĩnh cửu giữa linh hồn bất diệt của mình và một Đấng Tạo Hóa, thì một học thuyết phủ nhận sự tồn tại của linh hồn bất diệt và Đấng Tạo Hóa Thần Thánh chắc chắn sẽ mang vẻ tiêu cực. Nếu một người coi mọi sự vật hữu vi đều là vô thường và vô ngã, đồng thời tìm kiếm sự giải thoát nơi Niết-bàn - Bản thể Bất tử - thì giáo lý về sự hợp nhất vĩnh cửu giữa Thượng đế và linh hồn sẽ có vẻ như - có lẽ không hẳn là tiêu cực - nhưng lại được xây dựng dựa trên những tư duy huyễn vọng và những tín điều khó chấp nhận. Tuy nhiên, đối với độc giả phổ thông, từ "tiêu cực" khi được gán cho Phật giáo lại gợi lên một ý niệm hoàn toàn khác biệt so với một phương thức tiếp cận Chân lý Tối thượng đầy sắc bén về mặt triết học; thay vào đó, nó lại gợi lên những hình ảnh về một giáo lý ảm đạm, mang tính trốn tránh thực tại và nhằm mục đích hủy diệt bản ngã cá nhân. Đằng sau những lời phát biểu của Đức Giáo hoàng, chúng ta có thể nhận thấy những âm hưởng vọng lại từ các kinh điển cổ xưa: "Này các Tỳ-kheo, có một số Sa-môn và Bà-la-môn đã cáo buộc ta là người chủ trương đoạn diệt, khi cho rằng Sa-môn Cồ-đàm dạy về sự hủy diệt của một hữu thể đang hiện hữu. Đó là sự xuyên tạc sai lầm. Điều ta giảng dạy, trong quá khứ cũng như hiện tại, chính là Khổ và sự chấm dứt của Khổ" (MN 22).

Even more worrisome than the Pope's characterization of the Buddhist doctrine of salvation as negative is his contention that "the Buddhist doctrine of salvation constitutes the central point, or rather the only point, of this system." The conclusion implied by this pronouncement, left hanging silently behind the lines, is that Buddhism is incapable of offering meaningful guidance to people immersed in the problems of everyday life; it is an otherworldly religion of escape suited only for those of an ascetic bent.

While Western scholars in the past have focused upon the Buddhist doctrine of salvation as their main point of interest, the living traditions of Buddhism as practiced by its adherents reveal that this attitude, being one-sided to begin with, must yield one-sided results. The Buddhist texts themselves show that Buddhism addresses as wide a range of concerns as any other of humanity's great religions. Nibbana remains the ultimate goal of Buddhism, and is certainly "the central point" of the Dhamma, but it is by no means "the only point" for which the Buddha proclaimed his Teaching.

Đáng lo ngại hơn cả việc Đức Giáo hoàng mô tả giáo lý cứu độ của Phật giáo là tiêu cực, chính là lập luận của ông cho rằng: "giáo lý cứu độ của Phật giáo cấu thành điểm trọng tâm, hay đúng hơn là điểm duy nhất, của hệ thống này." Kết luận được ngầm hiểu từ tuyên bố này - vốn lơ lửng trong thinh lặng ẩn sau từng dòng chữ - chính là: Phật giáo không đủ khả năng mang lại sự dẫn dắt ý nghĩa cho những con người đang chìm đắm giữa muôn vàn vấn đề của đời sống thường nhật; thay vào đó, đây chỉ là một tôn giáo mang tính siêu thế và thiên về sự trốn chạy, chỉ phù hợp với những ai có thiên hướng tu khổ hạnh.

