|
|
|
|
On August 23, 1978, Sanya Dhammasak, the Chief Privy Councilor, along with his family, visited Wat Nong Pa Pong to pay respect to Ven. Ajahn Chah. In the midst of their Dhamma conversation, Ajahn Chah gave a Dhamma talk that is transcribed and translated here. |
Vào ngày 23 tháng 8 năm 1978, ông Sanya Dhammasak, Chánh Văn phòng Hội đồng Cơ mật Hoàng gia, cùng gia đình đã đến thăm chùa Wat Nong Pa Pong để tỏ lòng kính trọng đối với Hòa thượng Ajahn Chah. Trong cuộc trò chuyện về Phật pháp, Hòa thượng Ajahn Chah đã thuyết giảng một bài pháp thoại, bài giảng này được thâu âm và dịch lại ở đây. |
|
… START when these things are still far away. Do your duty when they’re still far away. |
… Hãy bắt đầu khi những điều đó vẫn còn ở rất xa. Hãy làm tròn bổn phận của bạn khi chúng vẫn còn ở rất xa. |
|
Yes, sir. |
Vâng, thưa Ngài |
|
It’s like a poisonous snake. If we see it from far away, we’re not afraid of it. Even though it’s poisonous, we’re not afraid of it because we see it first. But if you run into it when you don’t have enough time to think… It’s the same with feelings. You have to keep on contemplating, keep on meditating so that you can destroy them. You have to start when they’re still far away, and keep on contemplating. |
Nó giống như một con rắn độc. Nếu chúng ta nhìn thấy nó từ xa, chúng ta sẽ không sợ hãi. Mặc dù là con rắn độc, chúng ta vẫn không sợ vì chúng ta đã nhìn thấy nó trước. Nhưng nếu bất ngờ gặp phải nó mà không có đủ thời gian để suy nghĩ… Cảm thọ cũng vậy. Bạn phải liên tục quán chiếu, liên tục thiền định để có thể chế ngự chúng. Bạn phải bắt đầu khi chúng vẫn còn ở xa, và tiếp tục quán chiếu. |
|
This means that you have to start before there’s a feeling, or do you start when the feeling’s already there? |
Điều này có nghĩa là bạn phải bắt tay vào việc trước khi cảm thọ xuất hiện, hay bạn bắt đầu khi cảm thọ đã hiện hữu rồi? |
|
No. No. Before there’s a feeling. Before there’s a feeling. |
Không. Không. Trước khi có cảm thọ. Trước khi có cảm giác |
|
Kind of like recollection of death. |
Giống như quán chiếu về cái chết. |
|
Yes. That’s right. |
Vâng. Đúng vậy. |
|
We keep on thinking about death. |
Chúng ta vẫn luôn quán chiếu về cái chết. |
|
But recollection of death and feelings are not the same. They’re not the same. When death comes, you simply die. But with these feelings, they fight you. They attack you all of a sudden; they’re fighting you right now. You’re shooting at each other. With recollection of death, you’re already dead. |
Nhưng việc quán chiếu cái chết và những cảm thọ không giống nhau. Chúng không giống nhau chút nào. Khi cái chết đến, bạn chỉ đơn giản là chết. Nhưng với những cảm xúc này, chúng chống lại bạn. Chúng tấn công bạn đột ngột; chúng đang chiến đấu với bạn ngay lúc này. Bạn và chúng đang bắn nhau. Còn với việc nhớ lại cái chết, bạn đã chết rồi. |
|
If there’s a really strong feeling, and we… |
Nếu có một cảm thọ thực sự mạnh mẽ, và chúng ta… |
|
Regardless of how far it goes, it doesn’t matter. Or regardless of which direction it comes from, focus on the body and the mind. Focus on these two things, and everything else gathers right there. For your practice to be correct, for you to know all the things that are right and wrong, it has to come down to the body and the mind. The body and the mind are what lead us to pleasure or to pain. They’re connected like the links in a chain. |
Cho dù nó đi xa đến đâu, điều đó không quan trọng. Hoặc bất kể nó đến từ hướng nào, hãy tập trung vào thân và tâm. Hãy tập trung vào hai điều này, và mọi thứ khác sẽ hội tụ lại ở đó. Để việc tu tập của bạn được đúng đắn, để bạn biết tất cả những điều đúng và sai, tất cả phải quy về thân và tâm. Thân và tâm là những thứ dẫn chúng ta đến niềm vui hoặc nỗi đau. Chúng được kết nối với nhau như những mắt xích trong một chuỗi. |
|
This is why the practice is so extremely important. It’s this way with everything: If we’ve known or seen something but don’t practice with it, it’s like getting just the rind. Suppose we’ve been given a fruit: Whether it’s sour or sweet, if once we get it we don’t practice with it, if we just hold it, we don’t know how sour or sweet it is. When we’re just holding it with in our hand, can our hand sense the sourness? No, it can’t. Can it sense the sweetness? No, it can’t. Even though we’re holding it in our hand, we don’t get much benefit from it. We’ve only heard that it’s sour or heard that it’s sweet. We simply hold it in our hand, so we don’t get the full benefits from it. Why is that? Because we haven’t yet practiced with it—in other words, we haven’t yet eaten it to the point of knowing its taste. |
Đây là lý do tại sao việc tu tập lại vô cùng quan trọng. Mọi thứ đều như vậy: Nếu chúng ta biết hoặc nhìn thấy điều gì đó nhưng không thực hành, thì cũng giống như chỉ nhận được vỏ ngoài. Giả sử chúng ta được cho một loại trái cây: Cho dù nó chua hay ngọt, nếu chúng ta chỉ cầm nó mà không thực hành, không nếm thử, thì chúng ta sẽ không biết nó chua hay ngọt đến mức nào. Khi chúng ta chỉ cầm nó trong tay, liệu bàn tay có cảm nhận được vị chua không? Không, không thể. Liệu nó có cảm nhận được vị ngọt không? Không, cũng không thể. Mặc dù chúng ta đang cầm nó trong tay, chúng ta không nhận được nhiều lợi ích từ nó. Chúng ta chỉ nghe nói rằng nó chua hoặc nghe nói rằng nó ngọt. Chúng ta chỉ đơn giản là cầm nó trong tay, vì vậy chúng ta không nhận được đầy đủ lợi ích từ nó. Tại sao lại như vậy? Bởi vì chúng ta chưa thực hành với nó – nói cách khác, chúng ta chưa ăn nó để biết được hương vị của nó. |
|
But once we’ve eaten the fruit, the fruit will show us its sourness or sweetness, its deliciousness. Only then will we know. Once we know in this way, we become a sakkhībhūto: We become our own witness. As long as we don’t know for ourselves, we have only outside witnesses: the people who gave us the fruit. They say it’s sour, they say it’s sweet, but we haven’t become a sakkhībhūto. The knowledge isn’t really our own. We simply believe what other people say. |
Nhưng một khi chúng ta đã ăn loại trái cây đó, trái cây đó sẽ cho chúng ta biết vị chua hay ngọt, vị ngon của nó. Chỉ khi đó chúng ta mới biết. Một khi chúng ta biết theo cách này, chúng ta trở thành một sakkhībhūto: nghĩa là lấy chính bản thân mình đã thử nghiệm điều đó để làm nhân chứng cho chân lý. Chừng nào chúng ta chưa tự mình biết, chúng ta chỉ có những nhân chứng bên ngoài: những người đã cho chúng ta trái cây. Họ nói nó chua, họ nói nó ngọt, nhưng chúng ta chưa trở thành một sakkhībhūto. Kiến thức đó thực sự không phải là của chúng ta. Chúng ta chỉ đơn giản là tin vào những gì người khác nói. “sakkhībhūto” - nghĩa là lấy chính bản thân mình đã thử nghiệm điều đó để làm nhân chứng cho chân lý. |
|
The Buddha said that he didn’t praise those who simply believe what other people say. He praised those who knew paccattaṁ: personally, for themselves. It’s like the fruit: If you’ve tasted the fruit for yourself, you don’t have to go asking other people whether it’s sour or sweet. The problem is over. Why is it over? Because you know in line with the truth. You know the truth. The problem is over. There’s no more difficulty. When the problem is over, that’s the end of the matter. Why is it the end? You’ve reached the truth; you know it thoroughly, and your doubts are ended. Your doubts are ended as to whether it’s sour or sweet. This is what it means to know the Dhamma, to reach the Dhamma: You’re a person who’s reached the sourness or sweetness of the fruit. The problem is ended in this way. This is what we can compare it to. |
Đức Phật nói rằng Ngài không tán dương những người chỉ đơn thuần tin vào những gì người khác nói. Ngài tán dương những người biết: tự mình trải nghiệm, tự mình chứng đạt (paccattaṁ). Điều đó giống như trái cây: Nếu bạn đã tự mình nếm thử trái cây, bạn không cần phải hỏi người khác xem nó chua hay ngọt. Vấn đề đã được giải quyết. Tại sao lại được giải quyết? Bởi vì bạn biết đúng với sự thật. Bạn biết sự thật. Vấn đề đã được giải quyết. Không còn khó khăn nữa. Khi vấn đề được giải quyết, đó là kết thúc của mọi chuyện. Tại sao lại kết thúc? Bạn đã đạt đến sự thật; bạn hiểu rõ nó, và những nghi ngờ của bạn đã chấm dứt. Những nghi ngờ của bạn về việc nó chua hay ngọt đã chấm dứt. Đây là ý nghĩa của việc hiểu biết Pháp, đạt đến Pháp: Bạn là người đã nếm trải vị chua hay ngọt của trái cây. Vấn đề được giải quyết theo cách này. Đây là điều chúng ta có thể so sánh. |
|
To listen to the Dhamma so as to give rise to knowledge within you—You could say that there are lots of things to explain, but the Buddha has us know just four things: He has us know stress (dukkha), know the cause of stress, know the disbanding of stress, and know the path of practice leading to the disbanding of stress. That’s all there is. All the things we practice come down to these things: to know stress, to know the cause of stress, to know the disbanding of stress, and to know the path of practice leading to the disbanding of stress. When you know these four things, that’s all there is to it—for you really know stress, you know its cause, you know its disbanding, and you know the path of practice leading to its disbanding. When you know these four things clearly and thoroughly, that’s called the end of the problem. |
Để lắng nghe giáo pháp để trí tuệ được phát sinh trong tâm mình – Bạn có thể nói có rất nhiều điều cần giải thích, nhưng Đức Phật chỉ dạy chúng ta biết bốn điều: Ngài dạy chúng ta biết khổ (dukkha), biết nguyên nhân của khổ, biết sự chấm dứt khổ, và biết con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Chỉ có vậy thôi. Tất cả những gì chúng ta thực hành đều quy về những điều này: biết khổ, biết nguyên nhân của khổ, biết sự chấm dứt khổ, và biết con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt khổ. Khi bạn biết bốn điều này, thì mọi chuyện đã xong – vì bạn thực sự biết khổ, biết nguyên nhân của nó, biết sự chấm dứt của nó, và biết con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt của nó. Khi bạn biết bốn điều này một cách rõ ràng và thấu đáo, đó được gọi là sự chấm dứt vấn đề. |
|
Where do these four things arise? They arise in two things: in this body and mind, that’s all. They don’t lie anywhere far away. It’s like all of you who’ve come today: Each of you has brought a complete body and mind here. So why did the Buddha analyze the Dhamma so broadly? So as to explain these things in detail, in all their parts, so that we can take them and focus on knowing them. |
Bốn điều này phát sinh từ đâu? Chúng phát sinh từ hai thứ: thân và tâm, chỉ có vậy thôi. Chúng không nằm ở đâu xa xôi cả. Giống như tất cả các bạn đến đây hôm nay: Mỗi người đều mang theo thân và tâm hoàn chỉnh. Vậy tại sao Đức Phật lại phân tích giáo pháp rộng rãi đến vậy? Là để giải thích những điều này một cách chi tiết, đầy đủ mọi khía cạnh, để chúng ta có thể nắm bắt và tập trung vào việc hiểu biết chúng. |
|
For example, with the body, he told us to break it down to hair of the head, hair of the body, nails, teeth, skin—all kinds of things. He told us to analyze it into its different parts so that we can be adept at seeing the body in line with the truth of these conditions. If we don’t know in line with the truth, we won’t know stress, its cause, its disbanding, and the path of practice leading to its disbanding. When we don’t know these things, we won’t know the steps of the practice. |
Ví dụ, về thân, Ngài dạy chúng ta hãy phân tích từng phần trên thân gồm tóc trên đầu, lông trên cơ thể, móng tay, răng, da – tất cả mọi thứ. Ngài dạy chúng ta hãy phân tích nó thành các bộ phận khác nhau để chúng ta có thể thành thạo trong việc nhìn nhận thân của chúng ta theo đúng bản chất thực sự của nó. Nếu chúng ta không hiểu đúng bản chất sự thật, chúng ta sẽ không hiểu về khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, sự chấm dứt khổ đau và con đường tu tập dẫn đến sự chấm dứt khổ đau. Khi chúng ta không hiểu những điều này, chúng ta sẽ không biết các bước tu tập. |
|
So when you listen to the Dhamma here in the present, it’s just for you to give rise to the discernment that knows these four things. All four of these things arise right at your own body and mind. That’s why the Buddha taught the Dhamma. Where is the Dhamma? The Buddha said that the Dhamma is everywhere. There’s nowhere that doesn’t have Dhamma. The Dhamma is in every place. Physical things are Dhamma. Mental events are Dhamma. When this is the case, you have to understand that we’re all born into the Dhamma. We’re right next to the Dhamma at all times. |
