The Dhammapada is a work familiar to every devout Buddhist and to every serious student of Buddhism. This small collection of 423 verses on the Buddha's doctrine is so rich in insights that it might be considered the perfect compendium of the Dhamma in its practical dimensions. In the countries of Theravada Buddhism the Dhammapada is regarded as an inexhaustible source of guidance and spiritual inspiration, as the wise counselor to which to turn for help in resolving the difficult moral and personal problems inescapable in daily life. Just as the Buddha is looked upon as the human kalyanamitta or spiritual friend par excellence, so the Dhammapada is looked upon as the scriptural kalyanamitta par excellence, a small embodiment in verse of the boundless wisdom and great compassion of the Master.

Kinh Pháp Cú là tác phẩm quen thuộc đối với những Phật tử thuần thành cũng như những người nghiêm túc nghiên cứu Phật giáo. Bộ kinh này sưu tập 423 bài kệ về giáo pháp của Đức Phật chứa đựng những tri kiến ​​sâu sắc được xem là bản tóm lược hoàn hảo về Giáo pháp (Dhamma) trên phương diện Pháp Hành. Tại các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Nguyên thủy (Theravada), Kinh Pháp Cú được coi là nguồn chỉ dẫn và cảm hứng tâm linh vô tận, là người cố vấn hiền minh để ta tìm đến khi cần giải quyết những vấn đề nan giải về đạo đức và đời sống cá nhân vốn không thể tránh khỏi trong sinh hoạt thường nhật. Cũng như Đức Phật được tôn kính là bậc thiện tri thức (kalyāṇamitta) mẫu mực của con người, Kinh Pháp Cú được xem là bậc thiện tri thức tuyệt vời dưới dạng văn bản kinh điển—một sự hiện thân cô đọng qua những vần kệ của trí tuệ vô biên và lòng từ bi vĩ đại nơi Đức Thế Tôn.

To draw out the living message of any great spiritual classic, it is not enough for us merely to investigate it in terms of questions that might be posed by scientific scholarship. We have to take a step beyond scholarly examination and seek to make an application of those teachings to ourselves in our present condition. To do this requires that we use our intelligence, imagination and intuition to see through the limiting cultural contexts out of which the work was born, and to see into those universal features of the human condition to which the spiritual classic being studied is specifically addressed. With these stipulations in mind we will examine the Dhammapada in order to discover what this ancient book of wisdom regards as the fundamental and perennial spiritual problems of human life and to learn what solutions it can propose for them that may be relevant to us today. In this way we will uncover the living message of the Dhammapada: the message that rings down through the centuries and speaks to us in our present condition in the fullness of our humanity.

Để rút ra thông điệp sống từ bất kỳ tác phẩm kinh điển tâm linh vĩ đại nào, việc chỉ khảo cứu dưới những góc độ mà giới nghiên cứu khoa học thường đặt ra là chưa đủ. Chúng ta cần bước xa hơn sự khảo cứu thuần túy về mặt học thuật để tìm cách áp dụng những giáo lý ấy vào chính bản thân mình trong hoàn cảnh hiện tại. Để làm được điều này, ta cần vận dụng trí tuệ, trí tưởng tượng và trực giác để nhìn thấu qua những bối cảnh văn hóa mang tính giới hạn nơi tác phẩm được đưa ra, đồng thời thấu hiểu những khía cạnh phổ quát của thân phận con người mà tác phẩm kinh điển đó hướng tới. Với những quy định này, chúng ta sẽ khảo sát kinh Pháp Cú (Dhammapada) để khám phá xem cuốn kinh cổ xưa này nhìn nhận những vấn đề cốt lõi tâm linh và trường tồn nào của kiếp người, cũng như tìm hiểu những giải pháp mà kinh đưa ra có thể phù hợp với chúng ta ngày nay ra sao. Bằng cách này, chúng ta sẽ làm sáng tỏ thông điệp sống của kinh Pháp Cú: một thông điệp vang vọng qua bao thế kỷ, trực tiếp chạm đến chúng ta trong hoàn cảnh hiện tại và khơi dậy trọn vẹn phẩm chất làm người trong mỗi chúng ta.

When we set out to make such an investigation, one difficulty that we meet at the outset is the great diversity of teachings contained in the Dhammapada. It is well known that during his teaching career the Buddha always adjusted his discourses to fit the needs and capacities of his disciples. Thus the prose discourses found in the four main Nikayas display richly variegated presentations of the doctrine, and this diversity becomes even more pronounced in the Dhammapada, a collection of utterances spoken in the intuitive and highly charged medium of verse. We even find in the work apparent inconsistencies, which may perplex the superficial reader and lead to the supposition that the Buddha's teaching is rife with self-contradiction. Thus in many verses the Buddha commends certain practices to his disciples on the ground that they lead to heaven, while in others he discourages disciples from aspiring for heaven and praises the one who takes no delight in celestial joys. Often the Buddha enjoins works of merit, yet elsewhere in the work he enjoins his disciples to go beyond both merit and demerit.

Khi chúng ta thực hiện một cuộc khảo cứu như vậy, cái khó đầu tiên chúng ta gặp phải là sự đa dạng phong phú trong các giáo huấn chứa đựng nơi kinh Pháp Cú (Dhammapada). Ai cũng biết trong quá trình hoằng pháp Đức Phật luôn điều chỉnh bài thuyết giảng của mình sao cho phù hợp với nhu cầu và căn cơ của các đệ tử. Thật vậy, các bài kinh văn xuôi trong bốn Tạng Kinh Nikaya đã thể hiện giáo pháp dưới nhiều hình thức trình bày đa dạng; sự đa dạng này càng trở nên rõ nét hơn trong kinh Pháp Cú, một tập hợp những lời dạy được truyền tải qua thể thơ, vốn mang tính trực giác và giàu sức truyền cảm. Chúng ta thậm chí còn bắt gặp những điểm dường như mâu thuẫn trong tác phẩm này; điều đó có thể khiến người đọc cảm thấy bối rối và đi đến nhận định rằng giáo pháp của Đức Phật đầy rẫy những điểm tự mâu thuẫn. Chẳng hạn, trong nhiều bài kệ, Đức Phật tán thán một số hạnh tu vì chúng dẫn đến cõi trời, trong khi ở những chỗ khác, Ngài lại khuyên các đệ tử không nên mong cầu cõi trời và ca ngợi người không đắm say vào những lạc thú cõi thiên giới. Đức Phật thường khuyến khích việc tạo phước báu, song ở những đoạn khác, Ngài lại dạy các đệ tử cần vượt lên trên cả phước báu lẫn tội lỗi.

To make sense out of such contrary statements, to find a consistent message running through the Dhammapada's diversified pronouncements, let us begin with a statement the Buddha makes in another small but beautiful book of the Pali canon, the Udana: "Just as the great ocean has but one taste, the taste of salt, so this doctrine-and-discipline has but one taste, the taste of freedom." Despite their variety in meaning and formulation, the Buddha's teachings all fit together into a perfectly coherent system which gains its unity from its final goal. That goal is freedom (vimutti), which here means spiritual freedom: the liberation of the mind from all bonds and fetters, the liberation of our being from the suffering inseparable from wandering in samsara, the cycle of rebirths. But while the Buddha's teachings fit together harmoniously through the unity of their final goal, they are addressed to people standing at different levels of spiritual development and thus must be expressed in different ways determined by the needs of the people to be taught. Here again water provides a fitting analogy. Water has one essence — chemically, it is a union of two hydrogen atoms with one oxygen atom — but it takes on the different shapes of the vessels into which it is poured; similarly, the Dhamma has a single essence — deliverance from suffering — but it assumes varying expressions in accordance with the dispositions of those who are to be instructed and trained. It is because the different expressions lead to a single end, and because the same end can be reached via teachings that are differently expressed, that the Dhamma is said to be sattha sabyañjana, "good in meaning and good in formulation."