Trong khi các học giả phương Tây trước đây thường tập trung vào giáo lý cứu độ của Phật giáo như là trọng tâm nghiên cứu chính, thì những truyền thống Phật giáo sống động - như được các tín đồ thực hành - lại cho thấy rằng thái độ này, vốn dĩ đã mang tính phiến diện ngay từ đầu, tất yếu sẽ dẫn đến những kết quả cũng phiến diện tương ứng. Chính các văn bản Phật giáo đã cho thấy rằng Phật giáo giải quyết phạm vi các mối quan tâm rộng lớn không kém bất kỳ tôn giáo lớn nào khác của nhân loại. Niết Bàn vẫn là mục tiêu tối thượng của Phật giáo, và chắc chắn là "điểm trọng tâm" của Pháp, nhưng tuyệt nhiên không phải là "điểm duy nhất" mà Đức Phật đã tuyên thuyết Giáo Pháp của Ngài.

According to the Buddhist texts, the Dhamma is intended to promote three types of good, each by way of different but overlapping sets of principles. These three goals, though integrated into the framework of a single internally consistent teaching, enable the Dhamma to address individuals at different stages of spiritual development, with varying capacities for comprehension. The three goods are:

  1. the good pertaining to the present life (ditthadhammattha), i.e., the achievement of happiness and well-being here and now, through ethical living and harmonious relationships based on kindness and compassion;
  2. the good pertaining to the future life (samparayikattha), i.e., a favorable rebirth within the round of existence, by practicing generosity, observing the precepts, and cultivating the mind in meditation; and
  3. the ultimate good (paramattha), i.e., the attainment of Nibbana, by following the complete training defined by the Noble Eightfold Path.

Theo các kinh điển Phật giáo, Pháp được thiết lập nhằm thúc đẩy ba loại thiện, mỗi loại thông qua những tập hợp nguyên tắc khác biệt nhưng có sự chồng lấn lẫn nhau. Ba mục tiêu này, tuy được lồng ghép vào khuôn khổ của một giáo lý duy nhất với tính nhất quán nội tại, lại giúp cho Pháp có thể tiếp cận các cá nhân ở những giai đoạn phát triển tâm linh khác nhau, với những năng lực thấu hiểu đa dạng. Ba loại thiện ấy là:

  1. thiện thuộc về đời sống hiện tại (ditthadhammattha), tức là sự đạt được hạnh phúc và an lạc ngay tại đây và lúc này, thông qua lối sống đạo đức cùng những mối quan hệ hài hòa dựa trên lòng từ bi và nhân ái;
  2. thiện thuộc về đời sống tương lai (samparayikattha), tức là sự tái sinh thuận lợi trong vòng luân hồi, thông qua việc thực hành bố thí, giữ giới và tu dưỡng tâm trí bằng thiền định; và
  3. thiện tối thượng (paramattha), tức là sự chứng đắc Niết-bàn, thông qua việc thực hành trọn vẹn sự tu tập được xác định bởi Bát Chánh Đạo.

For most Buddhists in their day-to-day lives, the pursuit of Nibbana is a distant rather than an immediate goal, to be approached gradually during the long course of rebirths. Until they are ready for a direct assault on the final good, they expect to walk the path for many lives within samsara, pursuing their mundane welfare while aspiring for the Ultimate. To assist them in this endeavor, the Buddha has taught numerous guidelines that pertain to ethically upright living within the confines of the world. In the Sigalovada Sutta, for example, he enumerates the reciprocal duties of parents and children, husband and wife, friends and friends, employers and employees, teachers and students, religious and laity. He made right livelihood an integral part of the Noble Eightfold Path, and explained what it implies in the life of a busy lay person. During his long ministry he gave advice to merchants on the prudent conduct of business, to young wives on how to behave toward their husbands, to rulers on how to administer their state. All such guidance, issuing from the Buddha's great compassion, is designed to promote the welfare and happiness of the world while at the same time steering his followers toward a pleasant rebirth and gradual progress toward final liberation.