Vì vậy, khi bạn lắng nghe Pháp ở đây vào thời điểm hiện tại, điều đó chỉ nhằm giúp bạn phát sinh trí tuệ nhận biết bốn điều này. Cả bốn điều này đều xuất hiện ngay trong thân và tâm của chính bạn. Đó là lý do tại sao Đức Phật dạy Pháp. Pháp ở đâu? Đức Phật nói rằng Pháp ở khắp mọi nơi. Không có nơi nào không có Pháp. Pháp hiện diện ở mọi nơi. Vật chất là Pháp. Các hiện tượng tâm lý cũng là Pháp. Khi hiểu được điều này, bạn sẽ nhận ra rằng tất cả chúng ta đều sinh ra trong giáo pháp. Pháp luôn ở cạnh chúng ta mọi lúc mọi nơi. |
|
When we understand in this way, then we’ll understand further that we’re not at all far from the Buddha. We’re already right next to the Buddha. So why don’t we see him? Because we’re not especially interested in practicing. The Dhamma is the Buddha; the Buddha is the Dhamma. The Buddha told Ven. Ānanda: “Pursue the practice a lot, Ānanda; cultivate the practice a lot. Whoever sees me sees the Dhamma; whoever sees the Dhamma sees me.” That shows that we’re not far from the Buddha, not far from the Dhamma. Whoever sees the Dhamma sees the Buddha; whoever sees the Buddha sees the Dhamma. Which means that we’re not far away—for the Buddha is the Dhamma; the Dhamma is the Buddha. |
Khi chúng ta hiểu theo cách này, chúng ta sẽ hiểu thêm rằng chúng ta không hề xa Đức Phật chút nào. Chúng ta đã ở ngay bên cạnh Đức Phật rồi. Vậy tại sao chúng ta không nhìn thấy Ngài? Bởi vì chúng ta không thực sự quan tâm đến việc tu tập. Pháp là Đức Phật; Đức Phật là Pháp. Đức Phật đã nói với Tôn giả Ānanda: “Hãy siêng năng tu tập, Ānanda; hãy tu tập thật nhiều. Ai thấy ta thì thấy Pháp; ai thấy Pháp thì thấy ta.” Điều đó cho thấy chúng ta không xa Đức Phật, không xa Pháp. Ai thấy Pháp thì thấy Đức Phật; ai thấy Đức Phật thì thấy Pháp. Điều đó có nghĩa là chúng ta không hề xa cách —vì Đức Phật là Pháp; Pháp là Đức Phật. |
|
When Prince Siddhartha was first born into the world, he wasn’t yet the Buddha because at that point he hadn’t yet awakened to the Dhamma. He was an ordinary unenlightened person just like us. It was only when he came to know the things that he needed to know—the noble truths of stress, the cause of stress, the disbanding of stress, and the path of practice leading to the disbanding of stress—that’s when he practiced and reached the Dhamma. Only then did he call himself the Buddha. |
Khi Thái Tử Siddhartha mới sinh ra đời, ngài chưa phải là Đức Phật, bởi vì lúc đó ngài chưa giác ngộ Chánh pháp. Ngài chỉ là một người bình thường chưa giác ngộ giống như chúng ta. Chỉ khi ngài hiểu được những điều cần phải hiểu – bốn chân lý cao thượng về khổ, nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt khổ và con đường tu tập dẫn đến sự chấm dứt khổ – thì ngài mới thực hành và đạt đến Chánh pháp. Chỉ khi đó ngài mới tự xưng là Đức Phật. |
|
For that reason, when we reach the Dhamma—wherever we are—we know the Dhamma. When we know the Dhamma, we hear the Buddha teaching us, we hear the Dhamma right there. When we understand the Dhamma, the Buddha is in our heart. The Dhamma is in our heart. The practices that give rise to intelligence are in our heart. We’ve practiced with our body, speech, and mind. |
Vì lý do đó, khi chúng ta đạt đến Chánh pháp—dù ở bất cứ đâu—chúng ta đều hiểu Chánh pháp. Khi chúng ta hiểu Chánh pháp, chúng ta nghe Đức Phật giảng dạy, chúng ta nghe Chánh pháp ngay tại đó. Khi chúng ta hiểu Chánh pháp, Đức Phật ở trong tâm chúng ta. Chánh pháp ở trong tâm chúng ta. Những pháp tu tập giúp phát sinh trí tuệ cũng ở trong tâm chúng ta. Chúng ta đã tu tập thân, khẩu và ý. |
|
[Break in the recording] |
[Không ghi âm] |
|
When, as we say, the Buddha, Dhamma, and Saṅgha are in our heart, we’re fully convinced that wherever we do good or evil, it’s all a matter of the truth. Wherever we do good, even if other people don’t see, even if nobody praises us, or if other people criticize us, it doesn’t matter. Our action is correct. We see that its correctness is in line with the truth, the truth that the Buddha said was true. |
Khi Phật, Pháp và Tăng hiện hữu trong tâm, như chúng ta thường nói, chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng dù chúng ta làm điều thiện hay điều ác, tất cả đều là vấn đề của sự thực. Dù chúng ta làm điều thiện, ngay cả khi người khác không thấy, ngay cả khi không ai khen ngợi chúng ta, hoặc nếu người khác chỉ trích chúng ta, điều đó không quan trọng. Hành động của chúng ta là đúng. Chúng ta thấy rằng sự đúng đó phù hợp với chân lý, chân lý mà Đức Phật đã nói là đúng. |
That’s why the Buddha cast the world aside: He cast aside praise; he cast aside criticism. Whoever criticized him, he accepted that that’s the way things are. Whoever praised him, he accepted, “Oh. That’s the way things are”—for both of these things are just an affair of the world. His mind wasn’t shaken. Why? Because he understood stress. Both of these things, if he believed them, would give rise to stress. |
Điều đó là lý do tại sao Đức Phật đã để thế giới qua một bên: Ngài từ bỏ lời khen ngợi qua một bên; ngài từ bỏ lời chỉ trích qua một bên. Bất cứ ai chỉ trích ngài, ngài đều chấp nhận rằng đó là lẽ tự nhiên. Bất cứ ai ca ngợi ngài, ngài cũng chấp nhận, "Ồ, đó là lẽ tự nhiên" – vì cả hai điều này chỉ là những chuyện thuộc về thế giới. Tâm của ngài không hề bị lay động. Tại sao? Bởi vì ngài hiểu được khổ đau. Cả hai điều này, nếu ngài tin vào chúng, sẽ dẫn đến phiền não. |
|
That’s the way it is with stress: The mind is agitated. It’s ill at ease. It’s in a turmoil. Whether you’re sitting, standing, walking, or lying down, there’s nothing but agitation. That’s stress. |
Đó chính là bản chất của phiền não: Tâm bất an. Cảm thấy khó chịu. Luôn trong trạng thái hỗn loạn. Cho dù bạn đang ngồi, đứng, đi hay nằm, chỉ toàn là sự bất an. Điều đó chính là phiền não. |
|
What’s the cause that gives rise to stress? Not knowing things in line with their truth. That’s why stress arises. And when it causes stress to arise, we don’t know how to put a stop to that stress. The more we try to put an end to it—“Don’t yell at me! Don’t be jealous of me!”—the more the stress grows without stop. “Don’t do that to me! Don’t say that about me! Don’t criticize me!” The stress simply gets provoked even more and more. |
Nguyên nhân nào dẫn đến phiền não? Đó là không hiểu rõ về mọi việc theo chân lý. Đó là lý do tại sao phiền não xuất hiện. Và khi phiền não xuất hiện, chúng ta không biết cách chấm dứt nó. Càng cố gắng chấm dứt nó – “Đừng la mắng tôi! Đừng ghen tị với tôi!” – thì phiền não càng gia tăng không ngừng. “Đừng làm thế với tôi! Đừng nói những điều đó về tôi! Đừng chỉ trích tôi!” phiền não chỉ càng bị kích động thêm mà thôi. |
|
The Buddha knew the way to practice that leads to the disbanding of stress—in other words, to admit this truth into our minds, that this is the way things really are. All those things are external matters, not internal matters. The truth of what we do, of what we say, of what we intend, nobody else knows. Only we know it in our own minds. |
Đức Phật biết con đường tu tập dẫn đến sự chấm dứt phiền não – nói cách khác, là tâm chúng ta chấp nhận sự thật này, rằng mọi việc thực sự nó là như vậy. Tất cả những điều đó đều là những vấn đề nằm bên ngoài chúng ta, không phải vấn đề bên trong chúng ta. Sự thật về những gì chúng ta làm, những gì chúng ta nói, những gì chúng ta dự định, không ai khác biết được. Chỉ có chúng ta mới biết điều đó trong tâm mình. |
|
So when we know how to become sakkhībhūto, when we’re our own witness, the Buddha praises us. When people said he was good, he didn’t get carried away. When they said he was evil, he didn’t forget himself. He was independent in that way. |
Vì vậy, khi chúng ta biết cách trở thành sakkhībhūto, khi tự mình thử nghiệm cho chính mình, Đức Phật sẽ tán dương chúng ta. Khi người ta nói ngài tốt, ngài không tự mãn. Khi họ nói ngài xấu, ngài không đánh mất chính mình. Ngài độc lập theo cách đó. |
|
Good and evil are an affair of the world. When they’re an affair of the world, they’re just a preoccupation. If, when we’re struck by preoccupations, we’re shaken by preoccupations, the mind becomes a world. It keeps grasping all the time. This is called not knowing the path of practice leading to the disbanding of stress—which does nothing but provoke even more stress. |
Thiện và ác là những vấn đề của thế gian. Khi chúng là vấn đề của thế gian, chúng chỉ là những mối bận tâm. Nếu khi bị những mối bận tâm chi phối, chúng ta bị chúng làm cho xao động, thì tâm sẽ trở thành một thế giới riêng. Nó không ngừng bám víu vào mọi thứ. Điều này được gọi là không biết con đường tu tập dẫn đến sự chấm dứt khổ đau – điều mà chỉ càng gây ra thêm nhiều khổ đau hơn. |
|
So if this is the way we understand things, it means we haven’t yet won out over ourselves. We still prefer to win out over other people—and so we just lose out to ourselves. But when we win out over ourselves, we win out not only over ourselves but also over other people; we win out over preoccupations; we win out over sights, sounds, smells, tastes, tactile sensations. |
Vì vậy, nếu chúng ta hiểu mọi việc theo cách này, điều đó có nghĩa là chúng ta vẫn chưa chiến thắng được chính bản thân mình. Chúng ta vẫn thích chiến thắng người khác hơn – và vì vậy chúng ta lại thua chính bản thân mình. Nhưng khi chúng ta chiến thắng chính bản thân mình, chúng ta không chỉ chiến thắng bản thân mà còn chiến thắng cả người khác; chúng ta chiến thắng những nỗi lo lắng; chúng ta chiến thắng những sắc, thinh, vị, khí, xúc chạm. |
|
Here I’m talking about things outside. But we can take things outside and apply them inside as well. We can apply them inside as well. |
Ở đây tôi đang nói về những thứ bên ngoài. Nhưng chúng ta cũng có thể lấy những thứ bên ngoài và áp dụng chúng vào bên trong. Chúng ta hoàn toàn có thể áp dụng chúng vào bên trong. |
|
Some people know outside things but don’t know things inside. For example, the Buddha spoke a phrase telling us to “see the body in the body.” It’s not enough to know the body. We have to know the body in the body as well. We have to contemplate the body, and then contemplate the body in the body. We have to contemplate the mind, and contemplate the mind in the mind, too. If we’re a stranger to meditation, we stop right there. We’re at a loss to understand this phrase. Why know the body? What’s the body in the body? And when we’re told to know the mind, what is that mind? What are the things in the mind? We don’t understand at all—because we’re not acquainted with stress, the cause of stress, the disbanding of stress, or the path of practice leading to the disbanding of stress. We don’t put an end to the things that would put an end to stress. We’re simply too obsessed with the things that don’t give rise to… with things that don’t itch. |
Một số người chỉ biết những điều bên ngoài thân mà không biết những điều bên trong thân. Ví dụ, Đức Phật đã nói một câu rằng “hãy quán sát thân trong thân”. Chỉ biết về thân thôi chưa đủ. Chúng ta cũng phải biết về thân trong thân nữa. Chúng ta phải quán sát thân, rồi quán sát thân trong thân. Chúng ta phải quán sát tâm, và cũng phải quán sát tâm trong tâm. Nếu chúng ta xa lạ với thiền định, chúng ta sẽ dừng lại ngay tại đó. Chúng ta không thể hiểu được câu nói này. Tại sao phải biết về thân? Thân trong thân là gì? Và khi được bảo phải biết về tâm, tâm đó là gì? Những thứ trong tâm là gì? Chúng ta hoàn toàn không hiểu – bởi vì chúng ta không quen thuộc với khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, sự chấm dứt khổ đau, hay con đường tu tập dẫn đến sự chấm dứt khổ đau. Chúng ta không chấm dứt những thứ gây ra khổ đau. Chúng ta chỉ quá ám ảnh với những thứ không gây ra… những thứ không gây khó chịu. |
|
It’s like feeling an itch here on your head but scratching down there on your leg. You miss the right spot. You think that you’ll make it feel better, so you scratch your leg, even though the itch is on top of your head. This is called not being acquainted with the spot that’ll do away with the itch, and so it doesn’t work. It’s the same when stress arises and you don’t know enough to put a stop to it. You don’t know the path of practice leading to its disbanding. This sort of thing is what puts us at a loss—because we don’t realize that we’re focused on the outside. |
Nó giống như cảm giác ngứa ở trên đầu nhưng lại gãi ở dưới chân. Bạn gãi sai chỗ. Bạn nghĩ rằng việc gãi sẽ làm cho cảm giác dễ chịu hơn, nên bạn gãi chân, mặc dù chỗ ngứa lại ở trên đầu. Điều này được gọi là không biết chính xác chỗ nào cần gãi để hết ngứa, và vì vậy nó không hiệu quả. Điều tương tự cũng xảy ra khi phiền não xuất hiện và bạn không biết cách để chấm dứt nó. Bạn không biết con đường tu tập dẫn đến việc loại bỏ phiền não. Chính điều này khiến chúng ta bối rối – bởi vì chúng ta không nhận ra rằng mình đang tập trung vào những thứ bên ngoài. |
|