Để hiểu rõ những lời dạy trái ngược như vậy và tìm ra một thông điệp xuyên suốt trong vô số lời dạy đa dạng của kinh Pháp Cú (Dhammapada), chúng ta hãy bắt đầu với một nhận định mà Đức Phật đã đưa ra trong một tác phẩm nhỏ nhưng tuyệt đẹp khác thuộc Tạng Pali, đó là kinh Udana (Phật Tự Thuyết): "Ví như đại dương mênh mông chỉ có một vị duy nhất là vị mặn, thì giáo pháp và giới luật này cũng chỉ có một vị duy nhất, đó là vị của sự giải thoát." Mặc dù đa dạng về ý nghĩa và cách diễn đạt, các lời dạy của Đức Phật đều hòa hợp thành một hệ thống nhất quán hoàn hảo, có được sự thống nhất nhờ vào mục tiêu tối hậu của chúng. Mục tiêu đó chính là sự giải thoát (vimutti), ở đây được hiểu là sự giải thoát về mặt tâm linh: sự giải phóng tâm khỏi mọi xiềng xích và trói buộc, sự giải phóng bản thể chúng ta khỏi nỗi khổ đau gắn liền với hành trình lang thang trong luân hồi (samsara). Tuy nhiên, dù các lời dạy của Đức Phật hòa hợp với nhau nhờ mục tiêu chung, chúng lại được truyền đạt đến những người đang ở các trình độ phát triển tâm linh khác nhau; do đó, chúng cần được diễn đạt theo những cách thức khác nhau tùy thuộc vào nhu cầu của người được giáo hóa. Ở đây, hình ảnh về nước lại là một sự ví von thích hợp. Nước có một bản chất duy nhất—về mặt hóa học, đó là sự kết hợp giữa hai nguyên tử hydro và một nguyên tử oxy—nhưng nó lại mang hình dáng của vật chứa đựng nó; tương tự như vậy, Giáo pháp (Dhamma) có một bản chất duy nhất—sự giải thoát khỏi khổ đau—nhưng lại được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau để phù hợp với căn cơ và khuynh hướng của những người được hướng dẫn và được đào tạo. Chính vì những cách diễn đạt khác nhau này đều dẫn đến cùng một đích đến, và vì cùng một đích đến đó có thể đạt được thông qua những lời dạy được diễn đạt theo nhiều cách khác nhau, nên Giáo pháp được gọi là *sattha sabyañjana*—nghĩa là "đầy đủ ý nghĩa (văn phong) và câu chữ (ngôn ngữ)"

To make sense out of the various teachings found in the Dhammapada, to grasp the vision of human spirituality expressed by the work as a whole, I would like to suggest a schematism of four levels of instruction set forth in the Dhammapada. This fourfold schematism develops out of three primary and perennial spiritual needs of man: first, the need to achieve welfare and happiness in the present life, in the immediately visible sphere of human relations; second, the need to attain a favorable future life in accordance with a principle that confirms our highest moral intuitions; and third, the need for transcendence, to overcome all the limits imposed upon us by our finitude and temporality and to attain a freedom that is boundless, timeless, and irreversible. These three needs give rise to four levels of instruction by distinguishing two levels pertaining to the third need: the level of path, when we are on the way to transcendence, and the level of fruit, when we have won through to transcendence.

Để hiểu rõ các giáo huấn đa dạng trong kinh Pháp Cú (Dhammapada) và nắm bắt tầm nhìn về đời sống tâm linh con người được thể hiện qua toàn bộ tác phẩm này, tôi xin đề xuất một mô hình phân loại gồm bốn cấp độ giáo huấn. Mô hình bốn cấp độ này được hình thành từ ba nhu cầu tâm linh chính và trường tồn của con người: thứ nhất, nhu cầu đạt được sự an vui và hạnh phúc trong đời sống hiện tại, ngay trong phạm vi các mối quan hệ giữa người với người mà ta có thể thấy rõ; thứ hai, nhu cầu đạt được một kiếp sống tương lai tốt đẹp, phù hợp với nguyên tắc xác thực những trực giác đạo đức cao cả nhất của chúng ta; và thứ ba, nhu cầu siêu việt, vượt lên trên mọi giới hạn do tính hữu hạn và tính tạm thời của kiếp người áp đặt, để đạt tới sự tự do vô biên, phi thời gian và bất biến. Ba nhu cầu này dẫn đến bốn cấp độ giáo huấn thông qua việc phân tách nhu cầu thứ ba thành hai cấp bậc: cấp bậc "đạo", khi ta đang trên hành trình hướng tới sự siêu việt; và cấp độ "thành quả", khi ta đã thực sự đạt được sự siêu việt đó.

Now let us examine each of these levels in turn, illustrating them with citations of relevant verses from the Dhammapada.

Bây giờ chúng ta hãy lần lượt xem xét từng cấp bậc và diễn giải bằng các câu kệ thích hợp trích từ kinh Pháp Cú (Dhammapada).

1.The Human Good Here And Now

1.Điều thiện của con người ở đây và ngay lúc này

The first level of instruction in the Dhammapada is addressed to the need to establish human welfare and happiness in the immediately visible domain of personal relation. The aim at this level is to show us the way to live at peace with ourselves and our fellow human beings, to fulfill our family and social responsibilities, and to remove the conflicts which infect human relationships and bring such immense suffering to the individual, society and the world as a whole.

Cấp bậc giáo huấn đầu tiên trong kinh Pháp Cú (Dhammapada) hướng đến việc xây dựng an lạc và hạnh phúc cho con người ngay trong phạm vi các mối quan hệ cá nhân hiện hữu. Mục tiêu ở cấp bậc này là chỉ ra cách sống hòa hợp của chính mình và những người xung quanh, cách chu toàn trách nhiệm đối với gia đình và xã hội, cũng như cách loại bỏ những xung đột vốn gây tổn hại cho các mối quan hệ và mang lại nỗi khổ đau cho cá nhân, xã hội và toàn thế giới.

The guidelines appropriate to this level of instruction are largely identical with the basic ethical injunctions proposed by most of the great world religions. However, in the Buddha's teaching these ethical injunctions are not regarded as fiats imposed by an all-powerful God. Rather, they are presented as precepts or training rules grounded upon two directly verifiable foundations: concern for one's own personal integrity and considerations for the welfare of those whom one's actions may affect.

Các nguyên tắc hướng dẫn phù hợp với cấp bậc giảng dạy này về cơ bản tương đồng với những quy tắc đạo đức cơ bản được đề xướng bởi hầu hết các tôn giáo lớn trên thế giới. Tuy nhiên, trong giáo lý của Đức Phật, những quy tắc đạo đức này không được xem là mệnh lệnh áp đặt bởi một vị Thượng đế toàn năng. Thay vào đó được trình bày như những giới điều hay quy tắc rèn luyện dựa trên hai nền tảng có thể kiểm chứng trực tiếp: sự quan tâm đến phẩm hạnh của chính mình và sự cân nhắc về lợi ích của những người có thể chịu ảnh hưởng từ hành động của bản thân.

The most general advice the Dhammapada gives is to avoid all evil, to cultivate good, and to cleanse one's own mind; this is said to be the counsel of all the Enlightened Ones (v. 183). More specific directives, however, are also given. To abstain from evil we are advised to avoid irritation in deed, word and thought and to exercise self-control over body, speech and mind (vv. 231-234). One should adhere scrupulously to the five moral precepts: abstinence from destroying life, from stealing, from sexual misconduct, from lying and from intoxicants (vv. 246-247). The disciple should treat all beings with kindness and compassion, live honestly, control his desires, speak the truth, and live a sober upright life. He should fulfill all his duties to parents, to immediate family, to friends, and to recluses and brahmans (vv. 331-333).

