|
Introduction |
Lời Giới Thiệu |
|
Venerable Ajahn Chah was a master at using the apt and unusual simile to explain points of Dhamma in a memorable way, sometimes to answer questions, sometimes to provoke them. He was especially talented at exploiting the open ended nature of the simile—in which some similarities are relevant and others are not—using a particular image to make one point in one context, and a very different point in another |
Hòa Thượng Ajahn Chah là bậc thầy trong việc sử dụng những ngụ ngôn khéo léo và độc đáo để giải thích các điểm giáo lý Phật pháp một cách dễ nhớ, đôi khi để trả lời câu hỏi, đôi khi để khơi gợi câu hỏi. Ngài đặc biệt tài giỏi trong việc khai thác tính chất mở của những câu ngụ ngôn—trong đó một số điểm tương đồng có liên quan và một số điểm khác thì không—sử dụng một hình ảnh cụ thể để làm rõ một điểm trong ngữ cảnh này, và một điểm rất khác trong ngữ cảnh khác. |
|
This book is a companion to In Simple Terms, an earlier collection of similes drawn from Ajahn Chah’s transcribed talks. Here, the majority of the passages come from a compilation made by Ajahn Jandee Kantasaro, one of Ajahn Chah’s students, entitled Khwaam Phid Nai Khwaam Thuuk (What’s Wrong in What’s Right). The title of this compilation is taken from a phrase that Ajahn Chah often used to describe the misuse of correct knowledge. Ajahn Jandee, in his introduction, illustrates the principle by telling of a man he once encountered who used the teaching on inconstancy to justify the fact that he never cleaned his truck. |
Cuốn sách này là phần bổ sung cho cuốn "In Simple Terms" , một tuyển tập các câu chuyện ngụ ngôn được trích từ các bài giảng đã được ghi chép của Ngài Ajahn Chah. Ở đây, phần lớn các đoạn văn đến từ một tuyển tập do Ngài Ajahn Jandee Kantasaro, một trong những học trò của Hòa Thượng Ajahn Chah, biên soạn, có tựa đề "Khwaam Phid Nai Khwaam Thuuk" (cái sai trái trong cái đúng đắn). Tựa đề của tuyển tập này được lấy từ một cụm từ mà Ngài Ajahn Chah thường dùng để mô tả việc lạm dụng kiến thức đúng đắn. Trong phần giới thiệu, Ngài Ajahn Jandee minh họa nguyên tắc này bằng cách kể về một người đàn ông mà Ngài từng gặp, người đã sử dụng giáo lý về sự bất nhất để biện minh cho việc mình không bao giờ giữ xe tải được sạch sẽ. |
|
Khwaam Phid Nai Khwaam Thuuk contains 186 short passages transcribed directly from recordings of Ajahn Chah’s talks and conversations. From these passages, I first selected those containing similes and then eliminated any that were totally redundant with the same or better expressions of the same simile either in this collection or in In Simple Terms. This left 94 passages. To provide a full complement of 108—11 x 22 x 33, a number that, in the Buddhist tradition, signifies completeness—I chose an extra 14 similes from a range of Ajahn Chah’s other recorded talks and conversations, and then arranged the resulting collection so that the passages would comment and build on one another |
Cuốn Khwaam Phid Nai Khwaam Thuuk chứa 186 câu chuyện ngắn được chép lại trực tiếp từ các bản thâu âm bài giảng và các buổi thuyết giảng của Ngài Ajahn Chah. Từ những câu chuyện này, trước tiên tôi chọn những đoạn có chứa các ngụ nôn, sau đó loại bỏ bất kỳ đoạn nào hoàn toàn trùng lặp với những cách diễn đạt tương tự hoặc tốt hơn trong bộ sưu tập này hoặc trong cuốn "In Simple Terms". Điều này còn lại 94 câu chuyện ngụ ngôn. Để có đủ câu chuyện ngụ ngôn 108—11 x 22 x 33, một con số trong truyền thống Phật giáo tượng trưng cho sự hoàn chỉnh—tôi đã chọn thêm 14 câu ngụ ngôn khác từ một loạt các bài giảng và cuộc trò chuyện khác được ghi âm của Ngài Ajahn Chah, và sau đó sắp xếp bộ sưu tập kết quả sao cho các đoạn văn ngụ ngôn và bổ sung cho nhau. |
|
Several people have looked over the original manuscript and have provided helpful suggestions for improving it. In addition to monks here at the monastery, this includes Ajahn Pasanno, Ginger Vathanasombat, Isabella Trauttmansdorff, Nathaniel Osgood, Addie Onsanit, and Michael Barber. I would like to express my appreciation for their help. |
Một số người đã xem xét bản thảo gốc và đưa ra những gợi ý hữu ích để cải thiện nó. Ngoài các nhà sư tại tu viện này, còn có Ajahn Pasanno, Ginger Vathanasombat, Isabella Trauttmansdorff, Nathaniel Osgood, Addie Onsanit và Michael Barber. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự giúp đỡ của họ. |
May all those who read this translation realize Ajahn Chah’s original aim in
explaining the Dhamma like this |
Mong rằng tất cả những ai đọc bản dịch này sẽ hiểu được mục đích ban đầu của Ajahn Chah khi giải thích Phật pháp như vậy.
|
|
A Bird in a Cage |
Con Chim Trong Lồng |
|
Use the mind to contemplate the body so that you’re familiar with it. When you’re familiar with it, you’ll see that it’s not for sure—every part of it is inconstant. When you see in this way, your mind will give rise to a sense of disenchantment—disenchanted with the body and mind because they’re not for sure, they’re unreliable. So you want to find a way out, a way to gain release from suffering and stress. |
Hãy dùng tâm để quán chiếu thân sao cho bạn quen thuộc với nó. Khi đã quen thuộc, bạn sẽ thấy rằng nó không hề cố định– mọi bộ phận của nó đều không ổn định. Khi nhìn nhận theo cách này, tâm bạn sẽ nảy sinh cảm giác vỡ mộng – vỡ mộng với thân và tâm bởi vì chúng thường thay đổi, chúng không đáng tin cậy. Vì vậy, bạn muốn tìm một lối thoát, một cách để giải thoát khỏi đau khổ và phiền não. |
|
It’s like a bird in a cage: It sees the drawbacks of not being able to fly anywhere, so its mind is obsessed with finding a way out of the cage. It’s fed up with the cage where it lives. Even if you give it food to eat, it’s still not happy, because it’s fed up with the cage where it’s imprisoned. |
Nó giống như một con chim trong lồng: Nó nhận thấy những bất lợi của việc không thể bay đi đâu cả, vì vậy tâm nó bị ám ảnh bởi việc tìm cách thoát khỏi lồng. Nó chán ngấy cái lồng nơi nó đang sống. Ngay cả khi bạn cho nó ăn, nó vẫn không vui, bởi vì nó chán ngấy cái lồng giam cầm nó. |
|
The same with our heart: When it sees the drawbacks of the inconstancy, stressfulness, and not-selfness of physical and mental phenomena, it will try to contemplate how to escape from that cycle of wandering-on. |
Cũng như tâm chúng ta: Khi nhận thấy những trở ngại của sự vô thường, đau khổ và vô ngã trong các hiện tượng vật chất và tinh thần, nó sẽ cố gắng suy ngẫm làm thế nào để thoát khỏi vòng luẩn quẩn ấy. |
The Power of the Dhamma |
Sức mạnh của Phật pháp |
|
The teachings of the Buddha get rid of people and give rise to venerables. In other words, they get rid of what’s wrong in the mind. Only then can what’s right arise. They get rid of what’s evil so that goodness can arise. As when your house is dirty: If you sweep it out and wipe away the dirt, it’ll be clean—because the dirt is gone. As long as what’s wrong in the mind isn’t gone, what’s right can’t arise. If you don’t meditate, you won’t know the truth. The Buddha’s Dhamma is very powerful. If it couldn’t change your heart, it wouldn’t be a Dhamma with any power. But the Dhamma can turn ordinary people into noble ones, because it enables people with wrong views to give rise to right views |
Giáo lý của Đức Phật loại bỏ con người phàm và chuyển thành những bậc tôn kính. Nói cách khác, giáo lý loại bỏ những điều sai trái trong tâm. Chỉ khi đó, điều thiện mới có thể phát sinh. Giáo lý loại bỏ những điều ác để điều thiện có thể phát sinh. Giống như khi nhà bạn bẩn: Nếu bạn quét dọn và lau sạch bụi bẩn, nhà sẽ sạch sẽ - bởi vì bụi bẩn đã biến mất. Chừng nào những điều sai trái trong tâm chưa biến mất, thì điều thiện không thể phát sinh. Nếu bạn không thiền định, bạn sẽ không biết chân lý. Pháp của Đức Phật rất mạnh mẽ. Nếu nó không thể thay đổi tâm bạn, thì nó sẽ không phải là một Pháp có sức mạnh. Nhưng Pháp có thể biến những người bình thường thành những người cao quý, bởi vì nó cho phép những người có quan điểm tà kiến chuyển thành quan điểm chánh kiến. |
Your Own Witness |
Tự Mình Làm Chứng |
|
With the Dhamma, it’s like going to the home of friends or relatives and they give you some fruit. When you take the fruit in your hand, you don’t know whether it’s sour, sweet, or unripe. In other words, if you simply hold the fruit in your hand, you can’t know its taste. To know the taste, you have to bite into it and chew it. That’s when you’ll know that it’s sour or sweet or what its various flavors are, in line with your own perceptions |
Với Phật pháp, nó giống như việc bạn đến nhà bạn bè hoặc người thân và họ tặng bạn một ít trái cây. Khi bạn cầm trái cây trong tay, bạn không biết nó chua, ngọt hay chưa chín. Nói cách khác, nếu bạn chỉ cầm trái cây trong tay, bạn không thể biết được mùi vị của nó. Để biết được mùi vị, bạn phải cắn một miếng và nhai. Khi đó bạn mới biết nó chua hay ngọt, hoặc các hương vị khác nhau của nó là gì, phù hợp với cảm nhận của riêng bạn. |
|
It’s the same with the Dhamma. In everything, the Buddha has you take yourself as your own witness. You don’t have to take anyone else. The affairs of other people are hard to judge because they’re the affairs of other people. If something is your own affair, it’s easy—because the truth lies within you. It has you as its witness. When you hear the Dhamma, you have to meditate on it to be complete in study, practice, and attainment. Pariyatti is study so as to know. |
Cũng vậy với Phật pháp. Trong mọi việc, Đức Phật dạy bạn hãy tự làm chứng cho chính mình. Bạn không cần phải dựa vào ai khác. Việc của người khác khó phán xét vì đó là việc của người khác. Nếu điều gì đó là việc của bạn, thì dễ dàng hơn – bởi vì chân lý nằm trong bạn. Chân lý đó có bạn làm chứng. Khi bạn nghe Phật pháp, bạn phải thiền định về nó để được hoàn thiện trong việc học tập, thực hành và đạt được. Pariyatti là Pháp Học, là học tập để biết. |
|
When you know, then patipatti: You put it into practice. With pativedha, attainment, knowledge in line with the truth arises within you. If you simply listen, your knowledge is just perceptions and concepts. If you talk about it, you speak in line with your concepts. You aren’t bringing the truth out to talk about. |
Khi bạn biết, thì patipatti là Pháp Hành: Bạn đưa nó vào thực hành. Với pativedha là biết một cách rõ ràng giáo pháp, sự thấu đạt, thông tuệ, sự đạt được, tri thức phù hợp với chân lý phát sinh trong bạn. Nếu bạn chỉ đơn giản lắng nghe, tri thức của bạn chỉ là nhận thức và khái niệm. Nếu bạn nói về nó, bạn nói theo những khái niệm của mình. Bạn không đưa chân lý ra để nói. |
|
This means you haven’t reached the Dhamma, haven’t contemplated the Dhamma. Your heart isn’t Dhamma, but you can speak the Dhamma and act as if you were Dhamma. This is called being incomplete according to the standards of the Buddha’s teachings. |
Điều này có nghĩa là bạn chưa đạt đến Phật pháp, chưa quán tưởng Phật pháp. Tâm bạn không có Chánh pháp, nhưng bạn có thể nói Chánh pháp và hành động như thể bạn là Chánh pháp. Điều này được gọi là chưa hoàn thiện theo tiêu chuẩn của giáo lý Đức Phật. |
The Language of the Dhamma |
Ngôn ngữ của Phật pháp |
|
All languages come together in the language of the Dhamma. I’ll give you a simple example. When we boil water for tea so that it’s hot, the word “hot” in Thai is rawn. In Isaan it’s hawn. In English, they say, hot. That’s the way it is. |
Tất cả các ngôn ngữ đều kết hợp trong ngôn ngữ của Phật pháp. Tôi sẽ đưa ra một ví dụ đơn giản. Khi chúng ta đun nước nóng để pha trà, từ vựng "nóng" trong tiếng Thái là "rawn". Trong tiếng Isaan thì là "hawn". Trong tiếng Anh, người ta nói "hot". Đó là cách dùng phổ biến. |
|
Languages are like that. Each person speaks in his or her own language, even though it’s all the same heat. If you want to find where all these languages come together, the language of heat all comes together where we stick our finger into the tea. If you get a Chinese person to stick his finger into the tea, the heat is no different from when you get a Westerner or an English person to stick his finger into the tea. The only difference is in the language of the words. Heat is the same for everybody. When you know heat, it means that you know how it is for everyone |
Ngôn ngữ cũng vậy. Mỗi người nói bằng ngôn ngữ riêng của mình, dù tất cả đều cùng một cảm giác nóng. Nếu bạn muốn tìm nơi tất cả những ngôn ngữ này hội tụ, thì ngôn ngữ của cái nóng hội tụ ở chỗ ta nhúng ngón tay vào trà. Nếu bạn bảo một người Trung Quốc nhúng ngón tay vào trà, cảm giác nóng không khác gì khi bạn bảo một người phương Tây hay người Anh nhúng ngón tay vào trà. Sự khác biệt duy nhất nằm ở ngôn ngữ của từ ngữ. Cái nóng là như nhau đối với tất cả mọi người. Khi bạn hiểu về cái nóng, điều đó có nghĩa là bạn hiểu cảm giác đó đối với mọi người. |
Open Your Eyes |
Hãy Mở Mắt Của Bạn Ra |
|
People, if they don’t feel pain, don’t open their eyes. If they’re happy, everything shuts down and they get lazy. When suffering stabs you: That’s what gets you thinking, and you can really expand your awareness. The greater the pain, the more you have to investigate it to see what causes it. You can’t just sit there and let the pain go away on its own. Right now my arm feels heavy—why? Because I’ve picked up this glass. If I let it go, the glass won’t be heavy, or at least won’t be heavy on me, because I’m not connected with it. |
Người ta thường nói, nếu không cảm thấy đau đớn thì bạn sẽ không mở mắt. Nếu hạnh phúc, mọi thứ sẽ ngừng hoạt động và họ trở nên lười biếng. Khi nỗi đau đâm vào bạn: Điều đó điều khiến bạn phải suy nghĩ, và bạn có thể thực sự mở rộng nhận thức của mình. Nỗi đau càng lớn, bạn càng phải tìm hiểu nguyên nhân gây ra nỗi đau đó. Bạn không thể chỉ ngồi đó và để nỗi đau tự biến mất. Ngay lúc này cánh tay tôi cảm thấy nặng trĩu—tại sao? Bởi vì tôi đã cầm chiếc ly này lên. Nếu tôi để chiếc ly xuống, chiếc ly sẽ không còn nặng nữa, hoặc ít nhất là sẽ không gây áp lực lên tôi, bởi vì tôi không còn kết nối với chiếc ly nữa. |
|
The same with stress and pain: Why is it heavy? Why is it painful? Because you’re holding onto it. But you don’t understand that it’s stressful. You think that it’s something special, something good. When you’re told to let it go, you can’t let it go. When you’re told to put it down, you can’t put it down. So you keep on being heavy, keep on suffering. |
Tương tự với phiền não và khổ đau: Tại sao nó lại nặng? Tại sao nó lại đau đớn? Bởi vì bạn đang níu giữ nó. Nhưng bạn không hiểu rằng đó là sự phiền não. Bạn nghĩ rằng nó là điều gì đó đặc biệt, điều gì đó tốt đẹp. Khi được bảo hãy buông bỏ, bạn không thể buông bỏ. Khi được bảo hãy đặt nó xuống, bạn không thể đặt nó xuống. Vì vậy, bạn cứ tiếp tục cảm thấy nặng nề, cứ tiếp tục đau khổ. |
Dyeing the Cloth |
Nhuộm Vải |
|
Our Lord Buddha wanted us to get our foundation in good shape first, get everything clear and clean first. It’s like building a house or a building. We have to inspect the ground, the area where we’re going to put up the building, so that it’s in proper shape. Or like dyeing cloth: If you want to dye a piece of cloth, you have to look it over to see if it’s dirty. If it’s dirty, you have to wash it in detergent until it’s clean. Only then will it take the color when you dye it. In other words, wash it until it’s clean, and then it will take the dye. It’s the same with making merit. You first have to make your mind clean. |
Đầu tiên, Đức Phật muốn chúng ta phải xây dựng nền tảng vững chắc, làm cho mọi thứ trong sạch và thanh tịnh. Giống như xây nhà hay xây một cơ sở. Chúng ta phải kiểm tra mặt đất, khu vực dự định xây dựng, để đảm bảo nó ở đúng vị trí. Hoặc như nhuộm vải: Nếu muốn nhuộm một mảnh vải, bạn phải kiểm tra xem nó có bẩn không. Nếu bẩn, bạn phải giặt sạch bằng chất tẩy rửa. Chỉ khi miếng vải sạch nó mới bắt màu khi nhuộm. Nói cách khác, giặt sạch rồi mới nhuộm màu. Việc tạo công đức cũng vậy. Trước tiên bạn phải thanh tịnh tâm. |
|
Making your mind clean means letting go of evil thoughts, letting go of everything that’s wrong and evil. That’s when you can do good, do what’s correct. With everything, the foundation has to be clean first, and then whatever you do will give rise to merit. Sabba-papassa akaranam: First you have to abandon evil, abandon what’s wrong, in the same way that you get rid of the dirt so that you can dye your cloth. This is one of the lessons in the heart of the Buddha’s teachings. |
Thanh tịnh tâm bạn nghĩa là buông bỏ những bất thiện pháp, buông bỏ mọi điều sai trái và xấu xa. Khi đó bạn mới có thể làm điều thiện, làm điều đúng đắn. Với mọi việc, nền tảng phải được thanh tịnh trước, rồi sau đó mọi việc bạn làm sẽ sinh công đức. Tránh mọi điều Ác Nghiệp (Sabba-papassa akaranam): Trước hết, bạn phải từ bỏ điều ác, từ bỏ điều sai trái, giống như việc bạn loại bỏ bụi bẩn để nhuộm vải. Đây là một trong những bài học cốt lõi trong giáo lý của Đức Phật. |
Remove the Weeds |
Nhổ cỏ dại |
|
For your vegetable to grow big and beautiful, you have to remove the weeds. That’s when your vegetables will have a chance to grow large and beautiful—because you’ve removed the weeds. You’ve removed the bad things around the vegetables, so the vegetables can grow. It’s the same with our body, speech, and mind. If we remove our bad actions, then our goodness—our virtue—will grow. So take the precepts and follow them with restraint, with care. |
Để rau của bạn lớn lên và tươi tốt, bạn phải nhổ bỏ cỏ dại. Điều đó rau của bạn mới có cơ hội phát triển lớn mạnh và tươi tốt—vì bạn đã nhổ bỏ cỏ dại. Bạn đã loại bỏ những điều xấu xung quanh rau, để rau có thể phát triển. Điều đó cũng tương tự với thân, khẩu và ý của chúng ta. Nếu chúng ta loại bỏ những bất thiện pháp, thì sự tốt lành—giới của chúng ta—sẽ phát triển. Vì vậy, hãy tiếp nhận các giới luật và tuân theo giới luật một cách tiết chế và cẩn thận. |
Why Wait? |
Tại sao phải chờ? |
|
As soon as there’s anything unskillful in your thoughts, words, and deeds, remove it. Don’t let it hang around for a long time. It’s like a wound appearing in your body, or a thorn sticking into your foot. You want to remove it, but would it be better to remove it today or tomorrow? Or how about taking it out next week? |
Ngay khi có bất cứ điều bất thiện nào trong suy nghĩ, lời nói và hành động của bạn, hãy diệt trừ nó. Đừng để nó tồn tại quá lâu. Nó giống như một vết thương xuất hiện trên thân bạn, hoặc một cái gai đâm vào chân bạn. Bạn muốn loại bỏ nó, nhưng liệu loại bỏ nó hôm nay hay ngày mai thì tốt hơn? Hay là lấy nó ra vào tuần sau thì sao? |
|
Or suppose you get a stomachache today. A stomachache is painful, and you want the pain to go away. But do you want it to go away today, or would tomorrow be better? Or would you rather wait for a week for it to go away? |
Hoặc giả sử hôm nay bạn bị đau bụng. Đau bụng rất khó chịu, và bạn muốn cơn đau biến mất. Nhưng bạn muốn nó biến mất ngay hôm nay, hay ngày mai sẽ tốt hơn? Hay bạn muốn đợi một tuần để nó khỏi? |
Awakening to the Dhamma |
Giác ngộ Chánh Pháp |
|
Reaching the Dhamma, awakening to the Dhamma: These things sound awfully exalted, too exalted to talk about. But actually, people like us are on a level where we can reach the Dhamma. Reaching the Dhamma is understanding, “This is evil. It’s wrong and doesn’t benefit me or anyone else at all.” When you understand in this way, that’s called reaching the Dhamma of what should be abandoned. This is what’s called awakening to the Dhamma. It’s like going to a boat landing. When you’ve arrived at the landing, you’ve reached the landing. When you come up here to the meeting hall, you’ve reached the meeting hall. When you’re correctly acquainted with the truth, that’s what’s meant by reaching the truth, reaching the Dhamma. When you’ve reached the Dhamma, your defilements gradually fade away and decrease. When your views are right, it’s normal that you’ll abandon your wrong views. |
Chứng đạt Chánh Pháp, giác ngộ Chánh Pháp: Những điều này nghe có vẻ cao siêu, quá cao siêu để có thể diễn tả. Nhưng thực ra, những người như chúng ta đang ở một cấp độ có thể chứng đạt Chánh Pháp. Chứng đạt Chánh Pháp là hiểu rằng, “Đây là điều bất thiện. Nó sai trái và không mang lại lợi ích gì cho ta hay cho bất cứ ai khác.” Khi bạn hiểu theo cách này, đó được gọi là chứng đạt Chánh Pháp về những gì cần phải diệt trừ. Đây được gọi là giác ngộ Chánh Pháp. Nó giống như đi đến bến tàu. Khi bạn đến bến, bạn đã đến bến. Khi bạn lên đây đến hội trường, bạn đã đến hội trường. Khi bạn hiểu biết đúng đắn về chân lý, đó là ý nghĩa của việc đạt đến chân lý, đạt đến Chánh Pháp. Khi bạn đã đạt đến Chánh Pháp, những phiền não của bạn sẽ dần dần tan biến và giảm đi. Khi quan điểm của bạn đúng đắn, việc bạn từ bỏ những quan điểm sai lầm là điều tự nhiên. |
Awakening to the Dhamma |
Kiến Thức và Lòng Vị Tha |
|
Knowledge is like a knife. You hone it until it’s sharp—really sharp. Then you put it away. The knife can cause both benefits and harm. When a person of discernment uses it, it’s sharp. A person of discernment can get lots of benefits from it because it’s sharp. But a person without discernment can use it to destroy the nation, destroy happiness, destroy harmony—all kinds of things. And he can do it easily because the knife is sharp. |
Kiến thức giống như con dao. Bạn mài con dao cho đến khi thật sắc bén—thật sắc bén. Rồi bạn cất nó đi. Con dao có thể mang lại cả lợi ích và sự tác hại. Khi người có óc phán đoán sử dụng nó, nó rất sắc bén. Người có óc phán đoán có thể nhận được nhiều lợi ích từ nó vì nó sắc bén. Nhưng người thiếu óc phán đoán có thể dùng nó để phá hoại quốc gia, phá hoại hạnh phúc, phá hoại sự hòa thuận—tất cả mọi thứ. Và hắn ta có thể làm điều đó dễ dàng vì con dao rất sắc bén. |
|
When knowledge comes to a fool, it’s like putting a weapon in the hands of a bandit or an evil person. He’ll shoot people all over the place, kill all over the place. When knowledge comes to a wise person, the nation and its people get along easily. |
Khi kiến thức đến với kẻ vô minh, nó giống như đặt vũ khí vào tay tên cướp hoặc kẻ ác. Hắn ta sẽ bắn giết khắp nơi, giết hại khắp nơi. Khi kiến thức đến với người khôn ngoan, quốc gia và người dân sẽ sống hòa thuận với nhau. |
|
These days we pin our hopes on knowledge. We worship knowledge. We rarely worship goodness or correctness. When you have knowledge, you need to have goodness and correctness as well. When you encourage these things, the world will go well. But here it’s, “I’ve got knowledge, so I’m in charge.” In this way, everything goes to hell. That’s what it’s like when you have knowledge without goodness. |
Ngày nay chúng ta đặt hy vọng vào kiến thức. Chúng ta tôn thờ kiến thức. Chúng ta hiếm khi tôn thờ lòng tốt hay sự đúng đắn. Khi bạn có kiến thức, bạn cũng cần có lòng tốt và sự đúng đắn. Khi bạn khuyến khích những điều này, thế giới sẽ tốt đẹp. Nhưng ở đây lại là, “Tôi có kiến thức, nên tôi nắm quyền.” Theo cách này, mọi thứ đều trở nên tồi tệ. Đó là điều xảy ra khi bạn có kiến thức mà thiếu đi lòng vị tha. |
Goodness Without Discernment |
Tâm Bi Không Phân Biệt |
|
Skillfulness doesn’t focus only on pleasure or happiness. It has to see where that happiness comes from and what it’s like. You have to use your discernment to see what it comes from. |
Sự khôn khéo không chỉ tập trung vào niềm vui hay hạnh phúc. Nó phải nhìn nhận được hạnh phúc đó đến từ đâu và như thế nào. Bạn phải sử dụng khả năng nhận định của mình để thấy được nguồn gốc của nó. |
|
Some people think that gaining a lot of wealth is goodness. Not gaining a lot is bad. It doesn’t matter to them how you gain it, just as long as there’s a lot. Suppose that after a while they decide that human skin fetches a high price. One kilogram fetches tens of thousands of baht. So another group goes out looking for human skins. Where could we live? We’d be killing one another all over the place simply to get skins to put up for sale—because human skin fetches a high price. |
Một số người cho rằng làm ra tài sản nhiều là điều tốt, không làm ra của cải tài sản mới là điều xấu. Với họ, cách bạn kiếm được tiền không quan trọng, miễn là làm gì để có nhiều tiền mới là quan trọng. Giả sử có một thời gian, người ta cho rằng da người có giá rất cao. Một kilogram da người có giá hàng chục nghìn baht. Vì vậy, có một nhóm đi truy tìm da người. Chúng ta sẽ sống ở đâu? Chúng ta sẽ giết hại lẫn nhau khắp nơi chỉ để lấy da người bán – vì da người có giá rất cao. |
|
These days we look for our livelihood, thinking that the more we gain, the better. But if we gain it in a way that’s not moral, would it be right? |
Ngày nay, chúng ta tìm kiếm kế sinh nhai, nghĩ rằng càng kiếm được nhiều càng tốt. Nhưng nếu kiếm được tiền bằng cách phi đạo đức, liệu điều đó có đúng đắn không? |
|
Every form of goodness has to be done with discernment. Any form of goodness done without discernment is harmful. Any form of goodness done with discernment is free of harm. Any form of goodness done without discernment is goodness outside the Buddha’s teachings. |
Mọi hình thức thiện lành đều cần được thực hiện với tuệ phân biệt đúng sai. Bất kỳ hình thức thiện lành nào được thực hiện mà không có tuệ phân biệt đúng sai đều gây hại. Bất kỳ hình thức thiện lành nào được thực hiện với sự phân biệt đúng sai đều không gây hại. Bất kỳ hình thức thiện lành nào được thực hiện mà không có tuệ phân biệt đúng sai đều nằm ngoài giáo lý của Đức Phật. |
|
It’s like a person advertising poison for sale. He says, “My poison is good. If you feed it to a dog, the dog will die. If you feed it to a person, the person will die. If you feed it to a chicken, the chicken will die. Whoever you feed it to will all die. So buy my poison. It’s good poison.” If it’s really good, you should try feeding it to the person selling it. But its goodness is that it kills. Whatever eats it dies. So he says it’s good. If it’s good, you should try feeding it to the person selling it—but would he eat it? He wouldn’t eat it . He’d be afraid that it would kill him. |
Nó giống như một người đang rao bán thuốc độc. Anh ta nói: “Thuốc độc của tôi rất tốt. Nếu bạn cho chó ăn, chó sẽ chết. Nếu bạn cho người ăn, người đó sẽ chết. Nếu bạn cho gà ăn, gà sẽ chết. Bất cứ ai ăn phải đều sẽ chết. Vì vậy, hãy mua thuốc độc của tôi. Đó là thuốc độc tốt.” Nếu nó thực sự tốt, bạn nên thử cho người bán ăn xem sao. Nhưng cái hay của nó là nó giết người. Bất cứ ai ăn phải đều chết. Vì vậy, anh ta nói nó tốt. Nếu nó tốt, bạn nên thử cho người bán ăn xem sao—nhưng liệu anh ta có ăn không? Anh ta sẽ không ăn. Anh ta sẽ sợ rằng nó sẽ giết chết mình. |
|
That kind of goodness is goodness outside the Buddha’s teachings. It’s harmful goodness, filthy goodness, unclean goodness, goodness that’s not peaceful. Goodness in line with the Buddha’s teachings is goodness without harm. This is why, when you look for happiness in line with the Buddha’s teachings, you have to do it with discernment. |
Loại thiện đó nằm ngoài phạm vi giáo lý của Đức Phật. Đó là thiện có hại, thiện ô uế, thiện không trong sạch, thiện không mang lại sự bình an. Thiện phù hợp với giáo lý của Đức Phật là thiện không gây hại. Đó là lý do tại sao, khi bạn tìm kiếm hạnh phúc phù hợp với giáo lý của Đức Phật, bạn phải làm điều đó với tuệ phân biệt đúng sai. |
Genuine Wealth |
Sự giàu có đích thực |
|
Silena bhoga-sampada: A person with virtue has wealth. In terms of external wealth, all the things that we search out for our livelihood will be Right Livelihood. The things we gain from Right Livelihood, even if they’re not much, are large. They’re large because they have value. That’s why they count as bhoga-sampada: consummation in terms of wealth. Like diamonds and jewels: Even tiny pieces have a high price because they’re free of things that are worthless. All the things that we use to maintain our livelihood: If they’re free of harm, they have value. They’re wealth. |