Form, feeling, perception, fabrications inside… Like these bodies of ours, these bodies that are sitting gathered together here, that we can see with our eyes: We call these things “bodies.” If all we see is the outside form of the body, we’re said to see only the blatant body. Seeing just this won’t be enough to put an end to stress or to the cause of stress at all. Why? Because we don’t see the inside of the body. All we see is the outside of the body. We’ll see that it’s beautiful, something of essence or value—all kinds of things. But the Buddha said that seeing only this far isn’t enough, seeing the outside like this with the eyes of the flesh. Even children can see it. Even animals can see it. It’s not hard. But as soon as we see it, we get stuck on it. We see it, but we don’t know it. We see it, we pounce on it, and it bites us. That’s the way it is. |
Sắc, thọ, tưởng, hành bên trong thân… Giống như những thân của chúng ta, những thân đang ngồi tụ tập ở đây, mà chúng ta có thể nhìn thấy bằng mắt: Chúng ta gọi những thứ này là “thân”. Nếu tất cả những gì chúng ta thấy chỉ là sắc bên ngoài của thân, thì người ta nói rằng chúng ta chỉ thấy được phần thân thô thiển. Chỉ nhìn thấy như vậy sẽ không đủ để chấm dứt khổ đau hoặc nguyên nhân của khổ đau. Tại sao? Bởi vì chúng ta không thấy được bên trong của thân. Tất cả những gì chúng ta thấy chỉ là bên ngoài của thân. Chúng ta sẽ thấy nó đẹp, có bản chất hoặc có giá trị—tất cả mọi thứ. Nhưng Đức Phật nói rằng chỉ nhìn thấy đến mức đó là chưa đủ, nhìn thấy bên ngoài như vậy bằng con mắt thịt. Ngay cả trẻ con cũng có thể nhìn thấy. Ngay cả động vật cũng có thể nhìn thấy. Điều đó không khó. Nhưng ngay khi chúng ta nhìn thấy nó, chúng ta lại bị mắc kẹt vào nó. Chúng ta nhìn thấy nó, chúng ta lao vào nó, và nó cắn chúng ta. Đó là cách mọi việc diễn ra. |
|
This is why we’re told to contemplate the body in the body, to see what’s in the body. Explore around to see what’s there in the body. When we see just the outside of the body, it’s not yet clear. We see hair of the head, hair of the body, nails, whatever, and they’re all beautiful. These are dyes that stain the heart. That’s why the Buddha said that we don’t see clearly, we don’t see the body clearly. This is why he has us look inside to see the body in the body. |
Đây là lý do tại sao chúng ta được khuyên nên quán sát thân trong thân, để thấy được những gì bên trong thân. Hãy khám phá xung quanh để xem có gì bên trong thân. Khi chúng ta chỉ nhìn thấy bên ngoài của thân, mọi thứ vẫn chưa rõ ràng. Chúng ta thấy tóc trên đầu, lông trên cơ thể, móng tay, vân vân, và tất cả đều đẹp đẽ. Đó là những thứ làm vẩn đục tâm. Đó là lý do tại sao Đức Phật nói rằng chúng ta không nhìn thấy rõ ràng, chúng ta không nhìn thấy thân một cách rõ ràng. Đây là lý do tại sao Ngài khuyên chúng ta hãy nhìn vào bên trong để thấy thân trong chính thân mình. |
|
So look to see what there is in the body in the body—inside the rind of this flesh-and-skin body here. What is there? Contemplate carefully, probe on in, and you’ll see that there are all kinds of things in this body that we human beings, when we see them, find—startling. If we explore we’ll find that it’s all startling because there are things even in your own body that you’ve never seen before. You haul them around with you everywhere you walk. When you get in a car, you haul them into the car, but you have no idea what they are, because they’re all wrapped up like a present. It’s as if we’ve gone to our relatives’ house and they give us a present all nicely wrapped. We take it, put it in our basket, and walk right home. We don’t stop to open it to see what’s inside. When we finally open it, we find, “Oh. It’s nothing but poisonous snakes.” |
Vậy hãy xem có gì bên trong thân này – bên trong lớp vỏ thịt và da này. Có gì ở đó? Hãy quán chiếu kỹ lưỡng, hãy khám phá sâu hơn, và bạn sẽ thấy rằng có đủ loại thứ trong thân này mà chúng ta khi nhìn thấy chúng, sẽ thấy – kinh ngạc. Nếu chúng ta khám phá, chúng ta sẽ thấy rằng tất cả đều đáng kinh ngạc, bởi vì ngay cả trong thân của chính bạn cũng có những thứ mà bạn chưa từng thấy trước đây. Bạn mang chúng theo khắp mọi nơi bạn đi. Khi bạn lên xe, bạn cũng mang chúng vào xe, nhưng bạn không hề biết chúng là gì, bởi vì chúng được gói lại như một món quà. Giống như chúng ta đến nhà người thân và họ tặng chúng ta một món quà được gói rất đẹp. Chúng ta nhận lấy, bỏ vào giỏ và đi thẳng về nhà. Chúng ta không dừng lại để mở ra xem bên trong có gì. Khi cuối cùng chúng ta mở ra, chúng ta thấy, "Ôi. Toàn là rắn độc." |
|
Our body is like that. We see just the outside rind and it looks beautiful, it looks pretty, it looks all kinds of things to the point where we forget ourselves, forget inconstancy, forget stress, forget not-self, forget everything. We forget to open it up. But if we look inside, we’ll see that it’s nothing you’d want to look at—this body of ours. If you put anything clean into it, it just gets dirty. |
Cơ thể chúng ta cũng giống như vậy. Chúng ta chỉ nhìn thấy lớp vỏ bên ngoài và thấy nó đẹp đẽ, hấp dẫn, đủ mọi thứ đến nỗi chúng ta quên mất bản thân, quên đi sự vô thường, quên đi khổ đau, quên đi vô ngã, quên đi tất cả mọi thứ. Chúng ta quên mở nó ra để xem bên trong. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào bên trong, chúng ta sẽ thấy rằng đó không phải là thứ mà chúng ta muốn nhìn – cơ thể của chúng ta. Nếu bạn cho bất cứ thứ gì sạch sẽ vào đó, nó sẽ trở nên dơ bẩn. |
|
The outside of the body is dirty in its way; the inside of the body is dirty in its way, too. What’s inside the body is even worse. So look inside. What’s it like in this body of ours? |
Thân bên ngoài bẩn thỉu theo cách riêng của nó; thân bên trong cơ thể cũng bẩn thỉu theo cách riêng của nó. Những gì bên trong thân thậm chí còn tồi tệ hơn. Vậy hãy nhìn vào bên trong. Bên trong thân chúng ta trông như thế nào? |
|
If you look in line with the truth, in line with the noble truths without siding with yourself, then whether you look at the outside of the body or the inside of the body—look at it; it’s really worth looking at—you’ll see that it’s enough to get you dismayed, enough to get you disillusioned, enough to get you dis-… all kinds of things. It’s enough to give rise to disenchantment. |
Nếu bạn nhìn nhận sự thật một cách khách quan, phù hợp với những chân lý cao thượng mà không thiên vị bản thân, thì dù bạn nhìn vào bên ngoài hay bên trong thân – hãy nhìn kỹ đi; điều đó thực sự đáng để xem xét – bạn sẽ thấy rằng nó đủ để khiến bạn thất vọng, đủ để khiến bạn vỡ mộng, đủ để khiến bạn… đủ mọi thứ. Nó đủ để làm nảy sinh sự chán nản. |
|
The word “disenchantment,” here, doesn’t mean that you go hating it or getting angry at it, you know. It’s simply a clearing up: the clearing up of the mind, its letting go. We see that there’s not much of value or essence here. We see all these things simply as natural, normal. And that’s the way they stay of their own accord. No matter what we want them to be, that’s simply the way they stay of their own accord. Whether we cry over them or laugh about them, that’s what these fabrications are like. The things that aren’t constant aren’t constant. The things that aren’t beautiful aren’t beautiful. That’s the way they are. Whether anyone knows about them or doesn’t know about them, that’s just the way they are of their own accord. |
Từ “sự vỡ mộng” ở đây không có nghĩa là bạn sẽ ghét bỏ hay tức giận với thân. Nó đơn giản chỉ là sự làm sáng tỏ: sự làm sáng tỏ tâm, sự buông bỏ. Chúng ta thấy rằng không có nhiều giá trị hay bản chất ở đây. Chúng ta thấy tất cả những điều này chỉ đơn giản là tự nhiên, bình thường. Và chúng vẫn giữ nguyên như vậy một cách tự nhiên. Cho dù chúng ta muốn chúng như thế nào đi nữa, chúng vẫn cứ như vậy một cách tự nhiên. Cho dù chúng ta khóc hay cười về chúng, thì bản chất của những thứ hư ảo này vẫn là như vậy. Những thứ không bất biến thì không bất biến. Những thứ không đẹp thì không đẹp. Đó là bản chất của chúng. Cho dù ai đó biết hay không biết về chúng, thì chúng vẫn cứ như vậy một cách tự nhiên. |
|
This is why the Buddha said that when sights, sounds, smells, tastes, tactile sensations, or ideas arise, we should simply let them go. When the eye sees a sight, let it go back to its home. When the ear hears a sound, let it go. When the nose smells an aroma, let it go. Let just the nose stay. When a flavor arises at the tongue, let it go. When a tactile sensation makes contact with the body, whether it’s something you like or don’t like, let it go. Let these things go back to where they came from. When an idea arises and makes contact at the mind—without any contact from outside, it just makes contact right at the mind, it’s called an idea that arises at the mind. When you hear something right now or see something right now, what makes contact at the mind: Whether it’s skillful or unskillful, let it go in line with its own affairs. When we know all of these things in this way—whether they’re pleasant, painful, or whatever—when we see that they all fall into the same pattern, that’s called meditation. |
Đây là lý do tại sao Đức Phật nói rằng khi sắc, thinh, khí, vị , xúc hoặc tưởng xuất hiện, chúng ta chỉ cần để chúng đi qua. Khi mắt nhìn thấy một hình ảnh, hãy để nó trở về nơi nó đến. Khi tai nghe thấy một âm thanh, hãy để nó trôi đi. Khi mũi ngửi thấy một mùi hương, hãy để nó trôi đi. Chỉ cần giữ lại cái mũi của mình. Khi một vị giác xuất hiện ở lưỡi, hãy để nó trôi đi. Khi một cảm giác xúc giác tiếp xúc với cơ thể, dù đó là điều bạn thích hay không thích, hãy để nó trôi đi. Hãy để những điều này trở về nơi chúng đến. Khi một ý nghĩ xuất hiện và tiếp xúc với tâm—mà không có bất kỳ sự tiếp xúc nào từ bên ngoài, nó chỉ tiếp xúc trực tiếp với tâm, đó được gọi là ý nghĩ xuất hiện trong tâm . Khi bạn nghe thấy điều gì đó ngay bây giờ hoặc nhìn thấy điều gì đó ngay bây giờ, điều gì tiếp xúc với tâm: Cho dù đó là điều thiện hay bất thiện, hãy để nó trôi đi theo quy luật riêng của nó. Khi chúng ta hiểu tất cả những điều này theo cách đó—cho dù chúng dễ chịu, đau khổ hay bất cứ điều gì khác—khi chúng ta thấy rằng tất cả chúng đều tuân theo cùng một quy luật, đó được gọi là thiền định. |
|
Meditation means making the heart still and, when it’s still, making it know. To make it still or to make it know, we have to practice with two things: the body and the mind right here, nothing else. |
Thiền định có nghĩa là làm cho tâm tĩnh lặng, và khi tâm tĩnh lặng, hãy để nó nhận biết. Để làm cho tâm tĩnh lặng hoặc để nó nhận biết, chúng ta cần tu tập với hai thứ: thân và tâm ngay tại đây, không có gì khác. |
|
Actually, all the things I’ve mentioned here are different things: sights are one sort of thing, sounds are another sort, smells another sort, flavors another sort, tactile sensations another sort, and ideas another sort. Each of these things is separate, and the Buddha has us know them to analyze them. When pleasure arises, it’s called a feeling of pleasure. When pain arises, it’s called a feeling of pain. Whether it’s pleasure or pain, he has us separate them from the mind. |
Thực ra, tất cả những điều tôi đã đề cập ở đây đều là những thứ khác nhau: cảnh vật là một loại, âm thanh là một loại khác, mùi hương là một loại khác, vị giác là một loại khác, cảm giác xúc giác là một loại khác, và ý nghĩ là một loại khác. Mỗi thứ này đều riêng biệt, và Đức Phật dạy chúng ta nhận biết chúng để phân tích chúng. Khi niềm vui xuất hiện, nó được gọi là cảm giác dễ chịu. Khi nỗi đau xuất hiện, nó được gọi là cảm giác đau khổ. Cho dù đó là niềm vui hay nỗi đau, Ngài đều dạy chúng ta nên tách chúng ra khỏi tâm. |
|
The mind is awareness, what knows. Feeling is simply a condition of pleasure or pain that we like or dislike, that sort of thing. When the mind enters in to feed on these conditions, it’s said to cling to them, to label them, or to make assumptions about the pleasure or the pain. The act of labeling or assuming: That’s an affair of the mind. The condition of pleasure or pain: That’s a condition of feeling. The awareness is the mind. The things that are called pleasure or pain are the feelings. If they’re pleasant, they’re called feelings of pleasure. If they’re painful, feelings of pain. |
Tâm là sự nhận thức, là thứ biết. Cảm giác đơn thuần là trạng thái dễ chịu hoặc khó chịu mà chúng ta thích hoặc không thích, nó như vậy. Khi tâm can thiệp vào để bám víu vào những trạng thái này, người ta nói rằng nó bám chấp vào chúng, dán nhãn cho chúng, hoặc đưa ra những giả định về sự dễ chịu hay khó chịu đó. Hành động dán nhãn hoặc đưa ra giả định: Đó là việc của tâm. Trạng thái dễ chịu hoặc khó chịu: Đó là trạng thái của cảm giác. Sự nhận thức chính là tâm. Những thứ được gọi là dễ chịu hoặc khó chịu chính là cảm giác. Nếu chúng dễ chịu, chúng được gọi là cảm giác dễ chịu. Nếu chúng khó chịu, chúng được gọi là cảm giác khó chịu. |