Lời khuyên tổng quát nhất mà kinh Pháp Cú (Dhammapada) đưa ra là hãy tránh xa mọi điều ác, vun bồi điều thiện và thanh tịnh hóa tâm; đây được xem là lời giáo huấn của tất cả các bậc Giác Ngộ (câu kệ 183). Tuy nhiên, kinh cũng đưa ra những chỉ dẫn cụ thể hơn. Để tránh xa điều ác, chúng ta được khuyên không nên để nảy sinh những hành vi, lời nói hay suy nghĩ mang tính sân hận, đồng thời phải biết tự chủ về thân, khẩu và ý (các câu kệ 231-234). Mỗi người cần nghiêm túc trì năm giới cấm: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không sử dụng các chất say (các câu 246-247). Người Phật tử cần đối xử với mọi chúng sinh bằng lòng nhân ái và từ bi, sống trung thực, tiết chế dục vọng, nói lời chân thật, cũng như sống một cuộc đời tỉnh táo và chính trực. Họ cần làm tròn bổn phận đối với cha mẹ, gia đình, bạn bè, cũng như đối với các bậc tu hành và các vị Bà-la-môn (các câu 331-333).

A large number of verses pertaining to this first level are concerned with the resolution of conflict and hostility. From other parts of the Sutta Pitaka we learn that the Buddha was a keen and sensitive observer of the social and political developments that were rapidly transforming the Indian states he visited on his preaching rounds. The violence, hatred, cruelty and sustained enmity that he witnessed have persisted right down to the present, and the Buddha's answer to this problem is still the only answer that can work. The Buddha tells us that the key to solving the problem of violence and cruelty is the ancient maxim of using oneself as the standard for deciding how to treat others. I myself tremble at violence, wish to live in peace and do not want to die. Thus, putting myself in the place of others, I should recognize that all other beings tremble at violence, that all wish to live and do not want to die. Recognizing this, I should not intimidate others, harm them, or cause them to be harmed in any way (vv. 129-130).

Số lớn các bài kệ thuộc cấp bậc đầu này đề cập đến việc giải quyết xung đột và sự thù hận. Từ các phần khác của Tạng Kinh (Sutta Pitaka), chúng ta biết rằng Đức Phật là một người quan sát nhạy bén và sâu sắc trước những biến chuyển về mặt xã hội và chính trị đang nhanh chóng thay đổi các tiểu bang của Ấn Độ mà Ngài đã đi qua trong hành trình hoằng pháp. Bạo lực, lòng căm thù, sự tàn ác và mối thù hằn dai dẳng mà Ngài từng chứng kiến ​​vẫn còn tồn tại cho đến tận ngày nay, và giải pháp của Đức Phật cho vấn đề này vẫn là giải pháp duy nhất thực sự hiệu quả. Đức Phật dạy rằng chìa khóa để giải quyết vấn đề bạo lực và sự tàn ác chính là nguyên tắc cổ xưa: lấy bản thân mình làm thước đo để quyết định cách đối xử với người khác. Bản thân tôi cũng run sợ trước bạo lực, mong muốn được sống trong hòa bình và không hề muốn chết. Do đó, khi đặt mình vào vị trí của người khác, tôi cần nhận thức rằng mọi chúng sinh khác cũng đều run sợ trước bạo lực, đều mong muốn được sống và không muốn chết. Khi nhận thức được điều này, tôi sẽ không đe dọa, làm hại hay gây tổn thương cho người khác dưới bất kỳ hình thức nào (các bài kệ 129-130).

The Buddha saw that hatred and enmity continue and spread in a self-expanding cycle: responding to hatred by hatred only breeds more hatred, more enmity, more violence, and feed the whole vicious whirlpool of vengeance and retaliation. The Dhammapada teaches us that the true conquest of hatred is achieved by non-hatred, by forbearance, by love (v. 5). When wronged by others we must be patient and forgiving. We must control our anger as a driver controls a chariot; we must bear angry words as the elephant in battle bears the arrows shot into its hide; when spoken to harshly we must remain silent like a broken bell (vv. 222, 320, 134).

Đức Phật nhận thấy lòng hận thù và căm ghét cứ tiếp diễn và lan rộng theo một vòng xoáy tự gia tăng: lấy oán báo oán sinh thêm oán thù, hiềm khích và bạo lực, đồng thời nuôi dưỡng vòng luẩn quẩn của sự báo thù và trả đũa. Kinh Pháp Cú dạy rằng, chiến thắng được lòng hận thù thực sự là nhờ vào tâm không oán hận, sự nhẫn nhục và tình thương yêu (câu 5). Khi bị người khác đối xử bất công, ta cần phải kiên nhẫn và bao dung. Ta phải chế ngự cơn giận như người điều khiển cỗ xe; phải chịu đựng những lời giận dữ như voi trận chịu đựng những mũi tên găm vào da thịt; và khi bị nói lời gay gắt, ta phải giữ im lặng như cái chuông vỡ (các câu 222, 320, 134).

According to the Dhammapada, the qualities distinguishing the superior human being (sapurisa) are generosity, truthfulness, patience and compassion. By following these ideals we can live at peace with our own conscience and in harmony with our fellows. The scent of virtue, the Buddha declares, is sweeter than the scent of flowers and perfume; the good man or woman shines from afar like the Himalayan mountains; just as the lotus flower rises up in all its beauty above the muck and mire of the roadside refuse heap, so does the disciple of the Buddha rise up in splendor of wisdom above the masses of ignorant worldlings (vv. 54, 304, 59).

Theo kinh Pháp Cú (Dhammapada), những phẩm hạnh làm nên bậc thiện nhân (sapurisa) chính là lòng bao dung, sự chân thật, tính kiên nhẫn và lòng từ bi. Khi noi theo những lý tưởng này chúng ta có thể sống bình yên với lương tâm mình và hòa hợp với mọi người xung quanh. Đức Phật khẳng định rằng hương thơm của đức hạnh còn ngát hơn cả hương hoa hay các loại nước hoa; người thiện lương tỏa sáng từ xa tựa như dãy núi Himalaya hùng vĩ; và cũng như đóa sen vươn mình khoe sắc rạng rỡ trên đống bùn nhơ ven đường, người đệ tử Phật cũng vươn lên trong ánh sáng trí tuệ rực rỡ, vượt xa đám đông phàm phu còn chìm đắm trong vô minh (các câu kệ 54, 304, 59).

2. The Good in Future Lives

2.Những điều tốt lành trong các kiếp tương lai

The basic emphasis in the first level of teaching in the Dhammapada is ethical, a concern which arises from a desire to promote human well-being here and now. However, the teachings pertaining to this level give rise to a profound religious problem, a dilemma that challenges the mature thinker. The problem is as follows: Our moral intuition, our innate sense of moral justice, tells us that there must be some principle of compensation at work in the world whereby goodness meets with happiness and evil meets with suffering. But everyday experience shows us exactly the opposite. We all know of highly virtuous people beset with every kind of hardship and thoroughly bad people who succeed in everything they do. We feel that there must be some correction to this imbalance, some force that will tilt the scales of justice into the balance that seems right, but our daily experience seems to contradict this intuition totally.

Trong Kinh Pháp Cú cấp độ cơ bản đầu tiên giảng dạy là đạo đức; đây là mối quan tâm xuất phát từ mong muốn thúc đẩy sự an vui cho con người ở đây và bây giờ. Tuy nhiên, những giáo lý thuộc cấp bậc này lại đặt ra một vấn đề tôn giáo, một tình thế tiến thoái lưỡng nan thách thức người có tư duy chín chắn. Vấn đề đó như sau: Trực giác đạo đức của chúng ta, cảm thức bẩm sinh về công lý đạo đức, mách bảo chúng ta rằng hẳn phải có một nguyên tắc đền bù nào đó đang vận hành trên thế giới này, là cái thiện sẽ mang lại hạnh phúc còn cái ác sẽ dẫn đến khổ đau. Nhưng trải nghiệm thực tế hằng ngày cho chúng ta thấy hoàn toàn trái ngược. Chúng ta biết có những người tốt nhưng lại phải chịu mọi gian khổ, trong khi những kẻ xấu lại thành công trong mọi việc họ làm. Chúng ta cảm thấy cần phải có sự điều chỉnh cho tình trạng không cân bằng này, cần một lực lượng nào đó xoay chuyển cán cân công lý về trạng thái cân bằng hợp lẽ; vậy mà những trải nghiệm thường nhật dường như lại hoàn toàn mâu thuẫn với trực giác ấy.