Yet, while the Buddha offers a graduated teaching adjusted to the varying life situations of his disciples, he does not allow any illusion to linger about the ultimate aim of his Doctrine. That aim is Nibbana, which is not a consoling reconciliation with the world but irreversible deliverance from the world. Such deliverance cannot be gained merely by piety and good works performed in a spirit of social sympathy. It can be won only by renunciation, by "the relinquishment of all acquisitions" (sabb'upadhipatinissagga), including among such "acquisitions" the bodily and mental processes that we identify as our self. The achievement of this end is necessarily individual. It must be arrived at through personal purification and personal insight, as the fruit of sustained effort in fulfilling the entire course of training. Hence the Buddha did not set out to found a church capable of embracing all humanity within the fold of a single creed. He lays down a path — a path perfect in its ideal formulation — to be trodden by imperfect human beings under the imperfect conditions that life within the world affords. While the quest for the highest goal culminates in deliverance from the world, this same ideal "bends back" toward the world and spells out standards of conduct and a scale of values to guide the unenlightened manyfolk in their daily struggles against the streams of greed, hatred, and delusion. Nibbana remains the "chief point" and the omega point of the Dhamma. But as this goal is to be experienced as the extinction of greed, hatred, and delusion, it defines the condition for its realization as a life devoted to overcoming greed through generosity, to overcoming hatred through patience and loving kindness, and to overcoming delusion through wisdom and understanding.

Đối với hầu hết các Phật tử trong đời sống thường nhật, việc truy cầu Niết-bàn là một mục tiêu xa vời hơn là một đích đến trước mắt, một mục tiêu cần được tiếp cận một cách tiệm tiến qua chặng đường dài của vô vàn kiếp luân hồi. Cho đến khi thực sự sẵn sàng cho một cuộc chinh phục trực diện nhằm đạt tới chân thỉện mỹ, họ chấp nhận tiếp bước trên con đường này qua nhiều kiếp sống trong vòng luân hồi, vừa mưu cầu những lợi ích thế tục, vừa hướng vọng về Cứu cánh Tối Thượng. Để hỗ trợ họ trong nỗ lực này, Đức Phật đã giảng dạy vô số nguyên tắc hướng dẫn về lối sống đạo đức ngay thẳng giữa chốn thế gian. Chẳng hạn, trong Kinh Sigalovada, Ngài đã liệt kê những bổn phận hỗ tương giữa cha mẹ và con cái, chồng và vợ, bạn bè, chủ và người làm, thầy và trò, cũng như giữa giới tu sĩ và cư sĩ. Ngài đã đưa Chánh mạng trở thành một phần không thể thiếu của Bát Chánh Đạo, và giải thích ý nghĩa của nó trong đời sống của một cư sĩ bận rộn. Trong suốt thời gian dài thi hành chức vụ, ngài đã đưa ra lời khuyên cho các thương nhân về cách kinh doanh thận trọng, cho những người vợ trẻ về cách cư xử với chồng, và cho các nhà cai trị về cách điều hành đất nước. Mọi sự chỉ dẫn như vậy, xuất phát từ lòng đại bi của Đức Phật, đều được thiết kế nhằm thúc đẩy sự an lạc và hạnh phúc cho thế gian, đồng thời dẫn dắt các đệ tử của Ngài hướng tới một kiếp tái sinh tốt đẹp cùng sự tiến bộ dần dần trên con đường đạt đến sự giải thoát cuối cùng.