Silena bhoga-sampada: Người giàu sang cũng nhờ giữ giới. Xét về của cải vật chất, tất cả những thứ chúng ta tìm kiếm để mưu sinh đều là Chánh Mạng. Những thứ chúng ta đạt được từ Chánh Mạng, dù không nhiều, cũng rất lớn. Chúng lớn vì chúng có giá trị. Đó là lý do tại sao chúng được coi là bhoga-sampada: sự viên mãn về mặt của cải. Giống như kim cương và châu báu: Ngay cả những mảnh nhỏ cũng có giá cao vì chúng không chứa những thứ vô giá trị. Tất cả những thứ chúng ta dùng để duy trì cuộc sống: Nếu chúng không gây hại, chúng có giá trị. Chúng là của cải. |
Seeing the Fullness |
Cảm Nhận Sự No Đủ |
|
When you make merit, what is merit? It’s correctness. In other words, it’s bringing the mind to peace, away from all kinds of evil. All of you lay people have gathered to make merit, but when you look for the merit, each of you has to look for yourself. These things you’ve brought here are objects—lots of different objects. It’s like eating. You gain delicious tastes because of objects. But when you’re full, where is the fullness? You don’t know. |
Khi bạn làm việc thiện, công đức là gì? Đó là sự ngay thẳng. Nói cách khác, đó là đưa tâm đến sự an lạc, tránh xa mọi điều bất thiện. Tất cả các bạn cư sĩ đều tụ họp lại để làm việc thiện, nhưng khi tìm công đức, mỗi người phải tự tìm cho chính mình. Những thứ các bạn mang đến đây là những vật thể—rất nhiều vật thể khác nhau. Giống như việc ăn uống vậy. Bạn có được vị ngon nhờ các vật thể. Nhưng khi đã no, sự no đủ ở đâu? Bạn không biết. |
|
The fullness doesn’t have any substance, but everyone knows that you feel full. Some people don’t see merit. Not seeing merit is like not seeing the fullness from eating. Suppose that we all eat a meal. We use up the curry; we use up the rice; we use up the sweets. And what do we gain? Fullness. Fullness isn’t a thing, but it appears in the mind. That’s what we gain. What does it come from? It comes from objects, from the activity of eating the objects. |
Cảm giác no không có hình sắc cụ thể, nhưng ai cũng biết là mình cảm thấy no. Một số người không thấy được giá trị của nó. Không thấy được giá trị cũng giống như không thấy được sự no đủ khi ăn. Giả sử tất cả chúng ta cùng ăn một bữa. Chúng ta ăn hết cà ri; ăn hết cơm; ăn hết đồ ngọt. Và chúng ta nhận được gì? Sự no đủ. Sự no đủ không phải là một vật thể hữu hình, nhưng nó xuất hiện trong tâm. Đó là điều chúng ta nhận được. Nó đến từ đâu? Nó đến từ các đối tượng, từ việc ăn các đối tượng đó. |
|
It’s the same with merit. I’ve heard people say, “I’ve made merit but I don’t see that I’ve gained any merit.” Apparently these people eat but without seeing any fullness. Don’t you know what fullness is? Fullness is the result that comes from eating. |
Tương tự như công đức vậy. Tôi từng nghe người ta nói: “Tôi đã tích đức nhưng không thấy mình được thêm công đức nào cả.” Rõ ràng những người này ăn mà không cảm thấy no. Bạn không biết no là gì sao? No là kết quả đạt được sau khi ăn. |
|
The activity we’re doing now is called making merit. It’s a convention. The merit is in the mind’s being serene and at ease. |
Việc chúng ta đang làm bây giờ được gọi là tạo công đức. Đó là một quy ước. Công đức nằm ở việc tâm thanh thản và an nhiên. |
The Teacup |
Cái Tách Trà |
|
I’ll tell you a story about the Supreme Patriarch, something I’ve heard from other people. He went to China and, when he arrived, the Chinese gave him a teacup. It was really beautiful. There was nothing like it in Thailand. And as soon as he received the teacup, he suffered: Where was he going to put it? Where was he going to keep it? He put it in his shoulder bag. If anyone touched his shoulder bag, he’d say, “Watch out. Don’t break the teacup. Watch out for the thing that can break in there.” So he was always worried about it, suffering from it: suffering from having and then clinging. That’s what made him suffer. |
Tôi sẽ kể cho các bạn nghe một câu chuyện về Đức Thượng Tọa Tăng Thống, một câu chuyện tôi đã nghe từ những người khác. Ngài đến Trung Quốc và khi đến nơi, người Trung Quốc đã tặng ngài một cái tách trà. Cái tách rất đẹp. Ở Thái Lan không có cái nào giống như vậy. Và ngay khi nhận được cái tách trà, ngài đã băn khoăn: Ngài sẽ để nó ở đâu? Ngài sẽ giữ nó ở đâu? Ngài đã để nó trong túi xách của mình. Nếu ai đó chạm vào túi xách của ngài, ngài sẽ nói: “Cẩn thận. Đừng làm vỡ tách trà. Cẩn thận với những thứ có thể vỡ trong đó.” Vì vậy, ngài luôn lo lắng về nó, khổ sở vì nó: khổ sở vì sở hữu mà lại cứ bám víu vào nó. Đó là điều khiến ngài đau khổ. |
|
One day a novice let the teacup slip from his hand and it broke. The Supreme Patriarch said, “At last. That’s the end of my suffering.” This is called events happening to free him from his suffering. If the teacup hadn’t broken, he would’ve probably been reborn as a hungry ghost right there. |
Một ngày nọ một chú sadi làm rơi tách trà và nó vỡ. Đức Thượng Tọa Tăng Thống nói: “Cuối cùng. Khổ đau của ta cũng chấm dứt rồi.” Đây được gọi là những sự kiện xảy ra để giải thoát ngài khỏi khổ đau. Nếu cái tách trà không vỡ, có lẽ ngài đã đầu thai thành ngạ quỷ ngay tại đó. |
|
It’s like the things in your house. If there’s nothing there, you suffer because you want to have things. You think that once you have things, you’ll be comfortable. But once you have them, you still suffer because you’re afraid they’ll get lost. You don’t understand the suffering that’s already arisen. |
Nó giống như những đồ vật trong nhà bạn. Nếu không có gì ở đó, bạn sẽ đau khổ vì muốn có chúng. Bạn nghĩ rằng khi có được chúng, bạn sẽ thoải mái. Nhưng khi đã có chúng, bạn vẫn đau khổ vì sợ chúng sẽ bị mất. Bạn không hiểu được nỗi đau khổ đã nảy sinh. |
Pouncing on Fire |
Lao Vào Lửa |
|
We should all train our heart, look after our mind. Our mind, when it’s not trained, is like a small, innocent child that doesn’t know anything. Whatever it comes across, it pounces. If it comes across water, it pounces on the water. If it comes across fire, it pounces on the fire. It keeps causing harm to itself. |
Chúng ta nên rèn luyện tâm, chú ý tâm của chúng ta. Tâm, khi không được rèn luyện, giống như một đứa trẻ nhỏ ngây thơ không biết gì. Nó lao vào bất cứ thứ gì gặp. Nếu gặp nước, nó lao vào nước. Nếu gặp lửa, nó lao vào lửa. Nó cứ tự gây hại cho chính mình. |
Learning about Fire |
Học về lửa |
|
When you see the harm of what you’re doing, you can stop. You watch it until you can stop, until you can give it up. It’s like lighting a lantern and letting your child loose. The child doesn’t know anything. It crawls over and tries to catch hold of the flame. Then it’ll start crying. The next day, if you try to take the child to the flame, it won’t touch it, for it’s seen the harm from the day before. It’ll stop trying to catch it. |
Khi bạn nhận ra tác hại của những việc mình đang làm, bạn có thể dừng lại. Bạn quan sát nó cho đến khi bạn có thể dừng lại, cho đến khi bạn có thể từ bỏ. Nó giống như việc thắp một chiếc đèn lồng và không trông chừng con bạn. Đứa trẻ không biết gì cả. Nó bò đến và cố gắng với lấy ngọn lửa. Rồi nó sẽ bắt đầu khóc. Ngày hôm sau, nếu bạn cố gắng đưa đứa trẻ đến gần ngọn lửa, nó sẽ không chạm vào, vì nó đã thấy tác hại từ ngày hôm trước. Nó sẽ không cố gắng với lấy ngọn lửa. |
|
Right here is where insight helps us. We really see. Whatever we really see, we can really let go. |
Chính ở đây sự tỉnh giác giúp chúng ta. Chúng ta thực sự nhìn thấy. Bất cứ điều gì chúng ta thực sự nhìn thấy, chúng ta đều có thể thực sự buông bỏ. |
Teaching from the Top |
Giảng Dậy Từ Đầu |
|
The way we teach when we follow the Buddha’s teachings is that virtue comes first, concentration comes in the middle, and discernment comes at the end. That’s how we memorize these things. But with some people, you don’t teach virtue first. You get them to sit until their minds are quiet. You don’t yet talk about, one, virtue; two, concentration; three, discernment. Have them sit until their minds are quiet. When they’re quiet, they’ll sense things on their own. It’s as if there were a poisonous snake under a piece of cloth right here. We can stand on the cloth and feel relaxed because we don’t know it’s there. But when the mind is quiet, we’ll sense that something is wrong. |
Phương cách chúng ta giảng dạy theo giáo lý của Đức Phật là: Học về giữ giới trước, tu tập định ở giữa, và khi có định thì có tuệ phân biệt đến cuối cùng. Đó là cách chúng ta ghi nhớ những điều này. Nhưng với một số người, không dạy giữ giới trước. Bạn hướng dẫn họ ngồi thiền cho đến khi tâm được tĩnh lặng. Bạn chưa nói về, thứ nhất là, giới; thứ hai là, định tâm; thứ ba là, tuệ phân biệt. Hãy để họ ngồi thiền cho đến khi tâm tĩnh lặng. Khi tâm tĩnh lặng, họ sẽ tự cảm nhận được mọi thứ. Giống như có một con rắn độc dưới một mảnh vải ngay đây. Chúng ta có thể đứng trên mảnh vải đó và cảm thấy thư giãn vì không biết nó ở đó. Nhưng khi tâm tĩnh lặng, chúng ta sẽ cảm nhận được điều gì đó không ổn. |
|
It’s like this tree here. We’re told to teach it beginning from the base. But we can also teach people to grab hold of the top first. As they follow along the tree, they’ll get to the base. If you start with the base and follow along, you’ll get to the top—because the base and top are part of the same thing. |
Nó giống như cái cây này ở đây. Chúng ta được dạy là phải dạy bắt đầu từ gốc. Nhưng chúng ta cũng có thể dạy mọi người nắm lấy ngọn trước. Khi họ lần theo thân cây, họ sẽ đến được gốc. Nếu bạn bắt đầu từ gốc và lần theo, bạn sẽ đến được ngọn – bởi vì gốc và ngọn là một phần của cùng một cây. |
|
It’s the same when you try to figure out how to teach some people. With concentration, when the mind is quiet, it’ll sense that something is wrong. Discernment will gradually seep in, seep in, and the mind will gradually gain a sense of right and wrong |
Điều đó cũng tương tự khi bạn cố gắng tìm hiểu cách dạy một số người. Với sự tập trung, khi tâm tĩnh lặng, nó sẽ cảm nhận được điều gì đó không ổn. Khả năng phân biệt sẽ dần dần xuất hiện, và tâm sẽ dần dần có được cảm giác về đúng và sai. |
Drop after Drop |
Từng Giọt |
|
When contemplating a meditation object, check to see which object is right for you. It’s like food on a tray. You have to contemplate for yourself to choose which foods are right for the conditions of your body. In the same way, you choose a meditation object right for you. The in-and-out breath. Or you can contemplate the body. |
Khi quán tưởng một đối tượng thiền định, hãy kiểm tra xem đối tượng nào phù hợp với bạn. Nó giống như thức ăn trên khay. Bạn phải tự mình quán tưởng để chọn những món ăn phù hợp với tình trạng cơ thể mình. Cũng như vậy, bạn chọn một đối tượng thiền định phù hợp với mình. Hơi thở vào và ra. Hoặc bạn có thể quán tưởng thân. |
|
In practicing, you have to keep at it gradually but steadily—like water that falls in drops, steadily into a big water jar. The jar doesn’t dry out; the animals living in the jar don’t die. If you contemplate the Dhamma themes of inconstancy, stress, and not-self until you understand, it’s like loosening a bolt in a counter-clockwise direction. It’s no longer so tight—so that you don’t grasp at what’s inconstant, stressful, and not-self. |
Trong quá trình thực hành, bạn phải kiên trì thực hiện từ từ nhưng đều đặn—giống như nước rơi từng giọt, đều đặn vào một chiếc bình nước lớn. Chiếc bình không cạn; các loài vật sống trong bình không chết. Nếu bạn quán tưởng các chủ đề Phật pháp về sự vô thường, khổ đau và vô ngã cho đến khi bạn hiểu, nó giống như nới lỏng một cái đinh vít theo chiều ngược kim đồng hồ. Nó không còn quá chặt nữa—để bạn không bám víu vào những gì vô thường, khổ đau và vô ngã. |
Just Right |
Vừa Phải |
|
Ever notice how the Buddha image is sitting? Is his head bent back? Is it hanging down in front? He’s sitting there just right. So right now, let’s make our bodies just right, our minds just right. If the mind and body aren’t just right, there won’t be any stillness. Have you ever noticed that things whose goodness isn’t just right aren’t really good? When things are good, it’s because their goodness is just right in every way. You don’t have to look far away. It’s like the curry we eat. If it’s too salty, is it good? If it’s too bland, is it good? When a cook fixes curry, she puts everything together just right. She aims at “just right.” So today let’s make our bodies just right, our minds just right. |
Bạn có bao giờ để ý tư thế ngồi của tượng Phật không? Đầu Ngài có ngửa ra sau không? Hay cúi xuống phía trước? Ngài đang ngồi ở tư thế vừa phải. Vậy nên ngay bây giờ, chúng ta hãy làm cho thân và tâm mình vừa phải. Nếu tâm và thân không vừa phải, sẽ không có sự tĩnh lặng. Bạn có bao giờ để ý rằng những thứ mà sự tốt đẹp của chúng không vừa phải thì thực sự không tốt? Khi một thứ gì đó tốt, đó là bởi vì sự tốt đẹp của nó vừa phải về mọi mặt. Bạn không cần phải tìm kiếm đâu xa. Nó giống như món cà ri chúng ta ăn. Nếu quá mặn, nó có ngon không? Nếu quá nhạt, nó có ngon không? Khi một đầu bếp nấu cà ri, cô ấy kết hợp mọi thứ một cách vừa phải. Cô ấy hướng đến sự “vừa phải”. Vì vậy, hôm nay chúng ta hãy làm cho thân và tâm mình vừa phải. |
Everything Gathers in the Ocean |
Mọi Thứ Đều Đổ Về Đại Dương |
|
The water in the ocean comes from little rivers. They flow into the ocean from different directions, but they all come together there. |
Nước trong biển cả đều từ những dòng sông nhỏ chảy vào. Chúng chảy vào đại dương từ nhiều hướng khác nhau, nhưng tất cả đều hội tụ lại ở đó. |
|
It’s the same when we meditate. We all bring the mind to stillness, and then we practice not clinging. Big rivers, small rivers, all gather in the same ocean. It doesn’t matter where they come from, they all gather in the ocean. We practice meditation to make the mind quiet and to stop clinging to the five aggregates. It’s all the same, so you don’t have to worry about it. If you see that this method is easier than that one, you can take this one. If you see that another method is easier, you can take that one. It’s just a matter of what’s right for your propensities. |
Cũng giống như khi chúng ta tu tập thiền định. Chúng ta đều đưa tâm đến trạng thái tĩnh lặng, và sau đó thực hành không bám chấp. Những dòng sông lớn, những dòng sông nhỏ, tất cả đều đổ về cùng một đại dương. Không quan trọng chúng đến từ đâu, tất cả đều hội tụ về đại dương. Chúng ta thực hành thiền định để làm cho tâm tĩnh lặng và ngừng bám chấp vào năm uẩn. Tất cả đều như nhau, vì vậy bạn không cần phải lo lắng về điều đó. Nếu bạn thấy phương pháp này dễ hơn phương pháp kia, bạn có thể chọn phương pháp này. Nếu bạn thấy phương pháp khác dễ hơn, bạn có thể chọn phương pháp đó. Đó chỉ là vấn đề lựa chọn phương pháp phù hợp với khuynh hướng của bạn. |
Coconut Water |
Nước Dừa |
|
The crude, beginning level of the practice is a little hard to maintain, but the refined levels of virtue, concentration, and discernment all come out of this. It’s as if they’re distilled from this same thing. To put it in simple terms, it’s like a coconut tree. A coconut tree absorbs ordinary water up through its trunk, but when the water reaches the coconuts, it’s sweet and clean. It comes from ordinary water, the trunk, the crude dirt. But as the water gets absorbed up the tree, it gets distilled. It’s the same water but when it reaches the coconuts it’s cleaner than before. And sweet. In the same way, the virtue, concentration, and discernment of your path are crude, but if the mind contemplates these things until they’re more and more refined, their crudeness will disappear. They get more and more refined, so that the area you have to maintain grows smaller and smaller, into the mind. Then it’s easy. |
Giai đoạn sơ khởi, ban đầu của việc tu tập có một chút khó để tiếp tục, nhưng các giai đoạn tinh tế hơn về giới, định và tuệ đều xuất phát từ đó. Như thể chúng đã được gạn lọc của cùng một thứ. Nói một cách đơn giản, nó giống như cây dừa. Cây dừa hấp thụ nước thông thường qua thân cây, nhưng khi nước đến được quả dừa, nó ngọt và sạch. Nó đến từ nước thông thường, từ thân cây, từ bụi bẩn thô sơ. Nhưng khi nước được hấp thụ lên cây, nó được gạn lọc. Đó vẫn là cùng một loại nước nhưng khi đến được quả dừa thì nó sạch hơn trước. Và ngọt hơn. Cũng như vậy, giới, định và tuệ trên con đường tu tập của bạn còn thô sơ, nhưng nếu tâm quán tưởng những điều này cho đến khi chúng ngày càng được tinh luyện, sự thô sơ của chúng sẽ biến mất. Chúng ngày càng được tinh luyện, đến nỗi phạm vi bạn cần duy trì ngày càng thu hẹp lại, vào trong tâm. Khi đó, mọi việc trở nên dễ dàng. |
Patience |
Kiên Nhẫn |
|
Desire is something known right at the mind. We’re like fishermen who go out to cast their nets. As soon as they catch a fish, they rush to pounce on it, which scares the fish away. The fishermen are afraid that the fish will escape from the net. When that’s the case, the fish are confused and hard to control, and so they quickly escape from the net. |
Ham muốn là thứ được nhận biết ngay trong tâm. Chúng ta giống như những ngư dân ra khơi thả lưới. Ngay khi nhìn thấy cá, họ vội vàng lao tới vồ lấy nó, điều này làm cá sợ hãi và bỏ chạy. Ngư dân sợ cá sẽ thoát khỏi lưới. Khi điều đó xảy ra, cá sẽ bối rối và khó kiểm soát, vì vậy chúng nhanh chóng thoát khỏi lưới. |
|
This is why people in the past taught us to gradually feel our way along, to keep at it gradually and steadily. When you feel lazy, you do it. When you feel diligent, you do it. If you keep doing it a lot, then as soon as you find the quiet path, the mind will calm down. When you practice, you’re taught to keep at it. Don’t give up. When you feel diligent, you do it. When you feel lazy, you do it—but you have to practice like a person spinning a fire stick. If you start and stop, start and stop and start again because you’re impatient, you won’t get anywhere—because of your impatience. |
Đó là lý do tại sao người xưa dạy chúng ta phải từ từ dò dẫm, kiên trì thực hiện từng bước một. Khi bạn cảm thấy lười biếng, hãy làm. Khi bạn cảm thấy siêng năng, hãy làm. Nếu bạn kiên trì thực hiện nhiều, thì ngay khi tìm được tĩnh lặng trong tâm, tâm sẽ bình yên trở lại. Khi luyện tập, bạn được dạy phải kiên trì. Đừng bỏ cuộc. Khi bạn cảm thấy siêng năng, hãy làm. Khi bạn cảm thấy lười biếng, hãy làm – nhưng bạn phải luyện tập như người đang chà sát que lửa. Nếu bạn cứ bắt đầu rồi dừng lại, bắt đầu rồi dừng lại rồi lại bắt đầu vì thiếu kiên nhẫn, bạn sẽ chẳng đi đến đâu cả – chính vì sự thiếu kiên nhẫn của bạn. |
|
When you practice, you don’t need to think about a lot of things. Just survey right at yourself. You don’t have to survey anywhere else. If you see yourself, you see other people. It’s like aspirin and Tylenol: If you know one, you know the other, because they’re both meant to cure the same illness. They’re both painkillers. |
Khi tu tập, bạn không cần phải suy nghĩ về nhiều thứ. Chỉ cần quan sát chính mình. Bạn không cần phải quan sát bất cứ nơi nào khác. Nếu bạn nhìn thấy chính mình, bạn sẽ thấy những người khác. Nó giống như aspirin và Tylenol: Nếu bạn biết loại này, bạn cũng biết loại kia, bởi vì cả hai đều dùng để chữa cùng một bệnh. Cả hai đều là thuốc giảm đau. |
|
People who practice and those who study like to criticize each other, but it’s like putting your hand palm-up and palm-down. When it’s palm-down, the palm hasn’t gone away anywhere. It’s right there, just that we don’t see it. If you study without practicing, you don’t see things for what they are—and that can make you deluded. |
Những người tu tập Pháp Hành và những người chỉ học tập Pháp Học thường hay chỉ trích lẫn nhau, nhưng điều đó giống như việc úp lòng bàn tay xuống và ngửa lên. Khi úp lòng bàn tay xuống, lòng bàn tay vẫn ở đó, chỉ là chúng ta không nhìn thấy mà thôi. Nếu bạn chi theo Pháp Học mà không thực hành Pháp Hành, bạn sẽ không nhìn nhận mọi việc đúng bản chất của nó – và điều đó có thể khiến bạn lầm lạc. |
The Dhamma in a Pot |
Phật Pháp Nằm Trong Nồi |
|
When cooked rice is just sitting in the pot, what purpose does it serve? If we don’t practice with it—if we don’t spoon it onto a plate, add a little curry and pepper sauce, and then eat it—what purpose will it serve? Even though the rice is good. The Buddha’s teachings are the cooked rice in a pot. If we just keep the teachings there in the pot, what purpose will they serve? They just stay there in the pot. If you cook good jasmine rice and then just set it high on the table, will it give you any flavor? Will it make you full? |
Khi cơm được nấu chín chỉ nằm yên trong nồi, nó có tác dụng gì? Nếu chúng ta không ăn với nó—nếu chúng ta không múc nó ra đĩa, thêm chút cà ri và tương ớt, rồi ăn—thì nó có tác dụng gì? Cho dù cơm ngon đến đâu. Giáo pháp của Đức Phật giống như cơm chín trong nồi. Nếu chúng ta chỉ giữ giáo pháp ở đó trong nồi, thì chúng có tác dụng gì? Chúng chỉ nằm yên trong nồi mà thôi. Nếu bạn nấu cơm trắng ngon rồi chỉ đặt nó lên cao trên bàn, liệu nó có mang lại hương vị gì không? Liệu nó có làm bạn no không? |
|
We take the Buddha’s teachings and simply set them high in the world without practicing them. We keep on bowing down to them. If we really bow down, it means we believe them. We trust them. If we believe and trust them, we have to practice in line with them. That’s when the Buddha’s teachings will serve a purpose. They depend on each and every one of us to practice them. |
Chúng ta lấy giáo pháp của Đức Phật và chỉ đặt chúng lên cao trong thế gian mà không thực hành. Chúng ta cứ cúi lạy chúng mãi. Nếu chúng ta thực sự cúi lạy, điều đó có nghĩa là chúng ta tin tưởng chúng. Chúng ta đặt niềm tin vào chúng. Nếu chúng ta tin tưởng và đặt niềm tin vào chúng, chúng ta phải thực hành phù hợp với chúng. Đó là khi giáo pháp của Đức Phật sẽ có tác dụng. Chúng phụ thuộc vào việc mỗi người trong chúng ta thực hành chúng. |
Chickens Coming to the Monastery |
Những Con Gà Đến Tu Viện |
|
Some people come to the monastery but never come to the meditation hall to hear the Dhamma. They sit way out there, chatting with their children and grandchildren, and don’t understand anything. This isn’t coming into the monastery like people. This is coming into the monastery like chickens. Chickens bring their baby chicks into the monastery, scratching around for dog shit and pig shit. They’re not looking for anything else. This is not the right way to come to a monastery. It’s coming into the monastery without seeing the monastery, coming into the monastery without seeing monks. It’s like a fish living in water without seeing water, or an earthworm living in the dirt, eating the dirt, but not seeing the dirt. |
Có những người đến tu viện nhưng không bao giờ vào thiền đường để nghe Phật pháp. Họ ngồi ở ngoài kia, trò chuyện với con và cháu của họ, và chẳng hiểu gì cả. Đây không phải là đến tu viện như những người trưởng thành. Đây là đến tu viện như những con gà. Gà mang gà con của chúng vào tu viện, bới móc tìm phân chó và phân lợn. Chúng không tìm kiếm bất cứ thứ gì khác. Đây không phải là cách đúng đắn để đến tu viện. Đó là đến tu viện mà không nhìn thấy tu viện, đến tu viện mà không nhìn thấy các vị sư. Giống như một con cá sống trong nước mà không nhìn thấy nước, hoặc một con giun đất sống trong đất, ăn đất, nhưng không nhìn thấy đất. |
|
It’s the same with us. We come into the monastery but we’re not acquainted with the monastery. We come into the monastery without reaching the monastery. This gives rise to problems not only for us but also for our children and grandchildren. We say that coming to the monastery gives rise to merit, and it’s something that human beings have to do. We see our parents coming to the monastery and we simply follow along. As a result, when we’re in our forties or fifties and someone teaches the Dhamma, speaks about the practice, about the Buddha, Dhamma, or Sangha, we don’t understand anything. We don’t know anything at all. |
Chúng ta cũng vậy. Chúng ta đến tu viện nhưng không quen thuộc với tu viện. Chúng ta đến tu viện mà không thực sự đến được tu viện. Điều này gây ra vấn đề không chỉ cho chúng ta mà còn cho con cháu chúng ta. Chúng ta nói rằng đến tu viện sẽ tạo ra công đức, và đó là điều mà con người phải làm. Chúng ta thấy cha mẹ mình đến tu viện và chúng ta chỉ đơn giản là làm theo. Kết quả là, khi chúng ta ở độ tuổi bốn mươi hoặc năm mươi và có ai đó giảng dạy về Phật pháp, nói về việc tu tập, về Đức Phật, Phật pháp hoặc Tăng đoàn, chúng ta chẳng hiểu gì cả. Chúng ta hoàn toàn không biết gì. |
Thieves |
Những Tên Trộm |
|
Hiri, a sense of shame; and ottappa, a sense of compunction: These are qualities that protect the world. But they can protect the world only because we practice them. If we don’t practice them, they don’t protect anything. Some Westerners have called me on this. They say, “You live in Thailand. Thailand is a Buddhist country, so why does it have so many thieves?” I admit that it’s true. Thailand has lots of thieves, but it’s people who are thieves. The Dhamma isn’t a thief. It’s probably the same in the West. Not only in Thailand do we have dishonest people. They’re thieves. There are good laws, and morality is still good. So I admit that there are thieves in Thailand, but the Dhamma isn’t a thief. |
Tàm (Hiri), cảm giác xấu hổ; và Úy (ottappa), cảm giác ăn năn, sợ tội lỗi: Đây là những phẩm chất bảo vệ thế giới. Nhưng chúng chỉ có thể bảo vệ thế giới khi chúng ta thực hành chúng. Nếu chúng ta không thực hành chúng, chúng sẽ không bảo vệ được gì cả. Một số người phương Tây đã chất vấn tôi về điều này. Họ nói, “Ông sống ở Thái Lan. Thái Lan là một quốc gia Phật giáo, vậy tại sao lại có nhiều tên trộm như vậy?” Tôi thừa nhận điều đó là đúng. Thái Lan có rất nhiều tên trộm, nhưng đó là những người trộm cắp. Phật pháp không phải là kẻ trộm. Có lẽ ở phương Tây cũng vậy. Không chỉ ở Thái Lan mà chúng ta cũng có những người bất thiện. Họ là những tên trộm. Có những luật lệ tốt, và đạo đức vẫn tốt. Vì vậy, tôi thừa nhận rằng có những tên trộm ở Thái Lan, nhưng Phật pháp không phải là kẻ trộm. |
The Blind Person |
Người Mù |
|
Venerable father, what is white like? It’s like white lime. What is white lime like? It’s like a pale sky. What’s a pale sky like? This never comes to an end because you don’t know the truth. Fish live in the water but don’t see the water. Earthworms live in the dirt but don’t see the dirt. Not seeing yourself, not knowing the truth, is like a person living with his skeleton and getting frightened by skeletons—because he doesn’t see the truth. |
Thưa cha, màu trắng giống như thế nào? Nó giống như vôi trắng. Vôi trắng giống như thế nào? Nó giống như bầu trời nhạt màu. Bầu trời nhạt màu giống như thế nào? Điều này không bao giờ kết thúc bởi vì cha không biết sự thật. Cá sống trong nước nhưng không nhìn thấy nước. Giun đất sống trong đất nhưng không nhìn thấy đất. Không nhìn thấy chính mình, không biết sự thật, giống như một người sống với bộ xương của mình và sợ hãi những bộ xương—bởi vì anh ta không nhìn thấy sự thật. |
|
Listening to the Dhamma gives lots of merit in that it helps you to see that there’s a thorn in your foot. As soon as you see it, you take it out. The people who don’t benefit from listening to the Dhamma are those who don’t know the cause of stress, don’t know the cessation of stress, and don’t know the practices leading to the cessation of stress. In other words, they don’t really know suffering because they don’t contemplate it. |
Nghe Phật pháp mang lại nhiều công đức vì nó giúp cha thấy rằng có một cái gai trong chân. Ngay khi cha thấy nó, cha hãy lấy nó ra. Những người không được lợi ích từ việc nghe Phật pháp là những người không biết nguyên nhân của khổ đau (dukkha-samudaya-ariyasacca, Tập khổ thánh đế) , không biết cách chấm dứt khổ đau (dukkha-nirodha-ariyasacca, Diệt Khổ thánh đế), và không biết các pháp thực hành dẫn đến chấm dứt khổ đau con đường dẫn đến sự Diệt Khổ (dukkha-nirodha-gamini-patipada-ariya-sacca - Đạo diệt khổ thánh đế). Nói cách khác, họ không thực sự biết khổ đau bởi vì họ không quán tưởng về nó. |
don’t run along |
Đừng Chạy Theo |
|
Meditation means contemplating in a way that solves problems at the same time. Look at yourself a lot. Keep track of the mind, your sensitivity, your thought-fabrications. Actually, all your thoughts are an affair of fabrication. To put it in simple terms, don’t run along with them. Don’t follow in line with them. They’re just an affair of mental fabrication. Fabrications fabricate things, now wanting this, now wanting that. Try to fix your attention on keeping track of their stages as they’re happening. Whatever they’re about, they’re all not for sure, each and every one. When you see this clearly, that will end your doubts. |