However, in his teachings the Buddha reveals that there is a force at work which can satisfy our demand for moral justice. This force cannot be seen with the eye of the flesh nor can it be registered by any instruments of measurement, but its working becomes visible to the supernormal vision of sages and saints, while all its principles in their full complexity are fathomed by a Perfectly Enlightened Buddha. This force is called kamma. The law of kamma ensures that our morally determinate actions do not disappear into nothingness, but rather continue on as traces in the deep hidden layers of the mind, where they function in such a way that our good deeds eventually issue in happiness and success, our evil deeds in suffering and misery.

Tuy nhiên, trong giáo lý của Ngài, Đức Phật đã chỉ ra sự hiện hữu của một nguồn lực có khả năng đáp ứng đòi hỏi của chúng ta về sự công bằng đạo đức. Nguồn lực này không thể nhìn thấy bằng mắt thường hay đo lường được bằng bất kỳ thiết bị nào, nhưng sự vận hành của nó lại hiển lộ trước tuệ nhãn của các bậc hiền triết và thánh nhân; đồng thời, mọi nguyên lý của nó, với tất cả sự phức tạp, đều được thấu suốt trọn vẹn bởi một vị Phật Chánh Đẳng Giác. Nguồn lực ấy được gọi là nghiệp. Quy luật nghiệp báo đảm bảo rằng những hành động mang tính đạo đức của chúng ta không hề biến mất vào hư vô; trái lại, chúng vẫn tồn tại tiềm ẩn trong các tầng sâu kín của tâm thức, nơi chúng vận hành theo cách thức khiến thiện nghiệp cuối cùng sẽ trổ quả hạnh phúc và thành công, còn ác nghiệp sẽ dẫn đến khổ đau và khốn cùng.

The word kamma, in the Buddha's teaching, means volitional action. Such action may be bodily or verbal, when volition is expressed in deed or speech, or it may be purely mental, when volition remains unexpressed as thoughts, emotions, wishes and desires. The actions may be either wholesome or unwholesome: wholesome when they are rooted in generosity, amity and understanding; unwholesome when they spring from greed, hatred and delusion. According to the principle of kamma, the willed actions we perform in the course of a life have long-term consequences that correspond to the moral quality of the original action. The deeds may utterly fade from our memory, but once performed they leave subtle impressions upon the mind, potencies capable of ripening in the future to our weal or our woe.

Chữ nghiệp, trong giáo lý của Đức Phật có nghĩa là hành động có tác ý. Hành động ấy có thể thuộc về thân, khẩu khi ý chí được biểu hiện qua việc làm hay lời nói, hoặc hoàn toàn thuộc về ý khi ý chí chỉ dừng lại ở dạng suy nghĩ, cảm xúc, mong cầu và ham muốn. Các hành động này có thể là thiện hoặc bất thiện: thiện khi chúng bắt nguồn từ sự bao dung, lòng nhân ái và sự hiểu biết; bất thiện khi chúng nảy sinh từ tham, sân và si. Theo quy luật nghiệp báo, những hành động có tác ý mà ta thực hiện trong suốt cuộc đời sẽ mang lại những hệ quả lâu dài tương ứng với tính chất đạo đức của hành động. Những việc làm ấy có thể hoàn toàn phai nhạt khỏi ký ức, nhưng một khi đã được thực hiện, chúng vẫn để lại những dấu ấn vi tế trong tâm thức, những tiềm năng có thể trổ quả trong tương lai, mang lại cho ta hạnh phúc hoặc khổ đau.

According to Buddhism, conscious life is not a chance by-product of molecular configurations or a gift from a divine Creator, but a beginningless process which repeatedly springs up at birth and passes away at death, to be followed by a new birth. There are many spheres besides the human into which rebirth can occur: heavenly realms of great bliss, beauty and power, infernal realms where suffering and misery prevail. The Dhammapada does not give us any systematic teaching on kamma and rebirth. As a book of spiritual counsel it presupposes the theoretical principles explained elsewhere in the Buddhist scriptures and concerns itself with their practical bearings on the conduct of life. The essentials of the law of kamma, however, are made perfectly clear: our willed actions determine the sphere of existence into which we will be reborn after death, the circumstances and endowments of our lives within any given form of rebirth, and our potentials for spiritual progress or decline.

Theo Phật giáo, cuộc sống có tri giác không phải là sản phẩm ngẫu nhiên của các cấu trúc phân tử hay món quà từ một Đấng Sáng tạo , mà là một tiến trình không có điểm khởi đầu; tiến trình này liên tục khởi sinh từ khi chào đời và chấm dứt khi qua đời, để rồi tiếp nối bằng một sự tái sinh mới. Ngoài cõi người, còn có nhiều cõi khác mà chúng sinh có thể tái sinh vào: từ các cõi trời tràn ngập an lạc, đẹp và uy quyền, cho đến những chốn địa ngục nơi thống trị bởi khổ đau và sự khốn khổ bao trùm. Kinh Pháp Cú không trình bày một hệ thống giáo lý chi tiết về nghiệp và tái sinh. Là một tác phẩm về tâm linh, kinh này mặc nhiên thừa nhận các nguyên lý lý thuyết đã được giải thích ở những phần khác trong kinh điển Phật giáo, và tập trung vào việc áp dụng các nguyên lý ấy vào cách sống và hành xử thực tế. Tuy nhiên, những điểm cốt yếu của quy luật nghiệp báo lại được trình bày vô cùng sáng tỏ: chính những hành động có tác ý của chúng ta sẽ quyết định cảnh giới tái sinh sau khi chết, hoàn cảnh sống và những đặc điểm, năng lực của chúng ta trong kiếp sống đó, cũng như tiềm năng thăng tiến hay thoái lui trên con đường tâm linh.

At the second level of instruction found in the Dhammapada the content of the message is basically the same as that of the first level: it is the same set of moral injunctions for abstaining from evil and doing good. The difference lies in the viewpoint from which these precepts are issued and the purpose for which they are taken up. At this level the precepts are prescribed to show us the way to achieve long-range happiness and freedom from sorrow, not only in the visible sphere of the present life, but far beyond into the distant future in our subsequent transmigration in samsara. Despite the apparent discrepancy between action and result, an all-embracing law ensures that ultimately moral justice triumphs. In the short run the good may suffer and the evil may prosper. But all willed actions bring their appropriate results: if one acts or speaks with an evil mind, suffering follows just as the wheel follows the foot of the draft-ox; if one acts or speaks with a pure mind, happiness follows like a shadow that never departs (vv.1-2). The evil-doer grieves here and hereafter; he is tormented by his conscience and destined to planes of misery. The doer of good rejoices here and hereafter, he enjoys a good conscience and is destined to realms of bliss (vv. 15- 18). To follow the law of virtue leads upward, to happiness and joy and to higher rebirths; to violate the law leads downward, to suffering and to lower rebirths. The law is inflexible. Nowhere in the world can the evil-doer escape the result of his evil kamma, "neither in the sky nor in mid-ocean nor by entering into mountain clefts" (v. 127). The good person will reap the rewards of his or her good kamma in future lives with the same certainty with which a traveler, returning home after a long journey, can expect to be greeted by his family and friends (v. 220).