|
The Buddha tells us to separate the mind from the feelings. “Separating” here doesn’t mean that we tear them apart and throw them in different places. The mind has to know the pleasure; it has to know the pain—although there are times when we separate them by making the mind still. For example, when we bring the mind into full concentration, then when the mind senses the pleasure it separates it out. Because the stillness is so overflowing, the pleasure can’t enter in. Any pain can’t enter in. This is how the feeling separates out. As when we sit in concentration: If the stillness comes first and the feeling arises later, the feeling can’t enter in. The mind is oblivious to it. That means it doesn’t know the feeling. The feeling separates out on its own. |
Đức Phật dạy chúng ta phải tách tâm khỏi cảm xúc. “Tách rời” ở đây không có nghĩa là chúng ta xé chúng ra và ném chúng vào những nơi khác nhau. Tâm phải nhận biết niềm vui; nó phải nhận biết nỗi đau – mặc dù có những lúc chúng ta tách chúng ra bằng cách làm cho tâm tĩnh lặng. Ví dụ, khi chúng ta tập trung tâm hoàn toàn, thì khi tâm cảm nhận được niềm vui, nó sẽ tách niềm vui đó ra. Bởi vì sự tĩnh lặng quá tràn đầy, niềm vui không thể xâm nhập vào. Bất kỳ nỗi đau nào cũng không thể xâm nhập vào. Đây là cách cảm xúc được tách ra. Giống như khi chúng ta ngồi thiền định: Nếu sự tĩnh lặng đến trước và cảm xúc xuất hiện sau, cảm xúc không thể xâm nhập vào. Tâm không nhận biết được nó. Điều đó có nghĩa là nó không biết đến cảm xúc đó. Cảm xúc tự động tách ra. |
|
But at any rate, the feeling is the pleasure. The pleasure is called a feeling of pleasure. If pain arises, it’s called a feeling of pain. That’s the feeling. When the mind senses a feeling of pleasure, do we enter into it and cling to it? When a feeling of pain arises, do we enter into it and cling to it? We’ll know that the mind is like this, the pleasure is like that, the pain is like that, the feeling is like that. They’re different sorts of things. |
Nhưng dù sao đi nữa, cảm thọ với sự hài lòng. Sự hài lòng được gọi là cảm thọ dễ chịu. Nếu nỗi đau xuất hiện, nó được gọi là cảm thọ khổ. Đó chính là một cảm giác. Khi tâm cảm nhận được cảm thọ hài lòng, liệu chúng ta có chìm đắm vào nó và chấp thủ vào nó không? Khi cảm thọ khổ xuất hiện, liệu chúng ta có chìm đắm vào nó và chấp thủ vào nó không? Chúng ta sẽ nhận ra rằng tâm là như thế này, sự khoái lạc là như thế kia, nỗi đau là như thế nọ, cảm thọ là như vậy. Chúng là những loại cảm thọ khác nhau. |
|
You can compare it to water and oil mixed in a bottle. They’re in the same bottle, but they’re in separate parts. They can stay in the same bottle but they don’t permeate each other. Even though they’re mixed together, the oil is oil, the water is water. Why are they like that? Their density is different. Their density is different, which is why they stay separate. |
Bạn có thể so sánh điều này với nước và dầu được trộn lẫn trong một cái chai. Chúng ở trong cùng một cái chai, nhưng lại tách biệt nhau. Chúng có thể ở chung một chai nhưng không hòa tan vào nhau. Mặc dù được trộn lẫn, dầu vẫn là dầu, nước vẫn là nước. Tại sao lại như vậy? Vì mật độ của chúng khác nhau. Mật độ khác nhau là lý do khiến chúng tách biệt nhau. |
|
The same with the mind. If the mind is at normalcy, it’s neither pleasant nor painful. It’s neither pleasant nor painful, you know. When a feeling enters, pleasure and pain come in. If we’re mindful, we’ll know: “This is called pleasure.” The pleasure is pleasant, but the mind knows that the pleasure is inconstant, so it doesn’t cling to it. Is the pleasure there? It’s right there, but the mind knows it as outside the mind. It’s not buried in the mind. Even then, though, the mind knows it clearly. Or when pain arises, can the mind separate the feeling out? Is it not pained? Does it not recognize the pain? It knows. It recognizes the pain. It recognizes the pain. But it knows that the mind is the mind, the feeling is the feeling, so it isn’t able to grab hold of the pain and carry it around as “pain”… |
Tâm tương tự như thế. Nếu tâm ở trạng thái bình thường, không dễ chịu cũng không khó chịu. Nó không dễ chịu cũng không khó chịu, bạn biết đấy. Khi một cảm thọ xuất hiện, niềm vui và nỗi đau sẽ đến. Nếu chúng ta tỉnh giác, chúng ta sẽ biết: “Đây gọi là niềm vui.” Niềm vui thì dễ chịu, nhưng tâm biết rằng niềm vui là vô thường, vì vậy nó không bám víu vào đó. Niềm vui có ở đó không? Nó ở ngay đó, nhưng tâm biết rằng nó nằm ngoài tâm. Nó không ở trong tâm. Ngay cả khi đó, tâm vẫn nhận biết rõ ràng. Hoặc khi nỗi đau xuất hiện, liệu tâm có thể tách biệt cảm thọ đó ra không? Nó không đau khổ sao? Nó không nhận ra nỗi đau sao? Nó nhận ra. Nó nhận ra nỗi đau. Nhưng nó biết rằng tâm là tâm, cảm thọ là cảm thọ, vì vậy nó không thể nắm giữ nỗi đau và mang nó đi khắp nơi như là “nỗi đau”… |
|
[Break in the recording] |
[Không ghi âm] |
|
[An earlier Thai transcript fills in this break with this passage: or as “this is pain.” This is because it doesn’t grab hold of it to make assumptions about it. |
Một bản dịch tiếng Thái trước đó đã bổ sung đoạn bị thiếu này bằng đoạn văn sau: hoặc là "đây là nỗi đau". Điều này là bởi vì nó không bám víu vào nỗi đau để đưa ra những giả định về nó. |
|
The Buddha separated things out with awareness. Did he have any pain? He knew the condition of pain but he didn’t make assumptions about it. When he knew in this way, we say that he separated the pain out, he separated the feeling out. Did he know ordinary pleasure? The pleasure was there, ] |
Đức Phật đã phân biệt mọi thứ bằng sự tỉnh giác. Ngài có từng trải qua đau đớn không? Ngài biết trạng thái của đau đớn nhưng không đưa ra giả định nào về nó. Khi Ngài biết theo cách này, chúng ta nói rằng Ngài đã phân biệt nỗi đau, phân biệt cảm thọ đau đớn. Ngài có biết đến niềm vui thông thường không? Niềm vui vẫn hiện hữu. |
|
** … but he knew that pleasure is poisonous if we don’t really know it. So he didn’t assume pleasure to be his or to have any substance. Was there pleasure there? It was there through his awareness, but it wasn’t there in his mind. This is how we know that he separated pleasure and pain from his mind, separated feelings from his mind, even though these things were together right there. |
** ……nhưng Đức Phật biết rằng sự hài lòng sẽ trở nên độc hại nếu chúng ta không thực sự hiểu rõ về nó. Vì vậy, Ngài không coi sự hài lòng là của mình hay có bất kỳ bản chất thực chất nào. Sự hài lòng có tồn tại ở đó không? Nó tồn tại thông qua cảm thọ của Ngài, nhưng nó không tồn tại trong tâm của Ngài. Đây là cách chúng ta biết rằng Ngài đã tách biệt sự hài lòng và nỗi đau khỏi tâm mình, tách biệt cảm thọ khỏi tâm mình, mặc dù những điều này vẫn tồn tại cùng nhau ngay tại đó. |
|
It’s the same as when we hear that our Buddha or our noble ones cut through defilement or killed defilement: It’s not actually the case that they killed off all defilement. If they had killed off all defilement, there wouldn’t be any defilement left for us, right?—because they killed them all off. But they didn’t really kill defilement. They simply knew defilements and let them go in line with their own affairs. So defilements are still around to catch hold of anyone who’s stupid. It’s not the case that the noble ones killed defilement. They knew specifically in the case of their own minds that these things are poisonous so they brushed their own defilements away, brushed them away, brushed them away. Whatever things gave rise to stress in their minds, they brushed them away. They didn’t kill the defilements. |
Điều này cũng giống như khi chúng ta nghe nói rằng Đức Phật hay các bậc thánh nhân đã đoạn trừ phiền não hoặc tiêu diệt phiền não: Thực tế không phải là họ đã tiêu diệt hết tất cả phiền não. Nếu họ đã tiêu diệt hết tất cả phiền não, thì sẽ không còn phiền não nào tồn tại nữa, đúng không? – bởi vì họ đã tiêu diệt hết rồi. Nhưng thực ra họ không hề tiêu diệt phiền não. Họ chỉ đơn giản là nhận biết phiền não và buông bỏ chúng theo đúng bản chất của chúng. Vì vậy, phiền não vẫn còn tồn tại để bám víu vào bất cứ ai còn vô minh. Không phải là các bậc thánh nhân đã tiêu diệt phiền não. Họ nhận biết rõ ràng trong tâm mình rằng những thứ này là độc hại, vì vậy họ đã gạt bỏ phiền não của chính mình, gạt bỏ chúng đi, gạt bỏ chúng đi. Bất cứ điều gì gây ra căng thẳng trong tâm họ, họ đều gạt bỏ chúng đi. Họ không tiêu diệt phiền não. |
|
Whoever doesn’t know that these are things that the noble ones have brushed away will pounce on them, right? “Ah. This is something good.” But actually the Buddha discarded these things. Like pleasure, for example: He brushed it away—yet we see it and, “Hmmm,” we pounce on it and put it in our shoulder bag, thinking we’ve got something good and it’s ours. Actually, the Buddha didn’t kill these things. He was wise to them. When pleasure arose, he knew it was pleasure but he didn’t take pleasure from it. He knew that this was pleasure but he didn’t assume that the pleasure was something of substance, his or anyone else’s. That’s how he let it go. |
Ai không biết rằng đây là những thứ mà bậc hiền nhân đã buông bỏ, họ sẽ lao vào chúng, phải không? “Ồ, đây là thứ tốt.” Nhưng thực ra Đức Phật đã từ bỏ những thứ này. Ví dụ như sự khoái lạc: Ngài đã từ bỏ nó – nhưng chúng ta lại nhìn thấy nó và, “Hừm,” chúng ta lao vào nó và bỏ vào túi xách của mình, nghĩ rằng mình đã có được thứ gì đó tốt đẹp và nó thuộc về mình. Thực ra, Đức Phật không tiêu diệt những thứ này. Ngài hiểu rõ bản chất của chúng. Khi sự hài lòng xuất hiện, Ngài biết đó là sự hài lòng nhưng Ngài không tìm kiếm sự hài lòng từ nó. Ngài biết rằng đó là sự hài lòng nhưng Ngài không cho rằng sự hài lòng đó là thứ có thực chất, thuộc về Ngài hay bất cứ ai khác. Đó là cách Ngài buông bỏ nó. |
|
The same with pain: When there was pain, he called it “feeling,” a “feeling of pain.” When pleasure arose, he knew it: “This is a feeling of pleasure.” But as for us, even before there’s a feeling we go in to savor it. The mind goes in to savor it. In other words, we go in to carry the pain around, to carry the pleasure around. |
Giống như vậy với nỗi đau: Khi có sự đau khổ, Ngài gọi đó là "cảm thọ khổ", "cảm thọ đau đớn". Khi niềm vui xuất hiện, Ngài nhận biết được nó: "Đây là cảm thọ hài lòng." Nhưng đối với chúng ta, ngay cả trước khi có cảm thọ, chúng ta đã vội vàng tận hưởng nó. Tâm vội vàng tận hưởng nó. Nói cách khác, chúng ta bám chặt vào nỗi đau, bám chặt vào niềm vui bên mình. |
|
The truth of the matter is that feelings of pleasure and pain are something different from the mind. It’s like when we’re sitting here in comfort right now. If there were a piece of lumber that we’d like to have, we’d put it on our shoulder and it’d be heavy. It’d be heavy. The piece of lumber is the feeling. The person who wants the piece of lumber is the mind. When you pick up the lumber to carry it, it’s heavy, isn’t it? Of course it’s heavy. But if you have discernment, then even though the piece of lumber is heavy, you don’t have to suffer from it. You know enough to put it down. When it feels really heavy on you, you put it down. If the piece of lumber is really good for something, and you want to take it and put it to use, then if you know in this way, it’s not so bad. The lumber won’t squash you to death. |
Tính xác thực của cảm giác dễ chịu và khó chịu là hai thứ khác biệt với tâm. Giống như khi chúng ta đang ngồi thoải mái ở đây lúc này. Nếu có một khúc gỗ chúng ta muốn mang đi, chúng ta sẽ vác nó lên vai và nó sẽ nặng. Nó sẽ rất nặng. Khúc gỗ chính là cảm giác. Người muốn khúc gỗ đó chính là tâm. Khi bạn nhấc khúc gỗ lên để mang đi, nó nặng đúng không? Tất nhiên là nó nặng. Nhưng nếu bạn có sự sáng suốt, thì dù khúc gỗ có nặng đến đâu, bạn cũng không cần phải chịu đựng nó. Bạn đủ thông minh để đặt nó xuống. Khi nó trở nên quá nặng, bạn sẽ đặt nó xuống. Nếu khúc gỗ thực sự hữu ích cho việc gì đó, và bạn muốn lấy nó để sử dụng, thì nếu bạn hiểu theo cách này, mọi chuyện sẽ không quá tệ. Khúc gỗ sẽ không đè bạn đến chết. |
|
It’s the same with the mind. The conditions of the mind—feelings of pleasure, feelings of pain, anything that’s a preoccupation—are part of the world. If the mind knows this, then you can do work that’s pleasant, you can do work that’s painful. Why? Because you know pleasure and pain for what they really are. |
Điều này tương tự với tâm. Trạng thái của tâm – cảm giác hài lòng, cảm giác đau khổ, bất cứ điều gì khiến ta bận tâm – đều là một phần của thế gian. Nếu tâm hiểu được điều này, thì bạn có thể làm những công việc dễ chịu, bạn cũng có thể làm những công việc khó khăn. Tại sao? Bởi vì bạn hiểu rõ bản chất thực sự của niềm vui và nỗi khổ đau. |
|