Thiền định nghĩa là sự quán chiếu theo cách giải quyết vấn đề cùng một lúc. Hãy quán chiếu thân thật nhiều. Theo dõi tâm, sự nhạy cảm, những suy nghĩ do chính bạn tạo ra. Thực ra, tất cả suy nghĩ của bạn đều là sản phẩm của sự ảo tưởng. Nói một cách đơn giản, đừng chạy theo chúng. Đừng đi theo chúng. Chúng chỉ là sản phẩm của sự ảo tưởng trong tâm. Ảo tưởng tạo ra mọi thứ, lúc thì muốn điều này, lúc thì muốn điều kia. Hãy cố gắng tập trung vào việc theo dõi các giai đoạn của chúng khi chúng đang diễn ra. Cho dù chúng nói về điều gì, tất cả đều là vô thường, từng cái một. Khi bạn nhìn thấy điều này rõ ràng, điều đó sẽ chấm dứt những nghi ngờ của bạn. |
|
Whatever thoughts arise, know that they’re not for sure. Don’t go attaching meaning to them, and they’ll end on their own. When they don’t end, make them end, and that’s the end of the matter. They’re just an affair of fabrication. If we don’t understand, we’ll think that they’re an affair of discernment. Actually, our thoughts and ideas are all an affair of fabrication. They’re not genuine knowing. But we think that they’re knowledge. They’re knowledge that doesn’t let go. If knowledge is genuine, it lets go. |
Bất cứ suy nghĩ nào nảy sinh, hãy biết rằng chúng là vô thường. Đừng gán ý nghĩa cho chúng, và chúng sẽ tự kết thúc. Khi chúng không kết thúc, hãy khiến chúng kết thúc, và đó là kết thúc của vấn đề. Chúng chỉ là sản phẩm của sự ảo tưởng. Nếu chúng ta không hiểu, chúng ta sẽ nghĩ rằng chúng là vấn đề của tuệ phân biệt. Thực ra, suy nghĩ và ý tưởng của chúng ta đều là sản phẩm của sự ảo tường. Chúng không phải là kiến thức đích thực. Nhưng chúng ta lại cho rằng đó là kiến thức. Đó là kiến thức không chịu buông bỏ. Nếu kiến thức là đích thực, nó sẽ buông bỏ. |
The Salt of Meditation |
Muối Của Thiền |
|
Generosity and virtue are like meat. Meditation is like salt. For the meat to keep without spoiling, you have to salt it. Meditation is what makes your generosity correct, makes your virtue correct. That’s why meditation is something of very high value. It’s the ultimate perfection. |
Lòng hảo tâm và giới giống như thịt. Thiền định giống như muối. Để thịt không bị hỏng, bạn phải ướp muối. Thiền định là điều làm cho lòng hảo tâm của bạn trở nên đúng đắn, làm cho giới của bạn trở nên đúng đắn. Đó là lý do tại sao thiền định là điều vô cùng quý giá. Nó là sự hoàn hảo tối thượng. |
Complete Food for the Mind |
Thức ăn hoàn chỉnh cho tâm |
|
Virtue, concentration, and discernment are like our food. If virtue were food, we’d say that it’s sweet but without any richness. If you add concentration, that adds some richness. Now it’s both sweet and rich. It’s good that way. But if all you have is sweet and rich, it’s still not complete. It has to be good-smelling, too. If you have all three, then the food is complete. Whether it’s inner food or outer food, it’s complete: sweet, rich, and good-smelling. It makes you want to eat your fill. That’s what it’s like. |
Giới, định và tuệ phân biệt đúng sai giống như thức ăn của chúng ta. Nếu giới là thức ăn, ta sẽ nói rằng nó ngọt nhưng không đậm đà. Nếu có thêm định, nó sẽ thêm phần đậm đà. Giờ thì nó vừa ngọt vừa đậm đà. Như vậy là tốt rồi. Nhưng nếu chỉ có ngọt và đậm đà thì vẫn chưa hoàn chỉnh. Nó cũng phải thơm nữa. Nếu có cả ba, thì thức ăn mới hoàn chỉnh. Cho dù là thức ăn bên trong hay bên ngoài, nó đều hoàn chỉnh: ngọt, đậm đà và thơm. Nó khiến ta muốn ăn no. Nó giống như vậy đấy. |
Moving the Glass |
Di Chuyển Cái Cốc |
|
Samadhi means firm concentration. Bhavana, meditation, means making the mind have a single preoccupation. You don’t have to do a lot of things. It’s kind of like taking this glass and setting it here for a minute, then lifting it and setting it there for a minute. Lifting and setting it, back and forth like this, without doing anything else. |
Samadhi là định, nghĩa là sự tập trung cao độ. Bhavana là thiền định, nghĩa là làm cho tâm chỉ tập trung vào một điều duy nhất. Bạn không cần phải làm nhiều việc cùng lúc. Nó giống như việc cầm một chiếc cốc và đặt nó ở đây trong một phút, rồi nhấc nó lên và đặt lại ở đó trong một phút. Cứ nhấc lên và đặt xuống như vậy, mà không làm bất cứ việc gì khác. |
|
When you meditate, contemplate the breath. When the breath comes in and out, know whether it’s short or long. Whatever it feels like, be mindful. You don’t have to force it. Whether the mind gets quiet or not, don’t worry about it. Just keep at it as much as you can. |
Khi bạn tu tập thiền định, hãy tập trung vào hơi thở. Khi hơi thở vào và ra, hãy nhận biết xem nó ngắn hay dài. Dù cảm giác như thế nào, hãy chú tâm vào nó. Bạn không cần phải ép buộc. Cho dù tâm có tĩnh lặng hay không, đừng lo lắng. Chỉ cần tiếp tục thực hành càng nhiều càng tốt. |
Better Than No Rice |
Còn Hơn Là Không Có Cơm |
|
When you come to sit in concentration, then even if your mind isn’t yet quiet, simply sitting in the meditation posture is something good. It’s better than people who don’t even do that much. It’s like being hungry, but today there’s only rice, with nothing to go with it. We feel disgruntled, but I’d say that it’s better than having no rice at all. Eating plain rice is better than not eating anything, right? If all you have is plain rice, eat that for the time being. It’s better than not eating anything at all. The same with this: Even if we know only a little about how to practice, it’s still good. |
Khi bạn ngồi thiền, ngay cả khi tâm chưa tĩnh lặng, chỉ cần ngồi trong tư thế thiền định thôi cũng đã là điều tốt rồi. Điều đó tốt hơn những người thậm chí không làm gì nhiều. Giống như việc đói bụng, nhưng hôm nay chỉ có cơm, không có gì ăn kèm. Chúng ta cảm thấy khó chịu, nhưng tôi cho rằng vẫn tốt hơn là không có cơm. Ăn cơm trắng còn hơn là không ăn gì, phải không? Nếu bạn chỉ có cơm trắng, hãy ăn nó trước đã. Vẫn tốt hơn là không ăn gì cả. Cũng tương tự như vậy: Ngay cả khi chúng ta chỉ biết một chút về cách thực hành, điều đó vẫn tốt. |
The Chicken in the Cage |
Con Gà Trong Chuồng |
|
It’s like having a chicken and putting it into a cage. Let it stay in just one cage. When the chicken’s in the cage, it won’t get out of the cage, but it will walk back and forth inside the cage. Its walking back and forth is no problem, because it’s walking back and forth in the cage. |
Giống như việc bạn nhốt một con gà vào chuồng. Cứ để nó ở trong chuồng. Khi ở trong chuồng, con gà sẽ không ra khỏi chuồng, nhưng nó sẽ đi đi lại lại bên trong chuồng. Việc nó đi đi lại lại không có vấn đề gì, vì nó đang đi đi lại lại trong chuồng. |
|
It’s like the things we sense in the mind when we’re mindful and still. When we sense things in the stillness, it doesn’t disturb us. When we think and sense things in the stillness, it’s no problem. |
Nó giống như những điều chúng ta cảm nhận trong tâm khi chúng ta tỉnh giác và tĩnh lặng. Khi chúng ta cảm nhận mọi thứ trong sự tĩnh lặng, chúng không làm phiền chúng ta. Khi chúng ta suy nghĩ và cảm nhận mọi thứ trong sự tĩnh lặng, không có vấn đề gì. |
|
Some people, when they sense things, don’t want there to be anything there. That’s wrong. There are things you’ll sense in the stillness—you’ll sense them, but they won’t annoy you. The mind is still. There’s no problem. |
Một số người, khi họ cảm nhận điều gì đó, lại không muốn có bất cứ điều gì ở đó. Điều đó sai. Có những điều bạn sẽ cảm nhận được trong sự tĩnh lặng—bạn sẽ cảm nhận được chúng, nhưng chúng sẽ không làm phiền bạn. Tâm đang tĩnh lặng. Không có vấn đề gì. |
|
The problem is when the chicken leaves the cage. For example, you’re focused on the breath but then you forget. You go traveling to your home or into the market—way out there. Sometimes it takes half an hour to come back. That’s dying without knowing what’s happening. This is important, so be careful. This is important. The mind has left the cage. It’s left its stillness. You have to be careful. You have to be mindful. As soon as you’re aware that it’s left, you have to pull it back in—although to say that you pull it back in, you’re not really pulling it back in. Wherever your thoughts go, it’s just a matter of changing what you sense. When you get the mind to stay here, it stays here. As long as you’re mindful, it stays here. It doesn’t go anywhere. The change is right here in the mind. Notice that when it seems to go over there, it doesn’t really go. The change happens right here. As soon as your mindfulness remembers again, it’s immediately here. It doesn’t leave from here. Everything is sensed right here. |
Vấn đề là khi con gà rời khỏi chuồng. Ví dụ, bạn đang tập trung vào hơi thở nhưng sau đó bạn quên. Bạn đi về nhà hoặc ra chợ—đi rất xa. Đôi khi phải mất nửa tiếng đồng hồ mới quay trở lại. Đó là chết mà không biết chuyện gì đang xảy ra. Điều này rất quan trọng, vì vậy hãy cẩn thận. Điều này rất quan trọng. Tâm đã rời khỏi chiếc chuồng. Nó đã rời khỏi sự tĩnh lặng của nó. Bạn phải cẩn thận. Bạn phải chú tâm. Ngay khi bạn nhận thức được rằng nó đã rời đi, bạn phải kéo nó trở lại—mặc dù nói rằng bạn kéo nó trở lại, thực ra bạn không kéo nó trở lại. Bất cứ nơi nào suy nghĩ của bạn đi, đó chỉ là vấn đề thay đổi những gì bạn cảm nhận. Khi bạn khiến tâm ở lại đây, nó sẽ ở lại đây. Chừng nào bạn còn chú tâm, nó sẽ ở lại đây. Nó không đi đâu cả. Sự thay đổi nằm ngay trong tâm. Hãy chú ý rằng khi nó dường như đi đến đó, thực ra nó không đi. Sự thay đổi xảy ra ngay tại đây. Ngay khi sự chú tâm của bạn nhớ lại, nó lập tức ở đây. Nó không rời khỏi đây. Mọi thứ đều được cảm nhận ngay tại đây. |
Only One Hole Open |
Chỉ Mở Một Lỗ |
|
Focus your heart in your heart. Make mindfulness continuous. Get the mind to calm down its preoccupations, leaving just awareness. Like Tuccho Potthila: He went to learn the Dhamma from a novice. The novice taught him that there’s a termite nest with six openings. You want to catch the lizard hiding in the hollow inside the termite nest, so what do you do? You close off five of the holes and leave open only one hole, so that you can catch the lizard when it comes out. In other words, leave your eyes, ears, nose, tongue, and body alone, and be aware right at the heart. That’s what it means to focus your heart in your heart. |
Quán tâm trong tâm. Thực hành chánh niệm liên tục. Làm cho tâm lắng xuống, chỉ còn lại sự tỉnh giác. Giống như ông Sư Rỗng Tuếch Tuccho Potthila: Ông đến học Phật pháp từ một vị tiểu tăng. Vị tiểu tăng dạy ông rằng có một tổ mối có sáu lỗ. Bạn muốn bắt con thằn lằn đang trốn trong hốc bên trong tổ mối, vậy bạn làm gì? Bạn bịt năm lỗ lại và chỉ để mở một lỗ, để bạn có thể bắt con thằn lằn khi nó chui ra. Nói cách khác, hãy bỏ qua mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, và chỉ tỉnh giác ngay tại tâm. Đó là ý nghĩa của việc quán tâm trong tâm, tập trung tâm vào chính mình. |
|
The same today: To catch all your awareness and gather it in together, you have to practice restraint of the senses. You restrain your eyes, ears, nose, tongue, body, and mind. Let go of the entire body, and simply be aware at the heart. This is called focusing your heart in your heart. |
Cũng như ngày nay: Để nắm bắt toàn bộ nhận thức của bạn và tập trung nó lại với nhau, bạn phải thu thúc các giác quan. Bạn thu thúc mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm. Buông bỏ toàn bộ thân thể, và chỉ đơn giản là tỉnh giác tại tâm. Điều này được gọi là quán tâm trong tâm, là tập trung tâm vào chính mình. |
The Water Cooler |
Hộp Cách Nhiệt Giữ Nước Mát |
|
If you know something simply by memorizing it, there can still be doubts. If you know the truth, that’s the end of your doubts. It’s like this water cooler that has only a single opening for the water to go out. It won’t go out any other way. If you tilt it in any other direction, the water won’t go out, for there’s no opening. And the advice you hear from this person here is for you to go right to that opening. Try to make your mind go right to that opening. If you try to pour the water out in another direction, it won’t come out, for there’s no opening. You have to pour it in this direction, and it will flow right out. “Oh. This is how it comes out.” That’s when you understand it. |
Nếu bạn chỉ biết một điều gì đó do sự ghi nhớ, vẫn có thể nảy sinh nghi ngờ. Nếu bạn biết sự thật, thì mọi nghi ngờ sẽ chấm dứt. Nó giống như cái hộp cách nhiệt giữ cho nước mát, chỉ có một lỗ duy nhất để nước chảy ra ở vị trí đáy hộp. Nước sẽ không chảy ra theo bất kỳ hướng nào khác. Nếu bạn nghiêng nó theo bất kỳ hướng nào khác, nước sẽ không chảy ra, vì không có lỗ. Và lời khuyên bạn nghe được từ người này là hãy hướng thẳng đến lỗ đó. Cố gắng để tâm bạn hướng thẳng đến lỗ đó. Nếu bạn cố gắng đổ nước theo hướng khác, nước sẽ không chảy ra, vì không có lỗ. Bạn phải đổ theo hướng có lỗ, và nước sẽ chảy ra. “Ồ. Đây là cách nước chảy ra.” Đó là lúc bạn hiểu ra vấn đề. |
Recognizing Fire |
Nhận biết Lửa |
|
When we see the truth, we’ll admit the truth. When we see the cause that gives rise to stress, then wherever stress would arise, we don’t do that. We don’t say that. We practice so that our practice becomes correct, and stress won’t arise. |
Khi ta thấy chân đế, ta sẽ thừa nhận chân đế. Khi ta thấy nguyên nhân gây ra phiền não, thì bất cứ nơi nào phiền não có thể phát sinh, ta sẽ không làm điều đó. Ta sẽ không nói điều đó. Ta thực hành để việc thực hành của ta trở nên đúng đắn, và phiền não sẽ không phát sinh. |
|
It’s the same as when a person makes a mistake often because he doesn’t recognize mistakes. He doesn’t recognize fire. If people recognize fire, will they grab hold of it? No matter who grabs hold of it, they get burned. Once they know this, none of them will grab hold of fire. |
Cũng giống như khi một người thường xuyên phạm sai lầm vì anh ta không nhận ra sai lầm. Anh ta không nhận ra lửa. Nếu mọi người nhận ra lửa, liệu họ có nắm lấy lửa không? Cho dù ai nắm lấy lửa, họ cũng sẽ bị bỏng. Một khi họ biết điều này, không ai trong số họ sẽ nắm lấy lửa nữa. |
|
The mind is hotter than fire, but nobody senses that it’s hot, and so they say that it’s nothing to worry about. They don’t know that whatever’s not correct is hot and burning. This is why human beings keep grabbing hold of it—sometimes even when they know better. They’re servants of craving. They’re slaves. All of us: If we don’t know the Dhamma, we’re all slaves to craving. |
Tâm nóng hơn lửa, nhưng không ai cảm nhận được nó nóng, và vì vậy họ nói rằng không có gì phải lo lắng. Họ không biết rằng bất cứ điều gì không đúng đều nóng và đang thiêu đốt. Đây là lý do tại sao con người cứ nắm lấy nó - đôi khi ngay cả khi họ biết rõ hơn. Họ là tôi tớ của dục vọng. Họ là nô lệ. Tất cả chúng ta: Nếu chúng ta không biết Pháp, tất cả chúng ta đều là nô lệ của dục vọng. |
Looking for a Teacher |
Tìm kiếm một người thầy |
|
When you go looking for teachings on how to meditate, you have to look for people who are pure, monks who are pure, who really act in line with what they say: people who are content with little, who practice to gain release from suffering, to gain release from the cycle of wandering-on. This energizes your practice because it gives rise to a sense of conviction and inspiration. |
Khi bạn tìm kiếm những lời dạy như thế nào để tu tập thiền định, bạn phải tìm những người thanh tịnh, những vị sư thanh tịnh, những người thực sự sống đúng với những gì họ nói: những người bằng lòng với những gì mình có, những người tu tập để giải thoát khỏi khổ đau, để giải thoát khỏi lang thang trong vòng luân hồi. Điều này tiếp thêm năng lượng cho việc tu tập của bạn bởi vì nó tạo ra cảm giác tin tưởng và cảm hứng. |
|
If the teachers are lay people like you, they… I’ve never felt inspired by them. They have spouses, children, belongings—they’re embroiled. In the evening they teach meditation and then in the morning they drink beer, drink alcohol. They’re just ordinary people. |
Nếu những thiền sư là những người tại gia như bạn, thì… tôi chưa bao giờ cảm thấy được truyền cảm hứng từ họ. Họ có vợ/chồng, con cái, tài sản – họ bị vướng mắc. Buổi tối họ dạy thiền và sáng hôm sau họ uống bia, uống rượu. Họ chỉ là những người bình thường. |
|
When you study in school, what do you do? You look for teachers who know more than you do, right? Only then will you study with them. |
Khi bạn học ở trường, bạn làm gì? Bạn tìm những người thầy biết nhiều hơn bạn, phải không? Chỉ khi đó bạn mới học với họ. |
|
When you practice the Buddha’s teachings, when you practice meditation, you have to look for people with few defilements, light defilements—people who’ve been able to get out of their defilements to a good extent. |
Khi bạn thực hành giáo lý của Đức Phật, khi bạn thực hành thiền định, bạn phải tìm những người có ít phiền não, phiền não nhẹ – những người đã có thể thoát khỏi phiền não của họ ở mức độ tốt. |
The Stick in the Stream |
Khúc Cây Trong Dòng Suối |
|
All of us who have come here to practice: Walk in a way that correctly follows the Dhamma of the Buddha. Follow in line with his footsteps, in line with virtue, concentration, and discernment so that your practice is right, and I firmly believe that the results are sure to arise within you. |
Tất cả chúng ta những người đến đây để tu tập: Hãy bước đi theo con đường đạo theo Chánh Pháp của Đức Phật. Hãy noi theo bước chân Ngài, theo giới, định và tuệ phân biệt để việc tu tập của bạn đúng, và tôi tin chắc rằng kết quả chắc chắn sẽ nảy sinh trong bạn. |
|
It’s like cutting a stick and throwing it into the current of a stream. If the stick doesn’t go rotten and it doesn’t get snagged on the far bank or the near bank of the stream, it’ll keep on floating along with the current. And you can be sure that it’ll eventually reach the ocean. |
Giống như việc chặt một khúc cây và ném nó xuống dòng suối. Nếu khúc cây không bị mục nát và không bị mắc kẹt ở bờ bên kia hay bờ bên kia của dòng suối, nó sẽ tiếp tục trôi theo dòng nước. Và bạn có thể chắc chắn rằng cuối cùng nó sẽ đến được đại dương. |
|
One of the stream banks is pleasure. The other bank is pain. The stick is your mind. As it floats along with the current of the stream, pleasure will bump into it, pain will bump into it often. As long as your mind doesn’t grasp onto the pleasure or the pain, it’ll reach the current flowing to nibbana: respite and peace. |
Một bên bờ suối là lợi dưỡng. Bờ bên kia là khổ . Khúc Cây là tâm của bạn. Khi nó trôi theo dòng nước, lợi dưỡng sẽ va vào nó, khổ đau cũng sẽ thường xuyên va vào nó. Chừng nào tâm của bạn không bám víu vào lợi dưỡng hay khổ đau, nó sẽ đến được dòng chảy dẫn đến Niết bàn: sự an nghỉ và bình an. |
Addicted to Curry |
Nghiện cà ri |
|
It’s like a dog. If you feed it plain rice every day, it’ll get fat like a pig. But if one day you start mixing some curry in with the rice, just one or two meals, then after that if you give it plain rice again, it won’t eat it. It gets addicted to the curry really fast. Sights, sounds, smells, and tastes are things that can destroy our practice. If we don’t contemplate our four requisites—clothing, food, shelter, and medicine—Buddhism won’t be able to survive |
Nó giống như một con chó. Nếu bạn cho nó ăn cơm trắng mỗi ngày, nó sẽ béo ú như lợn. Nhưng nếu một ngày nào đó bạn bắt đầu trộn cà ri vào cơm, chỉ một hoặc hai bữa thôi, thì sau đó nếu bạn lại cho nó ăn cơm trắng, nó sẽ không ăn nữa. Nó nghiện cà ri rất nhanh. Thị giác, thính giác, khứu giác và vị giác là những thứ có thể phá hủy việc tu tập của chúng ta. Nếu chúng ta không quán tưởng bốn nhu yếu phẩm—quần áo, thức ăn, chỗ ở và thuốc men—Phật giáo sẽ không thể tồn tại. |
Eating the Hook |
Ăn Cái Móc Câu |
|
When people are deluded, they deludedly see that hair of the head, hair of the body, nails, teeth, and skin are wonderful things. Beautiful. It’s like a fish biting a hook. Whether it’s biting the hook or biting the bait, it doesn’t know. It wants to bite the bait, but what comes into its mouth is the hook, snagging its mouth so that the fish can’t get away. No matter how much it wants to get away, it can’t. It’s stuck. |
Khi con người bị mê hoặc, họ ảo tưởng rằng tóc trên đầu, lông trên cơ thể, móng tay, răng và da là những thứ tuyệt vời. Đẹp đẽ. Giống như một con cá cắn câu. Nó không biết mình đang cắn cái câu hay cắn miếng mồi. Nó muốn cắn miếng mồi, nhưng thứ vào miệng nó lại là cái móc câu, mắc vào miệng khiến con cá không thể thoát ra. Cho dù nó muốn thoát ra đến đâu, nó cũng không thể. Nó bị mắc kẹt. |
|
It’s the same with us: When we see hair of the head, hair of the body, nails, teeth, and skin, we like them. We fall for them—and we’re already stuck on their hook. By the time we realize what’s happened, it’s already hooked into our mouth. It’s hard to get away. If we think about getting away to ordain, we’re worried about our children, our belongings—worried about all kinds of things. And so we don’t get away. We stay right there until we die. This means that the hook has snagged us by the mouth. We don’t know and so we’re deluded—like the fish that’s deluded and doesn’t know which is the bait and which is the hook. If it really knew the hook, it wouldn’t eat the hook. It would eat only the bait. |
Chúng ta cũng vậy: Khi chúng ta nhìn thấy tóc trên đầu, lông trên cơ thể, móng tay, răng và da, chúng ta thích chúng. Chúng ta bị thu hút bởi chúng - và chúng ta đã bị mắc kẹt trên cái móc câu của chúng. Đến khi chúng ta nhận ra điều gì đã xảy ra, nó đã móc vào miệng chúng ta rồi. Thật khó để thoát ra. Nếu chúng ta nghĩ đến việc rời bỏ cuộc sống thường nhật để thọ giới tu sĩ, chúng ta lại lo lắng cho con cái, tài sản của mình - lo lắng về đủ thứ. Và vì vậy chúng ta không rời bỏ cuộc sống thường nhật. Chúng ta cứ ở đó cho đến khi chết. Điều này có nghĩa là lưỡi câu đã mắc vào miệng chúng ta. Chúng ta không biết và vì thế bị lừa dối—giống như con cá bị lừa dối, không biết đâu là mồi, đâu là lưỡi câu. Nếu nó thực sự biết lưỡi câu, nó sẽ không ăn lưỡi câu. Nó sẽ chỉ ăn mồi. |
|
The reason we’re stuck in the world is because of these five things. They’re “beautiful.” They’re “wonderful.” We like these things; we submit to these things until we die. Actually, there’s nothing much to them. It’s just a matter of the hook snagging the mouth of the fish, that’s all. Take this and think about it carefully. |
Lý do chúng ta mắc kẹt trong thế giới này là vì năm điều này. Chúng “đẹp đẽ”. Chúng “tuyệt vời”. Chúng ta thích những điều này; chúng ta phục tùng những điều này cho đến khi chết. Thực ra, chúng chẳng có gì đặc biệt cả. Chỉ là lưỡi câu mắc vào miệng con cá mà thôi. Hãy suy nghĩ kỹ về điều này. |
The Tree in the Seed |
Cây Trong Hạt |
|
Samadhi is firm concentration. If you’re firm in your practice, it’s a kind of concentration, but it doesn’t yet give you the fruit. It’s still just the flower—but out of the flower comes the fruit, big or small. The potentials of people are not the same. Things that are buried inside, we don’t yet see. Like the seed of a jackfruit: Suppose that you eat some jackfruit and lift out a seed. When you do that, you’re lifting a whole jackfruit tree, but at the moment, you don’t see it. You don’t yet know it. Even if you were to split open the seed, you still wouldn’t see the tree because it’s subtle. When you don’t see it, you feel that there’s no tree in there. Why? Because it hasn’t been mixed with the right things. If you plant a jackfruit seed in the dirt, then it will start growing. Leaves will appear. Branches will appear. They’ll get bigger and bigger. Flowers will appear. Small fruits will appear. Big fruits will appear. Ripe fruits will appear. But as long as the seed is still just a seed, you can’t point to these things in there. This is why people don’t take any interest. |
Samadhi là sự tập trung vững chắc. Nếu bạn kiên định trong việc tu tập, đó là một loại tập trung, nhưng nó chưa mang lại cho bạn quả. Nó vẫn chỉ là bông hoa – nhưng từ bông hoa sẽ sinh ra quả, lớn hay nhỏ. Tiềm năng của mỗi người không giống nhau. Những điều ẩn sâu bên trong, chúng ta chưa nhìn thấy. Giống như hạt mít: Giả sử bạn ăn một quả mít và lấy ra một hạt. Khi bạn làm vậy, bạn đang lấy cả một cây mít, nhưng lúc đó, bạn không nhìn thấy nó. Bạn chưa biết đến nó. Ngay cả khi bạn bổ đôi hạt ra, bạn vẫn không nhìn thấy cái cây vì nó rất vi tế. Khi bạn không nhìn thấy nó, bạn cảm thấy rằng không có cây nào ở trong đó. Tại sao? Bởi vì nó chưa được trộn lẫn với những thứ phù hợp. Nếu bạn gieo một hạt mít xuống đất, nó sẽ bắt đầu phát triển. Lá sẽ mọc. Cành sẽ mọc. Chúng sẽ lớn dần. Hoa sẽ mọc. Quả nhỏ sẽ xuất hiện. Những quả to sẽ xuất hiện. Những quả chín sẽ xuất hiện. Nhưng chừng nào hạt vẫn chỉ là hạt, bạn không thể chỉ ra những thứ bên trong đó. Đó là lý do tại sao mọi người không quan tâm. |
|
When you’re meditating, you’re picking up a mango—and you’re picking up the whole mango tree. It’s the same as picking up a jackfruit seed but without seeing the tree in the seed. What gets in the way? The sweet flavor of the flesh gets in the way. The sour flavor gets in the way. We haven’t yet made our way into the jackfruit tree inside the jackfruit seed. All we can see is that the flesh is sweet; it’s delicious. All these things get in the way of our seeing the jackfruit tree inside the jackfruit seed. |
Khi bạn thiền định, bạn đang nhặt một quả xoài—và bạn đang nhặt cả cây xoài. Điều đó cũng giống như nhặt một hạt mít nhưng không nhìn thấy cây mít bên trong hạt. Điều gì cản trở? Vị ngọt của thịt quả cản trở. Vị chua cản trở. Chúng ta chưa thể đi vào cây mít bên trong hạt mít. Tất cả những gì chúng ta thấy là thịt quả mít ngọt; nó ngon. Tất cả những điều này cản trở chúng ta nhìn thấy cây mít bên trong hạt mít. |
|
It’s the same with us as we practice. We sit on top of the Dhamma. We lie down on top of the Dhamma. We plant our foot on the Dhamma with every step —but we don’t know that we’re stepping on Dhamma. |
Cũng giống như chúng ta khi tu tập. Chúng ta ngồi trên Pháp. Chúng ta nằm trên Pháp. Chúng ta đặt chân lên Pháp với mỗi bước đi—nhưng chúng ta không biết rằng mình đang bước trên Pháp. |
Running in Circles |
Chạy vòng tròn |
|
When you live alone, you can still be stupid. You can still suffer. When you live with a lot of people, you can be stupid and suffer. It’s like chicken shit. If you hold it by yourself, it stinks. If you hold it with a lot of people, it stinks. |
Khi sống một mình, bạn vẫn có thể trở thành vô minh. Bạn vẫn có thể đau khổ. Khi sống với nhiều người, bạn có thể vô minh và đau khổ. Nó giống như phân gà vậy. Nếu bạn giữ nó một mình, nó sẽ bốc mùi. Nếu bạn giữ nó với nhiều người, nó cũng bốc mùi. |
|
There’s a way in which it’s right to think that living with a lot of people isn’t quiet, but living with a lot of people can also give rise to lots of discernment. I myself have gained a lot of discernment from having lots of students. When lots of people with lots of ideas and lots of experiences come together, it has to give rise to stronger and greater powers of endurance. I can endure. I can keep on contemplating things. It’s all beneficial. |
Có một khía cạnh đúng khi nghĩ rằng sống với nhiều người không hề yên tĩnh, nhưng sống với nhiều người cũng có thể mang lại nhiều sự sáng suốt. Bản thân tôi đã có được nhiều sự sáng suốt từ việc có nhiều học trò. Khi nhiều người với nhiều ý tưởng và nhiều kinh nghiệm cùng nhau, điều đó chắc chắn sẽ tạo ra sức chịu đựng mạnh mẽ hơn. Tôi có thể chịu đựng. Tôi có thể tiếp tục suy ngẫm mọi thứ. Tất cả đều có lợi. |
|
The cycles of wandering-on keep spinning around—so how can you keep running after them? If they speed up, can you catch up with them? Just stand in one place, and the cycles will keep running around you on their own. It’s like a wind-up doll running around and around in circles. You stay right in the middle and you’ll see it each time it runs past. You don’t have to go running after it. |