Ở cấp độ giáo huấn thứ hai trong kinh Pháp Cú, *nội dung* của thông điệp về cơ bản vẫn giống như cấp độ thứ nhất: đó là những lời răn dạy đạo đức về việc tránh điều bất thiện và thực hành điều thiện. Sự khác biệt nằm ở *góc độ* đưa ra các giới luật này và *mục đích* mà người ta thực hành chúng. Ở cấp độ này, các giới luật được đưa ra nhằm chỉ cho chúng ta con đường đạt được hạnh phúc lâu dài và thoát khỏi khổ đau, không chỉ trong phạm vi hữu hình của kiếp sống hiện tại mà còn qua tiếp tới tương lai trong những kiếp luân hồi tiếp theo. Mặc dù có vẻ như tồn tại sự chênh lệch giữa hành động và kết quả, nhưng một quy luật bao trùm tất cả vẫn đảm bảo rằng cuối cùng công lý đạo đức sẽ chiến thắng. Trong ngắn hạn, người thiện có thể phải chịu khổ còn kẻ bất thiện lại có thể thịnh vượng. Tuy nhiên, Ý dẫn đầu các pháp, Ý chủ trì, tạo tác, Nếu ngôn từ, hành động, Với tâm ý nhiễm ác, Khổ theo tựa bánh xe, Đi sau dấu chân bò; Ý dẫn đầu các pháp, Ý chủ trì, tạo tác, Nếu ngôn từ, hành động, Với tâm ý trong sáng, An lạc sẽ theo sau, Như bóng không rời hình (câu 1-2). Nay sầu, đời sau sầu, Kẻ ác hai đời sầu, Nó sầu khổ phiền muộn, Thấy nghiệp uế mình làm (15); Giờ vui, sau cũng thế, Người làm lành hân hoan, Nhớ tịnh nghiệp đã làm, Niềm vui càng to lớn (16); Nay khổ đời sau khổ, Kẻ ác hai đời khổ, Khổ tâm: "Ta làm ác", Sanh ác thú khổ hơn (17) Nay sướng, đời sau sướng, Làm phước hai đời sướng, Sung sướng: "Ta làm phước", Sanh cõi lành sướng hơn (18). Tuân theo quy luật đạo đức sẽ đưa ta đi lên, hướng tới hạnh phúc, niềm vui và những kiếp tái sinh tốt đẹp hơn; ngược lại, vi phạm quy luật này sẽ đưa ta đi xuống, dẫn đến khổ đau và những kiếp tái sinh thấp kém. Quy luật này bất di bất dịch. Không nơi nào trên thế gian mà kẻ làm ác có thể trốn thoát khỏi hậu quả của nghiệp ác mình đã gây ra: "Dù hư không, biển cả, Hoặc hang thẳm núi cao, Để người trốn ác quả, Được an toàn ẩn náu" (câu 127). Người thiện sẽ gặt hái quả lành từ nghiệp thiện của mình trong các kiếp tương lai, chắc chắn như việc một người lữ khách được dón chào kẻ làm lành, Kiếp này, kiếp lai sanh, Như quyến thuộc đón mừng (câu 220).

3. The Path to the Final Good

3. Đường Đạo dẫn đến điều thiện tối hậu

The teaching on kamma and rebirth, with its practical corollary that we should perform deeds of merit with the aim of obtaining a higher mode of rebirth, is not by any means the final message of the Buddha or the decisive counsel of the Dhammapada. In its own sphere of application this teaching is perfectly valid as a preparatory measure for those who still require further maturation in their journey through samsara. However, a more searching examination reveals that all states of existence in samsara, even the highest heavens, are lacking in genuine worth; for they are all impermanent, without any lasting substance, incapable of giving complete and final satisfaction. Thus the disciple of mature faculties, who has been prepared sufficiently by previous experience in the world, does not long even for rebirth among the gods (vv. 186- 187).

Giáo lý về nghiệp và tái sinh, cùng với hệ quả thực tiễn là ta nên tạo phước đức để được tái sinh vào cảnh giới cao hơn, đón không phải là thông điệp tối hậu của Đức Phật hay lời khuyên mang tính quyết định của kinh Pháp Cú. Trong phạm vi áp dụng của chính nó, giáo lý này hoàn toàn xác đáng như một bước chuẩn bị cho những ai còn cần thêm sự chín muồi trên hành trình luân hồi. Tuy nhiên, xem xét kỹ lưỡng hơn cho thấy rằng tất cả các trạng thái tồn tại trong vòng luân hồi, kể cả những cõi trời cao nhất, đều thiếu vắng giá trị đích thực; bởi lẽ tất cả chúng đều vô thường, không có thực thể trường tồn, và không thể mang lại sự thỏa mãn trọn vẹn, rốt ráo. Do đó, người Phật tử đã có căn cơ chín muồi và được tu tập đầy đủ qua những trải nghiệm ở đời sẽ không còn khao khát ngay cả việc tái sinh vào cõi chư thiên (các câu 186-187).

Having understood that all conditioned things are intrinsically unsatisfactory and fraught with danger, the mature disciple aspires instead for deliverance from the ever-repeating round of rebirths. This is the ultimate goal to which the Buddha points, as the immediate aim for those of developed spiritual faculties and also as the long-term ideal for those who still need further maturation: Nibbana, the Deathless, the unconditioned state where there is no more birth, aging and death, and thus no more suffering.

Thấu hiểu rằng các pháp hữu vi đều mang tính chất bất toại nguyện và đầy rẫy hiểm nguy, người Phật tử đã trưởng thành về tâm thức sẽ hướng nguyện đến sự giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử triền miên. Đây chính là mục tiêu tối hậu mà Đức Phật chỉ ra, vừa là đích đến trước mắt cho những ai đã có các căn lành phát triển, vừa là lý tưởng lâu dài cho những ai còn cần thêm thời gian tu tập để hoàn thiện: Niết-bàn, trạng thái Bất tử, trạng thái vô vi, nơi không còn sinh, già, chết, và do đó, không còn khổ đau.

The third level of instruction found in the Dhammapada sketches the theoretical framework for the aspiration for final liberation and lays down guidelines pertaining to the practical discipline that can bring this aspiration to fulfillment. The theoretical framework is supplied by the teaching of the Four Noble Truths, which the Dhammapada calls the best of all truths (v. 273): suffering, the origin of suffering, the cessation of suffering, and the Noble Eightfold Path leading to the cessation of suffering. The four truths all center around the problem of dukkha or suffering, and the Dhammapada teaches us that dukkha is not to be understood only as experienced pain and sorrow but more widely as the pervasive inadequacy and wretchedness of everything conditioned: "There is no ill like the aggregates of existence; all conditioned things are suffering; conditioned things are the worst suffering (vv. 202, 278, 203). The second truth points out that the cause of suffering is craving, the yearning for pleasure, possessions and being which drives us through the round of rebirths, bringing along sorrow, anxiety and despair. The Dhammapada devotes an entire chapter (ch. 24) to the theme of craving, and the message of this chapter is clear: so long as even the subtlest thread of craving remains in the mind, we are not beyond danger of being swept away by the terrible flood of existence. The third noble truth spells out the goal of the Buddha's teaching: to gain release from suffering, to escape the flood of existence, craving must be destroyed down to its subtlest depths. And the fourth noble truth prescribes the means to gain release, the Noble Eightfold Path, which again is the focus of an entire chapter (ch. 20).

Cấp bậc thứ ba của lời dạy trong kinh Pháp Cú phác thảo khuôn khổ lý thuyết cho khát vọng đạt đến sự giải thoát tối hậu, đồng thời đưa ra các chỉ dẫn về sự tu tập thực tiễn để hiện thực hóa khát vọng này. Khung lý thuyết ấy được xây dựng dựa trên giáo lý Tứ Diệu Đế, Tám chánh, đường thù thắng, Bốn câu, lý thù thắng, Ly tham, pháp thù thắng, Giữa các loài hai chân, Pháp nhãn, người thù thắng (câu 273)—bao gồm: khổ, nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt khổ, và Bát Thánh Đạo dẫn đến sự chấm dứt khổ. Cả bốn sự thật này đều xoay quanh vấn đề *dukkha* (khổ); kinh Pháp Cú dạy rằng *dukkha* không chỉ nên được hiểu là những nỗi đau đớn hay sầu muộn cụ thể, mà rộng hơn, đó là sự bất toàn và khổ lụy bao trùm lên mọi sự vật hiện tượng mang tính hữu vi : "Không có gánh nặng nào bằng gánh nặng của ngũ uẩn; mọi pháp hữu vi đều là khổ; các pháp hữu vi là nỗi khổ đau tột cùng" (các câu 202, 278, 203). Sự thật thứ hai chỉ ra rằng nguyên nhân của khổ đau chính là ái dục, sự khao khát lạc thú, của cải và sự hiện hữu, thứ lôi cuốn chúng ta vào vòng luân hồi, kéo theo sầu muộn, lo âu và tuyệt vọng. Kinh Pháp Cú dành trọn một chương (chương 24) để bàn về chủ đề ái dục, và thông điệp của chương này rất rõ ràng: chừng nào dù chỉ một sợi tơ ái dục vi tế nhất còn sót lại trong tâm, chúng ta vẫn chưa thoát khỏi nguy cơ bị cuốn trôi bởi dòng thác dữ dội của sự hiện hữu. Sự thật cao quý thứ ba làm rõ mục tiêu trong giáo pháp của Đức Phật: để được giải thoát khỏi khổ đau và thoát khỏi dòng thác hiện hữu, ái dục cần phải bị tiêu diệt tận gốc rễ, ngay cả ở những tầng sâu kín và vi tế nhất. Và sự thật cao quý thứ tư chỉ ra phương thức để đạt được sự giải thoát ấy, đó là Bát Thánh Đạo, nội dung được dành riêng một chương để trình bày (chương 20).

