My alms bowl is central to my life. A symbol of the Theravada Buddhist monastic tradition in which I trained, it is the soul of my mendicancy — coming empty-handed before the laity to receive material nourishment and responding to their generosity. Sometimes that means reciprocating with a teaching from the Buddha, sometimes with a blessing chant or simply an expression of gratitude and kindness.

I am a beggar, and I must also be true. It is not easy to be a true beggar. I have to be worthy to be fed by the kindness of others and have all my needs provided. This way is rare and precious, as are acts of generosity in a world so driven by greed and selfishness.

Cultivating the spiritual path with integrity demands much of a beggar, primarily a faithful allegiance to the Vinaya, the code by which I live, as well as a sincere appreciation and respect for my supporters, their devotion and hard work to obtain, prepare and bring offerings, even at considerable sacrifice. It also calls for contentment with little — a simplicity of being and a commitment to renounce on many levels.

Chiếc bình bát khất thực giữ vai trò trung tâm trong cuộc đời tôi. Là biểu tượng cho truyền thống tu tập của Phật giáo Nguyên thủy nơi tôi từng thụ huấn, nó là linh hồn của nếp sống khất thực của tôi — việc đến trước hàng cư sĩ với đôi bàn tay trắng để đón nhận vật thực nuôi thân và đáp lại lòng hảo tâm của họ. Đôi khi điều đó có nghĩa là đáp lại bằng một lời dạy của Đức Phật, đôi khi là bằng một bài kinh chúc phúc, hay đơn giản chỉ là bày tỏ lòng biết ơn và sự tử tế.

Tôi là một người khất sĩ, và tôi cũng phải sống chân thật. Làm một khất sĩ chân thật chẳng phải chuyện dễ dàng. Tôi phải xứng đáng được nuôi sống bởi lòng tốt của người khác và được chu cấp mọi nhu cầu của mình. Con đường này thật hiếm và đáng quý, cũng như những hành động bố thí trong một thế giới vốn bị chi phối bởi lòng tham và sự ích kỷ.

Việc tu tập trên con đường tâm linh với sự chính trực đòi hỏi rất nhiều ở một người khất sĩ; trước hết là lòng trung thành tuyệt đối với Luật tạng (Vinaya), kim chỉ nam cho nếp sống của tôi, cũng như sự trân trọng và lòng biết ơn chân thành đối với những người hộ trì, cùng tấm lòng thành kính và công sức to lớn mà họ đã bỏ ra để tìm kiếm, chuẩn bị và dâng cúng phẩm vật, ngay cả khi phải hy sinh rất nhiều. Nó cũng đòi hỏi sự hài lòng với những gì đơn giản — một lối sống giản dị và cam kết từ bỏ trên nhiều phương diện.

These qualities develop through a vigilance of heart that is difficult to practise in a large, well-funded institution. In those days when my monastic requisites, especially meals, were complete, assured and generally abundant, I used self-abstinence to remind myself of the value of all that was given to us. On occasion, we also went on tudong or walked for alms in the nearby villages, accepting whatever we received as our meal for the day. But these were temporary privations — not a sustained way of life. They bore the flavor of heroic adventure but could hardly reflect the daily grind of spiritual endeavour.

It was only after I left the mother monastery to live on my own in New Zealand, a non-Buddhist country, that I came to know true choicelessness, at times facing physical hunger or a powerless isolation. This propelled me into a level of faith not demanded of me before, especially on days when I received very little, if anything, that would serve as a meal.

Những phẩm chất này được hình thành nhờ sự tỉnh thức của trái tim, điều vốn khó thực hiện được trong một tổ chức quy mô lớn và dồi dào nguồn lực tài chính. Vào những ngày mà các vật dụng cần thiết cho đời sống tu hành của tôi, đặc biệt là việc ăn uống, đều đầy đủ, được bảo đảm và thường là dư dả, tôi đã thực hành sự tiết chế để tự nhắc nhở bản thân về giá trị của tất cả những gì được cúng dường cho chúng tôi. Thỉnh thoảng, chúng tôi cũng đi tudong hoặc đi bộ khất thực tại các ngôi làng lân cận, nhận bất cứ thứ gì được cúng dường để dùng làm bữa ăn trong ngày. Nhưng đó chỉ là những thiếu thốn tạm thời chứ không phải là một lối sống trường kỳ. Chúng mang dáng dấp của một cuộc phiêu lưu hào hùng, nhưng khó lòng phản ảnh được sự nhọc nhằn thường nhật trên hành trình tu tập tâm linh.