Vòng xoáy của sự đi lang thang nó cứ quay vòng – vậy làm sao bạn có thể tiếp tục chạy theo chúng? Nếu chúng tăng tốc, bạn có thể bắt kịp chúng không? Cứ đứng yên một chỗ, và vòng xoáy sẽ tự động quay quanh bạn. Nó giống như một con búp bê lên dây cót chạy vòng vòng. Bạn cứ đứng ngay giữa đường và sẽ thấy nó mỗi khi nó chạy ngang qua. Bạn không cần phải chạy theo nó. |
Lifting the Bow |
Nâng Chiếc Bát |
|
What do stress and suffering come from? It’s like lifting this bowl and feeling that it’s heavy. If you put it down, it’s not heavy any more. As soon as you lift it up again, it’s heavy again. So what does the heaviness come from? We feel heavy because we’ve lifted this thing. So we put it down. We put down the cause of its heaviness and we’re light. Right? Know stress. Know the cause of stress. Know the cessation of stress. Know the path of practice leading to the cessation of stress. That’s all you do. Just put down the cause, and the stress and suffering ceases. That’s the practice. |
Phiền não và đau khổ đến từ đâu? Giống như việc bạn nâng chiếc bát này lên và cảm thấy nó rất nặng. Nếu bạn đặt nó xuống, nó không còn nặng nữa. Ngay khi bạn nâng nó lên lại, nó lại nặng. Vậy sự nặng nề đó đến từ đâu? Chúng ta cảm thấy nặng nề vì chúng ta đã nâng vật này lên. Vì vậy, chúng ta đặt nó xuống. Chúng ta buông bỏ nguyên nhân gây ra sự nặng nề và chúng ta trở nên nhẹ nhàng. Đúng không? Hãy nhận biết sự phiền não. Nhận biết nguyên nhân của phiền não. Nhận biết cách chấm dứt phiền não. Nhận biết con đường thực hành dẫn đến việc chấm dứt phiền não. Đó là tất cả những gì bạn cần làm. Chỉ cần buông bỏ nguyên nhân, và phiền não và đau khổ sẽ chấm dứt. Đó chính là sự tu tập. |
|
When we start out, we don’t understand anything. We lift this up, and it really feels heavy. Why is it heavy? We don’t understand. Why is it heavy? Because that person looks down on us; because this person criticizes us. All kinds of things. We don’t know what we’re holding in our own hand. But if we put it down and stay still, we’re not heavy. See? We’re not suffering because we’re not lifting anything. That’s all there is to our practice |
Khi mới bắt đầu, chúng ta không hiểu gì cả. Chúng ta nâng vật này lên, và nó thực sự cảm thấy rất nặng. Tại sao nó lại nặng? Chúng ta không hiểu. Tại sao nó lại nặng? Bởi vì người đó coi thường chúng ta; bởi vì người này chỉ trích chúng ta. Tất cả những điều đó. Chúng ta không biết mình đang cầm gì trong tay. Nhưng nếu ta đặt nó xuống và giữ nguyên tư thế, ta sẽ không nặng nề. Thấy chưa? Chúng ta không đau khổ vì ta không nâng vật gì cả. Đó là tất cả những gì tạo nên phương pháp tu tập của chúng ta. |
See for Yourself |
Hãy tự mình chứng kiến |
|
Now that you’ve come here to the monastery, you no longer have any questions about what Paa Pong Monastery is like or where it is. That’s because you’ve already seen for yourself. As long as you haven’t seen for yourself, you have to keep asking other people. Keep that up until you die, and you still won’t know Paa Pong Monastery. Why? Because all you know is what other people say. Do you know anything about it? You know, but it’s not clear. Your knowledge doesn’t reach the monastery. That’s why there are still questions. |
Giờ bạn đã đến tu viện, bạn không còn thắc mắc gì về tu viện Paa Pong trông như thế nào hay nó ở đâu nữa. Bởi vì bạn đã tự mình chứng kiến rồi. Chừng nào bạn chưa tự mình chứng kiến, bạn cứ phải hỏi người khác. Cứ tiếp tục như vậy cho đến khi chết, bạn vẫn sẽ không biết gì về tu viện Paa Pong. Tại sao? Bởi vì tất cả những gì bạn biết chỉ là những gì người khác nói. Bạn có biết gì về nó không? Bạn biết, nhưng không rõ ràng. Kiến thức của bạn không đến được tu viện. Đó là lý do tại sao vẫn còn những câu hỏi. |
|
This is why the Buddha taught us to meditate so that we can see things clearly for ourselves. As long as you simply believe what other people say, the Buddha says that you’re still stupid. |
Đây là lý do tại sao Đức Phật dạy chúng ta thiền định để có thể tự mình nhìn thấy mọi thứ một cách rõ ràng. Chừng nào bạn chỉ tin vào những gì người khác nói, Đức Phật nói rằng bạn vẫn còn vô minh. |
Talk about Blindness |
nói về sự mù lòa |
|
This issue of nibbana: The Buddha describes it in a way that’s unclear because there’s no way you can describe it clearly. It’s like talking to a person who’s totally blind. Try describing a color in a way that’s clear. Something really yellow: Go and ask a blind person if he knows it. The more you try to describe it, the less he knows. So how do you solve the problem? You have to focus back on the cause: “Why are you blind?” You’d do better to talk about how to cure the disease in his eyes. Once his eyes are good, then you don’t have to teach him about red or green. He’ll know for himself. |
Chủ đề Niết bàn: Đức Phật mô tả nó theo một cách không rõ ràng vì không có cách nào để mô tả nó một cách rõ ràng. Nó giống như nói chuyện với một người hoàn toàn mù. Hãy thử mô tả một màu sắc một cách rõ ràng xem. Một màu vàng thật sự: Hãy đi hỏi một người mù xem họ có biết màu đó không. Bạn càng cố gắng mô tả, họ càng không biết. Vậy làm thế nào để giải quyết vấn đề? Bạn phải tập trung trở lại vào nguyên nhân: “Tại sao bạn bị mù?” Tốt hơn hết là bạn nên nói về cách chữa trị căn bệnh ở mắt của họ. Một khi mắt họ đã tốt, thì bạn không cần phải dạy họ về màu đỏ hay màu xanh lá cây nữa. Họ sẽ tự biết. |
Your Duty |
Bổn phận của bạn |
|
Your duty is to plant a tree, water it, and fertilize it, that’s all. Whether it’s going to grow fast or grow slowly, that’s not your duty. It’s the duty of the tree. You can stand there complaining about it until the day you die, but it won’t get you what you want. Where do your thoughts go? “Maybe the soil here isn’t good.” So you pull up the tree. Its roots are just beginning to grow, but now they’re torn off. You keep pulling it up, again and again, until it finally dies. Why do you want it to grow fast? Your desire for it to grow fast is craving. Your desire for it to grow slowly is craving. |
Bổn phận của bạn là trồng cây, tưới nước và bón phân, chỉ vậy thôi. Việc cây lớn nhanh hay chậm không phải là bổn phận của bạn. Đó là bổn phận của cây. Bạn có thể đứng đó than vãn cho đến ngày bạn chết, nhưng điều đó sẽ không mang lại cho bạn điều bạn muốn. Suy nghĩ của bạn đi về đâu? “Có lẽ đất ở đây không tốt.” Thế là bạn nhổ cây lên. Rễ của nó chỉ mới bắt đầu phát triển, nhưng giờ chúng đã bị xé toạc. Bạn cứ nhổ nó lên, hết lần này đến lần khác, cho đến khi cuối cùng nó chết. Tại sao bạn lại muốn nó lớn nhanh? Mong muốn nó lớn nhanh của bạn là sự tham vọng. Mong muốn nó lớn chậm của bạn cũng là sự tham vọng. |
|
Are you going to follow your craving, or are you going to follow the Buddha? Think about this every day. What you’re doing: Why are you doing it? If you’re not at your ease, you’re doing it with craving. If you let go, then you’ll do the practice when you feel lazy; you’ll do it when you feel industrious. But here you don’t do it when you feel lazy. You do it only when you feel industrious. That’s just a practice that follows your craving. When are you going to practice following the Buddha |
Bạn sẽ đi theo sự tham vọng của mình, hay bạn sẽ đi theo Đức Phật? Hãy suy nghĩ về điều này mỗi ngày. Những gì bạn đang làm: Tại sao bạn lại làm điều đó? Nếu bạn không cảm thấy thoải mái, bạn đang làm điều đó với sự tham vọng. Nếu bạn buông bỏ, thì bạn sẽ thực hành khi bạn cảm thấy lười biếng; bạn sẽ thực hành khi bạn cảm thấy siêng năng. Nhưng ở đây bạn không làm điều đó khi cảm thấy lười biếng. Bạn chỉ làm điều đó khi cảm thấy siêng năng. Đó chỉ là một phương pháp tu tập theo sự tham vọng của bạn. Khi nào bạn mới định tu tập theo gương Phật? |
Sitting with a Cobra |
Ngồi cạnh con rắn hổ mang |
|
Make the mind mindful and keep it aware all the time. The problem is how to keep it aware. Suppose you have an area about three meters wide and you’re sitting inside it. And there’s a big cobra staying in there, too. What would your mind be like then? Because you don’t trust the cobra, because it’s poisonous, you won’t dare lie down. You won’t dare get drowsy. Why? Because you’re afraid of the cobra. When you understand in this way, your awareness will get a lot clearer. |
Hãy tu tập cho tâm có chánh niệm và luôn giữ cho nó tỉnh giác trong mọi lúc. Vấn đề là làm thế nào để giữ cho nó luôn tỉnh giác. Giả sử bạn có một khu vực rộng khoảng ba mét và bạn đang ngồi bên trong đó. Và cũng có một con rắn hổ mang lớn đang ở trong đó. Tâmí của bạn lúc đó sẽ như thế nào? Bởi vì bạn không tin tưởng con rắn hổ mang, bởi vì nó có nọc độc, bạn sẽ không dám nằm xuống. Bạn sẽ không dám buồn ngủ. Tại sao? Bởi vì bạn sợ con rắn hổ mang. Khi bạn hiểu theo cách này, nhận thức của bạn sẽ trở nên rõ ràng hơn rất nhiều. |
The Spider |
Con Nhện |
|
When we’re mindful, we’re like a spider making its web. It stretches its web across the air and then it puts itself in the center. Quiet. Still. Unmoving. Mindful. If a fly or a bee comes flying along and touches the web, the spider knows. It gets up and runs out to catch that insect and turn it into food. Once the spider has caught its food, it hurries back to its original spot. It makes itself quiet and alert. Mindful. It knows when something is about to touch the web. As soon as something touches it, it’s already awake—because it lives with mindfulness. |
Khi ta giữ chánh niệm, ta giống như một con nhện đang giăng tơ. Nó giăng tơ ngang không gian rồi vào giữa mạng nhện và nằm trong đó. Yên tĩnh. Tĩnh lặng. Bất động. Chánh niệm. Nếu một con ruồi hay một con ong bay đến và chạm vào tơ, con nhện biết ngay. Nó bay lên và chạy ra bắt con côn trùng đó để làm thức ăn. Sau khi bắt được thức ăn, con nhện vội vã quay trở lại vị trí ban đầu. Nó giữ cho mình yên tĩnh và tỉnh giác. Chánh niệm. Nó biết khi nào có thứ gì đó sắp chạm vào tơ. Ngay khi có thứ gì đó chạm vào nó, nó đã tỉnh táo – bởi vì nó sống với chánh niệm. |
|
The spider is like our mind. The mind lies in the middle of the sense spheres: eyes, ears, nose, tongue, body, and mind. That’s the way it is with a person who practices. If we’re careful, alert, and restrained, we’ll get to know ourselves. We’ll get to know the mind: what it’s doing and in what way. |
Con nhện giống như tâm của chúng ta. Tâm nằm ở giữa các giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm. Đó là cách mà một người tu tập. Nếu ta cẩn thận, tỉnh giác và thu thúc, ta sẽ hiểu rõ bản thân. Ta sẽ hiểu rõ tâm nó đang làm gì và bằng cách nào. |
A Road Through the Wilderness |
Con Đường Xuyên Qua Hoang Dã |
|
Training the mind is something we have to do. As you train the mind overtime, it’s like making a road into the wilderness. At first, you’re walking in the wilderness, but if you keep walking along the same path every day, every day, the path gradually changes. The dirt gets harder. Stumps get worn down, and the road becomes an easy place to walk. |
Tu tâm là điều chúng ta phải làm. Khi bạn tu tập tâm theo thời gian, nó giống như việc mở một con đường vào hoang dã. Ban đầu, bạn đang đi bộ trong hoang dã, nhưng nếu bạn cứ tiếp tục đi trên cùng một con đường mỗi ngày, con đường sẽ dần thay đổi. Đất sẽ cứng hơn. Các gốc cây bị mòn đi, và con đường trở nên dễ đi hơn. |
Roads to Pass By |
Những Con Đường Cắt Ngang Qua |
|
When you come here to Nong Paa Pong Monastery, there are roads crossing your way. But they don’t matter. You simply go past them, because you don’t want them. The same with all the preoccupations in the world: We want the mind to quiet down but then we bring in disturbing preoccupations to stir it up again. If we understand that they’re simply roads to pass by, we pass them by without paying them any attention. That’s what it means to cut preoccupations away. For example, “When the mind is quiet, what will it know? What will it see?” Cut those thoughts away. They simply clutter up your path |
Khi bạn đến Tu viện Nong Paa Pong, sẽ có những con đường cắt ngang con đường bạn đi. Nhưng chúng không quan trọng. Bạn chỉ đơn giản là đi qua chúng, bởi vì bạn không muốn chúng. Cũng giống như tất cả những suy nghĩ của bạn về thế giới: Chúng ta muốn tâm tĩnh lặng nhưng rồi lại mang vào tâm những sự suy nghĩ gây xáo trộn để khuấy động nó trở lại. Nếu chúng ta hiểu rằng chúng chỉ đơn giản là những con đường cắt ngang qua, chúng ta sẽ đi qua chúng mà không để ý đến chúng. Đó là ý nghĩa của việc loại bỏ những sự suy nghĩ. Ví dụ, “Khi tâm tĩnh lặng, nó sẽ biết gì? Nó sẽ thấy gì?” Hãy loại bỏ những suy nghĩ đó. Chúng chỉ làm vướng víu con đường của bạn. |
Know One, Know Them All |
Biết một, biết tất cả |
|
Sights, sounds, smells, tastes, everything: When you know one, you know them all. They all have the same characteristics. It’s kind of like recognizing what characteristics this chicken has. All you have to do is learn to recognize one chicken. Then when you go to different provinces and find other animals like this one, you’ll know that they’re like this chicken. You don’t have to go remembering that those other ones aren’t ducks. They’re chickens. You’re sure of the matter. |
Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, tất cả mọi thứ: Khi bạn biết một, bạn biết tất cả. Chúng đều có cùng đặc điểm. Nó giống như việc nhận biết đặc điểm của con gà. Tất cả những gì bạn cần làm là học cách nhận biết một con gà. Sau đó, khi bạn đến các nơi khác và tìm thấy những con vật khác giống như con gà này, bạn sẽ biết rằng chúng giống con gà này. Bạn không cần phải nhớ rằng những con khác không phải là vịt. Chúng là gà. Bạn chắc chắn về điều đó. |
|
When you’re sitting in meditation and a sound comes in, it’s not the case that the sound is disturbing you. When that awareness arises, you’re disturbing the sound. That’s where you have to solve the problem. Discernment will gradually arise. You gradually contemplate and judge things for yourself. Wherever you get snagged, you undo the problem right there. Your duties while you practice concentration don’t require you to do a lot. Keep the mind one. Know the breath coming in, the breath going out. When you get worried about something else, focus on the breath again. When you get confused about the breath, not knowing whether it’s coming in or going out, establish your mindfulness all over again. |
Khi bạn đang ngồi thiền và có âm thanh vang lên, không phải âm thanh đó đang làm phiền bạn. Khi nhận thức đó xuất hiện, chính bạn đang làm phiền âm thanh đó. Đó là nơi bạn phải giải quyết vấn đề. Tuệ phân biệt sẽ dần dần xuất hiện. Bạn dần dần suy ngẫm và phân tích mọi thứ cho chính mình. Bất cứ khi nào bạn gặp khó khăn, bạn hãy giải quyết vấn đề ngay tại đó. Nhiệm vụ của bạn trong khi tu tập thiền định không đòi hỏi bạn phải làm nhiều. Giữ tâm tập trung. Nhận biết hơi thở vào, hơi thở ra. Khi bạn lo lắng về điều gì khác, hãy đưa tâm tập trung vào hơi thở một lần nữa. Khi bạn bối rối về hơi thở, không biết mình đang hít vào hay thở ra, hãy thiết lập lại chánh niệm của mình. |
Two Different Things |
Hai điều khác biệt |
|
If you sit in one place and sounds get you all upset, you go away from that place and find another place that’s quiet. But if there are sounds there, you get upset again. That’s because your knowledge comes from perceptions. You don’t know in line with the truth. The truth is that you live with sounds, and sounds live with you, and there are no issues, because you’re two different things. I’ll give you an example. If you lift up this object, it’s heavy. If you put it down, it’s not heavy. |
Nếu bạn ngồi ở một chỗ và âm thanh làm bạn khó chịu, bạn sẽ rời khỏi chỗ đó và tìm một nơi yên tĩnh khác. Nhưng nếu ở nơi khác vẫn có âm thanh, bạn lại khó chịu. Đó là bởi vì kiến thức của bạn đến từ nhận thức. Bạn không biết sự thật. Sự thật là bạn sống với âm thanh, và âm thanh sống với bạn, và không có vấn đề gì, bởi vì bạn là hai điều khác biệt. Tôi sẽ cho bạn một ví dụ. Nếu bạn nhấc vật này lên, nó nặng. Nếu bạn đặt nó xuống, nó không nặng |
|
Why is it heavy? Because you lift it up. Why is it light when you put it down? Because you’re not lifting it. “Lifting it” is simply a matter of clinging to the idea that the sound is disturbing you. If you think in that way, you get upset. Suppose that this object weighs one kilogram. If you leave it there, it weighs just a kilogram. It’s the same with sounds. If you leave the sounds alone, they won’t disturb you—because you don’t grab onto them. |
Tại sao nó nặng? Bởi vì bạn nhấc nó lên. Tại sao nó nhẹ khi bạn đặt nó xuống? Bởi vì bạn không nhấc nó lên. "Nhấc nó lên" chỉ đơn giản là việc bám víu vào ý nghĩ rằng âm thanh đang làm phiền bạn. Nếu bạn nghĩ theo cách đó, bạn sẽ khó chịu. Giả sử vật này nặng một kilogram. Nếu bạn để nó ở đó, nó vẫn nặng một kilogram. Âm thanh cũng vậy. Nếu bạn để yên âm thanh, chúng sẽ không làm phiền bạn - bởi vì bạn không bám víu vào chúng. |
Killed by the Mind |
Bị Giết Chết bởi Tâm |
|
The mind is something really important. It can kill you or it can get you out of danger. We can see this from wild animals that we tame. Wild chickens, for instance, are really afraid of people. If you pounce on one and hold it to have a good look at it, it’ll die. What killed it? The fierceness of its mind killed it. If it’s afraid, it can be so afraid that it dies. Just like people: When we get sad, the tears will flow. When we get too happy, the tears will flow—because the mind doesn’t stay in a condition that’s just right. |
Tâm là một thứ vô cùng quan trọng. Nó có thể giết chết bạn hoặc cứu bạn khỏi nguy hiểm. Chúng ta có thể thấy điều này ở những động vật hoang dã mà chúng ta thuần hóa. Ví dụ, gà rừng rất sợ người. Nếu bạn vồ lấy một con và giữ chặt để quan sát kỹ, nó sẽ chết. Điều gì đã giết chết nó? Chính sự sợ hãi trong tâm đã giết chết nó. Nếu nó sợ hãi, nó có thể sợ đến mức chết. Cũng giống như con người: Khi chúng ta buồn, nước mắt sẽ tuôn rơi. Khi chúng ta quá vui, nước mắt cũng sẽ tuôn rơi—bởi vì tâm không thể duy trì ở trạng thái cân bằng. |
Hiding in the Mind |
Trú trong Tâm |
|
When a child is born, we don’t see any good or bad kamma. There’s just a body. It comes naked. This shows that the things in one life can’t be held in our hands to see in the next life. This is why, when a child is born, it doesn’t bring anything along in its hands. But there are things that come along, simply that they come along somewhere else. They come along in the mind. |
Khi một đứa trẻ được sinh ra, chúng ta không thấy nghiệp tốt hay xấu nào. Chỉ có một cơ thể. Nó đến trần trụi. Điều này cho thấy rằng những thứ trong kiếp này không thể nắm giữ trong tay để thấy trong kiếp sau. Đó là lý do tại sao, khi một đứa trẻ được sinh ra, nó không mang theo bất cứ thứ gì trong tay. Nhưng có những thứ đi theo, chỉ đơn giản là chúng đi theo một nơi khác. Chúng trú trong tâm. |
|
I’ll give you an example, like a mango seed or lamyai seed. As long as it’s still a seed, you can examine it carefully and not find a tree in there, any flowers in there, because they’re very subtle. But there’s something in there. Even though a person coming into this life doesn’t hold anything in his hands or carry anything over his shoulder, these things appear when nature begins to mature—for they’re already there. Like a mango seed: the trunk, the leaves, the branches are all there in the mango seed. If we plant the seed in the ground, it’ll turn into a trunk, leaves, and flowers on its own. |
Tôi sẽ cho bạn một ví dụ, giống như hạt xoài hoặc hạt long nhãn. Chừng nào nó còn là một hạt giống, bạn có thể xem xét kỹ lưỡng và không tìm thấy cây nào trong đó, bất kỳ bông hoa nào trong đó, bởi vì chúng rất tinh tế. Nhưng có một cái gì đó bên trong nó. Mặc dù một người khi đến với cuộc sống này không cầm bất cứ thứ gì trong tay hay mang bất cứ thứ gì trên vai, những thứ này xuất hiện khi tự nhiên bắt đầu trưởng thành - bởi vì chúng đã ở đó rồi. Giống như một hạt xoài: thân cây, lá, cành cây đều có trong hạt xoài. Nếu ta gieo hạt giống xuống đất, nó sẽ tự mọc thành thân cây, lá và hoa. |
|
This is why the Buddha said that kamma is what sorts people out so that they’re different. |
Đây là lý do tại sao Đức Phật nói rằng nghiệp là thứ phân loại con người khác biệt nhau. |
Strength & Harmony |
Sức mạnh & Sự hài hòa |
|
Virtue is a strength. Concentration is a strength. Discernment is a strength. When they pool their strengths and work together so that they’re one and the same, that’s called magga-samangi: the path in harmony. As soon as this harmony arises, that’s when you awaken to the Dhamma. It’s like all of us here. When we’re in harmony, we can be at our ease. Like students or teachers: If the teachers are in harmony, if the students are in harmony, the whole school is at ease. When the students are not in harmony and the teachers are not in harmony, running off in different directions, then there’s no peace. The teachers and students have to cooperate: teachers following their duties as teachers, students following their duties as students. Each person performs his or her duties to the full. No problems will arise. |
Giới là một sức mạnh. Định là một sức mạnh. Tuệ phân biệt đúng sai là một sức mạnh. Khi chúng kết hợp sức mạnh của mình và cùng nhau hoạt động sao cho trở thành một thể thống nhất, đó được gọi là magga-samangi: con đường hài hòa. Ngay khi sự hài hòa này xuất hiện, đó là lúc bạn giác ngộ Chánh pháp. Giống như tất cả chúng ta ở đây. Khi chúng ta hài hòa, chúng ta có thể an tâm. Giống như học sinh hoặc giáo viên: Nếu giáo viên hài hòa, nếu học sinh hài hòa, cả trường sẽ an tâm. Khi học sinh không hài hòa và giáo viên không hài hòa, đi theo những hướng khác nhau, thì sẽ không có bình yên. Giáo viên và học sinh phải hợp tác: giáo viên làm tròn bổn phận của mình, học sinh làm tròn bổn phận của mình. Mỗi người thực hiện đầy đủ bổn phận của mình. Sẽ không có vấn đề gì phát sinh. |
|
The same with practicing concentration: When there’s virtue, concentration, and discernment, all kinds of good things will stand out right there, right where they’re helping one another in harmony. |
Tương tự với việc thực hiện sự tập trung: Khi có giới, định và tuệ phân biệt đúng sai, tất cả những điều tốt đẹp sẽ nổi bật ngay tại đó, ngay tại nơi chúng giúp đỡ lẫn nhau trong sự hài hòa. |
|
To bring the matter in even closer, into the body: When the properties of earth, water, fire, and wind are in harmony, the body is beaming with health—because of the harmony within it. But if the body isn’t in harmony—if there’s too much fire, too much earth, and not enough wind—the body will grow sick and uncomfortable. |
Để đi sâu hơn vào vấn đề, cụ thể là thân: Khi các yếu tố đất, nước, lửa và gió hài hòa, cơ thể sẽ tràn đầy sức khỏe—bởi sự hài hòa bên trong nó. Nhưng nếu thân không hài hòa—nếu có quá nhiều lửa, quá nhiều đất và không đủ gió—cơ thể sẽ trở nên yếu đuối và khó chịu. |
You Know You’re Ful |
Bạn biết mình đã no |
|
The Buddha emphasized that we should think about what we’re doing as days and nights fly past, fly past. If we know what we’re doing, we have a refuge we can depend on. For example, if you do something right today, but a friend says, “What you did is wrong,” then you get angry with your friend. That shows that you do good things but think things that aren’t good. Other people say you’re not good, and you become not good in line with their words. Actually, if you do good, then even if other people say, “not good,” you’re still good. You can stand your ground. After all, what you did was good. It’s like eating rice today until you’re full. If other people come and say you’re not full, will you believe them? You believe in yourself that you’re already full. When you can believe in yourself, that’s when you can depend on yourself. |
Đức Phật nhấn mạnh rằng chúng ta nên suy nghĩ về những gì mình đang làm khi ngày đêm trôi qua. Nếu chúng ta biết mình đang làm gì, chúng ta có một nơi nương tựa để dựa vào. Ví dụ, nếu hôm nay bạn làm điều đúng, nhưng một người bạn nói, “Những gì bạn làm là sai,” thì bạn nổi giận với người bạn đó. Điều đó cho thấy bạn làm việc tốt nhưng lại nghĩ những điều không tốt. Người khác nói bạn không tốt, và bạn trở nên không tốt theo lời họ nói. Thực ra, nếu bạn làm điều tốt, thì ngay cả khi người khác nói, “không tốt,” bạn vẫn tốt. Bạn có thể giữ vững lập trường của mình. Sau cùng, những gì bạn đã làm là tốt. Nó giống như việc hôm nay bạn ăn cơm cho đến khi no. Nếu người khác đến và nói bạn chưa no, bạn có tin họ không? Bạn tin vào chính mình rằng bạn đã no rồi. Khi bạn có thể tin vào chính mình, đó là lúc bạn có thể dựa vào chính mình. |
|
From there you go to attana codayattanam: You yourself should admonish yourself. If you do wrong, admonish yourself. Whatever you do, keep admonishing yourself. |
Từ đó, bạn đi đến attana codayattanam: tự mình phải thẩm định chính mình. Nếu bạn làm điều sai trái, hãy tự răn mình. Dù làm gì đi nữa, hãy luôn tự nhắc nhở bản thân. |
Husk & Not-husk |
Vỏ & Không Vỏ |
|
When they say, “Admonish yourself,” “self” is atta. As for yourself, it’s not like that. Suppose that some water is murky. You filter it and see the clear water that comes from the murky water: “That’s clear water.” If you filter yourself, it’ll be anatta, not-self, coming out of self. You’ll see that it’s not self. That’s when it’s anatta in line with the understanding of your discernment. But some people think that if everything is anatta, not-self, then what’s there to gain? |
Khi người ta nói, “Hãy tự khuyên răn mình,” thì “bản ngã” ở đây là atta (tâm). Còn đối với bản thân bạn thì không phải như vậy. Giả sử có một ít nước đục. Bạn lọc nó và thấy nước trong chảy ra từ nước đục: “Đây là nước trong.” Nếu bạn lọc chính mình, thì đó sẽ là anatta, vô ngã, xuất phát từ bản ngã. Bạn sẽ thấy rằng đó không phải là bản ngã. Đó là khi anatta phù hợp với sự hiểu biết về tuệ phân biệt của bạn. Nhưng một số người nghĩ rằng nếu mọi thứ đều là anatta, vô ngã, thì còn gì để đạt được? |
|
We have to understand self and not-self. They lie on top of each other. Have you ever been to a market to buy a coconut? To buy a banana? When you buy a coconut, it has its husk and its shell. They come along with it. If someone comes up and says, “Hey. That husk. That shell. Are you going to put them in your curry, too? If not, then why are you carrying them?” The person buying the coconut knows that you can’t eat the husk or the shell, but you have to bring them along. The time hasn’t come to throw them away, so you have to bring them along. This is convention. When you buy a coconut, don’t get deluded about the husk or the shell. |
Chúng ta phải hiểu về ngã và vô ngã. Chúng chồng lên nhau. Bạn đã bao giờ đến chợ mua dừa chưa? Mua chuối chưa? Khi bạn mua dừa, nó có cả vỏ và cùi. Chúng đi kèm với nó. Nếu ai đó đến và nói, “Này. Cái vỏ đó. Cái cùi đó. Bạn định cho chúng vào cà ri của mình nữa à? Nếu không, thì tại sao bạn lại mang chúng theo?” Người mua dừa biết rằng bạn không thể ăn vỏ dừa, nhưng bạn phải mang chúng theo. Chưa đến lúc vứt chúng đi, vì vậy bạn phải mang chúng theo. Đó là quy ước. Khi mua dừa, đừng để bị đánh lừa về vỏ dừa. |
|
Conventions and release come along with each other in the same way What’s |
Các quy ước và sự giải thoát đi cùng nhau theo cùng một cách. |
What’s Wrong in What’s Right |
Điều sai trong những điều đúng. |
|
We’ve seen that this bowl, no matter where you put it, will someday have to break. This plate, no matter where you put it, will someday have to break. But we have to teach our children to wash these things so that they’re clean and put them away safely. We have to teach children in line with these conventions so that we can use the bowl for a long time. This is a sign that we understand the Dhamma and are practicing the Dhamma. |
Chúng ta thấy rằng chiếc bát này, dù bạn để nó ở đâu, cũng sẽ có lúc vỡ. Chiếc đĩa này, dù bạn để nó ở đâu, cũng sẽ có lúc vỡ. Nhưng chúng ta phải dạy con cái mình rửa sạch những thứ này và cất giữ chúng một cách an toàn. Chúng ta phải dạy con cái theo những quy tắc này để chúng ta có thể sử dụng chiếc bát được lâu dài. Đây là dấu hiệu cho thấy chúng ta hiểu Phật pháp và đang thực hành Phật pháp. |
|