At the third level of instruction a shift in the practical teaching of the Dhammapada takes place, corresponding to the shift in doctrine from the principles of kamma and rebirth to the Four Noble Truths. The stress now no longer falls on basic morality and purified states of mind as a highway to more favorable planes of rebirth. Instead it falls on the cultivation of the Noble Eightfold Path as the means to destroy craving and thus break free from the entire process of rebirth itself. The Dhammapada declares that the eightfold path is the only way to deliverance from suffering (v. 274). Its says this, not as a fixed dogma, but because full release from suffering comes from the purification of wisdom, and this path alone, with its stress on right view and the cultivation of insight, leads to fully purified wisdom, to complete understanding of liberating truth. The Dhammapada states that those who tread the path will come to know the Four Noble Truths, and having gained this wisdom, they will end all suffering. The Buddha assures us that by walking the path we will bewilder Mara, pull out the thorn of lust, and escape from suffering. But he also cautions us about our own responsibility: we ourselves must make the effort, for the Buddhas only point out the way (vv. 275, 276).

Ở cấp bậc thứ ba của giáo lý có một sự chuyển hướng trong việc thực hành kinh Pháp Cú, tương ứng với sự chuyển đổi về mặt giáo lý từ các nguyên tắc về nghiệp và tái sinh sang Tứ Diệu Đế. Trọng tâm lúc này không còn đặt vào đạo đức căn bản và trạng thái tâm thanh tịnh như là con đường dẫn đến các cảnh giới tái sinh tốt đẹp hơn. Thay vào đó, trọng tâm chuyển sang việc tu tập Bát Chánh Đạo như phương tiện để diệt trừ tham ái, qua đó giải thoát khỏi toàn bộ tiến trình tái sinh. Kinh Pháp Cú khẳng định rằng Bát Chánh Đạo là con đường duy nhất dẫn đến sự giải thoát khỏi khổ đau (câu 274). Kinh nói điều này không phải như một giáo điều cứng nhắc, mà bởi vì sự giải thoát trọn vẹn khỏi khổ đau đến từ sự thanh tịnh của trí tuệ; và chỉ riêng con đường này, với việc chú trọng vào Chánh kiến ​​và tu tập tuệ giác, mới dẫn đến trí tuệ hoàn toàn thanh tịnh và sự thấu hiểu trọn vẹn về chân lý giải thoát. Kinh Pháp Cú khẳng định rằng những ai bước đi trên con đường này sẽ thấu hiểu Tứ Diệu Đế, và khi đạt được trí tuệ ấy, họ sẽ chấm dứt mọi khổ đau. Đức Phật khẳng định với chúng ta rằng bằng cách thực hành con đường này, ta sẽ khiến Ma vương (Mara) bối rối, nhổ bỏ chiếc gai tham dục và thoát khỏi khổ đau. Tuy nhiên, Ngài cũng nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm của chính mình: tự bản thân mỗi người phải nỗ lực thực hành, bởi chư Phật chỉ là bậc chỉ đường mà thôi (các câu 275, 276).

In principle the practice of the Noble Eightfold Path is open to people in any walk of life, householders as well as monks and nuns. However, application to the development of the path is most feasible for those who have relinquished all worldly concerns in order to devote themselves fully to living the holy life. For conduct to be completely purified, for the mind to be trained in concentration and insight, the adoption of a different lifestyle becomes advisable, one which minimizes distractions and stimulants to craving and orders all activities around the aim of liberation. Thus the Buddha established the Sangha, the Order of bhikkhus and bhikkhunis, as the field of training for those ready to devote themselves fully to the practice of the path.

Nói chung thì việc tu tập Bát Chánh Đạo dành cho mọi người thuộc mọi tầng lớp xã hội, từ người cư sĩ tại gia cho đến các vị tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni. Tuy nhiên, việc tu tập theo Bát Chánh Đạo sẽ thuận lợi nhất đối với những ai đã từ bỏ mọi bận tâm thế tục để hiến trọn cuộc đời cho nếp sống thánh thiện. Để đạt được sự thanh tịnh trọn vẹn trong mọi hành vi, cũng như rèn luyện tâm qua định và tuệ, người hành giả cần chọn một lối sống khác biệt, lối sống giúp giảm thiểu những yếu tố gây xao lãng hay kích thích lòng tham ái, đồng thời định hướng mọi hoạt động xoay quanh mục tiêu giải thoát. Chính vì vậy, Đức Phật đã thành lập Tăng đoàn bao gồm các vị tỳ-kheo và tỳ-kheo-ni, như một môi trường tu tập dành cho những ai đã sẵn sàng dấn thân trọn vẹn vào con đường tu tập Bát Chánh Đạo.

In the Dhammapada we find the call to the monastic life resounding throughout. The entry way to the monastic life is an act of radical renunciation spurred on by our confrontation with suffering, particularly by our recognition of our inevitable mortality. The Dhammapada teaches that just as a cowherd drives the cattle to pasture, so old age and death drive living beings from life to life (v. 135). There is no place in the world where one can escape death, for death is stamped into the very substance of our being (v. 128). The body is a painted mirage in which there is nothing lasting or stable; it is a mass of sores, a nest of disease, which breaks up and ends in death; it is a city built of bones containing within itself decay and death; the foolish are attached to it, but the wise, having seen that the body ends as a corpse, lose all delight in mundane joys (vv. 146-150).

Trong kinh Pháp Cú chúng ta thấy lời kêu gọi dấn thân vào đời sống xuất gia ở khắp các bài kinh. Bước vào đời sống xuất gia là hành động từ bỏ triệt để, được thôi thúc bởi sự đối diện với khổ đau, và đặc biệt là bởi sự nhận thức về cái chết tất yếu của kiếp người. Kinh Pháp Cú dạy rằng như mục đồng cầm roi, lùa bò ra cánh đồng, Già và chết đưa đẩy, Tất cả đến tử vong. Cái chết lùa chúng sinh đi từ kiếp sống này sang kiếp sống khác (câu 135). Dù hư không, biển cả, Hoặc hang thẳm núi cao, Không chỗ để bôn đào, Thoát khỏi tay thần chết, bởi lẽ cái chết đã in hằn ngay trong bản chất sự hiện hữu của chúng ta (câu 128). Thân xác chỉ là một ảo ảnh được tô vẽ, nơi chẳng có gì là bền vững hay trường tồn; nó là khối ung nhọt, chất chứa lắm khổ đau, rồi sẽ tan rã và kết thúc bằng cái chết; nó là Thành trì dựng bằng xương, Quét tô bằng máu thịt, Trong chứa già và chết, Với kiêu mạn, giả trá, kẻ ngu si thì đắm luyến thân xác ấy, nhưng bậc trí tuệ khi thấu suốt rằng thân xác rốt cuộc sẽ trở thành thây ma liền buông bỏ mọi ham thích đối với những lạc thú thế gian (các câu 146-150).