If you’re not really acquainted with pleasure and pain, you’ll see that pleasure and pain are on different levels, that they have different prices. But those who know say that pleasure and pain are equal in price. They’re all equal in price. If you grab hold of pleasure, it’s a source of stress. Stress will arise. Why? Because pleasure is inconstant. It changes back and forth. When pleasure disappears, pain arises. That sort of thing. |
Nếu bạn chưa thực sự hiểu rõ về sự hài lòng và nỗi khổ đau, bạn sẽ thấy rằng hài lòng và khổ đau nằm ở những cấp độ khác nhau, chúng có giá trị khác nhau. Nhưng những người hiểu biết nói rằng sự hài lòng và khổ đau có giá trị ngang nhau. Tất cả đều có giá trị như nhau. Nếu bạn bám víu vào khoái lạc, đó sẽ là nguồn gốc của phiền não. Phiền não sẽ xuất hiện. Tại sao? Bởi vì sự hài lòng thì bất định. Nó thay đổi liên tục. Khi sự hài lòng biến mất, khổ đau sẽ xuất hiện. Đại loại là như vậy. |
|
The Buddha saw that pleasure and pain both have their drawbacks, that they’re equal in price. When pain arose, he saw it as being equal to pleasure arising. When pleasure arose, he saw it as being equal to pain arising. That’s why he let go of both pleasure and pain—because all of these things were equal in price. |
Đức Phật nhận thấy rằng cả sự hài lòng và nỗi khổ đau đều vô định, chúng có giá trị ngang nhau. Khi nỗi khổ xuất hiện, ngài xem nó cũng giống như sự hài lòng xuất hiện. Khi sự hài lòng xuất hiện, ngài xem nó cũng giống như nỗi khổ đau xuất hiện. Đó là lý do tại sao ngài buông bỏ cả sự hài lòng và nỗi khổ—bởi vì tất cả những điều này đều có giá trị ngang nhau. |
|
That’s why his mind was on the path of right practice. He saw that these things were equally stressful—equal in their drawbacks, equal in their benefits—for both these things are not for sure. They fall under the characteristics that the Dhamma calls inconstancy because they’re stressful. They all arise and disband in this way. When the Buddha saw this, right view arose as part of the right path. Whether he was sitting, standing, walking, or lying down; whatever thoughts or feelings arose in his mind, he knew: “This is pleasure. This is pain.” Equal. All the time. That’s why he didn’t grab hold of these things. |
Đó là lý do tại sao tâm của ngài luôn hướng về con đường tu tập đúng đắn. Ngài nhận thấy rằng những sự hài lòng và nỗi khổ đau đều gây sự phiền não như nhau – đều có những mặt bất lợi và lợi ích như nhau – bởi vì cả hai điều này đều có sự bất định hay thay đổi. Chúng thuộc về những đặc tính mà Phật pháp gọi là vô thường, bởi vì chúng gây ra khổ đau. Tất cả đều sinh và diệt theo cách này. Khi Đức Phật nhận ra điều này, chánh kiến đã xuất hiện như một phần của con đường tu tập chân chính. Cho dù ngài đang ngồi, đứng, đi hay nằm xuống; bất cứ suy nghĩ hay cảm xúc nào xuất hiện trong tâm, ngài đều biết: “Đây là sự hài lòng. Đây là nỗi đau.” Tất cả đều như nhau. Đó là lý do tại sao ngài không bám víu vào những điều này. |
|
Right after our Foremost Teacher’s awakening he taught about indulgence in sensual pleasure (kamasukhallikānuyoga) and indulgence in self-affliction (attakilamathānuyoga). He told the monks that indulgence in sensual pleasure is the slack path; indulgence in self-affliction, the taut path. These two things had harassed him all along the way until the day he awakened to the Dhamma because he hadn’t let them go. As soon as he caught on to this point, though, he let them go. That’s why he gave the first sermon to his disciples, telling them that indulgence in sensual pleasure, clinging to the pleasure in sensuality, is not a path for contemplatives to follow. Whoever thinks about it, whoever mulls it over, whoever makes assumptions about sensuality, gets into a lot of turmoil. There’s no peace in that path. The state of a true contemplative can’t arise there. Don’t follow that path. |
Ngay sau khi Đức Phật giác ngộ, Ngài đã giảng dạy về sự đắm chìm trong dục lạc (kamasukhallikānuyoga) và sự hành hạ bản thân (attakilamathānuyoga). Ngài nói với các vị tỳ kheo rằng sự đắm chìm trong dục lạc là con đường lợi dưỡng; sự hành hạ bản thân là con đường tu khổ hạnh. Hai điều này đã làm phiền nhiễu Ngài suốt chặng đường cho đến ngày Ngài giác ngộ Chánh pháp vì Ngài chưa buông bỏ chúng. Tuy nhiên, ngay khi nhận ra điều này, Ngài đã buông bỏ chúng. Đó là lý do tại sao Ngài đã thuyết pháp bài đầu tiên cho năm đệ tử anh em Kondanna Kiều Trần Như, nói với họ rằng sự đắm chìm trong dục lạc, bám víu vào khoái lạc của dục vọng, không phải là con đường mà những người tu hành nên đi theo. Bất cứ ai suy nghĩ về nó, bất cứ ai suy ngẫm về nó, bất cứ ai đưa ra giả định về dục vọng, sẽ rơi vào rất nhiều hỗn loạn. Không có sự bình an nào trên con đường đó. Trạng thái của một người tu hành chân chính không thể xuất hiện ở đó. Đừng đi theo con đường đó. |
|
As for indulgence in self-affliction, the path that’s cruel and torturous: Don’t follow that path. No contemplative is found there, either. No peace is found there. No true contemplative has ever arisen there. |
Về việc tu khổ hạnh, con đường tàn khốc và đầy đau khổ: Đừng đi theo con đường đó. Ở đó không có sự tĩnh tâm nào cả. Ở đó không có sự bình an nào cả. Chưa từng có một người tu hành chân chính nào xuất hiện trên con đường đó. |
|
In other words, he said that contemplatives shouldn’t follow the path of either pleasure or pain. When pleasure arises, don’t forget yourself. When pain arises, don’t follow it. Be alert to it. When pain arises, know that pain has arisen. When you know pain and stress, you’ll know the cause of stress, the disbanding of stress, and the path of practice leading to the disbanding of stress. That path is our meditation. |
Nói cách khác, Đức Phật nói rằng những người tu hành không nên đi theo con đường của lợi dưỡng hay con đường khổ đau. Khi sự hài lòng xuất hiện, đừng quên mất chính mình. Khi khổ đau xuất hiện, đừng chạy theo nó. Hãy tỉnh giác với nó. Khi khổ đau xuất hiện, hãy biết rằng khổ đau đã xuất hiện. Khi bạn nhận biết khổ đau và phiền não, bạn sẽ biết nguyên nhân của phiền não, sự chấm dứt của phiền não, và con đường tu tập dẫn đến sự chấm dứt phiền não. Con đường đó chính là thiền định của chúng ta. |
|
To put it in simple terms, we have to be mindful. Mindfulness means being alert and recollecting at all times: As we’re sitting here right now, what are we thinking? What are we doing? What do we have right now? We’re alert in this way. We always keep in mind how we are. We’re alert to what we have right now, to what we’re thinking about, to whether we’re feeling pleasure or pain, to whether what we’re doing is right or wrong. When we keep these two qualities of mindfulness and alertness together at all times, discernment can arise. We can recollect, we can be alert, and these things go running toward discernment. Discernment arises. We take things on to evaluate and contemplate. Whether we’re sitting, standing, walking, or lying down, we’re alert like this at all times. We’ll recognize what’s right, what’s wrong, what’s just right, what’s not just right. |
Nói một cách đơn giản, chúng ta cần phải tỉnh giác. Tỉnh giác có nghĩa là luôn luôn cảnh giác và chánh niệm: Ngay lúc này, khi chúng ta đang ngồi ở đây, chúng ta đang nghĩ gì? Chúng ta đang làm gì? Chúng ta đang có gì? Chúng ta luôn cảnh giác theo cách này. Chúng ta luôn chánh niệm các trạng thái của bản thân. Chúng ta cảnh giác với những gì mình đang có, với những gì mình đang nghĩ, với việc mình đang cảm thấy dễ chịu hay khó chịu, với việc mình đang làm đúng hay sai. Khi chúng ta luôn giữ hai phẩm chất tỉnh thức và cảnh giác này cùng nhau, trí tuệ phân biệt sẽ phát sinh. Chúng ta có thể chánh niệm, chúng ta có thể cảnh giác, và những điều này dẫn đến sự phân biệt. Trí tuệ phân biệt phát sinh. Chúng ta xem xét và suy ngẫm mọi việc. Cho dù chúng ta đang ngồi, đứng, đi bộ hay nằm, chúng ta luôn cảnh giác như vậy. Chúng ta sẽ nhận ra điều gì đúng, điều gì sai, điều gì vừa phải, điều gì không vừa phải. |
|
When a preoccupation that we like arises, we’ll recognize it—and we won’t make assumptions about it. It’s just pleasure, that’s all. When pain arises and we indulge in self-affliction, we can know: “Oh. This isn’t the path for a contemplative.” So it’s just pain, that’s all. Pleasure and pain are just “that’s all” kinds of things. This is called separating—we can separate the mind and feelings from each other. What does this is the mind. |
Khi một vấn đề hài lòng mà chúng ta bận tâm xuất hiện, chúng ta sẽ nhận ra nó – và chúng ta sẽ không đưa ra bất kỳ giả định nào về nó. Đó chỉ là một sự cảm thọ của sự hài lòng, thế thôi. Khi nỗi đau xuất hiện và chúng ta chìm đắm trong sự tự dằn vặt, chúng ta có thể nhận ra: “Ồ. Đây không phải là con đường dành cho người tu tập.” Vì vậy, đó chỉ là cảm thọ nỗi đau, thế thôi. Sự hài lòng và nỗi đau chỉ là những thứ "chỉ có vậy". Điều này được gọi là sự tách biệt – chúng ta có thể tách tâm và cảm thọ ra khỏi nhau. Chính là tâm làm được điều này. |
|
When the features of pleasure arise and we latch onto them, feeling arises. Regardless of whether it’s pleasure or pain, if the mind is intelligent, we won’t grab onto these things. We’ll simply put them aside. We’re just a knower. We know these things for what they are and we let them go in line with their condition. It’s like oil and water mixed in a bottle: They don’t permeate each other, even though they’re in the same bottle. This is the way it is between the mind and feelings. |
Khi những cảm thọ dễ chịu xuất hiện và chúng ta bám víu vào chúng, cảm xúc sẽ nảy sinh. Cho dù đó là cảm thọ dễ chịu hay khó chịu, nếu tâm có tuệ, chúng ta sẽ không bám víu vào những điều đó. Chúng ta chỉ đơn giản là gạt chúng sang một bên. Chúng ta chỉ là người quan sát. Chúng ta nhận biết những điều đó đúng như bản chất của chúng và để chúng trôi đi theo quy luật tự nhiên. Giống như dầu và nước được trộn lẫn trong một cái chai: Chúng không hòa tan vào nhau, mặc dù cùng nằm trong một cái chai. Đó là cách mà tâm và cảm xúc tồn tại. |
|
Even when we fall sick, we can still sense that feeling is feeling and the mind is the mind. They’re still different things. Do we know when something hurts? Yes. Do we know when things are comfortable? Yes—but we don’t move in to stay in the comfort or discomfort. We stay in the stillness. What kind of stillness? Stillness undisturbed by the comfort, stillness undisturbed by the pain. The Buddha pointed this out for us to see because there’s no substance to these things. There’s no way you can stay in them. The mind has to stay this way—in other words, not having pleasure, not having pain. Did he know that there was pleasure? He knew, but he didn’t feel pleased or pained by it. Did he know that there was pain? He knew. Pleasure? He knew—but he didn’t carry it around, so no feeling arose in his mind. |
Ngay cả khi chúng ta bị ốm, chúng ta vẫn có thể nhận ra rằng cảm giác là cảm giác và tâm là tâm. Chúng vẫn là những thứ khác nhau. Chúng ta có biết khi nào cảm thấy đau không? Có. Chúng ta có biết khi nào cảm thấy thoải mái không? Có – nhưng chúng ta không bám víu vào sự thoải mái hay khó chịu đó. Chúng ta giữ tâm ở trạng thái tĩnh lặng. Trạng thái tĩnh lặng như thế nào? Tĩnh lặng không bị xáo trộn bởi sự thoải mái, tĩnh lặng không bị xáo trộn bởi nỗi đau. Đức Phật đã chỉ ra điều này để chúng ta thấy rằng những điều này không có thực chất. Không có cách nào để chúng ta có thể bám víu vào chúng. Tâm phải giữ trạng thái này – nói cách khác, không có hài lòng, không có đau khổ. Ngài có biết có hài lòng không? Ngài biết, nhưng ngài không cảm thấy vui hay đau khổ vì điều đó. Ngài có biết có đau khổ không? Ngài biết. Ngài có biết có sự hài lòng không? Ngài biết – nhưng ngài không mang theo nó, vì vậy không có cảm giác nào nảy sinh trong tâm ngài. |
|
We ordinary, unenlightened people may see this as strange, but even though we’re unenlightened, don’t make that an issue. Aim straight at that spot, for that’s the way things are. The mind stays in its own territory. Feelings of pleasure and pain are in their own territory. They don’t get involved with one another. That’s the way they are. They’re already separate. It’s not the case that they’re mixed together. If they seem mixed together, it’s because we don’t know them thoroughly. Actually, they’re already separate. |
Chúng ta, những người bình thường, chưa giác ngộ, có thể thấy điều này thật kỳ lạ, nhưng dù chưa giác ngộ, đừng coi đó là vấn đề. Hãy hướng thẳng đến điểm đó, vì mọi thứ vốn dĩ là như vậy. Tâm nằm trong lãnh địa riêng của nó. Cảm giác vui sướng và đau khổ cũng nằm trong lãnh địa riêng của chúng. Chúng không liên quan đến nhau. Bản chất của chúng là như vậy. Chúng vốn dĩ đã tách biệt. Không phải là chúng trộn lẫn vào nhau. Nếu chúng ta thấy chúng dường như trộn lẫn, đó là vì chúng ta chưa hiểu rõ chúng. Thực ra, chúng đã tách biệt rồi. |