Chỉ sau khi rời tu viện gốc để sống tự lập tại New Zealand, một quốc gia không theo Phật giáo, tôi mới thật sự thấu hiểu thế nào là trạng thái không có quyền lựa chọn, khi đôi lúc phải đối mặt với cơn đói thể xác hay nỗi cô độc bất lực. Điều này đã đưa tôi đến một mức độ đức tin mà trước đây chưa từng được đòi hỏi ở tôi, nhất là vào những ngày tôi hầu như chẳng có gì để ăn.

And so I learnt to meditate on the emptiness of my bowl — consciously relinquishing desire for food and accepting hunger. Bearing hunger with faith led me beyond despair to a gratitude and joy for what I did receive — a feeling of fullness that was not borne of food.

These hardships ripened me. I have gone hungry. But I have been able to keep going because every part of my body is made up of the loving-kindness from generous people who have cared for me for years and years, and my life is composed of pure kindness and thanksgiving.

Và thế là tôi học cách quán chiếu sự trống rỗng của chiếc bát — chủ động buông bỏ ham muốn ăn uống và chấp nhận cơn đói. Việc chịu đựng cơn đói với đức tin đã đưa tôi vượt qua nỗi tuyệt vọng để đến với lòng biết ơn và niềm vui trước những gì mình đã nhận được — một cảm giác no đầy không đến từ thức ăn.

Những gian nan ấy đã rèn luyện tôi nên người. Tôi từng nếm trải cảnh đói khát. Nhưng tôi vẫn có thể tiếp tục bước đi bởi vì từng phần cơ thể tôi đều được vun đắp từ lòng nhân ái của những người hảo tâm đã hết lòng chăm lo cho tôi suốt bao năm trời, và cuộc đời tôi được dệt nên từ sự tử tế thuần khiết cùng lòng biết ơn sâu sắc.

Now, in my passage through Malaysia, I have again taken the opportunity to walk pindapat in the local market of Penang where it is surprisingly easy to beg. I knew I would be well-fed.

With my bowl secure in its harness around my shoulder and cradling it in my palms, I stood between the main fruit and vegetable vendors and rows of flimsy stalls that display a collage of baby clothes, ladies' handbags, jewellery, household items, and colourful trinkets.

I chanted for each person who stopped to make offerings. Within minutes, my bowl was weighed down with fruits, biscuits, pancakes, rice and coconut delicacies, and fried noodles — each wrapped in a colourful plastic bag.

Trong hành trình đi qua Malaysia lần này, tôi lại tranh thủ cơ hội đi pindapat tại khu chợ địa phương ở Penang, nơi việc khất thực diễn ra dễ dàng đến bất ngờ. Tôi biết chắc mình sẽ được no lòng.

Với chiếc bát được giữ chắc chắn trong dây đeo vắt qua vai và nằm trong vòng tay, tôi đứng giữa khu vực bán rau quả chính và những dãy quầy hàng tạm bợ, nơi bày bán đủ loại mặt hàng hỗn hợp từ quần áo trẻ em, túi xách phụ nữ, trang sức, đồ gia dụng cho đến những món đồ lưu niệm sặc sỡ.

Tôi tụng kinh cho từng người dừng lại dâng lễ vật. Chỉ trong vài phút, chiếc bát của tôi đã trĩu nặng nào là trái cây, bánh quy, bánh xèo, các món cơm và bánh dừa, cùng mì xào — tất cả đều được gói trong những chiếc túi ni-lông đầy màu sắc.

The early Sunday morning shoppers, primarily local Chinese, know what to do when they meet someone in robes going for alms. In this society, Buddhist nuns rarely go pindapat, and the monks who beg often accept money. Today they saw a nun — a foreigner — receiving only offerings of food into her bowl.

Word spread. Whenever people tried to give money, I had to be quick to cover my bowl with my hand. Amazed, they returned with sweetmeats, sticky rice, or fruits. More came, and when my bowl was brimming, they piled their offerings into a growing collection of pink plastic bags at my feet. With all this attention, I was distracted from my normal practice of focusing on the bowl and meditating on emptiness.

Những người đi mua sắm vào sáng sớm Chủ nhật, chủ yếu là người Hoa tại địa phương, đều biết phải làm gì khi gặp một vị mặc áo cà sa đang đi khất thực. Trong xã hội này, các ni cô hiếm khi đi khất thực, còn các nhà sư đi khất thực thì thường nhận tiền. Hôm nay, họ nhìn thấy một ni cô — người nước ngoài — chỉ nhận những lễ vật là thức ăn vào bình bát của mình.