Having recognized the transience and hidden misery of mundane life, the thoughtful break the ties of family and social relationships, abandon their homes and sensual pleasures, and enter upon the state of homelessness: "Like swans that abandon the lake, they leave home after home behind... Having gone from home to homelessness, they delight in detachment so difficult to enjoy" (vv. 91, 87). Withdrawn to silent and secluded places, the renunciants seek out the company of wise instructors, who point out their faults, who admonish and instruct them and shield them from wrong, who show them the right path (vv. 76-78, 208). Under their guidance, they live by the rules of the monastic order, content with the simplest material requisites, moderate in eating, practicing patience and forbearance, devoted to meditation (vv. 184-185). Having learned to still the restless waves of thought and to gain one-pointed concentration, they go on to contemplate the arising and falling away of all formations: "The monk who has retired to a solitary abode and calmed the mind, comprehends the Dhamma with insight, and there arises in him a delight that transcends all human delights. Whenever he sees with insight the rise and fall of the aggregates, he is full of joy and happiness (vv. 373, 374).

Nhận thức được tính vô thường và nỗi khổ tiềm ẩn của cuộc sống thế tục, những người có tâm tư sâu sắc đã cắt đứt các mối dây liên hệ gia đình và xã hội, từ bỏ gia đình cùng những lạc thú giác quan để bước vào đời sống không nhà: "Như bầy thiên nga rời bỏ hồ nước, họ lần lượt từ bỏ chốn gia đình... Từ bỏ đời sống gia đình để sống cảnh không nhà, họ tìm thấy niềm an vui trong sự buông bỏ, một niềm vui hiếm có khó tìm" (câu 91, 87). Tìm đến những nơi vắng lặng và thanh tịnh, những người xuất gia tìm kiếm sự dẫn dắt của các bậc thầy hiền trí, những người chỉ ra lỗi lầm, khuyên răn, chỉ dạy, che chở họ khỏi điều sai trái và vạch ra con đường chân chính (câu 76-78, 208). Với sự hướng dẫn ấy, họ sống theo giới luật của tăng đoàn, hài lòng với những vật dụng tối thiểu, tiết độ trong ăn uống, thực hành hạnh kiên nhẫn và nhẫn nhục, đồng thời chuyên tâm tu tập thiền định (câu 184-185). Sau khi học cách làm lắng dịu những làn sóng tư duy xao động và đạt được sự định tâm nhất quán, họ tiến tới quán chiếu sự sinh và diệt của mọi pháp hữu vi: "Vị tỳ-kheo lui về nơi thanh vắng, tâm ý an tịnh, thấu hiểu Giáo pháp bằng tuệ giác, và nơi vị ấy khởi sinh một niềm hỷ lạc vượt xa mọi lạc thú của thế gian. Người thường xuyên quán niệm, Sự sanh diệt các uẩn, Ðạt hỷ lạc, hân hoan, Ðạo bất tử nan nghì" (câu 373, 374).

The life of meditation reaches its peak in the development of insight, and the Dhammapada succinctly enunciates the principles to be seen with the wisdom of insight: "All conditioned things are impermanent... All conditioned things are suffering... All things are not self. When one sees this with wisdom, then one turns away from suffering. This is the path of purification" (vv. 277-279). When these truths are penetrated by direct vision, the fetters of attachment break asunder, and the disciple rises through successive stages of realization to the attainment of full liberation.

Đời sống thiền định đạt đến đỉnh cao qua sự phát triển tuệ giác, và kinh Pháp Cú đã diễn giải một cách súc tích những nguyên lý cần được thấu hiểu bằng trí tuệ ấy: "Tất cả hành vô thường, Với tuệ quán liễu ngộ, Nhờ vậy yểm ly khổ, Ấy con đường thanh tịnh. Tất cả hành khổ não, Với tuệ quán liễu ngộ, Nhờ vậy yểm ly khổ, Ấy con đường thanh tịnh. Tất cả pháp vô ngã, Với tuệ quán liễu ngộ, Nhờ vậy yểm ly khổ, Ấy con đường thanh tịnh" (kệ số 277-279). Khi những sự thật này được thấu triệt bằng sự chứng nghiệm trực tiếp, các xiềng xích của sự dính mắc sẽ bị phá vỡ, và người Phật tử sẽ tiến qua các giai đoạn chứng ngộ kế tiếp để đạt đến sự giải thoát hoàn toàn.

4. The Highest Goal

4. 4. Mục Tiêu Cao Thượng

The fourth level of teaching in the Dhammapada does not reveal any new principles of doctrine or approach to practice. This level shows us, rather, the fruit of the third level. The third level exposes the path to the highest goal, the way to break free from all bondage and suffering and to win the supreme peace of Nibbana. The fourth level is a celebration and acclamation of those who have gained the fruits of the path and won the final goal.

Cấp bậc giảng dạy thứ tư trong kinh Pháp Cú không đưa thêm bất kỳ nguyên lý giáo lý hay phương pháp tu tập mới nào. Thay vào đó, cấp bậc này cho thấy thành quả của cấp bậc thứ ba. Cấp bậc thứ ba chỉ ra con đường dẫn đến mục tiêu tối thượng, lối thoát khỏi mọi sự trói buộc và khổ đau để đạt được sự an tịnh tuyệt đối của Niết-bàn. Cấp bậc thứ tư là sự tán dương và tôn vinh những ai đã đạt được thành quả của con đường ấy và đạt tới đích đến cuối cùng.

The stages of definite attainment along the way to Nibbana are enumerated in the Pali canon as four: stream-entry, when one enters irreversibly upon the path to liberation; once-returning, when one is assured that one will return to the sense sphere of existence only one more time; non-returning, when one will never return to the sense sphere at all but will take a spontaneous birth in a celestial plane and there reach the end of suffering; and arahantship, the stage of full liberation here and now. Although the Dhammapada contains several verses referring to those on the lower stages of attainment, its primary emphasis is on the individual who has reached the fourth and final fruit of liberation, the arahant, and the picture it gives us of the arahant is stirring and inspiring.

Các giai đoạn chứng đắc cụ thể trên lộ trình dẫn đến Niết-bàn được liệt kê thành bốn bậc trong kinh Pali như sau: Nhập lưu (hay Tu-đà-hoàn), khi hành giả bước vào con đường giải thoát một cách bất thối chuyển; Nhất lai (hay Tư-đà-hàm), khi hành giả được thành tựu chỉ còn tái sinh vào cõi dục giới thêm một lần nữa; Bất lai (hay A-na-hàm), khi hành giả không còn tái sinh vào cõi dục giới nữa mà sẽ hóa sinh tại một cõi trời và đạt đến sự chấm dứt khổ đau tại đó; và quả A-la-hán, giai đoạn giải thoát trọn vẹn ngay trong kiếp sống hiện tại. Mặc dù kinh Pháp Cú có chứa một số bài kệ đề cập đến những người đang ở các giai đoạn chứng đắc thấp hơn, nhưng trọng tâm chính của kinh vẫn là bậc đã đạt được quả giải thoát thứ tư và cũng là quả cuối cùng, tức bậc A-la-hán; và hình ảnh về bậc A-la-hán mà kinh mang lại thực sự lay động lòng người và khơi dậy nguồn cảm hứng mạnh mẽ.

The arahant is depicted in two full chapters: in chapter 7 under his own name and in chapter 26, the last chapter, under the name "Brahmana," the holy man. We are told that the arahant is no longer troubled by the fever of the passions; he is sorrowless and wholly set free; he has broken all ties. His taints are destroyed: he is not attached to food; his field is the void and unconditioned freedom. For ordinary worldlings the arahant is incomprehensible: his path cannot be traced, like that of birds in the sky. He has transcended all obstacles, passed beyond sorrow and lamentation, become peaceful and fearless. He is free from anger, devout, virtuous, without craving, self-subdued. He has profound knowledge and wisdom; he is skilled in discriminating the right path and the wrong path; he has reached the highest goal. He is friendly amidst the hostile, peaceful amidst the violent, and unattached amidst the attached.