Tuy nhiên, mặc dù Đức Phật đưa ra những lời giáo huấn theo trình tự, được điều chỉnh sao cho phù hợp với những hoàn cảnh sống đa dạng của các đệ tử, Ngài lại không để cho bất kỳ ảo tưởng nào tồn đọng về mục đích tối thượng của Giáo pháp mà Ngài truyền dạy. Mục đích ấy chính là Niết-bàn, không phải là một sự hòa giải an ủi với thế gian, mà là sự giải thoát vĩnh viễn khỏi thế gian. Sự giải thoát như vậy không thể đạt được chỉ bằng lòng sùng đạo và những thiện hạnh được thực hiện với tinh thần cảm thông xã hội. Điều này chỉ có thể đạt được thông qua sự xả ly, qua việc "buông bỏ mọi sự chấp thủ" (sabb'upadhipatinissagga), bao gồm cả những tiến trình thân và tâm mà ta thường đồng nhất là "cái ngã" của chính mình. Việc đạt tới mục đích này nhất thiết mang tính cá nhân. Nó phải đạt được thông qua sự thanh lọc và sự thấu suốt của chính bản thân, như là thành quả của những nỗ lực bền bỉ trong việc hoàn tất trọn vẹn toàn bộ quá trình tu tập. Vì lẽ đó, Đức Phật đã không chủ trương thiết lập một giáo hội có khả năng thâu nạp toàn thể nhân loại vào trong khuôn khổ của một tín điều duy nhất. Ngài vạch ra một con đường — một con đường hoàn hảo trong sự kiến tạo lý tưởng của nó — để những con người vốn dĩ chưa hoàn thiện có thể bước đi giữa những điều kiện bất toàn mà cuộc sống nơi thế gian mang lại. Mặc dù hành trình hướng tới mục đích tối thượng đạt đến đỉnh điểm của sự giải thoát khỏi thế giới, chính lý tưởng này lại "hướng trở lại" thế giới, vạch ra những chuẩn mực hành vi cùng một hệ thống các giá trị nhằm dẫn dắt đại đa số những người chưa giác ngộ trong cuộc đấu tranh thường nhật của họ chống lại những dòng chảy của tham, sân và si. Niết Bàn vẫn luôn là "điểm cốt yếu" và là đích đến tối hậu của Pháp. Tuy nhiên, vì mục tiêu này cần được thể nghiệm như sự đoạn diệt của tham, sân và si, nên nó xác định điều kiện để đạt đến sự chứng đắc ấy chính là một đời sống tận hiến cho việc vượt qua tham ái thông qua sự bố thí, vượt qua sân hận thông qua lòng kiên nhẫn và từ bi, và vượt qua si mê thông qua trí tuệ và sự thấu hiểu.

In Crossing the Threshold of Hope, Pope John Paul asserts that "the 'enlightenment' experienced by the Buddha comes down to the conviction that the world is bad, that it is the source of evil and suffering for man" (p.85). No doubt the fact that the book consistently encloses the word "enlightenment" in quotation marks already suggests that the Pope's attitude to Buddhism is not an appreciative one. This suggestion is confirmed by his manner of characterizing the content of the enlightenment, which reduces the Buddha's great awakening beneath the Bodhi tree to a caricature.

By way of rejoinder it should first be said that Buddhism does not regard the world in itself as either good or bad, and the Buddha never described the world as "the source of evil" for man. The Buddhist texts scrupulously use terms with moral connotations, such as "good" and "evil," solely to evaluate intentional actions and the persons and states of mind from which such actions spring. They do not ascribe moral qualities to entities that are incapable of moral initiative. Thus actions are bad (papa, akusala) when they intend harm and suffering for oneself and others, good (kalyana, kusala) when they aim at promoting happiness and well-being. The Buddha's analysis of the roots of good and evil also proceeds entirely within the sphere of psychological ethics without overstepping the bounds of that domain. According to the Buddha the roots of evil are the unwholesome springs of action: greed, hatred, and delusion; the roots of good are non-greed, non-hatred, and non-delusion, i.e., detachment, loving-kindness, and understanding. The process of spiritual development in Buddhism can be described, from one angle, as the attenuation and eradication of the unwholesome roots by the cultivation of their wholesome opposites. The entire process centers upon the mind as the sole source of both good and evil, with the world set well in the background of this striving for internal purification.

Trong tác phẩm Vượt qua ngưỡng cửa Hy vọng, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô khẳng định rằng: "sự 'giác ngộ' mà Đức Phật đã trải nghiệm rốt cuộc quy về niềm xác tín rằng thế giới này là xấu xa, rằng nó chính là nguồn gốc của cái ác và nỗi khổ đau cho con người" (tr. 85). Không còn nghi ngờ gì nữa, việc cuốn sách này nhất quán đặt từ "giác ngộ" trong dấu ngoặc kép đã cho thấy thái độ của Đức Giáo hoàng đối với Phật giáo không phải là một thái độ tán thưởng. Gợi ý này được xác nhận qua cách ông mô tả nội dung của sự giác ngộ, một cách mô tả đã hạ thấp sự đại giác của Đức Phật dưới cội Bồ đề xuống thành một hình ảnh biếm họa.