If you see that the bowl is going to break and tell your children, “Don’t worry about it. When you’ve finished eating out of it, you don’t have to wash it. If you drop it, it doesn’t matter. It’s not really ours. Toss it anywhere you want, for it’s ready to break.” If you speak in this way, you’re simply too stupid. |
Nếu bạn thấy chiếc bát sắp vỡ và nói với con cái mình, “Đừng lo lắng. Khi ăn xong, con không cần phải rửa. Nếu con làm rơi, cũng không sao. Nó không thực sự là của chúng ta. Cứ ném nó đi đâu tùy thích, vì nó sắp vỡ rồi.” Nếu bạn nói như vậy, thì bạn thật sự là vô minh. |
|
If we understand conventions, then when we fall sick we look for medicine to take. When we feel hot, we take a bath. When we feel cold, we find something to keep the body warm. When we’re hungry, we find rice to eat. We know that even though we eat rice, the body’s still going to die. But at the moment, it hasn’t reached its time to die. Like this bowl: It hasn’t yet broken, so we take care of it so that we can benefit from it while we can. |
Nếu chúng ta hiểu các quy ước, thì khi ốm, chúng ta sẽ tìm thuốc để uống. Khi thấy nóng, chúng ta sẽ tắm. Khi cảm thấy lạnh, chúng ta tìm thứ gì đó để giữ ấm cơ thể. Khi đói, chúng ta tìm cơm để ăn. Chúng ta biết rằng dù có ăn cơm, cơ thể vẫn sẽ chết. Nhưng hiện tại, nó chưa đến lúc phải chết. Giống như cái bát này: Nó chưa vỡ, vì vậy chúng ta giữ gìn nó để có thể hưởng lợi từ nó chừng nào còn có thể. |
Feeding Through the Mouth |
Feeding Through the Mouth |
|
People who are intelligent: You don’t have to teach a lot. People who are not intelligent: No matter how much you teach them, they don’t understand. But this depends on the teacher, too. By and large, we teach when we’re in a bad mood. As when we teach our children: It’s only when we’re angry with them that we “teach” them, and then it’s just a matter of yelling at them. We’re not willing to teach them nicely. When people are in a bad mood, why should you teach one another? I’d say not to teach at that time. Wait until everyone’s in a better mood. No matter how wrong the other person is, put it aside for the time being. Wait until you’re both in a good mood. |
Người thông minh: Bạn không cần phải dạy nhiều. Người không thông minh: Cho dù bạn dạy họ bao nhiêu đi nữa, họ cũng không hiểu. Nhưng điều này cũng phụ thuộc vào người dạy. Nhìn chung, chúng ta dạy khi tâm trạng không tốt. Giống như khi chúng ta dạy con cái: Chỉ khi chúng là ta tức giận, chúng ta mới “dạy” chúng, và khi đó chỉ là la hét vào mặt chúng. Chúng ta không sẵn lòng dạy chúng một cách nhẹ nhàng. Khi mọi người đang trong tâm trạng tồi tệ, tại sao bạn lại phải dạy nhau? Tôi khuyên không nên dạy vào lúc đó. Hãy đợi đến khi mọi người đều có tâm trạng tốt hơn. Cho dù người kia sai đến đâu, hãy tạm gác lại chuyện đó. Hãy đợi đến khi cả hai đều có tâm trạng tốt. |
|
Remember this, okay? From what I’ve observed, lay people teach their children only when they’re angry with them. And so it hurts the children’s feelings. You’re giving them something that’s not good, so why should they accept it? You suffer; your children suffer. That’s the way things are. We all like what’s good, but our goodness isn’t enough. If you try to give someone something good but you don’t have a sense of time and place, a sense of your role, nothing good comes from it. It’s like delicious food. You have to eat it with your mouth if you’re going to benefit from it. But try stuffing it in your ear: Will it give any benefit? Will that delicious food give any benefit? All of us have our openings. You have to look for the other person’s openings. That’s the way it is with everybody. |
Hãy nhớ điều này nhé? Theo những gì tôi quan sát được, những người cư sĩ chỉ dạy con cái khi họ tức giận với chúng. Và điều đó làm tổn thương cảm xúc của trẻ. Bạn đang cho chúng điều không tốt, vậy tại sao chúng lại phải chấp nhận? Bạn đau khổ; con cái bạn cũng đau khổ. Mọi chuyện là như vậy. Chúng ta đều thích những điều tốt đẹp, nhưng lòng tốt của chúng ta thôi thì chưa đủ. Nếu bạn cố gắng cho ai đó điều tốt đẹp nhưng lại thiếu ý thức về thời điểm và hoàn cảnh, thiếu ý thức về vai trò của mình, thì sẽ chẳng có điều tốt đẹp nào đến từ đó cả. Nó giống như món ăn ngon vậy. Bạn phải ăn nó bằng miệng nếu muốn nhận được lợi ích từ nó. Nhưng thử nhét nó vào tai xem: Liệu nó có mang lại lợi ích gì không? Món ăn ngon đó liệu có mang lại lợi ích gì không? Tất cả chúng ta đều có những điểm yếu của riêng mình. Bạn phải tìm kiếm những điểm yếu của người khác. Mọi người đều như vậy cả. |
Potters Beating Pots |
Những người thợ gốm đập vỡ đồ gốm |
|
When raising your children, you need to have discernment. Have you ever watched potters? Potters beat their pots all day. They beat them to make them into pots. They don’t beat them to break them. It’s the same with your children. You have to keep teaching them. When the time comes to be fierce with them, be fierce only with your mouth, but not with your heart. Don’t make yourself suffer. Even though you may be in a bad mood, you keep on teaching them, in the same way that a potter beats his pots all day. His intention is to make the pots beautiful. He doesn’t beat them to break them. You should teach your children in the same way. |
Khi nuôi dạy con cái, bạn cần phải có sự sáng suốt. Bạn đã bao giờ quan sát những người thợ gốm chưa? Họ đập vỡ đồ gốm cả ngày. Họ đập để tạo ra những chiếc bình, chứ không phải để làm vỡ chúng. Việc nuôi dạy con cái cũng vậy. Bạn phải liên tục dạy dỗ chúng. Khi cần phải nghiêm khắc với chúng, hãy chỉ nghiêm khắc bằng lời nói, chứ đừng nghiêm khắc bằng cả tấm lòng. Đừng để bản thân phải chịu khổ. Ngay cả khi bạn đang trong tâm trạng không tốt, bạn vẫn phải tiếp tục dạy dỗ chúng, giống như cách người thợ gốm đập vỡ đồ gốm cả ngày. Mục đích của họ là làm cho những chiếc bình trở nên đẹp đẽ, chứ không phải để làm vỡ chúng. Bạn nên dạy dỗ con cái mình theo cách tương tự. |
Forcing the Fruit |
Thúc Đẩy Trái Cây Mau Chín |
|
Don’t get angry with people who can’t yet do the practice. Just keep on teaching them. When their faculties mature, they’ll be ready to accept what you say. If you keep on acting in this way, problems fall away. |
Đừng tức giận với những người chưa thể tu tập. Cứ tiếp tục dạy họ. Khi khả năng của họ trưởng thành, họ sẽ sẵn sàng tiếp nhận những gì bạn nói. Nếu bạn cứ làm như vậy, vấn đề sẽ tự biến mất. |
|
It’s like a fruit that’s still unripe. You can’t force it to become sweet, because it’s still unripe, still sour. It’s still small and unripe. You can’t force it to become large and sweet. Just let it be. When it matures, it’ll grow large on its own, sweet on its own, ripe on its own. If you can think in this way, you can be at your ease. That’s the way it is with people in the world |
Nó giống như một trái cây chưa chín. Bạn không thể bắt nó trở nên ngọt, bởi vì nó vẫn còn xanh, vẫn còn chua. Nó vẫn còn nhỏ và chưa chín. Bạn không thể bắt nó trở nên to và ngọt. Cứ để nó tự nhiên. Khi nó trưởng thành, nó sẽ tự nhiên lớn lên, tự nhiên ngọt ngào, tự nhiên chín mọng. Nếu bạn có thể suy nghĩ theo cách này, bạn sẽ cảm thấy thoải mái. Đó là cách mà mọi người trên thế giới cư xử. |
The Turtle & the Snake |
Rùa & Rắn |
|
A forest fire was coming, and a turtle struggled to get away from the flames. It walked past a snake coiled up and it forgot all about death. It felt sorry for the snake. The fire kept spreading closer and closer, and the turtle felt sorry for the snake. Why? Because it didn’t have any legs, so how was it going to get away? The turtle was so afraid that the fire would burn the snake that it turned around to help the snake. The snake didn’t do anything. As the fire got closer and closer, the snake uncoiled itself and slithered away. The turtle was stuck right there. It couldn’t walk fast enough to get away from the fire, so it was burned to death. |
Một đám cháy rừng xảy ra, và một con rùa cố gắng chạy trốn khỏi ngọn lửa. Nó đi ngang qua một con rắn đang cuộn tròn và quên mất cả cái chết. Nó cảm thấy thương hại con rắn. Ngọn lửa cứ lan rộng đến gần hơn, và con rùa lại càng thương hại con rắn hơn. Tại sao? Bởi vì nó không có chân, vậy làm sao nó có thể chạy thoát? Con rùa sợ rằng ngọn lửa sẽ thiêu chết con rắn nên nó quay lại để giúp con rắn. Con rắn không làm gì cả. Khi ngọn lửa càng ngày càng đến gần, con rắn duỗi mình ra và trườn đi. Con rùa bị mắc kẹt ngay tại đó. Nó không thể đi đủ nhanh để thoát khỏi ngọn lửa, vì vậy nó đã bị thiêu chết. |
|
This is a comparison. It was all because of the stupidity of the turtle, because it thought that only if you had legs could you move. Anyone without legs couldn’t move. When it came across the snake, it saw that the snake didn’t have any legs. It misunderstood and thought that the fire would burn it to death. It was afraid the snake would die, but instead it died. Even though it had legs, it couldn’t run. The snake, though, kept its cool. When the fire got close, it slithered away and escaped the danger. |
Đây là một sự so sánh. Tất cả là do sự ngu ngốc của con rùa, bởi vì nó nghĩ rằng chỉ khi có chân thì người ta mới có thể di chuyển. Bất cứ ai không có chân đều không thể di chuyển. Khi nó gặp con rắn, nó thấy rằng con rắn không có chân. Nó hiểu lầm và nghĩ rằng ngọn lửa sẽ thiêu chết con rắn. Nó sợ con rắn sẽ chết, nhưng thay vào đó, chính nó đã chết. Mặc dù có chân, nhưng nó không thể chạy. Tuy nhiên, con rắn vẫn giữ được bình tĩnh. Khi ngọn lửa đến gần, nó trườn đi và thoát khỏi nguy hiểm. |
The Cow Knows the Field |
Con Bò Biết Cánh Đồng |
|
A person with conviction is like a cow eating grass. If we let it loose in a field of grass, it eats grass. If it won’t eat grass, it’s a pig. The same with people of conviction: You don’t have to teach them a lot. Just let them loose in the field of merit—the monastic Sangha—and they’ll follow your xample, practice in line with your example of their own accord. |
Một người có niềm tin vững chắc giống như một con bò ăn cỏ. Nếu ta thả nó vào một cánh đồng cỏ, nó sẽ ăn cỏ. Nếu nó không ăn cỏ, nó là con lợn. Cũng vậy với những người có niềm tin vững chắc: Bạn không cần phải dạy họ nhiều. Chỉ cần để họ tự do trong cánh đồng công đức—tăng đoàn—và họ sẽ noi theo gương của bạn, tự nguyện tu tập theo gương của bạn. |
Barking at Leaves |
Sủa vào lá cây |
|
When you go for alms in the village, put on your robes neatly before you go. Exercise restraint as you go for alms. I’ve seen new monks and novices who don’t know anything. When they eat in someone’s house, they have to look around, all over the place. Why do they have to look around? Some of them even stare—it’s even worse than lay people. It’s because they’ve been living in the wilderness and haven’t seen anything like this for a long while. When they go into someone’s home, they see this, see that, and it pulls at their yes. They look all around because they’re hungry. It’s kind of like a dog: When it stays in the village market, it doesn’t bark very much. But if you take it out into the wilderness and the wind blows the leaves around, it barks all night. So this is important. You have to be very careful when you go for alms. |
Khi đi khất thực ở trong làng, hãy mặc y phục chỉnh tề trước khi đi. Hãy thu thúc khi đi khất thực. Tôi đã thấy nhiều vị sư mới và các sadi không biết gì cả. Khi họ ăn ở nhà ai đó, họ phải nhìn xung quanh, khắp mọi nơi. Tại sao họ phải nhìn xung quanh? Một số người thậm chí còn nhìn chằm chằm – còn tệ hơn cả người tại gia. Đó là bởi vì họ đã sống ở nơi hoang vu và đã lâu không nhìn thấy điều gì như thế. Khi họ vào nhà ai đó, họ nhìn thấy cái này, nhìn thấy cái kia, và nó kéo mắt họ. Họ nhìn xung quanh vì họ đói. Nó giống như một con chó: Khi nó ở trong chợ làng, nó không sủa nhiều. Nhưng nếu bạn đưa nó ra nơi hoang vu và gió thổi lá cây xung quanh, nó sẽ sủa suốt đêm. Vì vậy, điều này rất quan trọng. Bạn phải rất cẩn thận khi đi khất thực. |
Dye in the Mind |
Nhuộm màu trong tâm |
|
It’s like rain water, which is water that’s clear and clean. Its clarity is normally clean. But if we put green or yellow dye into it, the water will turn green or yellow. It’s the same with the mind. When it meets up with a preoccupation it likes, it’s at ease. When it meets up with a preoccupation it doesn’t like, it’s ill at ease. It’s like a leaf blown by the wind. It flutters. You can’t depend on it. |
Nó giống như nước mưa, là nước trong và sạch. Độ trong của nó vốn dĩ là sạch. Nhưng nếu ta cho thuốc nhuộm xanh hoặc vàng vào, nước sẽ chuyển sang màu xanh hoặc vàng. Tâm cũng vậy. Khi gặp phải mối bận tâm mà nó thích, nó sẽ cảm thấy thoải mái. Khi gặp phải mối bận tâm mà nó không thích, nó sẽ cảm thấy bất an. Nó giống như một chiếc lá bị gió thổi. Nó bay phấp phới. Ta không thể trông cậy vào nó. |
|
Flowers and fruits also get blown by the breeze. If they get blown by the breeze and fall from the tree, they never ripen. It’s the same with the minds of human beings. Preoccupations blow them around, drag them around, pull them around, so that they fall—just like the fruit |
Hoa và quả cũng bị gió thổi. Nếu chúng bị gió thổi và rơi khỏi cây, chúng sẽ không bao giờ chín. Tâm con người cũng vậy. Những mối bận tâm cuốn họ đi, kéo lê họ, lôi kéo họ đi khắp nơi, khiến họ gục ngã—cũng giống như quả. |
Not Awfully Anything |
Không Có Gì Tồi Tệ |
|
Suppose there’s a rock placed right here in front of us. It weighs about twelve kilograms, placed right here in front of us. Its weight is normal for it. It just stays right there. It’s normal for it. But if we go to lift it, it doesn’t feel normal at all. We find fault with it, “This rock is awfully heavy!” That’s how we find fault with it. Actually, it’s not awfully anything. When it sits there, it’s perfectly normal for itself. Even though it’s heavy, it doesn’t cause anyone to suffer—as long as no one tries to pick it up and carry it. |
Giả sử có một hòn đá đặt ngay trước mặt chúng ta. Nó nặng khoảng mười hai kilôgam, đặt ngay trước mặt chúng ta. Trọng lượng của nó là bình thường. Nó cứ ở yên đó. Nó là bình thường đối với nó. Nhưng nếu chúng ta nhấc nó lên, nó lại không hề bình thường chút nào. Chúng ta tìm lỗi ở nó, “Hòn đá này nặng quá!” Đó là cách chúng ta tìm lỗi ở nó. Thực ra, nó không có gì tồi tệ. Khi nó nằm yên đó, nó hoàn toàn bình thường đối với chính nó. Mặc dù nó nặng, nhưng nó không gây ra đau khổ cho ai cả—miễn là không ai cố gắng nhấc nó lên và mang đi. |
|
It’s the same with our preoccupations. When preoccupations come passing in, passing in, then as long as we don’t pick them up to carry them—as long as we let them go and put them down—there’s no heaviness. If you had no attachment to things, it would be like not carrying this rock around. Even though the rock would have its weight, you wouldn’t be weighed down—because you’re not carrying it. Your preoccupations, whether they’re good or bad: There’s not much to them. If you know them for what they are, you let them go. You don’t carry them around; you don’t latch onto them. They dissolve into the air, that’s all. They don’t come after you. |
Điều tương tự cũng xảy ra với những phiền não của chúng ta. Khi những phiền não đến thoáng qua, thoáng qua, thì miễn là chúng ta không nhặt chúng lên để mang theo—miễn là chúng ta buông bỏ và đặt chúng xuống—thì sẽ không có sự nặng nề nào. Nếu bạn không có sự ràng buộc với mọi thứ, thì nó sẽ giống như việc không mang theo hòn đá này. Dù tảng đá có nặng đến đâu, bạn cũng sẽ không bị đè nặng – bởi vì bạn không phải mang nó. Những mối phiền não của bạn, dù tốt hay xấu: Chúng chẳng có gì đáng kể. Nếu bạn hiểu rõ bản chất của chúng, bạn sẽ buông bỏ. Bạn không mang chúng theo; bạn không bám víu vào chúng. Chúng tan vào không trung, thế thôi. Chúng không đuổi theo bạn. |
Playthings for the Mind |
Chủ Đề cho Tâm |
|
It’s like a child in your home. Suppose your child is always getting into mischief. No matter what you do, it won’t stop. It won’t stay still. So what do you do? You give it a balloon to play with. It’s content to stay engrossed in its balloon. It doesn’t cry; it doesn’t bother you. Why? Because you give it something to play with, and so it’s engrossed in its balloon. |
Giống như một đứa trẻ trong nhà bạn. Giả sử con bạn luôn nghịch ngợm. Dù bạn làm gì, nó cũng không chịu dừng lại. Nó không chịu ngồi yên. Vậy bạn làm gì? Bạn đưa cho nó một quả bóng bay để chơi. Nó hài lòng và say mê quả bóng bay của mình. Nó không khóc; nó không làm phiền bạn. Tại sao? Bởi vì bạn đã cho nó thứ gì đó để chơi, và vì vậy nó say mê quả bóng bay của mình. |
|
It’s the same with the mind. When it’s in a turmoil, jumping all around, give it a meditation topic to play with. What kind of topic? Recollection of the Buddha, recollection of the Dhamma, recollection of the Sangha, recollection of virtue, recollection of generosity, recollection of death: Let it contemplate death. |
Tâm cũng vậy. Khi nó đang hỗn loạn, nhảy nhót lung tung, hãy cho nó một chủ đề thiền định để suy ngẫm. Chủ đề gì? Tưởng nhớ Đức Phật, tưởng nhớ Giáo pháp, tưởng nhớ Tăng đoàn, tưởng nhớ giới, tưởng nhớ bố thí, tưởng nhớ cái chết: Hãy để nó quán tưởng về cái chết. |
The Balloon of Tranquility |
The Balloon of Tranquility |
|
It’s as if your child gets a balloon. Whatever else it’s been playing with, it puts aside. Its interest in other preoccupations grows quiet. It plays as it likes with the balloon. It’s right there. Its mind is quiet. This level of quiet is just the level of quiet of a child with a balloon. Its mind is all tied up in the balloon. But this level of quiet isn’t enough. The child sees the balloon floating in the air and it’s engrossed, that’s all. It doesn’t think about whether or not the balloon is going to burst. It doesn’t think. It sees the balloon floating in the air and it’s engrossed. This is what’s called samatha, tranquility. |
Hãy tưởng tượng con bạn được một quả bóng bay. Bất cứ thứ gì khác nó đang chơi, nó đều gác lại. Sự quan tâm của nó đến những thứ khác dần lắng xuống. Nó chơi như nó thích thú với quả bóng. Quả bóng ở ngay đó. Tâm nó tĩnh lặng. Mức độ tĩnh lặng này chính là mức độ tĩnh lặng của một đứa trẻ với một quả bóng bay. Tâm nó hoàn toàn tập trung vào quả bóng. Nhưng mức độ tĩnh lặng này vẫn chưa đủ. Đứa trẻ nhìn thấy quả bóng bay lơ lửng trong không trung và nó bị cuốn hút, chỉ vậy thôi. Nó không nghĩ đến việc quả bóng có bị vỡ hay không. Nó không nghĩ đến điều đó. Nó chỉ nhìn thấy quả bóng bay lơ lửng trong không trung và nó bị cuốn hút. Đây chính là điều gọi là samatha, sự tĩnh lặng. |
|
Vipassana or insight is a matter of making your discernment greater than that. You know what’s going to happen to the balloon. Will it eventually burst? —that sort of thing. Eventually you see in the mind that the balloon is inconstant. It’s sure to burst. Your discernment shoots out to that point. |
Thiền Quán (Vipassana) hay sự thấu hiểu là vấn đề làm cho tuệ phân biệt của bạn vững hơn. Bạn biết điều gì sẽ xảy ra với quả bóng. Liệu cuối cùng nó có bị vỡ không? — đại loại như vậy. Cuối cùng bạn nhận ra trong tâm rằng quả bóng là không ổn định, là vô thường. Chắc chắn nó sẽ bị vỡ. Sự nhận thức của bạn chỉ hướng đến điểm đó. |
|
Tranquility doesn’t have any discernment. It sees the balloon floating in the air and just keeps playing with it. When the balloon bursts—pop!—it cries. Why doesn’t it think? It doesn’t have the discernment to see that the balloon will burst. It doesn’t look into inconstancy, stress, and not-self. It just sees the balloon floating and it feels satisfied. Engrossed. This is tranquility, the stillness of tranquility. |
Sự tĩnh lặng không có sự nhận thức. Nó nhìn thấy quả bóng bay lơ lửng trên không trung và cứ tiếp tục chơi đùa với quả bóng. Khi quả bóng vỡ – bùm! – nó khóc. Tại sao nó không suy nghĩ? Nó không có sự nhận thức để thấy rằng quả bóng sẽ vỡ. Nó không nhìn vào sự vô thường, khổ đau và vô ngã. Nó chỉ nhìn thấy quả bóng bay lơ lửng và cảm thấy thỏa mãn. Say mê. Đây là sự tĩnh lặng, sự yên bình của tĩnh lặng. |
|
With concentration, the mind is quiet, but defilements are still there, simply that for the moment no defilements appear in the mind. That’s why it’s not disturbed. It’s quiet like a balloon for the time being. There’s still air in the balloon and it’s still floating. It’s just there to make the child happy over made up things, that’s all. Tranquility is just like that. |
Với sự tập trung, tâm tĩnh lặng, nhưng những phiền não vẫn còn đó, chỉ là trong khoảnh khắc đó, những phiền não không xuất hiện trong tâm. Đó là lý do tại sao nó không bị quấy rầy. Nó tĩnh lặng như một quả bóng bay trong chốc lát. Vẫn còn không khí trong quả bóng và nó vẫn đang bay. Nó chỉ ở đó để làm cho đứa trẻ hạnh phúc với những điều tưởng tượng, chỉ vậy thôi. Sự tĩnh lặng cũng giống như vậy. |
The Balloon is Already Burst |
Quả bóng đã vỡ rồi |
|
It’s like a child or an adult playing with a balloon. You see the balloon floating and you ask, “What’s eventually going to happen to the balloon?” “Oh. It’s not for sure. It’s inconstant, stressful, and not-self. There’s nothing dependable about it. Eventually it’s sure to burst.” This is the view of the adult, the view of a person of discernment. It doesn’t trust the balloon. It always sees that the balloon will burst for sure. It sees clearly. Eventually the balloon bursts—boom!—and the mind is still at ease. |
Nó giống như một đứa trẻ hoặc một người lớn đang chơi một quả bóng bay. Bạn thấy quả bóng bay lơ lửng và bạn tự hỏi, “Cuối cùng thì điều gì sẽ xảy ra với quả bóng bay này?” “Ồ. Không chắc chắn. Nó vô thường, khổ đau và vô ngã. Chẳng có gì đáng tin cậy ở nó cả. Cuối cùng chắc chắn nó sẽ vỡ.” Đây là quan điểm của người lớn, quan điểm của một người có nhận thức. Họ không tin tưởng quả bóng bay. Họ luôn thấy rằng quả bóng bay chắc chắn sẽ vỡ. Họ nhìn thấy rõ ràng. Cuối cùng quả bóng bay vỡ – bùm! – và tâm vẫn bình thản. |
|
Why is it at ease? Because insight has arisen, because it sees that the balloon is burst before it bursts, right? It’s already burst. It bursts after it’s burst in our view. That’s why no problem arises. |
Tại sao tâm lại bình thản? Bởi vì tuệ đã phát triển, bởi vì nó thấy rằng quả bóng bay đã vỡ trước khi nó vỡ, phải không? Nó đã vỡ rồi. Nó vỡ sau khi nó đã vỡ trong mắt chúng ta. Đó là lý do tại sao không có phiền não phát sinh. |
|
It’s the same with our body, or any object we get and we love a lot: We have to understand that eventually it’ll have to break down. |
Tương tự với thân của chúng ta, hoặc bất kỳ vật thể nào chúng ta có và yêu quý: Chúng ta phải hiểu rằng cuối cùng nó sẽ phải bị hỏng. |
|
I’ll give you an example: a lovely cup or plate. Once we get it, some people get really happy and glad. That’s the way children are. People without discernment think that it’s good, that it won’t break. But people with discernment see this glass or this plate, when they get it and happiness arises, and think, “Hmm. This is just… that’s all. It’s a vessel that one day is going to have to leave us. It’ll have to get broken. If it doesn’t break and leave us, we have to break and leave it.” When you can think in this way, the mind has gone to a high level. It’s trying to gain release from suffering and stress. |
Tôi sẽ cho bạn một ví dụ: một chiếc cốc hoặc đĩa xinh xắn. Khi có được nó, một số người cảm thấy rất vui vẻ và hạnh phúc. Trẻ con cũng vậy. Những người không có tuệ phân biệt nghĩ rằng nó tốt, rằng nó sẽ không vỡ. Nhưng những người có tuệ phân biệt nhìn thấy chiếc cốc hoặc chiếc đĩa này, khi họ có được nó và cảm thấy hạnh phúc, họ lại nghĩ: “Hừm. Cái này chỉ là… thế thôi. Nó chỉ là một vật dụng mà một ngày nào đó sẽ phải rời bỏ chúng ta. Nó sẽ phải bị vỡ. Nếu nó không vỡ và rời bỏ chúng ta, thì chúng ta phải làm vỡ nó và rời bỏ nó.” Khi bạn có thể suy nghĩ theo cách này, tâm đã đạt đến một cấp độ cao hơn. Tâm đang cố gắng giải thoát khỏi đau khổ và phiền não. |
|
After a while, as we use the plate and it eventually breaks, no problem can arise. Why? Because we know that it’s already broken. This is insight. When this glass breaks, it’s no big deal. It’s perfectly normal. |
Sau một thời gian, khi chúng ta sử dụng chiếc đĩa và cuối cùng nó bị vỡ, không có vấn đề gì có thể phát sinh. Tại sao? Bởi vì chúng ta biết rằng nó đã bị vỡ rồi. Đây là sự thấu hiểu. Khi chiếc cốc này vỡ, đó không phải là vấn đề lớn. Đó là điều hoàn toàn bình thường. |
When You Know How |
Khi Chúng Ta Biết |
|
Don’t get stuck on the texts. Don’t focus on what all the different teachers say. Talk about things that are Dhamma. |
Đừng mắc kẹt vào kinh sách. Đừng tập trung vào những gì các vị thầy khác nhau nói. Hãy nói về những điều thuộc về Phật pháp. |
|
It’s like being a student in school. We study books in school. As long as we don’t know, we study books in school. We read in school, write in school, and get taught in school until we can pass the exams. We now can read and write. When a friend sends a letter to us at home, we can read it at home. We don’t have to carry it to school to read. Once we’ve learned the lphabet, we can read the letter anywhere and understand what it’s saying. If we want to write a letter, we can write it at home or at the side of the road and send it off —because we now know how to write. |
Giống như học sinh ở trường. Chúng ta học sách vở ở trường. Chừng nào chưa biết, chúng ta còn học sách vở ở trường. Chúng ta đọc ở trường, viết ở trường và được dạy ở trường cho đến khi vượt qua các kỳ thi. Giờ đây chúng ta đã biết đọc và viết. Khi một người bạn gửi thư về nhà, chúng ta có thể đọc ở nhà. Chúng ta không cần phải mang đến trường để đọc. Một khi đã học được bảng chữ cái, chúng ta có thể đọc thư ở bất cứ đâu và hiểu nội dung. Nếu muốn viết thư, chúng ta có thể viết ở nhà hoặc bên vệ đường và gửi đi — bởi vì giờ đây chúng ta đã biết cách viết. |
|
It’s the same with our practice. When we practice the precepts, we don’t have to take the precepts from monks, because we already know how to practice. If a monk teaches us, we listen; we take them. They still count as the five precepts either way. |
Việc tu tập cũng vậy. Khi thực hành giới luật, chúng ta không cần phải thọ giới từ các vị sư, bởi vì chúng ta đã biết cách tu tập. Nếu một vị sư dạy chúng ta, chúng ta lắng nghe; chúng ta thọ giới. Dù thế nào đi nữa, chúng vẫn giữ năm giới luật. |
The One Mango |
Một Quả Xoài |
|
So we should always keep on practicing in this way. Tranquility is right in here; insight is right in here. You can’t separate them out. We can separate them in our speech, but we can’t separate them in reality. It’s like a mango: You can’t separate it out. You can’t separate ripe from unripe in the mango. We see that at one point in time it’s sour, and then after that it’s ripe and sweet. Where did the sour go? It’s turned into sweet. At first its peel is green, but when it’s ripe, it’s yellow. Where did the green go? It’s turned into the yellow. You can’t separate these things out. |
Vì vậy chúng ta nên luôn luôn thực hành theo cách này. Sự tĩnh lặng ở ngay đây; sự tỉnh giác ở ngay đây. Bạn không thể tách chúng ra. Chúng ta có thể tách chúng ra trong lời nói, nhưng chúng ta không thể tách chúng ra trong thực tế. Nó giống như một quả xoài: Bạn không thể tách nó ra. Bạn không thể tách xoài chín và xoài xanh. Chúng ta thấy rằng tại một thời điểm nào đó nó chua, và sau đó nó chín và ngọt. Vị chua đã đi đâu? Nó đã biến thành vị ngọt. Lúc đầu vỏ của nó màu xanh, nhưng khi chín, nó có màu vàng. Màu xanh đã đi đâu? Nó đã biến thành màu vàng. Bạn không thể tách rời những điều này ra. |
The One Mango Explained |
Giải Thích Về Một Quả Xoài |
|
This mango is first small, then it’s half-ripe, then it’s ripe. When it’s ripe, is it the same mango as the small one? When it comes out as a flower, it’s this mango. When it’s small, it’s this mango. When it’s big, it’s the same mango.When it’s half-ripe, it’s the same mango. When it’s ripe, it’s the same mango. |
Quả xoài này ban đầu nhỏ, rồi chín một nửa, rồi chín hoàn toàn. Khi chín, nó có còn là quả xoài giống như lúc nhỏ không? Khi nở hoa, nó vẫn là quả xoài này. Khi còn nhỏ, nó vẫn là quả xoài này. Khi lớn, nó vẫn là quả xoài đó. Khi chín một nửa, nó vẫn là quả xoài đó. Khi chín hẳn, nó vẫn là quả xoài đó. |
|