Hình ảnh bậc A-la-hán được khắc họa trọn vẹn qua hai chương: chương 7 đề cập trực tiếp đến danh xưng này và chương 26, chương cuối cùng, với danh xưng "Brahmana" tức bậc thánh nhân. Kinh điển mô tả rằng bậc A-la-hán không còn bị thiêu đốt bởi ngọn lửa phiền não; ngài thoát khỏi mọi sầu muộn, hoàn toàn giải thoát và đã dứt bỏ mọi sự ràng buộc. Các lậu hoặc nơi ngài đã bị tiêu diệt: ngài không còn dính mắc vào chuyện ăn uống; tâm thức ngài an trú trong sự trống rỗng và trạng thái tự do tuyệt đối, vượt ngoài mọi điều kiện thế gian. Đối với phàm phu, bậc A-la-hán là người khó lòng thấu hiểu: dấu vết hành trình của ngài không thể truy tìm, tựa như đường bay của loài chim giữa không trung. Ngài đã vượt qua mọi chướng ngại, thoát khỏi sầu bi và than khóc, đạt đến trạng thái an tịnh và không còn sợ hãi. Ngài không còn sân hận, sống đời đạo hạnh, đức độ, không còn tham ái và luôn làm chủ được bản thân. Ngài sở hữu trí tuệ và sự hiểu biết sâu sắc; thông tuệ trong việc phân biệt nẻo chánh và đường tà; đồng thời đã đạt tới mục tiêu tối thượng. Ngài giữ lòng thân thiện giữa những kẻ thù địch, an tịnh giữa những người hung bạo, và không dính mắc giữa những người còn nặng lòng tham luyến.

In this very life the arahant has realized the end of suffering, laying down the burden of the five aggregates. He has transcended the ties of both merit and demerit; he is sorrowless, stainless and pure; he is free from attachment and has plunged into the Deathless. Like the moon he is spotless and pure, serene and clear. He has cast off all human bonds and transcended all celestial bonds; he has gotten rid of the substrata of existence and conquered all worlds. He knows the death and rebirth of beings; he is totally detached, blessed and enlightened. No gods, angels or human beings can find his tracks, for he clings to nothing, has no attachment, holds to nothing. He has reached the end of births, attained the perfection of insight, and reached the summit of spiritual excellence. Bearing his last body, perfectly at peace, the arahant is the living demonstration of the truth of the Dhamma. By his own example he shows that it is possible to free oneself from the stains of greed, hatred and delusion, to rise above suffering, and to win Nibbana in this very life.

Vị A-la-hán đã chứng ngộ sự chấm dứt khổ đau và trút bỏ gánh nặng của ngũ uẩn ngay trong kiếp sống này. Ngài đã vượt thoát mọi trói buộc của cả thiện nghiệp lẫn bất thiện nghiệp; ngài không còn sầu muộn, không còn cấu uế và hoàn toàn thanh tịnh; ngài không còn dính mắc và đã thể nhập vào trạng thái Bất tử. Ngài thanh tịnh không tì vết như vầng trăng, an nhiên và sáng trong. Ngài đã rũ bỏ mọi trói buộc của cõi người và vượt qua mọi trói buộc của cõi trời; ngài đã đoạn tận các mầm mống tái sinh và chinh phục mọi thế giới. Ngài thấu suốt sự sinh và tử của các chúng sinh; ngài hoàn toàn giải thoát, đầy phước lành và đã giác ngộ. Chư thiên, thiên thần hay loài người đều không thể tìm thấy dấu vết của ngài, bởi ngài không bám víu, không dính mắc và không chấp thủ bất cứ điều gì. Ngài đã chấm dứt luân hồi sinh tử, đạt đến sự viên mãn của tuệ giác và chạm tới đỉnh cao của sự toàn thiện về tâm linh. Mang thân xác cuối cùng trong trạng thái an tịnh tuyệt đối, vị A-la-hán chính là minh chứng sống động cho chân lý của Giáo pháp. Bằng chính tấm gương của mình, ngài cho thấy rằng con người hoàn toàn có thể gột rửa những cấu uế của tham, sân, si, vượt lên trên khổ đau và chứng đắc Niết-bàn ngay trong kiếp sống này.

The arahant ideal reaches its optimal exemplification in the first and highest of the arahants, the Buddha, and the Dhammapada makes a number of important pronouncements about the Master. The Buddha is the supreme teacher who depends on no one else for guidance, who has reached perfect enlightenment through his own self-evolved wisdom (v. 353). He is the giver of refuge and is himself the first of the three refuges; those who take refuge in the Buddha, his Doctrine, and his Order are released from all suffering, after seeing with proper wisdom the Four Noble Truths (vv.190-192). The Buddha's attainment of perfect enlightenment elevates him to a level far above that of common humanity: the Enlightened One is trackless, of limitless range, free from worldliness, the conqueror of all, the knower of all, in all things untainted (vv. 179, 180, 353). The sun shines by day, the moon shines by night, the warrior shines in his armor, the brahman shines in meditation, but the Buddha, we are told, shines resplendent all day and all night (v. 387).

Lý tưởng A-la-hán đạt đến sự trọn vẹn nơi vị A-la-hán đầu tiên và tối thượng, Đức Phật; và kinh Pháp Cú đã đưa ra nhiều lời khẳng định quan trọng về bậc Đạo Sư. Đức Phật là bậc Đạo Sư tối thượng, không nương tựa vào bất kỳ ai khác để được dẫn dắt, và Ngài đã đạt đến giác ngộ viên mãn nhờ trí tuệ tự thân, Vượt qua, biết tất cả, Vô nhiễm, bỏ tất cả, Diệt ái, tự giải thoát, Thắng trí. Ai thầy ta? (câu 353). Ngài là đấng ban sự nương tựa và chính Ngài là nơi nương tựa đầu tiên trong Tam Bảo; những ai quy y Phật, Pháp và Tăng sẽ được giải thoát khỏi mọi khổ đau sau khi dùng trí tuệ chân chính để thấu hiểu Tứ Diệu Đế (các câu 190-192). Việc đạt được giác ngộ viên mãn đã đưa Đức Phật lên một tầm cao vượt xa phàm nhân: Bậc Giác Ngộ là đấng không để lại dấu vết, có phạm vi hành đạo vô biên, thoát khỏi mọi sự trần tục, là đấng chiến thắng tất cả, thấu suốt tất cả và không bị vướng mắc bởi bất cứ điều gì (các câu 179, 180, 353). Ánh dương chiếu ban ngày, Ánh trăng rạng ban đêm, Giáp trụ ngời Sát lỵ, Thiền định sáng phạm chí, Duy hào quang của Phật, Phổ chiếu cả ngày đêm (câu 387).

 

 

This will complete our discussion of the four basic levels of instruction found in the Dhammapada. Interwoven with the verses pertaining to these four main levels, there runs throughout the Dhammapada a large number of verses that cannot be tied down exclusively to any single level but have a wider application. These verses sketch for us the world view of early Buddhism and its distinctive insights into human existence. Fundamental to this world view, as it emerges from the text, is the inescapable duality of human life. Man walks a delicate balance between good and evil, purity and defilement, progress and decline; he seeks happiness, he fears suffering, loss and death. We are free to choose between good and evil, and must bear full responsibility for our decisions. Again and again the Dhammapada sounds this challenge to human freedom: we are the makers and masters of ourselves, the protectors or destroyers of ourselves, we are our own saviors and there is no one else who can save us (vv. 160, 165, 380). Even the Buddha can only indicate the path to deliverance; the work of treading it lies with the disciple (vv. 275- 276). In the end we must choose between the way that leads back into the world, to the round of becoming, and the way that leads out of the world, to Nibbana. And though this last course is extremely difficult, the voice of the Buddha speaks words of assurance confirming that it can be done, that it lies within our power to overcome all barriers and to triumph even over death itself.

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^

^^^^



 | | trở về đầu trang | Home page |