|
It’s the same with the body and the mind. Even though they’re together here, it’s like our house and we who live in the house. They’re related in the same way. If the house is in danger, the mind suffers because we have to look after it. But if the house catches on fire, we can run out of it. We run out of the house. The same with feeling: When a feeling of pleasure arises, we can run out of it. When a feeling of pain arises, we can run out of it. We’re like the owner of the house. When things get really heavy and we know in line with the truth, then when the house catches on fire, we can run out of it—for we’re two separate things. One is the owner; the other is the house. That’s the normal way these things already are. |
Cũng giống như thân và tâm. Mặc dù chúng ở cùng nhau, nhưng giống như ngôi nhà và người sống trong ngôi nhà đó. Chúng có mối liên hệ theo cách tương tự. Nếu ngôi nhà gặp nguy hiểm, tâm sẽ khổ sở vì chúng ta phải chăm sóc nó. Nhưng nếu ngôi nhà bốc cháy, chúng ta có thể chạy ra khỏi đó. Chúng ta chạy ra khỏi nhà. Cũng vậy đối với cảm xúc: Khi cảm thọ dễ chịu xuất hiện, chúng ta có thể thoát khỏi nó. Khi cảm thọ đau khổ xuất hiện, chúng ta cũng có thể thoát khỏi nó. Chúng ta giống như chủ nhà vậy. Khi mọi việc trở nên quá khó khăn và chúng ta hiểu rõ sự thật, thì khi ngôi nhà bốc cháy, chúng ta có thể chạy ra khỏi đó – vì chúng ta là hai thực thể riêng biệt. Một là chủ nhà; cái kia là ngôi nhà. Đó là bản chất vốn có của các pháp. |
|
So even though we talk about separating the mind from the feeling, they’re actually already separate. It’s just that when we come to know them in line with their truth, they already know how to separate themselves. That’s the way they already are by their nature. The reason we see them as not separate is because we cling to them through our ignorance of the truth. So they’re glommed together in that way. They’re glommed together. |
Vì vậy, mặc dù chúng ta nói về việc tách rời tâm ra khỏi các cảm thọ, nhưng thực ra chúng vốn đã tách biệt rồi. Chỉ là khi chúng ta hiểu chúng đúng với bản chất của chúng, chúng sẽ tự động tách rời nhau. Đó là bản chất tự nhiên của chúng. Lý do chúng ta thấy chúng không tách rời là vì chúng ta bám víu vào chúng do sự thiếu hiểu biết về chân đế. Vì vậy, chúng bị gắn kết với nhau theo cách đó. Chúng bị gắn kết chặt chẽ với nhau. |
|
It’s like a spoon we use to eat curry. The curry is one thing. The spoon is something else. If we know that this is the curry, this is the spoon, then things are easy. We use the spoon to eat the curry and then we put it down. It’s easy. But if we try to eat the spoon, too, we make things hard. If we don’t see the spoon as a spoon, the curry as curry, the feeling as a feeling, and the mind as the mind, then things simply get all mixed up. |
Nó giống như cái muỗng chúng ta dùng để ăn cà ri vậy. Cà ri là một thứ, cái muỗng là một thứ khác. Nếu chúng ta biết rằng đây là cà ri, đây là cái muỗng, thì mọi việc sẽ dễ dàng. Chúng ta dùng muỗng để ăn cà ri rồi đặt nó xuống. Thật dễ dàng. Nhưng nếu chúng ta cố gắng ăn luôn cái muỗng nữa, thì mọi việc sẽ trở nên khó khăn. Nếu chúng ta không nhận ra cái muỗng là cái muỗng, cà ri là cà ri, cảm xúc là cảm xúc, và tâm là tâm, thì mọi thứ sẽ trở nên lẫn lộn hết cả. |
|
When we realize this, then these things can separate out whether we’re sitting, standing, walking, or lying down. Pleasures and pains keep crisscrossing on many levels at all times. |
Khi chúng ta nhận ra điều này, thì những điều này có thể phân biệt rõ ràng dù chúng ta đang ngồi, đứng, đi hay nằm. Sự hài lòng và nỗi đau luôn đan xen nhau ở nhiều cấp độ vào mọi lúc. |
|
This is why the Buddha taught us to meditate. The practice of meditation is really important. Simply knowing about these things isn’t enough. The knowledge that comes from practice with a still mind and the knowledge that comes from study are really far apart from each other—far, far apart. When we gain knowledge from study, it’s not that our mind knows how to let go of it. It knows and then pounces on things to stash them away. Why stash them away? So that they can spoil. When they spoil, we cry. If the mind knows both how to hold on and how to put things down, both how to stash away and how to let go, both how to know and let go, we know that things are simply the way they are. We don’t forget ourselves. When pain or illness arises, we won’t forget. |
Đây là lý do tại sao Đức Phật dạy chúng ta tu tập thiền định - Pháp Hành. Việc tu tập thiền định thực sự rất quan trọng. Chỉ biết về những điều này thôi thì chưa đủ. Kiến thức có được từ việc thực hành với tâm tĩnh lặng và kiến thức có được từ việc học hỏi - Pháp Học là hoàn toàn khác nhau—rất khác nhau. Khi chúng ta có được kiến thức từ việc Pháp Học, tâm chúng ta không biết cách buông bỏ. Nó biết và rồi lại bám víu vào mọi thứ để tích trữ chúng. Tại sao lại tích trữ? Để rồi chúng sẽ hư hỏng. Khi chúng hư hỏng, chúng ta lại khóc. Nếu tâm biết cả cách nắm giữ và cách buông bỏ, cả cách tích trữ và cách từ bỏ, cả cách biết và cách buông bỏ, chúng ta sẽ biết rằng mọi thứ chỉ đơn giản là như vậy. Chúng ta sẽ không quên bản thân mình. Khi nỗi đau hay bệnh tật xuất hiện, chúng ta sẽ không quên. |
|
Some people say, “Oh, this year I’ve been sick all year long. I haven’t been able to meditate.” These are the words of a person who’s extremely stupid. People who are sick, people who are dying, should accelerate their meditation even more, no? And yet they say they don’t have time to meditate anymore. Stress has arisen, pain has arisen, a lack of trust in these fabrications has come, and yet they think they can’t meditate because they don’t have the time. The Buddha didn’t teach like that. He taught that that’s the right spot. You’ve arrived at the right spot to practice. When you’re falling ill, when you’re about to die, then the more you accelerate your efforts, the more you know and see. Right then is when the truth appears even more. If you don’t think in this way, things are going to be difficult. |
Một số người nói, “Ôh, năm nay tôi ốm suốt cả năm. Tôi không thể thiền định được.” Đó là lời nói của một người cực kỳ vô minh. Những người ốm yếu, những người sắp chết, càng nên tăng cường tu tập thiền định hơn nữa, phải không? Thế mà họ lại nói rằng họ không còn thời gian để thiền định nữa. Phiền não xuất hiện, đau đớn xuất hiện, sự thiếu tin tưởng vào những ảo tưởng này xuất hiện, vậy mà họ lại nghĩ rằng họ không thể thiền định được vì không có thời gian. Đức Phật không dạy như vậy. Ngài dạy rằng đó chính là thời điểm thích hợp nhất để thực hành. Khi bạn ốm yếu, khi bạn sắp chết, thì càng phải tăng cường nỗ lực hơn nữa, bạn sẽ càng hiểu biết và thấy rõ hơn. Chính lúc đó, chân đế sẽ hiện ra rõ ràng hơn. Nếu bạn không suy nghĩ theo cách này, mọi việc sẽ trở nên khó khăn. |
|
Some people say they have no opportunity to practice because of all the work they have to do. I’ve had lots of teachers coming here and I ask them what they do. They say they teach children and they have so much work that it has them in a tizzy. They don’t have any time to meditate. So I ask them, “When you teach your students, do you have time to breathe?” |
Một số người nói rằng họ không có cơ hội tu tập thiền định vì quá bận rộn với công việc. Tôi đã gặp rất nhiều giáo viên đến đây và hỏi họ làm gì. Họ nói rằng họ dạy học sinh và có quá nhiều việc đến nỗi đầu óc quay cuồng. Họ không có thời gian để thiền định. Vì vậy, tôi hỏi họ, "Khi dạy học sinh, các bạn có thời gian để thở không?" |
|
“Yes, sir.” |
“Dạ có, thưa Ngài.” |
|
“Oh. So why do you have time to breathe when you say your work has you in a tizzy? You’re far from understanding anything. Actually, the practice is a matter of the mind, a matter of your awareness. It’s not the sort of thing where you have to do this, do that, or jump around a lot. It’s simply a matter of your awareness. As for the breath, you can keep on breathing as you work. The nature of the body knows even more about how to do this than you do. It keeps on looking after itself. All you have to do is be more mindful to be alert, that’s all. Keep at it so that you see into things more and more clearly. That’s the way it is with meditation. If we’re aware in this way, then it doesn’t matter what kind of work you do, the work won’t be spoiled. In fact, you’ll be able to do that work in a way that’s always more sensitive to what’s right and wrong. So change the way you understand things. |
“Ồ. Vậy tại sao bạn lại có thời gian để thở khi nói rằng công việc khiến bạn bận rộn đến mức không kịp thở? Bạn còn xa mới hiểu được điều gì. Thực ra, việc tu tập là vấn đề của tâm, vấn đề của sự nhận thức. Đó không phải là kiểu việc mà bạn phải làm cái này, làm cái kia, hay phải nhảy nhót lung tung. Đó đơn giản chỉ là vấn đề của sự nhận thức. Còn về hơi thở, bạn có thể tiếp tục thở trong khi làm việc. Bản chất của thân còn biết cách làm điều này tốt hơn cả bạn. Nó tự chăm sóc bản thân. Tất cả những gì bạn cần làm là chú tâm hơn để tỉnh táo, chỉ vậy thôi. Hãy kiên trì để bạn nhìn nhận mọi việc ngày càng rõ ràng hơn. Thiền định là như vậy. Nếu chúng ta nhận thức theo cách này, thì bất kể bạn làm loại công việc gì, công việc sẽ không bị ảnh hưởng. Trên thực tế, bạn sẽ có thể làm công việc đó một cách nhạy bén hơn, luôn phân biệt được điều đúng và sai. Vì vậy, hãy thay đổi cách bạn hiểu mọi việc.” |
|
“You have lots of time to meditate. You simply don’t understand, that’s all. When you’re lying down, you can breathe, right? When you’re eating, you can breathe, right? You can breathe wherever you are. Why do you have time to do that? If you think in this way, your life has a value equal to your breath. And wherever you are, you’ll have time. Our awareness and thoughts are mental matters, not physical matters. |
“Bạn có rất nhiều thời gian để thiền định. Đơn giản là bạn không hiểu điều đó mà thôi. Khi bạn nằm xuống, bạn có thể thở, đúng không? Khi bạn ăn, bạn cũng có thể thở, đúng không? Bạn có thể thở ở bất cứ đâu. Tại sao bạn lại cần có thời gian để làm điều đó? Nếu bạn suy nghĩ theo cách này, cuộc sống của bạn sẽ có giá trị tương đương với hơi thở của bạn. Và dù bạn ở đâu, bạn cũng sẽ có thời gian. Nhận thức và suy nghĩ của chúng ta là những vấn đề thuộc về tinh thần, chứ không phải vật chất.” |
|
“So contemplate in a new way, think in a new way, explore in a new way. All you have to do is be mindful and you’ll know how to be responsible all the time, whether sitting, standing, walking, or lying down. You’ll get value out of your time. You have more than enough time. You’re simply not intelligent in the area of your own time, which is why you don’t have any time. Actually, you have time all the time. So take this and contemplate it.” That’s the way it is. |
“Vì vậy, hãy suy ngẫm theo một cách mới, suy nghĩ theo một cách mới, khám phá theo một cách mới. Tất cả những gì bạn cần làm là chú tâm và bạn sẽ biết cách chịu trách nhiệm mọi lúc, dù đang ngồi, đứng, đi hay nằm. Bạn sẽ tận dụng được thời gian của mình. Bạn có nhiều thời gian hơn mức cần thiết. Chỉ là bạn chưa thông minh trong việc quản lý thời gian của chính mình, đó là lý do tại sao bạn luôn cảm thấy thiếu thời gian. Thực ra, bạn luôn có đủ thời gian. Vì vậy, hãy suy ngẫm về điều này.” Đó là sự thật. |
|
The issue of feelings: Is there anywhere we can run to get away from them? That’s why we have to know them. We have to know them clearly. The feeling is just feeling, that’s all. Pleasure is just pleasure, that’s all. Pain is just pain, that’s all. They’re all just “that’s all” kinds of things, so why latch onto them? If the mind is intelligent, all it has to do is think like this and it can separate the feeling out from the mind. The feeling is just a feeling, that’s all. The mind sees that it’s just “that’s all.” Pain is just pain, that’s all. Pleasure is just pleasure, that’s all. Just let them separate out. Are they there? Yes, they’re there, but they’re outside the heart. They’re outside the heart. They’re there without clinging. The mind doesn’t make any assumptions about them. They’re there sort of as if they’re not there, that’s all. |
Vấn đề về cảm thọ: Chúng ta có thể chạy trốn khỏi chúng ở bất cứ nơi nào không? Đó là lý do tại sao chúng ta phải hiểu chúng. Chúng ta phải hiểu chúng một cách rõ ràng. Cảm thọ chỉ là cảm thọ, thế thôi. Niềm vui chỉ là niềm vui, thế thôi. Nỗi đau chỉ là nỗi đau, thế thôi. Tất cả chúng chỉ là những thứ "chỉ thế thôi", vậy tại sao lại bám víu vào chúng? Nếu tâm có tuệ, tất cả những gì nó cần làm là suy nghĩ như vậy và nó có thể tách cảm thọ ra khỏi tâm. Cảm thọ chỉ là cảm thọ, chỉ vậy thôi. Tâm thấy rằng nó chỉ là "chỉ thế thôi". Nỗi đau chỉ là nỗi đau, thế thôi. Niềm vui chỉ là niềm vui, thế thôi. Hãy để chúng tách ra. Chúng có ở đó không? Có, chúng ở đó, nhưng chúng nằm ngoài tâm. Chúng nằm ngoài tâm. Chúng ở đó mà không có sự bám víu. Tâm không đưa ra bất kỳ giả định nào về chúng. Chúng ở đó như thể chúng không tồn tại, chỉ vậy thôi. |