The same with virtue, concentration, and discernment: Virtue, in simple terms, is abandoning evil. A person without virtue is hot. If he abandons evil, he cools down, for he has no guilt. That lack of guilt is the reward of virtue. It makes the mind peaceful. The mind gets concentrated. |
Cũng tương tự với giới, định và tuệ: Giới, nói một cách đơn giản, là từ bỏ điều ác. Một người không có giới thì nóng nảy. Nếu người đó từ bỏ điều ác, người đó sẽ mát mẻ, vì người đó không còn cảm thấy tội lỗi. Sự không có cảm giác tội lỗi đó là phần thưởng của giới. Nó làm cho tâm bình an. Tâm đạt đến sự tập trung. |
|
When the mind is concentrated, it’s clear and clean. You can see lots of things in it. It’s like water with no ripples: If you look into it, you see not only the reflection of your face. You can see all the way to the roof above you. When birds fly past, you can see them, too. |
Khi tâm tập trung, nó sẽ trong sáng và thanh tịnh. Bạn có thể nhìn thấy rất nhiều điều trong đó. Nó giống như mặt nước phẳng lặng: Nếu bạn nhìn vào đó, bạn không chỉ thấy hình ảnh phản chiếu của khuôn mặt mình. Bạn có thể nhìn thấy tận mái nhà phía trên. Khi chim bay ngang qua, bạn cũng có thể nhìn thấy chúng. |
|
So these things are all the same thing, like the one mango. |
Vậy nên tất cả những thứ này đều là một, giống như một quả xoài vậy. |
The Mango in Harmony |
Quả Xoài Chín Đều |
|
You have to look for concentration, discernment, and virtue all together at the same time. When they develop, they develop together. When your perfections reach fullness, they’re full together. Your right views: When your discernment sees rightly, every factor in the eightfold path will be right. If it’s right only ten percent, then each of the ten perfections will be only ten percent. |
Bạn phải đạt đến định, tuệ và giới cùng một lúc. Khi chúng phát triển, chúng phát triển cùng nhau. Khi các Parami (Ba la mật) của bạn đạt đến sự viên mãn, chúng cũng viên mãn cùng nhau. Chánh kiến của bạn: Khi tuệ phân biệt của bạn nhìn nhận đúng đắn, mọi yếu tố trong Bát Chánh Đạo đều sẽ đúng. Nếu chỉ đúng mười phần trăm, thì mỗi trong Mười Pháp Ba La Mật (dasa parami) cũng chỉ đúng mười phần trăm. |
|
It’s like a mango. When the fruit is ripe, the entire fruit is ripe. There’s no part that isn’t ripe. It’s ripe all together. When it’s half-ripe, the entire fruit is half-ripe. It doesn’t separate into different parts. If we separate things into different parts, we don’t understand anything and we create difficulties for ourselves. |
Nó giống như một quả xoài. Khi quả chín, toàn bộ quả đều chín. Không có phần nào chưa chín. Nó chín đều. Khi nó chín một nửa, toàn bộ quả đều chín một nửa. Nó không tách ra thành các phần khác nhau. Nếu chúng ta tách mọi thứ thành các phần khác nhau, chúng ta sẽ không hiểu gì cả và tự tạo khó khăn cho mình. |
|
So we’re taught to train ourselves in virtue, concentration, and discernment all at the same time. That way our virtue, our concentration, and our discernment will be in harmony with one another. Just like this mango: When it’s unripe, it’s all unripe in harmony. When it’s half-ripe, it’s all half-ripe in harmony. When it’s ripe, it’s all ripe in harmony in just the same way—because it’s a single fruit. |
Vì vậy , chúng ta được dạy phải tu tập bản thân về giới, định và tuệ phân biệt cùng một lúc. Bằng cách đó, giới, định và tuệ phân biệt của chúng ta sẽ hài hòa với nhau. Cũng giống như quả xoài này: Khi còn xanh, nó xanh mướt một cách hài hòa. Khi chín một nửa, nó cũng xanh mướt một cách hài hòa. Khi chín hẳn, nó cũng chín mọng một cách hài hòa – bởi vì nó là một quả duy nhất. |
The Fluttering Mind |
Tâm Bất An |
|
Stillness of mind without discernment is like a leaf that flutters when stirred by a breeze. In other words, stillness of mind without discernment is dark and then bright, back and forth. It’s like a person who eats meat and gets a piece stuck in his teeth. When he pries it out, he feels better. When he’s hungry he eats some more and gets another piece stuck in his teeth. It hurts again. When he pries it out, he feels better again. |
Sự tĩnh lặng của tâm mà thiếu đi sự tỉnh giác giống như một chiếc lá rung rinh khi bị gió lay động. Nói cách khác, sự tĩnh lặng của tâm mà thiếu đi sự tỉnh giác thì lúc tối lúc sáng, cứ thế lặp đi lặp lại. Nó giống như một người ăn thịt và bị mắc miếng thịt vào răng. Khi anh ta lấy nó ra, anh ta cảm thấy dễ chịu hơn. Khi đói, anh ta ăn thêm và lại bị mắc miếng thịt khác vào răng. Lại đau. Khi anh ta lấy nó ra, anh ta lại cảm thấy dễ chịu hơn. |
The Snake under the Cloth |
Con rắn dưới tấm vải |
|
Mental stillness, on its own, has other things mixed in with it. It’s still because there are things mixed in with it, but it’s not aware of them. That’s why it’s still. Suppose that this foot-wiping cloth that my feet are on has a poisonous snake living under it. I can put my feet here without any fear because I don’t see the snake. But actually, there’s a poisonous snake right here. I have no idea, so I can relax, with no fear of anything. The fact that I don’t feel any fear is because I don’t know that there’s a poisonous snake right here. This is samatha: tranquility. “Who cares if there are defilements there? I feel peaceful right now.” This is called stillness of mind without the defilements being still. It’s called samatha. We train the mind to be still so that, in the next step, the defilements will be still. That’s an affair of discernment. |
Sự tĩnh lặng tâm, tự nó, đã bao hàm những thứ khác. Nó tĩnh lặng bởi vì có những thứ khác lẫn vào đó, nhưng nó không nhận thức được chúng. Đó là lý do tại sao nó tĩnh lặng. Giả sử tấm vải lau chân mà tôi đang đặt chân lên có một con rắn độc sống bên dưới. Tôi có thể đặt chân lên đây mà không sợ hãi vì tôi không nhìn thấy con rắn. Nhưng thực tế, có một con rắn độc ngay đây. Tôi không hề hay biết, vì vậy tôi có thể thư giãn, không sợ hãi bất cứ điều gì. Việc tôi không cảm thấy sợ hãi là vì tôi không biết rằng có một con rắn độc ngay đây. Đây là samatha: sự thanh thản. “Ai quan tâm nếu có những phiền não ở đó? Tôi cảm thấy bình yên ngay bây giờ.” Điều này được gọi là sự tĩnh lặng của tâm mà không có những phiền não cũng tĩnh lặng. Nó được gọi là samatha. Chúng ta rèn luyện tâm để tĩnh lặng, để rồi, ở bước tiếp theo, những phiền não cũng sẽ tĩnh lặng. Đó là vấn đề của sự phân biệt. Samatha, một trong những phương pháp thiền phổ biến nhất, tập trung vào sự bình yên và thư thái của tâm. |
Healing the Wound |
Chữa lành vết thương |
|
Tranquility is stillness that lasts only for a little while. The stillness is the foundation for insight. Insight is seeing clearly, understanding more clearly than you did before. Insight is not simply still. The stillness of tranquility is like running away from noises to a wilderness where there’s no noise. If you have lots of children, you run away to a wilderness where there are no children. When you don’t see your children or don’t hear any noise, you find stillness. |
Sự thanh thản là trạng thái tĩnh lặng chỉ kéo dài trong chốc lát. Tĩnh lặng là nền tảng của sự thấu hiểu. Thấu hiểu là nhìn rõ ràng, hiểu thấu đáo hơn trước đây. Thấu hiểu không chỉ đơn thuần là tĩnh lặng. Sự tĩnh lặng của thanh thản giống như chạy trốn khỏi tiếng ồn đến một vùng hoang dã không có tiếng ồn. Nếu bạn có nhiều con, bạn sẽ chạy trốn đến một vùng hoang dã không có trẻ em. Khi bạn không nhìn thấy con mình hoặc không nghe thấy bất kỳ tiếng ồn nào, bạn sẽ tìm thấy sự tĩnh lặng. |
|
But that kind of stillness is like having a wound, stitching it up, and covering it up with a bandage until it looks like it’s healed. But actually there’s still an infection inside. When the infection flares up, you cut it open, stitch it up again, put medicine in it, and the wound heals over. But there’s still infection inside. It’s not really healed. That’s tranquility. |
Nhưng sự tĩnh lặng đó giống như có một vết thương, khâu lại và băng bó cho đến khi trông có vẻ như đã lành. Nhưng thực ra vẫn còn nhiễm trùng bên trong. Khi nhiễm trùng bùng phát, bạn rạch ra, khâu lại, bôi thuốc vào và vết thương lành lại. Nhưng vẫn còn nhiễm trùng bên trong. Nó chưa thực sự lành. Đó là sự thanh thản. |
|
With insight, you have to remove all the infected tissue so that it can heal from the inside. Don’t stitch it up. Wait until it’s free from infection, and then close it off. Shoot it full of medicine so that it heals from the inside to the out. When the outside is healed, that’s it. The inside is already good, so it won’t get infected again. That’s insight meditation. |
Với sự thấu hiểu, bạn phải loại bỏ tất cả các mô bị nhiễm trùng để nó có thể lành từ bên trong. Đừng khâu lại. Hãy đợi cho đến khi vết thương hoàn toàn hết nhiễm trùng, rồi khâu kín lại. Tiêm thuốc vào để vết thương lành từ trong ra ngoài. Khi bên ngoài đã lành, thế là xong. Bên trong đã tốt rồi, nên sẽ không bị nhiễm trùng lại nữa. Đó chính là thiền quán chiếu. |
The Stillness of Insight |
Sự Tĩnh Lặng của Trí Tuệ |
|
When the mind reaches that level of stillness, it’s not enough—the stillness of tranquility. You have to make it still through insight. You have to give rise to discernment. With the stillness of tranquility, it’s like not being able to be still in a hot place. You have to go to the seaside to be still. When you go back to where it’s hot, you’re not still anymore. The preoccupations of tranquility are only on this level of stillness. But with the preoccupations of insight, then when it’s hot in the mountains, you can stay there comfortably. When you go down to the seaside, you can stay there comfortably. You can focus on knowing these things, and the mind doesn’t run. It knows pleasure; it knows pain. That’s how we know when we practice. |
Khi tâm đạt đến mức độ tĩnh lặng đó, thì vẫn chưa đủ—sự tĩnh lặng của sự thanh thản. Bạn phải làm cho nó tĩnh lặng thông qua trí tuệ. Bạn phải khơi dậy khả năng phân biệt. Với sự tĩnh lặng của sự thanh thản, nó giống như việc không thể tĩnh lặng ở một nơi nóng bức. Bạn phải đến bờ biển để được tĩnh lặng. Khi bạn quay trở lại nơi nóng bức, bạn không còn tĩnh lặng nữa. Những mối bận tâm của sự thanh thản chỉ tồn tại ở mức độ tĩnh lặng này. Nhưng với những mối bận tâm của trí tuệ, thì khi trời nóng trên núi, bạn có thể ở đó một cách thoải mái. Khi bạn xuống bờ biển, bạn cũng có thể ở đó một cách thoải mái. Bạn có thể tập trung vào việc nhận biết những điều này, và tâm không còn chạy lung tung. Nó biết niềm vui; nó biết nỗi đau. Đó là cách chúng ta biết khi nào mình thực hành. |
Rocks in the Way |
Những hòn đá cản đường |
|
We’re walking along a road that goes straight ahead. It doesn’t matter how many kilometers it goes, we just keep walking straight ahead. When we find a log or a rock obstructing our way, we pick it up and throw it off to the side of the road. |
Chúng ta đang đi trên một con đường thẳng. Dù con đường dài bao nhiêu cây số, chúng ta cứ tiếp tục đi thẳng. Khi gặp một khúc gỗ hay một hòn đá cản đường, chúng ta nhặt nó lên và ném sang bên đường. |
|
We’re trying to make the mind quiet and still. The preoccupations that arise by way of the eyes, ears, nose, tongue, and body all come together here at the mind. When the mind gets involved with these things, it’s like a rock obstructing our way. It interferes with our walking, so we pick it up and throw it off to the side. |
Chúng ta đang cố gắng làm cho tâm tĩnh lặng. Những phiển não nảy sinh từ mắt, tai, mũi, lưỡi và thân đều hội tụ lại trong tâm. Khi tâm bị cuốn vào những điều này, nó giống như một hòn đá cản đường. Nó cản trở bước đi của chúng ta, vì vậy chúng ta nhặt nó lên và ném sang bên đường. |
|
The preoccupation arising at that moment we see as inconstant, stressful, and not-self. We throw it off to the side. Don’t hold onto anything at all. Let it go, and keep on walking. If love comes, we let it go. If hatred comes, we let it go, that’s all |
Những phiền não nảy sinh vào lúc đó, chúng ta nhận thấy nó vô thường, khổ đau và vô ngã. Chúng ta ném nó sang bên đường. Đừng níu giữ bất cứ điều gì. Hãy buông bỏ và tiếp tục bước đi. Nếu tình yêu đến, chúng ta hãy buông bỏ. Nếu hận thù đến, chúng ta hãy buông bỏ, thế thôi. |
Killing Your Meditation |
Phá Hủy Thiền Định Của Bạn |
|
When standing, walking, sitting, and lying down, keep your mindfulness continuous at all times. This is called practicing meditation (kammatthana) correctly. The reason why our mindfulness isn’t continuous is because we don’t do it. “Doing it” isn’t something the body does. The mind is what does it. If we do our mindfulness so that it’s continuous, so that we’re constantly aware, it’s like drops of water that flow continuously so that they become a continuous stream of water. If you can train the mind in this way, your meditation will progress quickly and well. |
Khi đứng, đi , ngồi và nằm, hãy luôn giữ chánh niệm liên tục. Điều này được gọi là tu tập Đề Mục Hành Thiền (kammatthana) đúng cách. Lý do tại sao chánh niệm của chúng ta không liên tục là vì chúng ta không tu tập. "Tu tập" không phải là điều mà thân làm. Mà tâm mới là thứ làm điều đó. Nếu chúng ta tu tập chánh niệm một cách liên tục, để chúng ta luôn luôn tỉnh giác, nó giống như những giọt nước chảy liên tục để trở thành một dòng nước liên tục. Nếu bạn có thể tu tập tâm theo cách này, việc thiền định của bạn sẽ tiến bộ nhanh chóng và tốt đẹp. |
|
But these days, people go practice vipassana for three days, seven days, ten days, fifteen days, and then they come out of retreat. They say that they’ve already done vipassana and they’re already good at it. So they go to sing and dance and play around. When that happens, their vipassana is gone and they don’t have any left. When they do all kinds of unskillful things that stir up the heart and damage it like this, you can’t call it “practice.” It’s a mode of practice like planting a tree where you plant it today and then, in three days’ time, you pull it up and plant it over there. Then, after another three days, you pull it up again. The tree is going to die and you won’t get to eat the fruit. Meditation can die in just the same way. |
Nhưng ngày nay, mọi người tu tập thiền quán vipassana trong ba ngày, bảy ngày, mười ngày, mười lăm ngày, rồi họ ra khỏi khóa tu. Họ nói rằng họ đã tu tập thiền quán vipassana rồi và họ đã giỏi rồi. Vì vậy, họ đi ca hát, nhảy múa và vui chơi. Khi điều đó xảy ra, thiền quán vipassana của họ đã biến mất và họ không còn gì nữa. Khi họ làm đủ mọi thứ vụng về, gây xáo trộn và tổn thương tâm như vậy, bạn không thể gọi đó là “tu tập”. Đó là một hình thức thực hành giống như trồng một cái cây, hôm nay bạn trồng nó, rồi ba ngày sau bạn nhổ nó lên và trồng ở chỗ khác. Rồi ba ngày sau nữa, bạn lại nhổ nó lên. Cây sẽ chết và bạn sẽ không được ăn quả. Thiền định cũng có thể chết theo cách tương tự. |
Staying at Home |
Ở Nhà |
|
If you have mindfulness and alertness at all times, you’ll come to your senses. If you waste your time playing with other things, suffering will arise and you’ll suffer—because you don’t have any mindfulness. Your alertness isn’t here. It’s like your home. If you leave and don’t close the door, dogs will come in and eat your stored-up rice. Thieves will come in and steal all your things. It’s the same when you don’t have mindfulness. |
Nếu bạn luôn luôn tỉnh giác và chánh niệm, bạn sẽ nhận ra bản chất thật của mình. Nếu bạn lãng phí thời gian chơi đùa với những thứ khác, khổ đau sẽ nảy sinh và bạn sẽ đau khổ—bởi vì bạn không có chánh niệm. Chánh niệm của bạn không ở đây. Nó giống như ngôi nhà của bạn. Nếu bạn rời đi mà không đóng cửa, chó sẽ vào ăn hết gạo bạn dự trữ. Kẻ trộm sẽ vào và lấy trộm tất cả đồ đạc của bạn. Cũng giống như khi bạn không có chánh niệm. |
|
Actually, you have mindfulness, but it’s mindful of other things. It’s like leaving your house. You’re still there, but you’re not there in the house. You’re there somewhere else. It’s the same with mindfulness. You have mindfulness, but your mindfulness isn’t here. Thieves come and steal the things you have here, but you’re not here. Your “here” is somewhere else. Your mindfulness is working somewhere over there. It’s not working here. If your mindfulness is working here, then you’ll sense when a preoccupation strikes the mind. If the mind likes it, you’ll know—and you’ll see that it’s inconstant. Don’t latch onto it or else you’ll fall into suffering and stress. You’ll see: “This is inconstant, stressful, and not-self,” right there. That means that you’re practicing the Dhamma. |
Thực ra, bạn có sự chú tâm, nhưng đó là sự chú tâm đến những thứ khác. Nó giống như việc bạn rời khỏi nhà. Bạn vẫn ở đó, nhưng bạn không thực sự ở trong nhà. Bạn đang ở một nơi khác. Sự chú tâm cũng vậy. Bạn có sự chú tâm, nhưng sự chú tâm của bạn không ở đây. Kẻ trộm đến và lấy trộm những thứ bạn có ở đây, nhưng bạn không ở đây. “Ở đây” của bạn là một nơi khác. Sự chú tâm của bạn đang hoạt động ở đâu đó bên kia. Nó không hoạt động ở đây. Nếu chánh niệm của bạn đang hoạt động ở đây, bạn sẽ cảm nhận được khi một sự bận tâm xâm chiếm tâm. Nếu tâm thích điều đó, bạn sẽ biết – và bạn sẽ thấy rằng nó là vô thường. Đừng bám víu vào nó, nếu không bạn sẽ rơi vào khổ đau và phiền não. Bạn sẽ thấy: “Đây là vô thường, khổ đau và vô ngã,” ngay tại đó. Điều đó có nghĩa là bạn đang thực hành Phật pháp. |
|
This is why people who practice have mindfulness—the ability to recollect—at all times while they’re standing, walking, sitting, and lying down. Alertness always knows what we’re doing right now. This is how you have the opportunity to awaken to the Dhamma. You’ll have the opportunity to chase these dogs out of your home, to chase away the thieves that have come to steal your things—because you’re right here. You’ll have the opportunity not to lose your belongings. |
Đây là lý do tại sao những người tu tập có chánh niệm – khả năng quán chiếu – mọi lúc khi họ đứng, đi, ngồi và nằm. Sự tỉnh giác luôn biết chúng ta đang làm gì ngay bây giờ. Đây là cách bạn có cơ hội giác ngộ Phật pháp. Bạn sẽ có cơ hội đuổi những con chó này ra khỏi nhà, đuổi những tên trộm đến lấy đồ của bạn – bởi vì bạn đang ở ngay đây. Bạn sẽ không bị mất đồ đạc của mình. |
Fix It Right Here |
Sửa nó ngay tại đây |
|
This practice is called the practice of the Dhamma. If you can see every day, if you can try to see continually into your mind, then even if you’re doing work, you’ll see. Try to see with every moment. You might say, “Oho, Venerable Father, I don’t have any time to meditate. I can’t meditate. I’m always busy.” That’s how we tend to see things. Actually, where you’re busy is the place where you practice. Wherever there’s heat, there’s coolness right there. You don’t understand. All you see is that when heat arises, there’s nothing but heat there. No coolness at all. Actually, wherever there’s busyness, there’s stillness right there. Wherever there’s wrongness, there’s rightness right there. Wherever there’s turmoil, there’s stillness right there. Look. If you do something wrong right here, where are you going to correct it? It’s as if something goes wrong in your motorcycle right here, right in this spot. Where are you going to fix it? You fix it right where something has gone wrong, and then it’ll go right, right there, that’s all. Wherever you encounter a preoccupation you like, you practice right there: “Oh. This isn’t for sure. We’ve already experienced pleasure. We’ve already experienced pain many, many times. This won’t turn into anything else. It’ll turn into nothing but suffering.” If you can think correctly like this, the mind will keep staying in that state. |
Tu tập này được gọi là tu tập Phật pháp. Nếu bạn có thể nhìn thấy mỗi ngày, nếu bạn có thể cố gắng liên tục nhìn vào tâm của mình, thì ngay cả khi bạn đang làm việc, bạn cũng sẽ thấy. Hãy cố gắng nhìn thấy trong từng sát na. Bạn có thể nói, “Ôi, thưa ngài, con không có thời gian để thiền định. Con không thể thiền định. Con luôn bận rộn.” Đó là cách chúng ta thường nhìn nhận mọi việc. Thực ra, nơi bạn bận rộn chính là nơi bạn thực hành. Ở đâu có nóng, ở đó có sự mát mẻ. Bạn không hiểu. Tất cả những gì bạn thấy là khi nóng nảy xuất hiện, ở đó chỉ toàn là nóng. Không có sự mát mẻ nào cả. Thực ra, ở đâu có bận rộn, ở đó có sự tĩnh lặng. Ở đâu có sai, ở đó có sự đúng. Ở đâu có hỗn loạn, ở đó có sự tĩnh lặng. Hãy nhìn xem. Nếu bạn làm điều gì đó sai ngay tại đây, bạn sẽ sửa nó ở đâu? Cũng giống như nếu có điều gì đó sai xảy ra với chiếc xe máy của bạn ngay tại đây, ngay tại chỗ này. Bạn sẽ sửa nó ở đâu? Bạn sửa ngay tại chỗ có vấn đề, và rồi mọi thứ sẽ ổn, ngay tại đó, chỉ vậy thôi. Bất cứ khi nào bạn gặp phải điều gì đó khiến bạn thích thú, hãy thực hành ngay tại đó: “Ồ. Điều này không chắc chắn. Chúng ta đã từng trải nghiệm niềm vui. Chúng ta đã từng trải nghiệm nỗi đau rất nhiều lần. Điều này sẽ không biến thành bất cứ thứ gì khác. Nó sẽ chỉ biến thành đau khổ mà thôi.” Nếu bạn có thể suy nghĩ đúng như vậy, tâm sẽ tiếp tục duy trì trạng thái đó. |
A Fish on Land |
Cá Trên Cạn |
|
Our different postures hide pain. When you’ve been sitting a long time and then switch positions because of the pain, the pain disappears. That’s why we don’t see the pain. It’s like youth hiding old age inside. The mind is taken with the looks, the sounds, the smells, the tastes of youth, but if you stay with it for a while, old age starts to show its face. |
Những tư thế khác nhau của chúng ta che giấu nỗi đau. Khi bạn ngồi lâu và sau đó thay đổi tư thế vì đau, cơn đau sẽ biến mất. Đó là lý do tại sao chúng ta không nhìn thấy nỗi đau. Nó giống như tuổi trẻ che giấu tuổi già bên trong. Tâm bị cuốn hút bởi vẻ ngoài, âm thanh, mùi hương, vị giác của tuổi trẻ, nhưng nếu bạn cứ mãi chìm đắm trong đó, tuổi già sẽ bắt đầu lộ diện. |
|
The mind is like a fish in water. When you catch it and bring it on land, it’ll squirm and struggle to get back into the water. If you simply let it go, it’ll be at its ease. But if you catch the mind and make it sit in meditation, it’ll see pain. If you simply let it go as it likes, it won’t see pain—like the fish in water. But when you try sitting in meditation, it’s like a fish caught and placed on land. It’ll see pain immediately |
Tâm giống như một con cá trong nước. Khi bạn bắt nó và đưa lên bờ, nó sẽ quẫy đạp và vùng vẫy để được trở lại nước. Nếu bạn cứ để nó đi, nó sẽ được thoải mái. Nhưng nếu bạn bắt lấy tâm và bắt nó ngồi thiền, nó sẽ cảm nhận được nỗi đau. Nếu bạn cứ để nó tự do, nó sẽ không cảm nhận được nỗi đau – giống như con cá trong nước. Nhưng khi bạn cố gắng ngồi thiền, nó giống như một con cá bị bắt và đặt lên bờ. Nó sẽ cảm nhận được nỗi đau ngay lập tức. |
Overcoming Pain |
Vượt Qua Nỗi Đau |
|
Suppose you’re sitting in concentration and it really hurts. When it hurts, you come out of meditation. Then you meditate some more until you reach the point where it hurts, and then you come out again. This is why you don’t understand suffering even though you suffer. Wherever you sit and meditate, you suffer pain. So you ask yourself, “What can I do to overcome this?” You have to make a decision: “Sit, but don’t move. Let the body die.” |
Giả sử bạn đang ngồi thiền và cảm thấy rất đau. Khi đau, bạn sẽ thoát khỏi trạng thái thiền định. Rồi bạn tiếp tục thiền cho đến khi lại cảm thấy đau, và rồi lại thoát ra. Đó là lý do tại sao bạn không hiểu được sự khổ đau dù chính bạn đang chịu đựng. Bất cứ nơi nào bạn ngồi thiền, bạn đều cảm thấy đau đớn. Vì vậy, bạn tự hỏi: “Tôi có thể làm gì để vượt qua điều này?” Bạn phải đưa ra quyết định: “Ngồi yên, đừng thay đổi oai nghi. Hãy để thân chết đi.” |
|
You depend on what the Buddha said: Whatever arises passes away. If pain arises, why won’t it pass away? As soon as you sit, there’s nothing but pain. It hurts. It aches. Sweat starts flowing in drops as big as corn kernels. You’re about to move but you say, “Hmm. No. Let it die.” You have to take it that far—until the mind goes beyond death. The pain disappears. Once you’ve gone beyond death, discernment arises. Confidence gets strong. You thought that you wouldn’t be able to stand it; you thought that you were about to die. This is called training yourself with a heavy hand. It’s not for general use. After that, whenever you meditate, you understand—because you’ve seen how far the pain can go. This is called overcoming pain. |
Bạn dựa vào lời dạy của Đức Phật: Cái gì sinh ra thì cũng sẽ diệt. Nếu đau đớn xuất hiện, tại sao nó không biến mất? Ngay khi bạn ngồi xuống, chỉ còn lại nỗi đau. Nó đau. Nó nhức nhối. Mồ hôi bắt đầu chảy thành từng giọt to như hạt ngô. Bạn định thay đổi oai nghi nhưng lại nói: “Hừm. Không. Hãy để nó chết đi.” Bạn phải làm đến mức đó – cho đến khi tâm vượt qua cái chết. Nỗi đau biến mất. Một khi bạn đã vượt qua cái chết, tuệ phân biệt sẽ xuất hiện. Sự tự tin trở nên mạnh mẽ. Bạn đã nghĩ rằng mình sẽ không thể chịu đựng được; Bạn từng nghĩ mình sắp chết. Đây gọi là tu tập bản thân bằng phương pháp khắc nghiệt. Nó không dành cho mục đích chung. Sau đó, mỗi khi thiền định, bạn sẽ hiểu – bởi vì bạn đã thấy nỗi đau có thể đi xa đến mức nào. Đây gọi là vượt qua nỗi đau. |
|
If you can’t overcome pain, then when you reach that point, you fall out of concentration. You die every time. You don’t have any strength. You have to overcome it someday in your practice. Once you’ve overcome it, you won’t be afraid of it—because you’ve seen what it’s like. It’s like being a boxer. If you haven’t boxed in the ring, you’re afraid. Once you’ve boxed in the ring, you’re not afraid anymore, for you know what it’s like. You have to experiment with this. This is called overcoming pain. |
Nếu bạn không thể vượt qua nỗi đau, thì khi đạt đến điểm đó, bạn sẽ mất tập trung. Bạn sẽ chết mỗi lần như vậy. Bạn không còn sức mạnh nào cả. Bạn phải vượt qua nó vào một ngày nào đó trong quá trình luyện tập của mình. Một khi đã vượt qua được, bạn sẽ không còn sợ hãi nữa – bởi vì bạn đã biết cảm giác đó như thế nào. Nó giống như một võ sĩ quyền anh. Nếu bạn chưa từng thượng đài, bạn sẽ sợ hãi. Một khi đã thượng đài, bạn sẽ không còn sợ hãi nữa, vì bạn biết cảm giác đó ra sao. Bạn phải trải nghiệm điều này. Đây gọi là vượt qua nỗi đau. |
Why Study? |
Tại sao phải học? |
|
If you close your eyes, you won’t see any light. Things won’t be bright. When things aren’t bright, you don’t see light and colors. You don’t see your way. |
Nếu bạn nhắm mắt lại, bạn sẽ không thấy ánh sáng. Mọi thứ sẽ không sáng. Khi mọi thứ không sáng, bạn không thấy ánh sáng và màu sắc. Bạn không nhìn thấy con đường của mình. |
|
The Dhamma of study is like your eyes. Your eyes help you see where you’re going. Wherever you walk, you have to depend on your eyes to look ahead. While your eyes are looking, your feet keep walking at the same time. Whatever your activities, you have to depend on your eyes to open the way, to forge a trail through the darkness. That’s their nature. |
Pháp của việc học tập giống như đôi mắt của bạn. Đôi mắt giúp bạn nhìn thấy nơi bạn đang đi. Bất cứ nơi nào bạn đi, bạn đều phải dựa vào mắt để nhìn về phía trước. Trong khi mắt bạn đang nhìn, chân bạn vẫn tiếp tục bước đi. Bất kể hoạt động của bạn là gì, bạn đều phải dựa vào mắt để mở đường, để tạo ra một lối đi xuyên qua bóng tối. Đó là bản chất của chúng. |
|
It’s the same with the Dhamma of study. If you know how to put it to use, it serves a purpose. If you don’t put it to use, it won’t serve any purpose. It’s like having a knife that you hone until it’s sharp. If you put it away without using it, it won’t serve any purpose. No matter how sharp it is, if you don’t use it, if you put it away, it won’t serve any purpose. So when you’ve studied, you should put it to use so as to benefit from it. If you study but don’t put it to use, it’s like a farmer growing rice in a field but not harvesting the rice, or growing a garden but not harvesting the vegetables. |
Cũng giống như pháp của việc học tập. Nếu bạn biết cách sử dụng nó, nó sẽ có mục đích. Nếu bạn không sử dụng nó, nó sẽ không có mục đích gì. Nó giống như việc bạn mài một con dao cho đến khi nó sắc bén. Nếu bạn cất nó đi mà không sử dụng, nó sẽ không có tác dụng gì. Cho dù nó sắc bén đến đâu, nếu bạn không sử dụng nó, nếu bạn cất nó đi, nó sẽ không có tác dụng gì. Vậy nên khi đã học xong, bạn nên vận dụng kiến thức đó để thu được lợi ích. Nếu học mà không vận dụng, cũng giống như người nông dân trồng lúa trên ruộng mà không thu hoạch, hoặc trồng rau trong vườn mà không thu hoạch. |