Để đáp lại, trước hết cần phải khẳng định rằng Phật giáo không xem thế giới tự nó là tốt hay xấu, và Đức Phật cũng chưa bao giờ mô tả thế giới là "nguồn gốc của cái ác" đối với con người. Các văn bản Phật giáo sử dụng một cách hết sức thận trọng những thuật ngữ mang hàm ý đạo đức, chẳng hạn như "thiện" và "ác", chỉ nhằm mục đích đánh giá những hành vi có chủ ý, cũng như những con người và trạng thái tâm thức mà từ đó các hành vi ấy khởi phát. Họ không gán ghép các phẩm chất đạo đức cho những thực thể vốn không có khả năng chủ động về mặt đạo đức. Do đó, các hành động được coi là xấu (papa, akusala) khi chúng nhằm gây hại và mang lại khổ đau cho bản thân và người khác; ngược lại, chúng được coi là tốt (kalyana, kusala) khi hướng tới việc thúc đẩy hạnh phúc và sự an lạc. Sự phân tích của Đức Phật về cội rễ của thiện và ác cũng diễn ra hoàn toàn trong phạm vi đạo đức học tâm lý, mà không hề vượt ra ngoài giới hạn của lĩnh vực này. Theo Đức Phật, cội rễ của điều ác là những nguồn gốc hành động bất thiện: tham, sân và si; cội rễ của điều thiện là vô tham, vô sân và vô si, tức là sự vô chấp, lòng từ bi và sự thấu hiểu. Từ một góc độ, tiến trình phát triển tâm linh trong Phật giáo có thể được mô tả là sự làm suy giảm và tận diệt các căn bất thiện thông qua việc tu dưỡng những đối trọng thiện lành của chúng. Toàn bộ quá trình này xoay quanh tâm trí như là nguồn gốc duy nhất của cả thiện lẫn ác, trong đó thế giới bên ngoài được đặt ở vị trí thứ yếu so với nỗ lực thanh lọc nội tâm này.

In his formula of the Four Noble Truths, the Buddha does declare that worldly existence is dukkha, but dukkha does not mean evil. It means, rather, unsatisfactory, inadequate, subject to suffering. To understand why the Buddha states that all worldly existence is dukkha one must view this statement in its wider context. According to the Buddha's teaching, our individual lives unfold within a beginningless cycle of rebirths, samsara, wherein all living beings except the enlightened ones wander on driven by the thirst for continued becoming. Each individual life beginning with birth and ending with death is thus but a "link" in an infinite chain of lives, a single turn of the wheel of existence. As we move within samsara, again and again we undergo birth, aging, illness, and death, again and again we experience pain and sorrow, anxiety and stress, conflict and disappointment. It is for this reason that the Buddha declares that life within the confines of samsara is dukkha.

Buddhism locates the cause of our suffering, not in the world considered as an objective reality, but in our own minds. The root of suffering is ignorance coupled with craving; because we fail to understand the true nature of things, our lives are propelled by blind desires for pleasure, power, and renewed becoming, desires which eventuate in pain and grief. The Buddha's teaching is concerned, not with the obliteration of the world, but with the obliteration of ignorance and craving. When greed, hatred, and delusion are quenched, one then experiences the perfect peace of Nibbana throughout the duration of one's life in the world, and with the end of life one is permanently released from the round of rebirths into the Unconditioned.