|
Think in this way, contemplate, and don’t worry about where it will take you. This is called separating feeling from the mind. Know what the mind is like; know what the feeling is like. |
Hãy quán chiếu theo cách này, hãy suy ngẫm, và đừng lo lắng về việc nó sẽ dẫn bạn đến đâu. Điều này được gọi là tách biệt cảm xúc khỏi lý trí. Hãy hiểu rõ bản chất của lý trí; hãy hiểu rõ bản chất của cảm thọ. |
|
The mind is what enters into the sense of pleasure, and so forth, to see if what we say is pleasure is really true, to see if the pain is for sure. When we follow things in like this, discernment arises in the mind and separates out the pleasure and pain, seeing that the pleasure is just pleasure, that’s all. The pain is just pain, that’s all. We don’t see that there’s anything there. Whatever’s there is just a “that’s all” kind of thing. |
Tâm là thứ tham gia vào cảm thọ hài lòng, v.v., để xem liệu điều chúng ta gọi là hài lòng có thực sự đúng hay không, để xem nỗi đau có chắc chắn là nỗi đau hay không. Khi chúng ta quan sát mọi thứ theo cách này, sự phân biệt sẽ nảy sinh trong tâm và tách biệt sự hài lòng và nỗi đau, nhận ra rằng sự hài lòng chỉ là sự hài lòng, thế thôi. Nỗi đau chỉ là nỗi đau, thế thôi. Chúng ta không thấy có bất cứ điều gì khác ở đó. Bất cứ điều gì hiện hữu cũng chỉ là một thứ "chỉ có thế mà thôi". |
When we have this awareness all the way from the beginning to the end, the mind will let go—but it’s not letting go from ignorance, you know. It lets go and it knows at the same time. It doesn’t let go through stupidity, or from not wanting things to be that way. It lets go because it sees that that’s the way things are of their own accord. This is called seeing nature, or seeing what’s normal. |
Khi chúng ta thường luôn luôn có nhận thức này, tâm sẽ buông bỏ – nhưng sự buông bỏ đó không phải xuất phát từ sự thiếu hiểu biết. Nó buông bỏ đồng thời vẫn nhận biết được mọi thứ. Nó không buông bỏ vì sự ngu dốt, hay vì không muốn mọi thứ diễn ra như vậy. Nó buông bỏ bởi vì nó thấy rằng đó là bản chất tự nhiên của các pháp. Điều này được gọi là nhìn thấy bản chất, hay nhìn thấy điều bình thường. |
|
When we know in this way, we’ll be adept with regard to the mind. We know how to look after the mind. We’re intelligent in the area of our own mind, intelligent in looking after the mind. When you’re intelligent in the area of the mind, you’ll have to be intelligent in the area of its preoccupations. When you’re intelligent in the area of preoccupations, you’re sure to be intelligent in the area of the world. This is called lokavidū: expert in the affairs of the world. The Buddha was expert in the affairs of the world, right in the midst of things that were complex and confusing, but he knew those things that were complex and confusing. And his knowledge of what’s not complex or confusing was right in the same place. The world is a turmoil, so how was he able to know it in an expert way? We have to understand that the Dhamma formulated by the Buddha has nothing that lies beyond our capabilities. |
Khi chúng ta hiểu theo cách này, chúng ta sẽ trở nên thuần thục trong việc kiểm soát tâm. Chúng ta biết cách chăm sóc tâm. Chúng ta nhạy bén trong lĩnh vực tâm của chính mình, thông minh trong việc chăm sóc tâm. Khi tâm bạn có trí tuệ, bạn cũng sẽ nhạy bén trong những mối bận tâm của nó. Khi bạn nhạy bén trong lĩnh vực những mối bận tâm, chắc chắn bạn sẽ nhạy bén trong lĩnh vực thế gan. Điều này được gọi là lokavidū: kiến thức về toàn bộ thế giới. Đức Phật là bậc thông thái về các vấn đề của thế giới, ngay giữa những điều phức tạp và khó hiểu, nhưng Ngài vẫn hiểu được những điều phức tạp và khó hiểu đó. Và kiến thức của Ngài về những điều không phức tạp hay khó hiểu cũng nằm ngay trong đó. Thế giới là một sự hỗn loạn, vậy làm thế nào Ngài có thể hiểu biết nó một cách thông thái? Chúng ta phải hiểu rằng giáo pháp do Đức Phật truyền dạy không có điều gì nằm ngoài khả năng của chúng ta. |
|
So when we know right at our own mind that the mind is the mind, feelings are feelings, and they separate out from each other—in their own separate parts, their own separate stages—the mind can see that the conditions of preoccupations are just like that, of their own accord. They simply arise and disband. They arise and disband, disband and arise. That’s all there is to them. We let them go, in line with their own nature, because they’re in separate places. |
Do vậy khi chúng ta nhận thức rõ ràng trong tâm mình rằng tâm là tâm, cảm xúc là cảm xúc, và chúng tách biệt nhau – ở những phần riêng biệt, những giai đoạn riêng biệt – tâm có thể thấy rằng những trạng thái lo lắng cũng chỉ là như vậy, tự nhiên sinh và diệt. Chúng đơn giản là sinh rồi diệt. Chúng sinh rồi diệt, diệt rồi lại sinh. Chỉ có vậy thôi. Chúng ta hãy để chúng trôi đi, thuận theo bản chất tự nhiên của chúng, bởi vì chúng ở những vị trí riêng biệt. |
|
This is what it means to know and see in line with the way things are. Right here is where the problem comes to an end. |
Đây chính là ý nghĩa của sự hiểu biết và nhìn nhận mọi việc đúng như bản chất vốn có của chúng. Vấn đề sẽ chấm dứt ngay tại đây. |
|
So all of us here: This is the way things are. Whether you’re sitting, standing, walking, or lying down, this is the way they are with every moment because you incline your mind to the practice. You’re mindful and alert at all times. That’s all there is to it. When the time comes to sit in concentration, go ahead and do it. Understand that concentration is for the purpose of giving rise to stillness, and the stillness simply strengthens your energy, that’s all. It’s not for the sake of seeing a lot of other things. So we have to keep practicing concentration steadily. |
Vậy thì tất cả chúng ta ở đây: Đây là cách mọi việc diễn ra. Cho dù bạn đang ngồi, đứng, đi hay nằm, mọi việc đều diễn ra như vậy trong mỗi khoảnh khắc bởi vì bạn hướng tâm mình đến việc tu tập. Bạn luôn tỉnh giác và chánh niệm mọi lúc, mọi nơi. Chỉ có vậy thôi. Khi đến lúc tọa thiền định, hãy cứ tu tập . Hãy hiểu rằng thiền định nhằm mục đích tạo ra sự tĩnh lặng, và sự tĩnh lặng đó chỉ đơn giản là tăng cường năng lượng của bạn, chỉ có vậy thôi. Nó không phải để nhìn thấy nhiều thứ khác. Vì vậy, chúng ta phải tiếp tục thực hành thiền định một cách kiên trì. |
|
As for practicing vipassanā, that’s the same as practicing concentration. In some places they say, “Now we’re doing concentration, and only later will we do vipassanā. Right now we’re doing tranquility meditation.” That kind of thing. Don’t put them far away from each other that way. Tranquility is the source of discernment; discernment, the fruit of tranquility. It’s not that now you’re going to do tranquility, and later you’re going to do vipassanā. You can’t really separate them out that way. They’re separate only in name. They’re like a machete: The edge of the blade is on one side; the back of the blade is on the other. You can’t separate them. If you pick up just the handle, both the edge of the blade and the back of the blade come along with it. They don’t lie anywhere else. |
Về việc thực hành thiền quán (Vipassanā), điều đó cũng giống như thực hành thiền định (Samadhi). Ở một số nơi, người ta nói, “Chúng ta thực hành thiền định trước, và sau này chúng ta mới thực hành thiền quán. Hiện tại chúng ta đang thực hành thiền định tĩnh lặng.” Đừng tách biệt chúng ra xa nhau như vậy. Sự tĩnh lặng là nguồn gốc của trí tuệ; trí tuệ là kết quả của sự tĩnh lặng. Không phải là bây giờ bạn thực hành thiền định tĩnh lặng, và sau đó bạn mới thực hành thiền quán. Bạn không thể tách chúng ra như vậy được. Chúng chỉ khác nhau về tên gọi. Chúng giống như một con dao rựa: Lưỡi dao ở một bên; sống dao ở bên kia. Bạn không thể tách chúng ra. Nếu bạn chỉ cầm lấy cán dao, cả lưỡi dao và sống dao đều đi theo. Chúng không nằm ở bất cứ nơi nào khác. |
|
When there’s stillness, discernment arises right there in the stillness. See them as a single chunk of wood. Where do these things come from? They have a mother or father to give birth to them, you know, just as all of us have to come from a mother and father to be sitting here. Where does the Dhamma come from? Virtue is the mother and father of the Dhamma. In the beginning there has to be virtue. And this virtue is stillness—meaning that there’s no wrongdoing in terms of your body or mind. When there’s no wrongdoing, there’s no trouble because there’s no wrong. When there’s no trouble, stillness can arise. The mind gives rise to concentration right at the same time. This is why we’re taught that virtue, concentration, and discernment—the path by which the noble ones go to nibbāna—are all one and the same thing. |
Khi đạt được sự tĩnh lặng, trí tuệ phân biệt sẽ xuất hiện ngay trong sự tĩnh lặng đó. Hãy xem chúng như một khối gỗ duy nhất. Những điều này đến từ đâu? Chúng đều có cha mẹ sinh ra, giống như tất cả chúng ta đều phải có cha mẹ mới có thể ngồi ở đây. Pháp (Dhamma) đến từ đâu? Giới là cha mẹ của Pháp. Ban đầu phải có giới. Và giới này chính là sự tĩnh lặng—nghĩa là không có hành động sai trái nào về thân hay tâm. Khi không có hành động sai trái, sẽ không có phiền não vì không có điều sai trái. Khi không có phiền não, sự tĩnh lặng có thể xuất hiện. Tâm sẽ sinh ra định ngay lập tức. Đó là lý do tại sao chúng ta được dạy rằng giới, định và tuệ —con đường mà các bậc thánh nhân đi đến Niết bàn—đều là một và cùng một thứ. |
|
To put it even more briefly: Virtue, concentration, and discernment are one and the same thing—one and the same piece of Dhamma. Virtue is concentration; concentration is virtue. Concentration is discernment; discernment is concentration. It’s like a mango. When it’s still a flower, we call it a mango flower. When it’s a little fruit, we call it a baby mango. When it gets bigger, we call it a biggish mango. When it gets bigger and almost ripe, we call it a half-ripe mango. When it’s fully ripe, we call it a ripe mango. It’s all the same mango, simply that it keeps changing, changing, changing, changing. When it’s big, it’s big coming from little. When it’s little, it’s little heading for big. You could call it different mangos, or you could call it all the same mango. |
Nói một cách ngắn gọn hơn: Giới, định và tuệ là một và cùng một thứ – cùng một phần của Pháp. Giới là sự tập trung; sự tập trung là giới. Sự tập trung là trí tuệ; trí tuệ là sự tập trung. Giống như một quả xoài. Khi còn là hoa, chúng ta gọi nó là hoa xoài. Khi là quả nhỏ, chúng ta gọi nó là quả xoài non. Khi lớn hơn một chút, chúng ta gọi nó là quả xoài hơi lớn. Khi lớn hơn nữa và gần chín, chúng ta gọi nó là quả xoài vừa chín. Khi chín hoàn toàn, chúng ta gọi nó là quả xoài chín. Tất cả đều là cùng một quả xoài, chỉ là nó liên tục thay đổi, thay đổi, thay đổi. Khi nó lớn, nó lớn lên từ nhỏ. Khi nó nhỏ, nó nhỏ để rồi lớn lên. Bạn có thể gọi chúng là những quả xoài khác nhau, hoặc bạn có thể gọi tất cả chúng là cùng một quả xoài. |
|
Virtue, concentration, and discernment are interrelated in just the same way. Ultimately they become the path progressing to the stream to nibbāna. The mango, starting from when it’s a flower, progresses to ripeness, and that’s enough. See it in this way. When we see it in this way, we don’t criticize it. |
Giới, định và tuệ cũng có mối liên hệ mật thiết với nhau theo cách tương tự. Cuối cùng, chúng trở thành con đường dẫn đến dòng chảy hướng đến Niết bàn. Quả xoài, từ khi còn là bông hoa, dần dần chín muồi, và thế là đủ. Hãy nhìn nhận mọi việc theo cách này. Khi chúng ta nhìn nhận theo cách này, chúng ta sẽ không chỉ trích điều gì cả. |
|
The same with this fabricated body. Whatever it does, don’t get worked up about it. After it’s born, it grows old. After it’s born, whatever it does, contemplate it. |
Cũng tương tự với thân giả tạo này. Cho dù nó làm gì, đừng quá bận tâm về điều đó. Sau khi được sinh ra, nó sẽ già đi. Sau khi được sinh ra, bất kể nó làm gì, hãy suy ngẫm về điều đó. |
|
Some people don’t want to grow old. When they grow old, they get despondent. If that’s the case, then don’t eat ripe mangos! Why do you want the mango to be ripe? When mangos don’t ripen fast enough, we force them to ripen, don’t we? Yet when we grow old and ripen, we get afraid and despondent. Some people start crying, afraid that they’re going to grow old and die. If that’s the case, they shouldn’t eat ripe mangos. They’d better eat just the mango flowers. |