|
You have to study first. Only then should you think about going out to practice in the forest. You have to study what the aim of practicing in the forest is. Only then should you go practice in the forest. It’s like knowing the purpose of growing rice before you grow rice, or the purpose of growing vegetables before you grow vegetables. Know the aim, the purpose, of practicing in the forest. |
Trước tiên bạn phải học. Chỉ sau đó bạn mới nên nghĩ đến việc vào trong rừng tu tập. Bạn phải nghiên cứu mục đích của việc tu tập trong rừng là gì. Chỉ sau đó bạn mới nên vào trong rừng thực hành. Giống như việc biết mục đích trồng lúa trước khi trồng lúa, hoặc mục đích trồng rau trước khi trồng rau. Hãy biết mục đích, ý nghĩa của việc tu tập trong rừng. |
The Name of the Fruit |
Tên của Trái Cây |
|
The fruit that you offered to the monks: I don’t know its name, but I know that its flavor is sweet and delicious. That much I know, but I don’t know what it’s called—and it’s not really necessary. All that’s necessary is knowing that its flavor is sweet and delicious. Right? That’s really necessary. “What’s the name of this fruit?” That’s not really necessary. If someone tells you, you can remember it. But if you don’t know the name, you can let the matter go. After all, knowing the name doesn’t increase the sweetness or make the fruit more sour. |
Loại trái cây mà bạn đã dâng lên các vị sư: Tôi không biết tên của nó, nhưng tôi biết rằng nó có vị ngọt và ngon. Tôi biết điều đó, nhưng tôi không biết tên gọi của nó là gì—và điều đó thực sự không cần thiết. Tất cả những gì cần thiết là biết rằng nó có vị ngọt và ngon. Phải không? Điều đó thực sự cần thiết. “Tên của loại trái cây này là gì?” Điều đó thực sự không cần thiết. Nếu ai đó nói cho bạn biết, bạn có thể nhớ nó. Nhưng nếu bạn không biết tên, bạn có thể bỏ qua chuyện đó. Xét cho cùng, biết tên không làm tăng độ ngọt hay làm cho trái cây chua hơn. |
|
The knowledge that comes from the practice: We practice so that we’ll know. It’s knowledge that knows all the way in. Once you know all the way in, you let go. The knowledge that comes from the practice, once it knows all the way in, lets go. The knowledge that comes from studying doesn’t let go, you know. It fills us up until we’re stuffed tight. It ties us down even more. |
Kiến thức đến từ thực hành: Chúng ta thực hành để chúng ta biết. Đó là kiến thức thấu hiểu sâu sắc. Một khi bạn thấu hiểu sâu sắc, bạn buông bỏ. Kiến thức đến từ thực hành, một khi nó thấu hiểu sâu sắc, nó buông bỏ. Kiến thức đến từ việc học tập không buông bỏ, bạn biết đấy. Nó lấp đầy chúng ta cho đến khi chúng ta bị nhồi nhét chặt. Nó trói buộc chúng ta thậm chí còn hơn thế nữa. |
Counting the Rootlets |
Đếm những rễ con |
|
Some people have to keep thinking: “What is the mind? What is the heart?”—all kinds of things, keeping at it, back and forth until they go crazy. They don’t understand anything. You don’t have to think that far. Just simply ask yourself, “What do you have in yourself?” There are physical phenomena and mental phenomena; or there’s a body and there’s a mind. That’s enough. |
Một số người cứ mãi suy nghĩ: “Tâm là gì? Trái tim là gì?”—tất cả những thứ đó, cứ mãi suy nghĩ đi suy nghĩ lại cho đến khi phát điên. Họ chẳng hiểu gì cả. Bạn không cần phải suy nghĩ xa đến thế. Chỉ cần tự hỏi bản thân: “Bạn có gì trong chính mình?” Có hiện tượng vật chất và hiện tượng tinh thần; hay nói cách khác, có thân và có tâm. Thế là đủ rồi. |
|
Some people ask, “I’ve heard that the Buddha knew everything. Well, if he knew everything…” They practice the Dhamma and start arguing: “How many roots does a tree have?” The Buddha answers that it has taproots and rootlets. “But how many rootlets does it have?” That shows they’re crazy, right? They want an answer about the rootlets: “How many rootlets are there? How many taproots are there?” Why do they ask? “Well, the Buddha knew everything, didn’t he? He’d have to know, all the way to the rootlets.” Who would be crazy enough to count them? Do you think the Buddha would be stupid like that? He’d say that there are rootlets and taproots, and that would be enough. |
Một số người hỏi: “Tôi nghe nói Đức Phật biết tất cả mọi thứ. Vậy nếu Ngài biết tất cả mọi thứ…” Họ thực hành Phật pháp và bắt đầu tranh luận: “Một cái cây có bao nhiêu rễ?” Đức Phật trả lời rằng nó có rễ cọc và rễ con. “Nhưng nó có bao nhiêu rễ con?” Điều đó cho thấy họ điên rồi, phải không? Họ muốn câu trả lời về rễ con: “Có bao nhiêu rễ con? Có bao nhiêu rễ cọc?” Tại sao họ lại hỏi? “À, Đức Phật biết tất cả mọi thứ, phải không? Ngài hẳn phải biết, đến tận rễ con.” Ai lại điên đến mức đi đếm chúng chứ? Bạn nghĩ Đức Phật lại ngốc nghếch như vậy sao? Ngài sẽ nói rằng chỉ cần có rễ con và rễ cọc là đủ. |
|
It’s like cutting our way through the forest. If we felt we had to cut down every tree, all the big trees and all the small trees, we’d be getting out of hand. Would we have to uproot them all in order to get through the forest? We’d cut back just the ones needed to open our way. That’s enough |
Nó giống như việc chúng ta chặt cây để mở đường xuyên qua khu rừng. Nếu chúng ta cảm thấy cần phải chặt hết mọi cây, cả cây to lẫn cây nhỏ, thì mọi chuyện sẽ vượt tầm kiểm soát. Liệu chúng ta có cần phải nhổ tận gốc tất cả cây để đi qua khu rừng không? Chúng ta chỉ cần chặt những cây cần thiết để mở đường. Thế là đủ rồi. |
Mr. A & the Letter A |
Ông A & Chữ A |
|
When we speak about the Dhamma, it’s all a matter of strategy for understanding what’s right there. It’s matter of suppositions, a strategy. The genuine Dhamma exists, but it’s something you can’t see. We have to bring in other things so that we contemplate it. |
Khi chúng ta nói về Phật Pháp, tất cả đều là vấn đề chiến lược để hiểu những gì đang hiện hữu. Đó là vấn đề của những giả định, một chiến lược. Phật pháp chân chính tồn tại, nhưng nó là thứ bạn không thể nhìn thấy. Chúng ta phải đưa vào những thứ khác để có thể chiêm nghiệm về nó. |
|
It’s like a teacher teaching her students, “Suppose Mr. A has this much money.” Mr. A isn’t there in the room, so what do you do? You write down the letter A with a piece of chalk, and you suppose that it’s Mr. A. Is it Mr. A? It is as a supposition, but this Mr. A can’t run. You can take the letter A and suppose that it’s Mr. A and that he has this or that much money. It’s Mr. A on the level of supposition, but you can’t get this Mr. A to run anywhere, for it’s just the letter A. It’s a letter A that we can use. It’s a strategy. You have to understand that the actual Mr. A isn’t there, so you have to write the letter A to serve your purpose. |
Nó giống như một giáo viên dạy học trò của mình, “Giả sử ông A có số tiền này.” Ông A không có mặt trong phòng, vậy bạn làm gì? Bạn viết chữ A bằng phấn, và bạn giả định rằng đó là ông A. Có phải là ông A không? Đó là một giả định, nhưng ông A này không thể chạy. Bạn có thể lấy chữ A và giả định rằng đó là ông A và ông ấy có số tiền này hay số tiền kia. Đó là ông A ở cấp độ giả định, nhưng bạn không thể khiến ông A này chạy đi đâu cả, vì đó chỉ là chữ A. Đó là một chữ A mà chúng ta có thể sử dụng. Đó là một chiến lược. Bạn phải hiểu rằng ông A thực sự không có ở đó, vì vậy bạn phải viết chữ A để đạt được mục đích của mình. |
What’s That? |
Cái gì thế? |
|
With the Dhamma, it’s not the case that you’ll awaken because someone else tells you about it. You already know that you can’t get serious about asking whether this is that or that is this. These things are really personal. We talk just enough for you to contemplate. |
Với Phật pháp, bạn không giác ngộ chỉ vì người khác nói cho bạn biết. Bạn đã biết rằng bạn không thể nghiêm túc hỏi xem cái này là cái kia hay cái nọ là cái nọ. Những điều này thực sự rất riêng tư. Chúng ta chỉ nói đủ để bạn suy ngẫm. |
|
It’s like a child who’s never seen anything. He comes out to the countryside and sees a chicken. “Daddy, what’s that over there?” He sees a duck. “Daddy, what’s that?” He sees a pig. “Daddy, what’s that over there?” The father gets tired of answering. The more he answers, the more the child keeps asking—because it’s never seen these things. After a while, the father simply says, “Hmm.” If you keep playing along with the child’s every question, you die of fatigue. The child doesn’t get fatigued. Whatever it sees, “What’s that? What’s this?” It never comes to an end. Finally the father says, “When you grow bigger, you’ll know for yourself.” |
Nó giống như một đứa trẻ chưa bao giờ thấy cái gì. Nó ra đồng quê và thấy một con gà. “Bố ơi, con gì ở đằng kia vậy?” Nó thấy một con vịt. “Bố ơi, con gì ở đằng kia vậy?” Nó thấy một con lợn. “Bố ơi, con gì ở đằng kia vậy?” Người cha mệt mỏi vì phải trả lời. Càng trả lời, đứa trẻ càng hỏi nhiều hơn – bởi vì nó chưa từng thấy những thứ này. Sau một lúc, người cha chỉ đơn giản nói, “Ừm.” Nếu bạn cứ chiều theo mọi câu hỏi của đứa trẻ, bạn sẽ chết vì mệt mỏi. Đứa trẻ thì không mệt mỏi. Bất cứ thứ gì nó thấy, “Cái gì thế này? Cái nọ là cái gì thế này?” Nó không bao giờ kết thúc. Cuối cùng người cha nói, “Khi con lớn lên, con sẽ tự biết.” |
|
That’s the way it is with meditation. I used to be like that. I really was. But when you understand, there are none of those questions. You’ve grown up. So be intent on contemplating until you understand, and things will gradually unravel themselves. That’s the way it is. Keep watch over yourself as much as you can. Keep watch over yourself as much as you can, to see if you’re lying to yourself. That’s what’s called keeping watch over yourself. |
Thiền định cũng vậy. Tôi từng như thế. Thật sự là thế. Nhưng khi bạn hiểu ra, sẽ không còn những câu hỏi đó nữa. Bạn đã trưởng thành. Vì vậy, hãy tập trung vào việc quán chiều cho đến khi bạn hiểu, và mọi thứ sẽ dần dần được sáng tỏ. Đó là cách nó diễn ra. Hãy tự quán sát thân mình hết mức có thể. Hãy tự quán sát thân mình hết mức có thể, để xem bạn có đang tự lừa dối mình hay không. Đó gọi là tự quán sát bản thân. |
The Farmer & the Cobra |
Người Nông Dân và Con Rắn Hổ Mang |
|
In short, the Dhamma teaches that whatever suffering arises will pass away. There’s nothing more than this. There’s just suffering arising and suffering passing away. That’s all there is, which is why we suffer, why we’re in a turmoil in this cycle of wandering-on. Why are we in a turmoil? Because we don’t know this truth as it actually is. When you don’t recognize suffering, you feed it, thinking that it’ll be pleasure. But eventually it bites you, because it’s suffering. |
Tóm lại, Phật Pháp dạy rằng bất cứ khổ đau nào phát sinh rồi cũng sẽ diệt. Không có gì hơn thế. Chỉ có khổ đau phát sinh và khổ đau diệt. Chỉ có vậy thôi, đó là lý do tại sao chúng ta đau khổ, tại sao chúng ta lại ở trong vòng xoáy luẩn quẩn này. Tại sao chúng ta lại ở trong vòng xoáy? Bởi vì chúng ta không biết chân lý này như nó vốn có. Khi bạn không nhận ra khổ đau, bạn nuôi dưỡng nó, nghĩ rằng đó sẽ là niềm vui. Nhưng cuối cùng nó sẽ cắn bạn, bởi vì đó là khổ đau. |
|
It’s like the story of the farmer and the cobra. The cobra lies stiff in the cold, and the farmer feels pity for it. He thinks, “I have enough kindness to help this animal find some comfort.” That’s because he doesn’t recognize what it is. He doesn’t recognize that this is a snake that can bite people. Because he doesn’t recognize it, he picks it up and holds it to his chest. As soon as the snake warms up, it bites us. |
Giống như câu chuyện về người nông dân và con rắn hổ mang. Con rắn hổ mang nằm cứng đờ trong cái lạnh, và người nông dân cảm thấy thương hại nó. Anh ta nghĩ, “Tôi có đủ lòng tốt để giúp con vật này tìm được sự thoải mái.” Đó là bởi vì anh ta không nhận ra nó là gì. Anh ta không nhận ra rằng đây là một con rắn có thể cắn người. Vì không nhận ra điều đó, anh ta nhặt nó lên và ôm vào ngực. Ngay khi con rắn ấm lên, nó cắn chúng ta. |
Awakening to the Cobra |
Awakening to the Cobra |
|
Most of us, when we hear the words, “awakening to the Dhamma,” understand that it’s something so high and far away that we probably won’t awaken in this lifetime. That’s how we understand things. Actually, if something is evil and we don’t clearly see that it’s evil, then we can’t bandon it. That means we haven’t awakened much to the Dhamma. But if we listen, contemplate, and practice until we see it clearly, we’ll see the drawbacks for sure that that thing is evil and we won’t dare ever do it again. We won’t dare store it up as seeds to plant again. We’ll have to throw it away because we’ve seen the harm it does. |
Hầu hết chúng ta, khi nghe cụm từ “giác ngộ với Chánh pháp”, đều hiểu rằng đó là điều gì quá cao siêu và xa vời đến nỗi có lẽ chúng ta sẽ không giác ngộ được trong kiếp này. Đó là cách chúng ta hiểu mọi việc. Thực ra, nếu điều gì đó là xấu xa và chúng ta không thấy rõ ràng rằng nó là xấu xa, thì chúng ta không thể từ bỏ nó. Điều đó có nghĩa là chúng ta chưa giác ngộ nhiều về Chánh pháp. Nhưng nếu chúng ta lắng nghe, suy ngẫm và thực hành cho đến khi thấy rõ ràng, chúng ta chắc chắn sẽ thấy những mặt trái của điều đó là xấu xa và chúng ta sẽ không bao giờ dám làm điều đó nữa. Chúng ta sẽ không dám tích trữ nó như những hạt giống để gieo trồng lại. Chúng ta sẽ phải vứt bỏ nó vì chúng ta đã thấy được tác hại mà nó gây ra. |
|
Before, we heard that it was evil, and we even said that it was evil, but we still did evil. We still did things that were wrong. That was when we hadn’t yet awakened to the Dhamma. |
Trước đây, chúng ta nghe nói rằng nó là xấu xa, và thậm chí chúng ta còn nói rằng nó xấu xa, nhưng chúng ta vẫn làm điều ác. Chúng ta vẫn làm những điều sai trái. Đó là khi chúng ta chưa giác ngộ với Chánh Pháp. |
|
When someone awakens to the Dhamma, it’s like seeing a cobra, a poisonous snake slithering past. We know that this snake is poisonous, and its poison is dangerous. If it bites anyone, that person will die or suffer horribly. If we see a cobra or a banded krait, we know that its poison is fierce. Anyone it bites will have to die; if he doesn’t die, he’ll be close to death. This means that we know the snake for what it actually is. We don’t dare catch hold of it. No matter who tells us to catch it, we wouldn’t dare. This is called awakening to the Dhamma—awakening to the cobra, to the banded krait. We awaken to its poison. |
Khi một người giác ngộ Chánh Pháp, giống như nhìn thấy một con rắn hổ mang, một con rắn độc đang trườn qua. Chúng ta biết rằng con rắn này có nọc độc, và nọc độc của nó rất nguy hiểm. Nếu nó cắn ai, người đó sẽ chết hoặc chịu đau đớn khủng khiếp. Nếu chúng ta nhìn thấy một con rắn hổ mang hoặc một con rắn cạp nong, chúng ta biết rằng nọc độc của nó rất dữ dội. Bất cứ ai bị nó cắn đều phải chết; nếu không chết, người đó cũng sẽ cận kề cái chết. Điều này có nghĩa là chúng ta biết con rắn thực sự là gì. Chúng ta không dám bắt nó. Cho dù ai bảo chúng ta bắt nó, chúng ta cũng không dám. Đây được gọi là giác ngộ Chánh Pháp—giác ngộ với rắn hổ mang, với rắn cạp nong. Chúng ta giác ngộ với nọc độc của nó. |
|
It’s the same with all forms of evil. If we clearly see the harm they do, it’s not hard. We know for ourselves. All I ask is that you keep on practicing, contemplating, and you’ll know for yourselves. When you awaken to the Dhamma, the mind will be Dhamma. You’ll know the Dhamma. |
Cũng như vậy với tất cả các bất thiện pháp. Nếu chúng ta thấy rõ tác hại mà chúng gây ra, thì không khó. Chúng ta tự biết điều đó. Tất cả những gì tôi yêu cầu là các bạn hãy tiếp tục thực hành, quán tưởng, và các bạn sẽ tự biết. Khi các bạn giác ngộ Chánh Pháp, tâm sẽ là Chánh Pháp. Các bạn sẽ biết Chánh Pháp. |
Our Responsibilities |
Trách nhiệm của chúng ta |
|
When we practice we’re like a man planting a tree. He goes out and gets a tree, digs a hole, puts the tree in the hole, fills the hole with soil, waters it, gives it fertilizer, and keeps it safe from insects. These are our responsibilities. And that’s the end of our responsibilities. The responsibility of the tree is to grow. Whether it grows fast or slow, don’t force it. If you force it, you suffer. You plant it and then you think, “Hey. When is it ever going to grow so that I can get some fruit?” As soon as you start complaining, you suffer. Why? Because you don’t understand your responsibilities. You take on the responsibilities of others. You take on the responsibilities of the tree. |
Việc tu tập chúng ta giống như một người trồng cây. Ông ta đi mua một cái cây mang về và đào một cái hố, đặt cây vào hố, lấp đất, tưới nước, bón phân và bảo vệ cây khỏi sâu bệnh. Đó là trách nhiệm của chúng ta. Và đó là xong trách nhiệm của chúng ta. Trách nhiệm của cái cây là phải lớn lên. Cho dù nó lớn nhanh hay chậm, đừng thúc ép nó. Nếu bạn thúc ép nó, bạn sẽ khổ. Bạn trồng nó và rồi bạn nghĩ, “Này. Bao giờ nó mới lớn lên để tôi có thể thu hoạch quả?” Ngay khi bạn bắt đầu phàn nàn, bạn sẽ khổ. Tại sao? Bởi vì bạn không hiểu trách nhiệm của mình. Bạn gánh vác trách nhiệm của người khác. Bạn gánh vác trách nhiệm của cái cây. |
|
The tree doesn’t want anyone to take on its responsibilities. It’ll do the work itself. The person has the responsibilities of the person. The owner has the responsibilities of the owner: to keep on watering and fertilizing the tree, to keep on protecting it from insects. That’s our duty. If we do the duty of the tree —“Oho. It’s really taking a long time to grow”—we pull on it to make it tall, to make it grow, and it’ll simply die. That’s not our duty. |
Cái cây không muốn ai gánh vác trách nhiệm của nó. Nó sẽ tự làm việc. Mỗi người có trách nhiệm của chính họ. Chủ sở hữu có trách nhiệm của chủ sở hữu: tiếp tục tưới nước và bón phân cho cây, tiếp tục bảo vệ nó khỏi sâu bệnh. Đó là nhiệm vụ của chúng ta. Nếu chúng ta làm bổn phận của cái cây —“Ôi. Nó lớn thật đấy”—chúng ta kéo nó để làm cho nó cao lên, để làm cho nó lớn lên, và nó sẽ chết. Đó không phải là bổn phận của chúng ta. |
|
It’s the same when we practice our precepts well, when we practice concentration well: Discernment will arise. We keep at it gradually, continually, practicing like this, able to think like this, keeping this principle in mind, and we can be at our ease. We and the tree look after each other. The tree will grow healthy and beautiful because we look after it with our practice. As for whether it’ll grow fast or slow, leave that to your merit and perfections. But don’t abandon it. You have to keep on building your perfections all the time. |
Cũng vậy khi chúng ta giữ giới luật tốt, khi chúng ta tu tập thiền định tốt: Tuệ phân biệt sẽ phát sinh. Chúng ta cứ tiếp tục tu tập dần dần, liên tục, thực hành như vậy, có thể suy nghĩ như vậy, ghi nhớ nguyên tắc này, và chúng ta có thể an tâm. Chúng ta và cái cây chăm sóc lẫn nhau. Cái cây sẽ lớn lên khỏe mạnh và đẹp đẽ bởi vì chúng ta chăm sóc nó bằng sự thực hành của mình. Còn việc nó lớn nhanh hay chậm, hãy để điều đó cho công đức với Ba La Mật (pāramī) của mình. Nhưng đừng bỏ bê nó. Bạn phải liên tục hành trì Ba La Mật (pāramī) của mình mọi lúc. |
Cleaning the House |
Dọn dẹp nhà cửa |
|
When you construct a house, then when it’s finished, only the construction of it is finished, right? The next step is that you have to live in the house and always keep cleaning it. It’s not the case that when you finish constructing the house you can rest at your ease. That’s not the case at all. You have to keep cleaning the house continually. |
Việc bạn xây một ngôi nhà, khi nó hoàn thành, thì chỉ có việc xây dựng là hoàn thành, đúng không? Bước tiếp theo là bạn phải sống trong nhà và luôn luôn dọn dẹp nó. Không phải khi bạn xây xong nhà là bạn có thể nghỉ ngơi thoải mái. Hoàn toàn không phải vậy. Bạn phải liên tục dọn dẹp nhà cửa. |
|
It’s the same when you practice concentration. When you do concentration, you can’t think that you’ve finished doing it and now you can stop. You have to use your knowledge and mindfulness to be aware of the preoccupations that will disturb and destroy your concentration. You have to know these things. |
Cũng giống như việc bạn tu tập thiền định. Khi bạn thiền định, bạn không thể nghĩ rằng bạn đã hoàn thành và bây giờ bạn có thể dừng lại. Bạn phải tỉnh giác và chánh niệm để nhận biết những điều phiền não sẽ làm xáo trộn và phá hủy sự tập trung của bạn. Bạn phải biết những điều này. |
|
When standing, walking, sitting, and lying down, you have to keep mindfulness in charge at all times. When you finish constructing a house, you can’t say that you’ll just lie down and rest, you know. When the house gets dirty, what will you do? You’ll have to wipe it down and sweep it out, all kinds of things. It’s the same when you practice concentration. Getting the mind into concentration isn’t hard. But to keep maintaining concentration is hard. Constructing a house isn’t hard. In just a few years you’re finished. But you have to keep on cleaning the house for many, many years until it falls apart. As long as you live in it, you have to keep on cleaning it. That’s the normal way it is. |
Khi đứng, đi, ngồi và nằm, bạn phải luôn luôn giữ chánh niệm trong tầm kiểm soát. Khi bạn xây xong một ngôi nhà, bạn không thể nói rằng bạn sẽ nằm xuống và nghỉ ngơi, bạn biết đấy. Khi nhà cửa bị bẩn, bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ phải lau chùi và quét dọn, đủ loại việc. Cũng giống như khi bạn tu tập thiền định. Việc tập trung tâm không khó. Nhưng duy trì sự tập trung đó mới khó. Xây nhà không khó. Chỉ trong vài năm là xong. Nhưng bạn phải liên tục dọn dẹp nhà cửa trong nhiều năm, cho đến khi nó đổ nát. Chừng nào bạn còn sống trong đó, bạn vẫn phải tiếp tục dọn dẹp. Đó là quy luật tự nhiên. |
Better & Better |
Càng ngày càng tốt hơn |
|
When discernment arises, you can abandon your defilements. As your discernment grows, your behavior will change. You’ll abandon your old ways. It’s like going into the forest to look for fruit. At first you find some fruit that’s not especially good, but even though it’s sour, you take it. You carry it in your basket until you find fruits that are better than that. You throw the old fruits out of your basket. It’s because you see that the new ones are better that you change what you’re carrying. |
Khi tuệ phân biệt nảy sinh, bạn có thể từ bỏ những phiền não của mình. Khi tuệ phân biệt của bạn phát triển, hành vi của bạn sẽ thay đổi. Bạn sẽ từ bỏ những cách làm cũ. Nó giống như việc đi vào rừng tìm trái cây. Ban đầu bạn tìm thấy một số trái cây không ngon lắm, nhưng dù nó chua, bạn vẫn hái. Bạn mang nó trong giỏ cho đến khi tìm thấy những trái cây ngon hơn. Bạn vứt bỏ những trái cây cũ ra khỏi giỏ. Chính vì bạn thấy những trái cây mới tốt hơn nên bạn mới thay đổi những gì mình đang mang. |
|
The same with the mind: When you see the harm and drawbacks of your old ways, you keep on abandoning them. The more you look, the more you keep on abandoning. When you practice, you’ll think, “This is it. This is good.” But when you practice further—“Oh. What happened then wasn’t really refined.” So you abandon that, too. |
Tâm cũng vậy: Khi bạn thấy những tác hại và nhược điểm của những cách làm cũ, bạn từ bỏ chúng. Càng nhìn nhận, bạn càng tiếp tục từ bỏ. Khi tu tập, bạn sẽ nghĩ, “Đây rồi. Điều này thật tốt.” Nhưng khi tu tập sâu hơn—“Ồ. Những gì đã xảy ra trước đó thực sự chưa được tinh luyện.” Vì vậy, bạn cũng từ bỏ điều đó. |
The Compass |
La bàn |
|
It’s like having a compass that points north and south. You go into the forest carrying the compass with you, and it will still point north and south. But suppose that the day after you go into the forest you open your compass and decide that the south end of the needle is pointing west, and the north end of the needle is pointing east. That’s when you have to realize that it’s just a matter of your own thinking. You’re thinking wrong. The needle’s still pointing north and south all the time, but you understand that it’s pointing east and west. You “know” and you follow this kind of knowledge. But it’s an issue of your thoughts, which you can dissolve; an issue of your feelings, which you can dissolve. The compass is always pointing north and south, north and south, but you feel that it’s pointing east and west. The mistake is with you. |
Nó giống như việc bạn có một chiếc la bàn chỉ hướng bắc và nam. Bạn mang theo la bàn vào rừng, và nó vẫn sẽ chỉ hướng bắc và nam. Nhưng giả sử sau khi bạn đã vào trong rừng và ngày hôm sau, bạn mở la bàn ra và thấy đầu kim phía nam chỉ hướng tây, còn đầu kim phía bắc chỉ hướng đông. Lúc đó bạn mới nhận ra rằng đó chỉ là vấn đề suy nghĩ của chính bạn. Bạn đang suy nghĩ sai. Kim la bàn vẫn luôn chỉ hướng bắc và nam, nhưng bạn lại cảm thấy nó chỉ hướng đông và tây. Bạn “biết” và bạn tin theo kiến thức này. Nhưng đó là vấn đề của suy nghĩ, mà bạn có thể loại bỏ; vấn đề của cảm xúc, mà bạn cũng có thể loại bỏ. La bàn luôn chỉ hướng bắc và nam, nhưng bạn lại cảm thấy nó chỉ hướng đông và tây. Sai lầm là ở bạn. |
The Saltiness of Salt
|
Vị mặn của muối |
|
Buddhism is like salt. Salt is always salty. Whoever eats it will find that it’s always salty. Whoever doesn’t eat it won’t taste the saltiness. In the same way, Buddhism can’t degenerate. People degenerate. Buddhism doesn’t degenerate. |
Phật giáo giống như muối. Muối luôn luôn mặn. Ai ăn nó sẽ thấy nó luôn luôn mặn. Ai không ăn nó sẽ không cảm nhận được vị mặn. Cũng như vậy, Phật giáo không thể suy thoái. Con người mới suy thoái. Phật giáo không suy thoái. |
|
Some people see monks behaving in a bad way and they blame Buddhism. It’s like a person who doesn’t eat salt and complains that salt isn’t salty. Actually, the saltiness of salt is there all the time. If anyone eats the salt, the saltiness will appear. That’s the way it is with Buddhism. |
Một số người thấy các nhà sư có những hành vi không đúng mực và họ đổ lỗi cho Phật giáo. Điều đó giống như một người không ăn muối mà lại phàn nàn rằng muối không mặn. Thực ra, vị mặn của muối luôn luôn hiện hữu. Nếu ai ăn muối, vị mặn sẽ xuất hiện. Phật giáo cũng vậy. |
Lead vs. Gold |
Chì so với Vàng |
|
I’ll ask you a question. Suppose there’s a hunk of lead weighing one kilogram and a hunk of gold weighing one kilogram. If you were to ask people to take one of them, which one would they take? |
Tôi hỏi bạn một câu. Giả sử có một cục chì nặng một kilogram và một cục vàng nặng một kilogram. Nếu bạn hỏi mọi người chọn một trong hai, họ sẽ chọn cái nào? |
|
It’s the same with your son deciding to ordain for life. He sees that ordaining has more value. He sees the whole world as a hunk of lead with no value. That’s why he doesn’t want it. It’s the same as your wanting the kilogram of gold and not the kilogram of lead. Why? Because the lead has less value—or no value at all. That’s why you decide to take the gold. |
Cũng giống như việc con trai bạn quyết định thọ giới tu sĩ suốt đời. Nó thấy rằng việc thọ giới có giá trị hơn. Nó coi cả thế giới như một cục chì vô giá trị. Đó là lý do tại sao nó không muốn điều đó. Cũng giống như việc bạn muốn một kilogram vàng chứ không phải một kilogram chì. Tại sao? Bởi vì chì có giá trị thấp hơn—hoặc không có giá trị gì cả. Đó là lý do tại sao bạn quyết định chọn vàng. |
The Thinking of Earthworms |
Suy nghĩ của loài giun đất |
|
These days, Thai people are ordaining less and less. I don’t know why. Whether it’s because of their work or because the world is developing, I don’t know. In the past, people would ordain for at least four years, five years. But now there are people ordaining for seven days, fifteen days. There are even people who ordain in the morning and disrobe in the evening. It’s because of this sort of thing that Buddhism will disappear. |
Những ngày này, người Thái Lan xuất gia ngày càng ít đi. Tôi không biết tại sao. Có thể là do công việc của họ hoặc do thế giới đang phát triển, tôi không biết. Trước đây, người ta thường xuất gia ít nhất bốn năm, năm năm. Nhưng bây giờ có người chỉ xuất gia bảy ngày, mười lăm ngày. Thậm chí có người xuất gia buổi sáng và xuất gia buổi tối. Chính vì kiểu suy nghĩ này mà Phật giáo sẽ biến mất. |