Trong phương pháp về Tứ Diệu Đế của ngài, Đức Phật tuyên bố rằng đời sống thế gian là dukkha, nhưng dukkha không có nghĩa là cái ác. Thay vào đó, nó có nghĩa là không thỏa mãn, không đầy đủ và chịu sự chi phối của đau khổ. Để hiểu lý do Đức Phật tuyên bố rằng mọi đời sống thế gian đều là dukkha, người ta cần phải nhìn nhận tuyên bố này trong bối cảnh rộng lớn hơn của nó. Theo giáo lý của Đức Phật, đời sống cá nhân của chúng ta diễn ra trong một vòng luân hồi vô thủy, samsara, nơi mà tất cả chúng sinh, ngoại trừ những bậc đã giác ngộ, vẫn tiếp tục lang thang vì bị thôi thúc bởi cơn khát khao được tiếp tục hiện hữu. Mỗi cuộc đời cá nhân - bắt đầu từ khi sinh ra và kết thúc bằng cái chết - do đó chỉ là một "mắt xích" trong chuỗi đời sống vô tận, một vòng quay đơn lẻ của bánh xe hiện hữu. Khi luân chuyển trong vòng luân hồi, chúng ta hết lần này đến lần khác trải qua sinh, lão, bệnh, tử; hết lần này đến lần khác nếm trải nỗi đau và niềm sầu muộn, sự lo âu và căng thẳng, xung đột và thất vọng. Chính vì lý do này mà Đức Phật tuyên bố rằng cuộc sống trong vòng luân hồi là khổ.

Phật giáo xác định nguyên nhân của nỗi khổ đau nơi chúng ta không nằm ở thế giới vốn được xem như một thực tại khách quan, mà nằm ngay trong chính tâm trí của chúng ta. Cội rễ của khổ đau chính là sự vô minh song hành cùng lòng tham ái; bởi lẽ chúng ta không thấu hiểu bản chất chân thực của vạn vật, cuộc đời ta bị cuốn đi bởi những dục vọng mù quáng hướng tới khoái lạc, quyền lực và sự tái sinh liên tục - những dục vọng mà rốt cuộc chỉ dẫn đến nỗi đau thương và sầu khổ. Giáo lý của Đức Phật không nhằm xóa bỏ thế giới, mà nhằm xóa bỏ vô minh và tham ái. Khi tham, sân và si được dập tắt, người ấy sẽ cảm nghiệm sự an lạc tuyệt đối của Niết-bàn trong suốt quãng đời hiện hữu giữa thế gian; và khi sinh mạng chấm dứt, người ấy sẽ vĩnh viễn thoát ly khỏi vòng luân hồi để bước vào cảnh giới Vô điều kiện.

The Pontiff describes Nibbana as "a state of perfect indifference with regard to the world," adding that in Buddhism salvation means "above all, to free oneself from evil by becoming indifferent to the world, which is the source of evil" (p.86). By such statements he represents Buddhism to his readers as a quietistic doctrine of withdrawal which can address the momentous problems that face humanity today only by politely turning its back on them. This is hardly a satisfactory depiction of Early Buddhism, in which transcendence of the world is stressed, let alone of Mahayana Buddhism, in which the bodhisattva's compassionate activity on behalf of the world becomes the guiding ideal.

The Pali word that the Pope interprets as "indifference" is presumably upekkha. The real meaning of this word is equanimity, not indifference in the sense of unconcern for others. As a spiritual virtue, upekkha means equanimity in the face of the fluctuations of worldly fortune. It is evenness of mind, unshakeable freedom of mind, a state of inner equipoise that cannot be upset by gain and loss, honor and dishonor, praise and blame, pleasure and pain. Upekkha is freedom from all points of self-reference; it is indifference only to the demands of the ego-self with its craving for pleasure and position, not to the well-being of one's fellow human beings. True equanimity is the pinnacle of the four social attitudes that the Buddhist texts call the "divine abodes": boundless loving-kindness, compassion, altruistic joy, and equanimity. The last does not override and negate the preceding three, but perfects and consummates them.

Đức Giáo hoàng mô tả Niết bàn là "một trạng thái hoàn toàn vô cảm đối với thế giới," đồng thời nói thêm rằng trong Phật giáo, sự cứu rỗi có nghĩa là "trên hết, giải thoát bản thân khỏi cái ác bằng cách trở nên vô cảm đối với thế giới, vốn là nguồn gốc của cái ác" (tr. 86). Thông qua những phát ngôn như vậy, ông miêu tả Phật giáo trước độc giả của mình như một học thuyết thiên về sự tĩnh tại và ẩn dật, một học thuyết mà chỉ có thể giải quyết những vấn đề trọng đại đang bủa vây nhân loại ngày nay bằng cách lịch sự quay lưng lại với chúng. Đây khó có thể được coi là một sự phát họa thỏa đáng về Phật giáo Nguyên thuỷ, vốn nhấn mạnh sự siêu việt thế gian, chứ chưa nói đến Phật giáo Đại thừa, nơi mà hoạt động từ bi của Bồ tát vì lợi ích thế gian trở thành lý tưởng dẫn đường.