Một số người không muốn bị già. Khi già đi, họ trở nên chán nản. Nếu vậy, thì đừng ăn xoài chín! Tại sao lại muốn xoài chín? Khi xoài không chín nhanh, chúng ta lại tìm cách thúc chín chúng, phải không? Thế nhưng khi chúng ta già đi và "chín muồi", chúng ta lại sợ hãi và chán nản. Một số người bắt đầu khóc, sợ rằng mình sẽ già đi và chết. Nếu vậy, họ không nên ăn xoài chín. Tốt hơn hết là chỉ nên ăn hoa xoài thôi. |
|
When we can think in this way, the Dhamma becomes clearer. We can be at our ease—and what will we do? We’ll simply set our minds on how we have to focus solely on the practice. |
Nếu chúng ta có thể suy nghĩ theo cách này, giáo pháp sẽ trở nên rõ ràng hơn. Chúng ta sẽ cảm thấy thoải mái – và chúng ta sẽ làm gì? Chúng ta sẽ chỉ tập trung tâm vào việc tu tập mà thôi. |
|
That’s the Dhamma talk for you, the Chief Privy Councilor and your children and grandchildren who have gathered here today. I’ve explained the Dhamma for you to hear, and that should be enough for now. |
Đó là bài pháp thoại dành cho ngài, vị Cố vấn tối cao của nhà vua, và con cháu của ngài đã tề tựu ở đây hôm nay. Tôi đã giải thích giáo lý Phật pháp cho quý vị nghe, và như vậy là đủ cho lúc này. |
|
What I’ve taught you here: I’d like you to take it apart to contemplate. It’s not yet right; it’s not yet wrong. For it to be right or wrong, you have to contemplate it. That’s each person’s individual duty. And as for whatever’s wrong or inaccurate, give it your forgiveness at the same time. Actually, whether it’s right or wrong, it’s all something for you to practice with: Whatever’s wrong, throw it away; whatever’s right, practice in line with it. Practice, okay? Practice abandoning both right and wrong. Ultimately, the practice is a matter of abandoning both right and wrong. You throw away what’s right; you throw away what’s wrong. If, whatever’s right, you hold onto it as right, and other people say it’s wrong, you just keep on quarreling. The Dhamma, though, is a place where there’s nothing. Nothing at all. |
Những điều tôi đã thuyết giảng cho các bạn ở đây: tôi muốn các bạn hãy quán chiếu kỹ lưỡng. Nó chưa hẳn đúng, cũng chưa hẳn sai. Để biết nó đúng hay sai, các bạn phải quán chiếu những gì tôi đã thuyết giảng. Đó là trách nhiệm cá nhân của mỗi người. Và đối với bất cứ điều gì sai hoặc không chính xác, hãy thông cảm cho nó cùng lúc đó. Thực ra, dù đúng hay sai, tất cả đều là những điều để các bạn thực hành: Điều gì sai, hãy loại bỏ nó; điều gì đúng, hãy tu tập theo nó. Hãy thực hành, được chứ? Thực hành việc từ bỏ cả đúng và sai. Cuối cùng, việc thực hành là việc từ bỏ cả đúng và sai. Bạn loại bỏ cái đúng; bạn loại bỏ cái sai. Nếu bạn cứ giữ lấy cái đúng và cho rằng nó đúng, trong khi người khác lại nói nó sai, thì bạn sẽ chỉ mãi tranh cãi. Tuy nhiên, Chánh pháp là nơi không có gì cả. Không có gì cả. |
|
I once read a story that one of my students brought here. Some Zen students were sitting with their teacher near a flag on a pole. The wind was blowing back and forth, and the flag was flapping. One of the students said, “Eh? Why is the flag flapping? It must be because of the wind.” Another student said, “No. It’s because there’s a flag.” So they kept arguing in that way. The teacher was sitting there but didn’t say anything. “It’s because of the wind.” “No. It’s because there’s a flag.” “No. It’s because of the wind.” “No. It’s because there’s a flag.” They kept on arguing until the teacher said, “No. You’re both wrong, which is why the flag is still fluttering and flapping. There is no flag and there is no wind.” There. That was the end of that. [Laughs] |
Tôi từng đọc một câu chuyện của một trong những học trò của tôi mang đến đây. Một số Thiền sinh đang ngồi quây quần bên thầy của họ kế bên có một cái cột có treo một lá cờ. |
|
[Break in the recording] |
[Ngưng thâu âm tại đây] |
|
Question: …the body in the body until you see the mind disband. Your explanation of seeing the body in the body is clear, but to see the mind in the mind: what exactly does it mean? Could you explain just a little more?—but not so much that it makes you tired. |
Câu hỏi: …quán thân trong thân cho đến khi thấy tâm tan rã. Lời giải thích của ngài về việc quán thân trong thân đã rõ ràng, nhưng việc quán tâm trong tâm: chính xác có nghĩa là gì? Ngài có thể giải thích thêm một chút được không? — nhưng đừng giải thích quá nhiều đến mức khiến ngài mệt mỏi. |
|
Ajahn Chah: Even though I’m tired, I have to speak, you know. You can’t speak without getting tired. Even when you’re tired, you have to speak. |
Ajahn Chah: Mặc dù tôi mệt, nhưng tôi vẫn phải nói, các bạn biết đấy. Không thể nói mà không mệt được. Ngay cả khi mệt, bạn vẫn phải nói. |
|
You’ve asked what the mind is. I have to explain this before I talk about what’s in the mind. It’s somewhat like knowing that this is a spittoon. Then you can know what’s in the spittoon. You’re clear about what’s in the spittoon. Why? Because you first know what the spittoon is, right? You can’t go first to what’s in the spittoon. What’s the spittoon? This is the spittoon. Then you can look into the spittoon and see what’s in it. You see that there’s water in the spittoon. That’s what the problem is like. |
Bạn đã hỏi tâm là gì. Tôi cần giải thích điều này trước khi nói về những gì có trong tâm. Điều đó cũng giống như việc biết rằng đây là một cái ống nhổ. Sau đó bạn mới có thể biết trong cái ống nhổ có gì. Bạn hiểu rõ những gì có trong cái ống nhổ. Tại sao? Bởi vì trước hết bạn biết cái ống nhổ là gì, đúng không? Bạn không thể đi thẳng đến việc tìm hiểu xem trong cái ống nhổ có gì. cái ống nhổ là gì? Đây là cái ống nhổ. Sau đó bạn có thể nhìn vào cái ống nhổ và xem bên trong có gì. Bạn thấy rằng trong cái ống nhổ có nước. Vấn đề cũng tương tự như vậy. |
|
As for the mind… Actually, there’s no substance to the mind. You can’t point to where the mind is. But we can describe it in a way that makes it easier to see, so that you can know what the mind is. There’s an awareness, an awareness of things. It doesn’t know that it’s the mind, but we’re aware. There’s an awareness, the act of bringing in a preoccupation, the act of recognizing all the various preoccupations. When a preoccupation has hit us, that means we’ve latched onto it. The act of letting go in the act of attachment: What’s that? Is there anything there, or not? Right there in the mind, where it’s latched on: Is there anything there? The awareness that’s aware there: That’s the mind. Going deeper into that awareness, is there anything there in that? That’s what’s in the mind. That’s where you know the mind in the mind. The mind is like the spittoon. The only way to make it clear is to explain it in this way. There’s no shape to it, so you have to explain it in this way. Once you know that this is the spittoon, you can look into the spittoon to see what’s in it. |
Còn nói về tâm… Thực ra, tâm không có hình thể. Bạn không thể chỉ ra tâm ở đâu. Nhưng chúng ta có thể mô tả nó theo cách dễ hiểu hơn, để bạn có thể biết tâm là gì. Có một sự nhận thức, sự nhận thức về mọi thứ. Nó không biết rằng nó là tâm, nhưng chúng ta nhận thức được điều đó. Có một sự nhận thức, hành động tiếp nhận một sự bận tâm, hành động nhận ra tất cả những sự bận tâm khác nhau. Khi một sự bận tâm ập đến, điều đó có nghĩa là chúng ta đã bám víu vào nó. Hành động buông bỏ trong hành động bám víu: Đó là gì? Có thứ gì ở đó hay không? Ngay tại tâm, nơi nó bám víu: Có thứ gì ở đó không? Sự nhận thức đang nhận thức ở đó: Đó chính là tâm. Đi sâu hơn vào sự nhận thức đó, có thứ gì ở đó không? Đó là những gì có trong tâm. Đó là nơi bạn nhận biết tâm trong chính tâm. Tâm giống như cái ống nhổ. Cách duy nhất để làm cho nó rõ ràng là giải thích theo cách này. Nó không có hình dạng, vì vậy bạn phải giải thích theo cách này. Một khi bạn biết rằng đây là cái ống nhổ, bạn có thể nhìn vào cái ống nhổ để xem có gì trong đó. |
|
The mind is what’s aware of preoccupations, what thinks and brings preoccupations into it. Once it’s aware, it brings preoccupations into it and then holds them inside. What holds them inside: Can you sense what’s in there? There are all kinds of clingings and assumptions, right and wrong in there.… |
Tâm là thứ nhận thức được những mối bận tâm, tâm suy nghĩ và đưa những mối bận tâm vào bên trong. Một khi đã nhận thức được, nó sẽ đưa những mối bận tâm vào bên trong và rồi giữ chúng lại trong đó. Điều gì giữ chúng lại bên trong? Bạn có thể cảm nhận được những gì đang ở bên trong không? Có đủ loại sự bám víu và giả định, đúng sai lẫn lộn ở đó… |
|
That’s not quite right. It’s like grabbing hold of something in your fist. “Eh? What have I grabbed in my fist?” You open up your fist to see what’s in there. This is what’s in your fist, right? |
Điều đó không hoàn toàn đúng. Nó giống như việc bạn nắm chặt một thứ gì đó trong lòng bàn tay. "Ơ? Mình đã nắm được cái gì trong tay vậy?" Bạn mở bàn tay ra để xem bên trong có gì. Đây là thứ nằm trong lòng bàn tay của bạn, đúng không? |
|
It’s the same with the mind. If we speak using natural, ordinary words, we can say that it’s what brings preoccupations in, what brings preoccupations into our mind: Once they’re there—the preoccupations held in the mind—we open it up to see what’s in there. Are there right views? Are they wise to pleasure and pain? Try to know what’s right there. That’s where the path is. The path to knowing is right there, right where you were holding onto things. |
Điều đó cũng tương tự với tâm. Nếu chúng ta dùng những từ ngữ tự nhiên, thông thường, chúng ta có thể nói rằng đó là thứ mang đến những phiền não, những lo lắng vào tâm chúng ta: Một khi chúng đã ở đó – những mối bận tâm được giữ trong tâm – chúng ta hãy mở tâm ra để xem có gì bên trong. Có những quan điểm đúng đắn không? Chúng ta có khôn ngoan trước niềm vui và nỗi đau không? Hãy cố gắng nhận biết những gì đang hiện hữu ngay tại đó. Con đường dẫn đến sự giác ngộ nằm ngay tại đó. Con đường dẫn đến sự hiểu biết nằm ngay tại nơi bạn đang bám víu vào mọi thứ. |
|
This is just a little bit of what the Buddha taught. |
Đây chỉ là một phần nhỏ trong những gì Đức Phật đã dạy. |
|
It’s enough to help me understand. |
Như vậy là đủ để giúp con hiểu. |
|
That should be enough. |
Như vậy là đủ. |
|
I’ll take it to think over. |
Con sẽ suy nghĩ thêm về việc này. |
|
That’s right. Take it and continue with it. |
Đúng vậy. Hãy nhận lấy và tiếp tục tu tập. |
|
Yes, sir. I’ll try. I’ll try sitting and meditating with it. |
Vâng, thưa ngài. Con sẽ cố gắng. Con sẽ thử thiền và quán chiếu nó. |
|
You can’t awaken to these things simply because other people have told you about them. The fact of the matter is that when you leave here you have to contemplate them for yourself. The Buddha said, “Akkhātāro Tathāgatā: The Tathāgatas simply point out the way.” In other words, they teach people how to swim, but they can’t swim for them. If they do our swimming for us, we drown. It’s beyond their ability to do our swimming for us. That’s the way it has to be. |
Bạn không thể giác ngộ những điều này khi người khác đã nói cho bạn biết. Thực tế là khi rời khỏi đây, bạn phải tự mình quán chiếu về chúng. Đức Phật đã nói: “Akkhātāro Tathāgatā: Chư Phật chỉ chỉ ra con đường.” Nói cách khác, họ dạy mọi người cách bơi, nhưng họ không thể bơi thay cho chúng ta. Nếu họ bơi thay cho chúng ta, chúng ta sẽ chết đuối. Việc bơi thay cho chúng ta nằm ngoài khả năng của họ. Đó là điều tất yếu. |
|
The same with nibbāna: Why didn’t our Buddha explain nibbāna so that it’s totally clear? Because it can’t be explained in a way that’s totally clear. It’s like showing a picture to a blind person. The blind person can’t see it clearly. Before it can become clear, the blind person has to treat his eyes until they can see. Only then will the picture be clear. |
Niết-bàn tương tự như vậy: Tại sao Đức Phật của chúng ta không giải thích Niết bàn một cách hoàn toàn rõ ràng? Bởi vì không thể giải thích nó một cách hoàn toàn rõ ràng. Điều đó giống như việc cho người mù xem một bức tranh. Người mù không thể nhìn thấy rõ ràng. Trước khi có thể hiểu rõ, người mù phải chữa trị đôi mắt của mình cho đến khi có thể nhìn thấy. Chỉ khi đó bức tranh mới trở nên rõ ràng. |
|
It’s the same sort of thing here. The Buddha wanted so much for us to know and see, but nibbāna is the sort of Dhamma that’s paccattaṁ: personal. That’s as far as he could help. He “Akkhātāro Tathāgatā: The Tathāgatas simply point out the way,” and then he took his leave. That’s the way it is. |
Ở đây cũng vậy. Đức Phật rất muốn chúng ta hiểu và thấy được điều đó, nhưng Niết bàn là loại Pháp mà mỗi người phải tự mình chứng ngộ: mang tính cá nhân. Đó là giới hạn mà Ngài có thể giúp đỡ. Ngài nói "Akkhātāro Tathāgatā: Các vị Như Lai chỉ là người chỉ đường," rồi Ngài ra đi. Đó là con đường tu tập. |
|
Thank you, sir. |
Tạ ơn Ngài |
webmasters: Nguyễn Văn Hoà & Minh Hạnh |
|