Tin đồn lan đi. Mỗi khi có người định cho tiền, tôi phải nhanh tay che miệng bát lại. Đầy ngạc nhiên, họ quay trở lại cùng với bánh kẹo, xôi hoặc trái cây. Càng lúc càng có nhiều người đến; khi bát của tôi đã đầy ắp, họ chất những món quà ấy thành một đống túi ni-lông màu hồng ngay dưới chân tôi. Với tất cả sự chú ý này, tôi đã bị xao nhãng khỏi thói quen thường ngày là tập trung vào chiếc bát và thiền định về tính không.

The first time someone knelt and made anjali, I quickly removed my sandals before chanting a blessing, Sukhi hotu, avera hotu, abhayapaja hotu. I had not wandered out barefoot as the Buddha would have done because of the rubbish everywhere but it felt wrong to receive her respect wearing shoes. Remembering how I had thrown off my sandals and walked the filthy streets of Yangon last year to beg for alms inspired me to be barefoot again.

I continued to stand, softly chanting the Dhammacakkappavattana Sutta to myself and giving blessings each time someone placed more food in my bowl. I felt the turning of the wheel of Dharma and reflected on the thousands of years that this way of begging and receiving has nurtured the faithful. And here again, it was being upheld by simple acts of kindness — now a child with a bag of fried rolls, now a woman with jackfruit, now an Indian man curious to know from which country I hailed.

Some asked whether to place their offerings directly into the bags at my feet when they saw the bowl overflowing. I wanted at least to accept each offering in my hand if I could not with my bowl, and so create a sense of connection and relationship, chant a blessing and bear witness to their kindness.

Lần đầu tiên có người quỳ xuống và chắp tay hành lễ anjali, tôi vội vã cởi dép trước khi tụng lời chúc phúc: Sukhi hotu, avera hotu, abhayapaja hotu. Tôi đã không bước đi với đôi chân trần như Đức Phật thường làm vì rác rưởi vương vãi khắp nơi, nhưng việc mang giày khi đón nhận sự cung kính của bà lại khiến tôi cảm thấy không đúng. Việc nhớ lại cảnh mình từng cởi bỏ dép và đi chân trần trên những con phố bẩn thỉu ở Yangon vào năm ngoái để khất thực đã thôi thúc tôi một lần nữa bước đi bằng đôi chân trần.

Tôi vẫn đứng đó, khẽ niệm bài kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana Sutta) và ban lời chúc phúc mỗi khi có người đặt thêm thức ăn vào bình bát của mình. Tôi cảm nhận được sự chuyển vận của bánh xe Pháp và suy ngẫm rằng hàng ngàn năm qua phương thức khất thực và thọ nhận này đã nuôi dưỡng đức tin của các tín đồ. Và một lần nữa, điều đó lại được duy trì bằng những hành động tử tế đơn giản — lúc thì một đứa trẻ với túi chả giò chiên, lúc thì một người phụ nữ mang theo quả mít, hay một người đàn ông Ấn Độ tò mò muốn biết tôi đến từ đất nước nào.

Một số người hỏi liệu có nên bỏ lễ vật trực tiếp vào những chiếc túi đặt dưới chân tôi hay không khi thấy chiếc bát đã đầy ắp. Tôi muốn ít nhất là đón nhận từng lễ vật bằng tay nếu không thể nhận bằng bình bát, qua đó tạo dựng sự kết nối và mối giao hảo, tụng lời chúc phúc và ghi nhận lòng tốt của họ.

It was in one of these moments between the overflow of the bowl and the rush of generosity that I suddenly felt a hypocrite. I was well-fed, staying with my devotee, lacking nothing, and the bags were spilling out beside me.

What right did I have to stand there and beg? How could I dare hold my bowl out to be filled again and again when so much had already been given? What right did I have even to begin to beg?

Stifling and sweating in my robes, these questions crowded my mind. I remembered the story of the Sorcerer's Apprentice who tried to clean while the brooms multiplied and kept bringing more water... It seemed absurd to be juggling so many bags of food when I had no hunger in my belly.

Chính vào một trong những khoảnh khắc nằm giữa lúc chiếc bát tràn đầy và hành vi bố thí ồ ạt ấy, tôi chợt thấy mình thật giả tạo. Tôi được chăm lo ăn uống đầy đủ khi ở cùng người sùng mộ mình, chẳng thiếu thốn thứ gì, và những chiếc túi nằm ngổn ngang bên cạnh tôi.

Tôi có quyền gì mà đứng đó và ăn xin? Làm sao tôi dám chìa chiếc bát ra để được rót đầy hết lần này đến lần khác, khi mà biết bao nhiêu ân huệ đã được ban cho? Tôi có quyền gì dù chỉ là ngỏ lời cầu xin chứ?