Từ Pali mà Đức Giáo hoàng diễn giải là "sự thờ ơ" có lẽ chính là upekkha. Ý nghĩa thực sự của từ này là sự quân bình, chứ không phải sự thờ ơ theo nghĩa thiếu quan tâm đến người khác. Là một đức hạnh tâm linh, upekkha (xả) có nghĩa là sự bình thản trước những thăng trầm của vận mệnh thế gian. Đó là sự quân bình của tâm trí, là sự tự do tâm thức kiên định, một trạng thái cân bằng nội tại không thể bị xáo động bởi được và mất, vinh và nhục, khen và chê, sướng và khổ. Upekkha là sự giải thoát khỏi mọi điểm quy chiếu về bản ngã; nó chỉ biểu hiện sự vô cảm đối với những đòi hỏi của cái tôi ích kỷ, vốn luôn khao khát lạc thú và địa vị, chứ không hề thờ ơ trước sự an lạc của những người đồng loại. Tâm xả thực sự là đỉnh cao của bốn thái độ xã hội mà các kinh điển Phật giáo gọi là "Tứ vô lượng tâm": từ (lòng từ bi vô biên), bi (lòng thương xót), hỷ (niềm vui vị tha) và xả (sự xả bỏ). Điều cuối cùng không phủ định hay vô hiệu hóa ba điều trước đó, mà hoàn thiện và viên mãn hóa chúng.

If Buddhism in practice has not always lived up to the high ideals posited by the original Teaching, this is to be understood as a result of the downward gravitational pull of human nature, not as a consequence of any emphasis on apathy and indifference in the pristine Dhamma. The Buddhist texts provide ample evidence that the attainment of Nibbana does not issue in a stolid indifference to the world. The Buddha himself, the ideal model for his followers, led an active life of 45 years after his enlightenment dedicated to the uplift of humanity. Throughout Buddhist history, the great spiritual masters of the Dhamma have emulated the Awakened One's example, heeding his injunction to wander forth "for the welfare and happiness of many, out of compassion for the world, for the good, welfare, and happiness of devas and humans."

It is not only enlightened monks and nuns who have displayed this sense of spiritual mission. As a corporate whole, Buddhism has inspired and animated all the Asian cultures in which it has taken root. It spread without violence and bloodshed, without forcible conversions, winning adherents entirely by its lofty teachings and the exemplary lives of its followers. Wherever the Dhamma took root, it has provided hope and encouragement, pointing to lofty ethical and spiritual ideals, spelling out concrete codes of moral guidance for the whole society. It needs only a little reflection to decide whether such a result is possible in a doctrine that advocates total apathy or callous self-absorption as the highest good.

Nếu Phật giáo trong thực tiễn không phải lúc nào cũng vươn tới được những lý tưởng cao đẹp do Giáo lý nguyên thủy đề xướng, thì điều này cần được hiểu là hệ quả của sức kéo hướng xuống từ bản tính con người, chứ không phải là kết quả của bất kỳ sự đề cao nào đối với thái độ lãnh đạm hay thờ ơ trong Pháp thanh tịnh. Các văn bản Phật giáo cung cấp bằng chứng phong phú cho thấy việc đạt đến Niết bàn không dẫn đến thái độ thờ ơ, vô cảm đối với thế giới. Chính Đức Phật, tấm gương lý tưởng cho các đệ tử của Ngài, đã sống một cuộc đời đầy hoạt động trong suốt 45 năm sau khi giác ngộ, tận hiến cho sự thăng hoa của nhân loại. Xuyên suốt lịch sử Phật giáo, các bậc đại đạo sư của Pháp (Dhamma) đã noi theo tấm gương của Đấng Giác Ngộ, vâng theo lời huấn thị của Ngài mà du phương hành đạo "vì lợi ích và hạnh phúc của số đông, vì lòng từ bi đối với thế gian, vì sự tốt đẹp, lợi ích và hạnh phúc của chư thiên và nhân loại."