|
Some people say that if people ordained the way I say—three or five years —the country wouldn’t develop. We’d run out of people staying at home; there wouldn’t be anyone making a living; we wouldn’t be able to keep up with the world. So I tell them that this kind of thinking is the thinking of earthworms. |
Một số người nói rằng nếu người ta xuất gia theo cách tôi nói – ba hoặc năm năm – thì đất nước sẽ không phát triển. Chúng ta sẽ thiếu người ở nhà; sẽ không có ai làm việc để nuôi sống gia đình; chúng ta sẽ không thể theo kịp thế giới. Vì vậy, tôi nói với họ rằng kiểu suy nghĩ này là suy nghĩ của loài giun đất. |
|
Earthworms live in the dirt. They’ve been eating dirt from the very beginning. But even though they keep on eating, they’re afraid that they’ll run out of dirt. So when they excrete dirt, they put it up next to their heads to eat, for they’re afraid they’ll run out of dirt. This is the thinking of earthworms. People who think that the world won’t develop, that it’ll come to an end: That’s the thinking of earthworms. |
Giun đất sống trong đất. Từ thửa ban đầu những con giun đất đã ăn đất. Nhưng dù chúng cứ ăn mãi, chúng vẫn sợ rằng sẽ hết đất. Vậy nên khi chúng thải ra chất bẩn, chúng gom lại gần đầu để ăn, vì chúng sợ sẽ hết đất. Đó là cách suy nghĩ của giun đất. Những người nghĩ rằng thế giới sẽ không phát triển, rằng nó sẽ đi đến hồi kết: Đó là cách suy nghĩ của giun đất. |
Neither Large nor Small |
Không Lớn Cũng Không Nhỏ |
|
This bell here: Do you think it’s large or small? |
Cái chuông này đây: Anh/chị nghĩ nó lớn hay nhỏ? |
|
Small, eh? It’s not large? Hmm. Is that how you see it? This bell is a physical phenomenon. Your feeling about it is a mental phenomenon. There’s a physical phenomenon and a mental phenomenon: your mind, your intention. Craving can want to make this bell larger right now or smaller right now. |
Nhỏ à? Nó không lớn sao? Hừm. Anh/chị thấy vậy à? Cái chuông này là một hiện tượng vật lý. Cảm nhận của anh/chị về nó là một hiện tượng tinh thần. Có hiện tượng vật lý và hiện tượng tinh thần: tâm của anh/chị, ý định của anh/chị. Tham ái có thể muốn làm cho cái chuông này lớn hơn ngay bây giờ hoặc nhỏ hơn ngay bây giờ. |
|
All of you sitting here: When you look at this bell, it’s hard to answer. You don’t know whether it’s large or small because there’s nothing else to measure it against. If you put an alms bowl right here, you’ll see that the bell is small. It’s not large any more. But if there’s no alms bowl, the bell is large. Why is it like that? Everyone who says the bell is small wants it to be larger than this, and so the bell gets smaller. But actually, if the bell stands here by itself, it’s not large and it’s not small. It’s just as much as it is. What makes it large or small, if not craving?—the desire for it to be smaller or larger. The bell itself is neither large nor small. It’s just the way it is. |
Tất cả những người ngồi đây: Khi nhìn vào cái chuông này, thật khó để trả lời. Anh/chị không biết nó lớn hay nhỏ vì không có cái gì khác để so sánh. Nếu anh/chị đặt một cái bát khất thực ngay đây, anh/chị sẽ thấy rằng cái chuông nhỏ. Nó không còn lớn nữa. Nhưng nếu không có bát khất thực, cái chuông lại lớn. Tại sao lại như vậy? Tất cả những người nói rằng cái chuông nhỏ đều muốn nó lớn hơn thế này, và vì vậy cái chuông trở nên nhỏ hơn. Nhưng thực ra, nếu chiếc chuông đứng đây một mình, nó không lớn cũng không nhỏ. Nó chỉ đơn giản là như vậy. Điều gì khiến nó lớn hay nhỏ, nếu không phải là sự khao khát?—mong muốn nó nhỏ hơn hay lớn hơn. Bản thân chiếc chuông không lớn cũng không nhỏ. Nó chỉ đơn giản là như vậy. |
Why |
Tại Sao |
|
When we understand that the movements of the mind have to be the way they are on their own, that’s the way they are. They don’t “why” anyone at all. The problem is that we latch onto things. It’s like water flowing. It flows along in its water way. If you latch onto it, asking why it flows, you give rise to suffering. If you understand that it flows in line with its own affairs, there’s no suffering. |
Khi chúng ta hiểu rằng những sinh diệt của tâm phải diễn ra theo cách riêng của nó, thì đó chính là cách chúng diễn ra. Chúng không hề “hỏi tại sao” bất cứ ai cả. Vấn đề là chúng ta bám víu vào mọi thứ. Nó giống như dòng nước chảy. Nó chảy theo con đường riêng của nó. Nếu bạn bám víu vào nó, hỏi tại sao nó chảy, bạn sẽ đau khổ. Nếu bạn hiểu rằng nó chảy theo quy luật riêng của nó, thì sẽ không đau khổ. |
Grabbing Hold of a Dog |
Nắm giữ một con chó |
|
Even when you see that something is true, you can’t grab hold of it. It’s like a dog: Try grabbing hold of a dog’s leg without letting go, and it will turn around and bite you. Or a snake: Try grabbing hold of its tail, grabbing hold without letting go. It’ll simply bite you. So don’t hold on. Let it go. Put it down. |
Ngay cả khi bạn thấy điều gì đó là đúng, bạn cũng không thể nắm giữ nó. Nó giống như một con chó: Hãy thử nắm lấy chân một con chó mà không buông ra, nó sẽ quay lại và cắn bạn. Hoặc một con rắn: Hãy thử nắm lấy đuôi của nó, nắm chặt mà không buông ra. Nó sẽ chỉ cắn bạn. Vì vậy, đừng nắm giữ. Hãy buông ra. Hãy thả nó xuống. |
|
It’s the same with conventions. We act in line with conventions, but we’re taught not to grab hold of them. They’re there to use, to provide us with conveniences so that we can live. They’re not there to grab hold of them, to latch onto them to the point of giving rise to suffering and stress. The things that you understand to be right: If you latch onto them, you separate your mind into two parts—because your views have turned wrong. |
Điều tương tự cũng xảy ra với các quy ước. Chúng ta hành động phù hợp với các quy ước, nhưng chúng ta được dạy là không nên nắm giữ chúng. Chúng ở đó để sử dụng, để cung cấp cho chúng ta những tiện nghi để chúng ta có thể sống. Chúng không ở đó để nắm giữ chúng, để bám víu vào chúng đến mức gây ra đau khổ và phiền não. Những điều mà bạn hiểu là đúng: Nếu bạn bám víu vào chúng, bạn sẽ chia tâm mình thành hai phần—bởi vì quan điểm của bạn đã trở nên sai lệch. |
When the Bees Leave the Hive |
Khi Những Con Ong Rời Tổ |
|
When we see emptiness, the King of Death can’t catch up with us. Death can’t reach us. Why? Because there’s no “us.” There are just piles of form, piles of feelings, piles of perceptions, piles of fabrications, piles of consciousness, that’s all. So where’s the person? Like that beehive over there: If all the bees leave and you try to take the hive, will you touch any bees? No, because it’s empty. All you’ll touch will be the beeswax. You don’t know where the bees went, because they don’t live there anymore. |
Khi ta thấy sự rỗng vắng không tánh (emptiness), Thần Chết không thể đuổi kịp ta. Cái chết không thể với tới ta. Tại sao? Bởi vì không có “chúng ta”. Chỉ có những đống hình thức, những đống cảm xúc, những đống nhận thức, những đống hành uẩn, những đống ý thức, thế thôi. Vậy con người ở đâu? Giống như tổ ong kia: Nếu tất cả ong rời đi và bạn cố gắng lấy tổ ong, bạn có chạm vào con ong nào không? Không, bởi vì nó trống rỗng. Tất cả những gì bạn chạm vào sẽ là sáp ong. Bạn không biết ong đã đi đâu, bởi vì chúng không còn sống ở đó nữa. |
|
That’s how the Buddha taught. Take your views outside of “self” in that way, and you run out of questions. And not only do you run out of questions, there are also no answers. No questions. No one to answer the questions. That’s where everything runs out. You know what it’s like when things run out? “Running out” means there’s nothing there. |
Đó là cách Đức Phật dạy. Hãy đưa quan điểm của bạn ra khỏi “bản ngã” theo cách đó, và bạn sẽ hết câu hỏi. Và không chỉ hết câu hỏi, mà còn không có câu trả lời. Không có câu hỏi. Không ai trả lời câu hỏi. Đó là nơi mọi thứ cạn kiệt. Bạn biết cảm giác khi mọi thứ cạn kiệt là như thế nào không? “Cạn kiệt” có nghĩa là không còn gì ở đó nữa. |
Eating Out of the Shit-pot |
Ăn từ cái chậu đựng phân |
|
To see things as empty means seeing that there’s nothing there. You see that this spittoon is there, you see a cup and a plate, and the cup and the plate are there. It’s not that they’re not there, but they’re there in emptiness. They’re empty. If you ask this spittoon what it is, it won’t answer you—because it’s not anything. You can call it a spittoon if you want, but it’s just your supposition. Or you could call it a pot—it’s still just a supposition that you’ve made. Its actuality is there’s nothing to it. But we grab onto it and hold onto it firmly. |
Nhìn mọi thứ thấy trống rỗng có nghĩa là nhìn thấy rằng không có gì ở đó cả. Bạn thấy cái chậu nhổ này ở đó, bạn thấy một cái cốc và một cái đĩa, và cái cốc và cái đĩa ở đó. Không phải là chúng không ở đó, mà chúng ở đó trong sự trống rỗng. Chúng trống rỗng. Nếu bạn hỏi cái chậu nhổ này nó là gì, nó sẽ không trả lời bạn—bởi vì nó không là gì cả. Bạn có thể gọi nó là chậu nhổ nếu bạn muốn, nhưng đó chỉ là giả định của bạn. Hoặc bạn có thể gọi nó là một cái chậu—đó vẫn chỉ là một giả định mà bạn đã đưa ra. Thực tế là không có gì trong đó cả. Nhưng chúng ta lại bám víu vào nó và giữ chặt lấy nó. |
|
I’ll give you an example. Suppose there are two groups of people: one group intelligent, the other group stupid. They go to buy things in the market. The stupid group doesn’t know anything, so they buy a shit-pot and use it to fix rice—because they don’t know anything at all. The intelligent people see that and they get disgusted—“How can they use a shit-pot as a rice-pot? It’s disgusting.” |
Tôi sẽ cho bạn một ví dụ. Giả sử có hai nhóm người: một nhóm thông minh, nhóm kia thì vô minh. Họ đi mua đồ ở chợ. Nhóm vô minh không biết gì cả, vì vậy họ mua một cái chậu đựng phân và dùng nó để nấu cơm—bởi vì họ chẳng biết gì cả. Những người thông minh nhìn thấy điều đó và họ cảm thấy ghê tởm—"Sao họ có thể dùng cái nồi đựng phân làm nồi cơm? Thật kinh tởm." |
|
Why do they find it disgusting? The shit-pot is still new; it’s never been used, so it’s like an ordinary pot. It’s still clean. So why are they disgusted by it? Because they hold onto the idea that it’s a shit-pot, that’s all. Actually, it’s just an ordinary pot. They suffer and get disgusted because they cling to their ideas about it. |
Tại sao họ lại thấy ghê tởm? Cái nồi đựng phân vẫn còn mới; nó chưa từng được sử dụng, vì vậy nó giống như một cái nồi bình thường. Nó vẫn còn sạch sẽ. Vậy tại sao họ lại ghê tởm nó? Bởi vì họ vẫn giữ quan điểm rằng đó là một cái nồi đựng phân, chỉ vậy thôi. Thực ra, nó chỉ là một cái nồi bình thường. Họ khó chịu và cảm thấy ghê tởm vì họ bám víu vào những quan niệm sai lầm của mình về nó. |
|
So with these two groups of people, which one is really intelligent? Which one is really stupid? The pot is just an object, an ordinary pot that we uppose to be a shit-pot, so people get disgusted by it. If you put curry in it, they get disgusted. Put rice in it and they get disgusted—because of their wrong views, stuck on suppositions. |
Vậy trong hai nhóm người này, nhóm nào thực sự thông minh? Nhóm nào thực sự vô minh? Cái nồi chỉ là một vật thể, một cái nồi bình thường mà chúng ta cho là nồi đựng phân, vì vậy mọi người cảm thấy ghê tởm nó. Nếu bạn đựng cà ri trong đó, họ sẽ cảm thấy ghê tởm. Đựng cơm trong đó và họ cũng cảm thấy ghê tởm—bởi vì những quan điểm sai lầm của họ, bị mắc kẹt trong những giả định. |
The Parts of a Knife |
Các bộ phận của một con dao |
|
This knife placed here: It has the edge of its blade, it has the back of its blade, it has its handle—all of its parts. When you lift it up, can you lift just the edge of the blade? Can you pick up just the back of the blade? Just the handle? The handle is the handle of the knife. The back of the blade is the back of the knife’s blade. The edge of the blade is the edge of the knife’s blade. When you pick up the knife, you also pick up its handle, the back of its blade, and the edge of its blade. Could it split off just the edge of its blade for you? |
Con dao này đặt ở đây: Nó có lưỡi dao, nó có sống dao, nó có cán dao– tất cả các bộ phận của nó. Khi bạn nhấc nó lên, bạn có thể chỉ nhấc lưỡi dao lên không? Bạn có thể chỉ nhấc sống dao lên không? Chỉ cán dao thôi? Cán dao là cán dao. Sống dao là sống dao. Lưỡi dao là lưỡi dao. Khi bạn nhấc con dao lên, bạn cũng nhấc cả cán dao, sống dao và lưỡi dao. Liệu nó có thể tách rời chỉ lưỡi dao ra cho bạn không? |
|
This is an example. When you try to take just what’s good, what’s bad comes along with it. You want just what’s good and to throw away what’s bad. You don’t learn about what’s neither good nor bad. When that’s the case, you won’t come to the end of things. When you take what’s good, what’s bad comes along with it. They keep coming together. If you want pleasure, pain comes along with it. They’re connected. |
Đây là một ví dụ. Khi bạn cố gắng chỉ lấy những gì tốt, những gì xấu cũng sẽ theo. Bạn chỉ muốn những gì tốt và vứt bỏ những gì xấu. Bạn không học được về những gì không tốt cũng không xấu. Khi đó, bạn sẽ không bao giờ đi đến hồi kết. Khi bạn lấy những gì tốt, những gì xấu cũng sẽ theo. Chúng cứ liên tục xuất hiện cùng nhau. Nếu bạn muốn có khoái lạc, thì nỗi đau cũng sẽ đi kèm. Chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau. |
Knowing In-between |
Hiểu về trạng thái lưng chừng |
|
It’s like going up on the roof or coming down to the floor. When someone climbs up there, he gets on the roof. When he comes down, he comes down to the floor. If he climbs up to the roof again and falls down, he falls down to the same floor. That’s all that most people know. No one knows being in-between because there’s nothing to measure it. When they say that in-between there’s no state of becoming, we can’t point it out. We can’t point it out because there’s nothing to mark it. |
Nó giống như việc leo lên mái nhà hoặc xuống sàn nhà. Khi ai đó leo lên, họ lên mái nhà. Khi họ xuống, họ xuống sàn nhà. Nếu họ leo lên mái nhà lần nữa và ngã xuống, họ sẽ ngã xuống cùng một sàn nhà. Đó là tất cả những gì hầu hết mọi người biết. Không ai biết trạng thái lưng chừng là gì bởi vì không có gì để đo lường nó. Khi người ta nói rằng ở giữa không có trạng thái nào là hiện hữu, chúng ta không thể chỉ ra nó. Chúng ta không thể chỉ ra nó bởi vì không có gì để đánh dấu nó. |
|
The questions we have to answer are the questions of the practice. Students for the most part want to know what merit looks like, what evil looks like, how many leaves there are on a tree, how many roots. If you want to know that sort of thing, the Buddha would probably say you’re stupid, because all you really need to know is a single leaf. Every leaf on a rubber tree is just the same. The same with the roots: All you need to see is a single root. |
Những câu hỏi chúng ta phải trả lời là những câu hỏi về thực hành. Hầu hết học viên muốn biết thiện như thế nào, bất thiện trông như thế nào, trên cây có bao nhiêu lá, có bao nhiêu rễ. Nếu bạn muốn biết những điều như vậy, Đức Phật có lẽ sẽ nói bạn vô minh, bởi vì tất cả những gì bạn thực sự cần biết chỉ là một chiếc lá. Mỗi chiếc lá trên cây cao su đều giống nhau. Cũng vậy với rễ cây: Tất cả những gì bạn cần thấy chỉ là một cái rễ. |
|
It’s the same with knowing people. If you really know yourself, that’s enough. You know every person in the world. |
Việc hiểu biết người khác cũng vậy. Nếu bạn thực sự hiểu chính mình, thế là đủ. Bạn hiểu mọi người trên thế giới này. |
When the Cabinet is Done |
Khi Chiếc Tủ Hoàn Thành |
|
I want us all to have endurance—enduring until there’s no more endurance. In other words, as soon as you see the truth, you let go. When you let go, you see peace arising. When peace arises, you don’t have to practice—because you’ve finished practicing. It’s like a cabinet. Before, it was a tree, but there was a problem that required making a cabinet. The tree was cut and shaped because there was still a reason to make the cabinet. Once the cabinet is finished and we’ve coated it with shellac and put it on display, that’s the end of having to do anything. It ends right there in the cabinet. |
Tôi muốn tất cả chúng ta đều kiên nhẫn—kiên nhẫn cho đến khi không còn sức chịu đựng nữa. Nói cách khác, ngay khi bạn nhìn thấy sự thật, bạn hãy buông bỏ. Khi bạn buông bỏ, bạn sẽ thấy sự bình an xuất hiện. Khi bình an xuất hiện, bạn không cần phải tu tập nữa—vì bạn đã hoàn thành việc tu tập. Nó giống như một chiếc tủ. Trước đây, nó là một cái cây, nhưng có một vấn đề cần phải làm thành một chiếc tủ. Cái cây được đốn hạ và tạo hình vì vẫn còn lý do để làm chiếc tủ. Một khi chiếc tủ đã hoàn thành, được phủ lớp sơn bóng và được đem ra trưng bày, thì đó là kết thúc của việc phải làm bất cứ điều gì. Nó kết thúc ngay tại đó, trong chiếc tủ. |
|
Before, this cabinet was a tree; now, it’s beautiful cabinet. We can say that what once wasn’t beautiful has turned into something beautiful. |
Trước đây, chiếc tủ này là một cái cây; bây giờ, nó là một chiếc tủ đẹp. Chúng ta có thể nói rằng những gì từng không đẹp đã biến thành một thứ đẹp. |
|
It’s the same with all of us. All of us have been run-of-the-mill people. And not just us—even the Buddha was just the same. He started out ignorant. That’s how he came to know. Wherever there’s dirtiness, there’s cleanliness right there. When you wash that spot, the cleanliness doesn’t arise anywhere else. Wherever there’s disturbance, there’s peace right there. Wherever there’s wrongness, there’s rightness right there. They’re together, both of them, right there. Wherever there’s greed, aversion, and delusion, there’s lack of greed, lack of aversion, lack of delusion right there. |
Điều đó cũng tương tự với tất cả chúng ta. Tất cả chúng ta đều từng là những người bình thường. Và không chỉ chúng ta—ngay cả Đức Phật cũng vậy. Ngài bắt đầu từ sự vô minh. Đó là cách Ngài đạt được tri thức. Ở đâu có sự dơ bẩn, ở đó có sự sạch sẽ. Khi bạn rửa sạch chỗ đó, sự sạch sẽ sẽ không lan sang bất cứ nơi nào khác. Ở đâu có sự xáo trộn, ở đó có sự bình yên. Ở đâu có sự sai trái, ở đó có sự đúng đắn. Chúng cùng tồn tại, ngay tại đó. Ở đâu có tham, sân và si, ở đó có sự thiếu vắng vô tham, thiếu vắng vô sân, thiếu vắng vô si. |
Our Own Affair |
Việc Của Chúng Ta |
|
Eventually, the teachings run out. When you know causes, you let go of causes. When you know results, you let go of results. So where will you stay? Above causes and beyond results. Above birth and beyond death. That’s where you stay. You stay where everything is ended and runs out. The mind is at peace, away from causes and results; at peace away from birth and death; at peace away from pleasure and pain. It stays in peace like that. There are no causes and effects right there. |
Cuối cùng, giáo lý cũng đi đến hồi kết. Khi bạn biết nhân, bạn buông bỏ nhân. Khi bạn biết quả, bạn buông bỏ quả. Vậy bạn sẽ ở đâu? Trên nhân và ngoài quả. Trên sinh và ngoài diệt. Đó là nơi bạn ở. Bạn ở nơi mọi thứ kết thúc và chấm dứt. Tâm an nghỉ, không vướng bận nhân quả; an nghỉ không vướng bận sinh tử; an nghỉ không vướng bận hạnh phúc và khổ đau. Nó cứ an nghỉ như vậy. Ở đó không còn nhân quả nữa. |
|
Once you’re above causes and beyond results, that’s the end point of what we’re practicing. We aim right there. That’s why the Buddha taught only that far. After that, what we practice is our own affair. Where we continue to go is our own affair. He taught only this far. He has a boat and an oar, and he gives it to us: both the boat and the oar. If we paddle with it, the boat will go forward. If we don’t paddle with it, the boat stays where it is. It’s our own affair. |
Một khi bạn đã vượt lên trên nhân và quả, đó là điểm cuối cùng của những gì chúng ta đang tu tập. Chúng ta hướng đến đó. Đó là lý do tại sao Đức Phật chỉ dạy đến đó. Sau đó, những gì chúng ta tu tập là việc của riêng chúng ta. Chúng ta tiếp tục đi đến đâu là việc của riêng chúng ta. Ngài chỉ dạy đến đây. Ngài có một chiếc thuyền và một mái chèo, và Ngài trao cho chúng ta: cả thuyền và mái chèo. Nếu chúng ta chèo, thuyền sẽ tiến về phía trước. Nếu chúng ta không chèo, thuyền sẽ ở yên tại chỗ. Đó là việc của riêng chúng ta. |
In the Cage |
Trong Lồng |
|
Whether we’re happy or sad, feel pleasure or pain, cry or sing, as long as we’re in this world, these things happen in a cage. We don’t escape from the cage. Even if we’re wealthy, we’re in a cage. If we’re poor, we’re in a cage. If we cry, we’re in a cage. If we dance, we’re dancing in a cage. Which cage? The cage of birth, aging, illness, and death. |
Dù ta vui hay buồn, cảm thấy sung sướng hay đau khổ, khóc hay hát, miễn là ta còn sống trên đời này, những điều đó đều diễn ra trong một cái lồng. Ta không thể thoát khỏi cái lồng. Ngay cả khi giàu có, ta vẫn ở trong lồng. Nếu nghèo, ta vẫn ở trong lồng. Nếu khóc, ta ở trong lồng. Nếu nhảy múa, ta đang nhảy múa trong lồng. Lồng nào? Lồng của sinh, lão, bệnh và tử. |
|
It’s like a mourning dove we keep in our home. We simply listen to its song and we praise it. “How pretty, the sound of my dove! My dove has a low voice. My dove has a high voice”—that sort of thing. We never ask the dove if it’s enjoying itself or not. We give it rice to eat and water to drink, but everything is in the cage. And yet we think that the dove is satisfied. |
Giống như con chim bồ câu mà ta nuôi trong nhà. Ta chỉ đơn giản lắng nghe tiếng hót của nó và khen ngợi nó. “Tiếng hót của chim bồ câu nhà ta hay quá! Chim bồ câu nhà ta hót trầm. Chim bồ câu nhà ta hót cao”—kiểu như vậy. Ta không bao giờ hỏi chim bồ câu xem nó có thích thú hay không. Ta cho nó ăn cơm và uống nước, nhưng mọi thứ đều ở trong lồng. Vậy mà ta lại nghĩ rằng chim bồ câu đã hài lòng. |
|
Have we ever stopped to think: If someone gave us rice and water and put us in a cage, would we be happy? In the same way, we’re caged in this world. “This is mine, I have this, I have that”—all kinds of things. But we don’t understand our own condition. Actually, we’re gathering stress and suffering into ourselves because we don’t look deeply into ourselves, in the same way that we don’t look deeply into the dove. It looks like it’s living comfortably. It can drink water and eat food, and we think that it’s happy. The same with us: Even though we live in extreme pleasure and comfort, once we’re born we’ll then have to grow old; when we’re old, we’ll then have to grow sick; when we’re sick, we’ll then have to die. This is suffering. This is the way we suffer. |
Đã bao giờ chúng ta dừng lại để suy nghĩ: Nếu ai đó cho chúng ta cơm và nước rồi nhốt chúng ta vào lồng, liệu chúng ta có hạnh phúc không? Cũng giống như vậy, chúng ta bị giam cầm trong thế giới này. “Đây là của tôi, tôi có cái này, tôi có cái kia”—tất cả những thứ đó. Nhưng chúng ta không hiểu tình trạng của chính mình. Thực ra, chúng ta đang tích tụ phiền não và đau khổ vào bản thân vì chúng ta không nhìn sâu vào chính mình, cũng giống như chúng ta không nhìn sâu vào con chim bồ câu. Trông nó có vẻ sống thoải mái. Nó có thể uống nước và ăn thức ăn, và chúng ta nghĩ rằng nó hạnh phúc. Cũng vậy với chúng ta: Mặc dù sống trong sự sung sướng và thoải mái tột độ, nhưng một khi được sinh ra, chúng ta sẽ phải già đi; khi già đi, chúng ta sẽ phải ốm đau; khi ốm đau, chúng ta sẽ phải chết. Đây là sự đau khổ. Đây là cách chúng ta đau khổ. |
Filling the Glass |
Đổ đầy ly nước |
|
The way that people think once they’re born is that, having been born, they don’t want to die. Is that the right way to think? Take this glass here. If we pour water into it and yet don’t want it to be full—if we keep on pouring water into it and yet don’t want to be full—can we get what we want? It’s the same with people once they’re born. Once they’re born, they don’t want to die. Is that kind of thinking right? If things could really be that way, with everybody born and not having to die, we’d suffer even more than we do now. If nobody born into this world ever died, we’d all be eating one another’s shit. Where could we go to get away? |
Cách mà mọi người nghĩ khi mới sinh ra là, vì đã được sinh ra, họ không muốn chết. Đó có phải là cách nghĩ đúng đắn? Hãy cầm lấy chiếc ly này. Nếu ta cứ rót nước vào mà không muốn ly đầy – nếu ta cứ tiếp tục rót nước vào mà không muốn ly đầy – liệu ta có đạt được điều mình muốn không? Cũng giống như vậy với con người khi mới sinh ra. Khi đã sinh ra, họ không muốn chết. Kiểu suy nghĩ đó có đúng không? Nếu mọi chuyện thực sự có thể như thế, nếu tất cả mọi người sinh ra đều không phải chết, chúng ta sẽ còn đau khổ hơn bây giờ. Nếu không ai sinh ra trên thế giới này mà chết đi, chúng ta sẽ chỉ ăn phân của nhau. Chúng ta có thể đi đâu để trốn thoát? |
|
It’s like the water in this glass: Can you keep on pouring it in without wanting the glass to be full? That’s the way it is with the world. Get things into perspective. You can’t want not to die. That’s the way it has to be. |
Nó giống như nước trong ly này: Bạn có thể cứ tiếp tục rót nước vào mà không muốn ly đầy không? Thế giới cũng vậy. Hãy nhìn nhận mọi việc một cách khách quan. Bạn không thể muốn không chết. Đó là điều không thể tránh khỏi. |
Mindfulness of Death |
Quán chiếu về cái chết |
|
If you were to break the law, and in seven days they were going to execute you, how would you feel? If you were sentenced to death, and in seven days they were going to execute you, what would you do? I want you to reflect on this. As you are, you’re already sentenced to be executed, simply that you don’t know how many days you’ve got left. It might even be less than seven. Do you have a sense of this? You’re already sentenced to death. They’re going to have to execute you, but if you don’t know, you don’t feel anything. But if you were to break the law and the authorities were to catch you and execute you in seven days—oh, you’d really suffer. |
Nếu bạn phạm tội và bị xử tử trong bảy ngày, bạn sẽ cảm thấy thế nào? Nếu bạn bị kết án tử hình và bị xử tử trong bảy ngày, bạn sẽ làm gì? Tôi muốn bạn suy ngẫm về điều này. Hiện tại, bạn đã bị kết án tử hình, chỉ là bạn không biết mình còn bao nhiêu ngày nữa. Thậm chí có thể ít hơn bảy ngày. Bạn có cảm nhận được điều này không? Bạn đã bị kết án tử hình rồi. Họ sẽ phải xử tử bạn, nhưng nếu bạn không biết, bạn sẽ không cảm thấy gì cả. Nhưng nếu bạn phạm tội và chính quyền bắt được bạn và xử tử bạn trong bảy ngày – ôi, bạn sẽ thực sự đau khổ. |
|
This is mindfulness of death. Death is going to execute you in just a day or two. When you’re not aware of this, you relax. You have to think in this way so that you give rise to the conviction needed to practice the Dhamma. That’s why the Buddha has you practice mindfulness of death at all times. Normally, when you think of death, it scares you, so you don’t want to think about it. And when that’s the case, how can you not be stupid? You’ve already fallen into that condition, but you have no sense of yourself. So you relax. But if you come to your senses and contemplate mindfulness of death at all times, you’ll hurry up and make the effort to escape from danger. How can you just sit there? If you were to break the law and in seven days they were planning to execute you, could you simply take it easy? You’d have to hurry up and find a way out. |
Đây là Quán chiếu về cái chết. Cái chết sẽ đến với bạn chỉ trong một hoặc hai ngày nữa. Khi bạn không nhận thức được điều này, bạn sẽ thư giãn. Bạn phải suy nghĩ theo cách này để tạo ra niềm tin cần thiết để tu tập Phật pháp. Đó là lý do tại sao Đức Phật khuyên bạn nên tu tập quán chiếu về cái chết mọi lúc. Thông thường, khi nghĩ đến cái chết, bạn sẽ sợ hãi, nên không muốn nghĩ đến nó. Và khi đó, làm sao bạn không trở nên vô minh được? Bạn đã rơi vào trạng thái đó rồi, nhưng lại không còn ý thức được bản thân. Vì vậy, bạn thư giãn. Nhưng nếu bạn tỉnh táo và luôn luôn suy ngẫm về cái chết, bạn sẽ nhanh chóng tìm cách thoát khỏi nguy hiểm. Làm sao bạn có thể cứ ngồi đó? Nếu bạn phạm tội và trong bảy ngày nữa họ định hành quyết bạn, liệu bạn có thể thản nhiên như vậy không? Bạn phải nhanh chóng tìm cách thoát thân. |
webmasters: Nguyễn Văn Hoà & Minh Hạnh |
|