Không chỉ những tăng ni giác ngộ mới thể hiện ý thức về sứ mệnh tâm linh này. Xét trên bình diện tổng thể, Phật giáo đã truyền cảm hứng và thổi hồn vào mọi nền văn hóa châu Á nơi nó bén rễ. Nó lan tỏa mà không hề có bạo lực hay đổ máu, không cưỡng ép cải đạo, mà hoàn toàn chinh phục những người tin theo nhờ những giáo lý cao thượng và lối sống gương mẫu của các tín đồ. Bất cứ nơi đâu Pháp bén rễ, nơi đó đã mang lại niềm hy vọng và sự khích lệ, chỉ lối tới những lý tưởng đạo đức và tâm linh cao thượng, đồng thời vạch ra những quy tắc hướng dẫn đạo đức cụ thể cho toàn xã hội. Chỉ cần một chút suy ngẫm là đủ để quyết định liệu một kết quả như vậy có thể xảy ra hay không trong một học thuyết đề cao sự thờ ơ tuyệt đối, hoặc sự tự đắm chìm vô cảm vào bản thân, như là điều thiện tối thượng.

©1993 Buddhist Publication Society.
You may copy, reformat, reprint, republish, and redistribute this work in any medium whatsoever, provided that: (1) you only make such copies, etc. available free of charge and, in the case of reprinting, only in quantities of no more than 50 copies; (2) you clearly indicate that any derivatives of this work (including translations) are derived from this source document; and (3) you include the full text of this license in any copies or derivatives of this work. Otherwise, all rights reserved. Documents linked from this page may be subject to other restrictions. BPS Newsletter cover essays nos. 30 (2nd mailing, 1995) & 31 (3rd mailing, 1995). Last revised for Access to Insight on 5 June 2010.
How to cite this document (a suggested style): "Toward a Threshold of Understanding", by Bhikkhu Bodhi. Access to Insight (BCBS Edition), 5 June 2010, http://www.accesstoinsight.org/lib/authors/bodhi/bps-essay_30.html .

©1993 Buddhist Publication Society.
Quý vị có thể làm bản sao, thay đổi hình dạng, in lại, xuất bản lại, và phân phối lại công trình này dưới bất cứ phương tiện nào, với điều kiện: (1) quý vị chỉ làm các bản sao như vậy, v.v. , cung cấp miễn phí và, trong trường hợp in lại, chỉ với số lượng không quá 50 bản sao; (2) quý vị chỉ ra rõ ràng là bất kỳ dẫn xuất nào của công trình nghiên cứu này (bao gồm cả bản dịch) có nguồn gốc từ nguồn tài liệu này, và (3) quý vị bao gồm đầy đủ văn bản của giấy phép này trong bất kỳ bản sao hay các dẫn xuất của công việc này. Nếu không, phải tôn trọng bản quyền. Các tài liệu liên kết từ trang này có thể bị hạn chế. Bài luận trang bìa số 30 (đợt gửi thứ 2, năm 1995) & 31 (đợt gửi thứ 3, năm 1995) của Bản tin BPS. Chỉnh sửa cuối cho Access to Insight vào ngày 5 tháng 6 năm 2010.
Làm thế nào để trích dẫn tài liệu này (một đề nghị bút pháp): "Toward a Threshold of Understanding - Hướng tới Ngưỡng Hỉểu Bỉết", bởi Bhikkhu Bodhi. Access to Insight (BCBS Edition), 5 June 2010, http://www.accesstoinsight.org/lib/authors/bodhi/bps-essay_30.html .
 Webmasters: Minh Hạnh & Thiện Pháp
Cập nhập ngày: Thứ Bảy 03-28-2026

 | | trở về đầu trang | Home page |