Trong chiếc áo cà sa ngột ngạt và đẫm mồ hôi, những câu hỏi cứ dồn dập ùa về trong tâm trí tôi. Tôi chợt nhớ đến câu chuyện về người học việc của phù thủy, kẻ đã cố gắng dọn dẹp trong khi lũ chổi cứ thế sinh sôi và không ngừng mang thêm nước tới... Thật nực cười khi phải loay hoay với bao nhiêu là túi đồ ăn trong khi bụng tôi chẳng hề thấy đói.

Not even half an hour had elapsed. Embarrassed, anxious, and feeling unworthy of receiving the tide of generosity, I fretfully looked about hoping my devotee would return soon to collect me. And then, to calm my mind, I began to chant more loudly.

Contemplating the Four Noble Truths, with eyes downcast, I watched the feet of all who passed me — sandals of every colour and style, high heels and broken shoes, human beings of all ages, shuffling, hobbling or brisk in pace. Looking at their faces, I saw the bent, disabled and healthy, the dishevelled and well-dressed, the shrivelled and overweight, smiles and grimaces, distracted expressions and down-turned mouths, mothers, infants, a father grasping the hand of his small son, bicycles and litter, traders shouting and the smells of the market, the world — the World.

Chưa đầy nửa giờ trôi qua. Trong lòng vừa ngượng ngùng, lo lắng, lại vừa cảm thấy mình không xứng đáng đón nhận sự bố thí dạt dào ấy, tôi bồn chồn nhìn quanh, mong ngóng người tín đồ của mình sớm quay lại đón. Và rồi, để trấn tĩnh tâm trí, tôi bắt đầu tụng niệm to hơn.

Trong khi suy ngẫm về Tứ Diệu Đế với ánh mắt nhìn xuống, tôi quan sát bước chân của những người đi ngang qua mình — đủ loại dép với đủ màu sắc và kiểu dáng, giày cao gót lẫn những đôi giày đã sờn rách; những người ở mọi lứa tuổi, kẻ lê bước chậm chạp, người tập tễnh khó khăn, hay bước đi nhanh nhẹn, hối hả. Nhìn vào gương mặt họ, tôi thấy những dáng người còng lưng, tàn tật và khỏe mạnh, kẻ luộm thuộm và người ăn mặc chỉnh tề, người gầy guộc héo hon và kẻ thừa cân; thấy những nụ cười và những nét mặt nhăn nhó, những ánh mắt lơ đãng và đôi môi trĩu xuống; thấy những người mẹ, những đứa trẻ sơ sinh, người cha đang nắm chặt tay cậu con trai nhỏ; thấy xe đạp và rác rưởi, tiếng người buôn bán rao hàng cùng mùi vị đặc trưng của khu chợ, cả thế giới — Thế giới.

My heart grew bright with compassion. I knew that I was standing there to let my bowl be filled again and again by those who love Truth. Hungry or not, I had every right to receive what they freely gave.

I was not abusing that beauty because it was not for me that they filled the bowl. I was a beggar for love of that blessedness, and the filling and emptying of my bowl was the natural process of each of our lives being remembered and honoured in random acts of kindness.

I receive and I give back.

Trái tim tôi bừng sáng với lòng từ bi. Tôi biết mình đang đứng đó để đón nhận sự lấp đầy chiếc bát của mình, lần này đến lần khác, bởi những người yêu mến Chân lý. Dù đói hay không, tôi hoàn toàn có quyền nhận lấy những gì họ tự nguyện trao tặng.

Tôi đã không lạm dụng vẻ đẹp ấy, bởi vì người ta không đắp đầy chiếc bát đó cho tôi. Tôi là kẻ đi xin chút tình yêu dành cho sự an lành diệu kỳ ấy, và việc chiếc bát của tôi khi đầy khi vơi chính là quy trình tự nhiên của cuộc đời mỗi chúng ta, được nhớ đến và được tôn vinh qua những hành động tử tế ngẫu nhiên.

Tôi đón nhận và tôi trao đi.

©2005 Ayya Medhanandi.
You may copy, reformat, reprint, republish, and redistribute this work in any medium whatsoever, provided that: (1) you only make such copies, etc. available free of charge; (2) you clearly indicate that any derivatives of this work (including translations) are derived from this source document; and (3) you include the full text of this license in any copies or derivatives of this work. Otherwise, all rights reserved. Documents linked from this page may be subject to other restrictions. Transcribed from a file provided by the author. Last revised for Access to Insight on 2 November 2013.
How to cite this document (a suggested style): "The Food of Kindness", by Ayya Medhanandi. Access to Insight (BCBS Edition), 2 November 2013, http://www.accesstoinsight.org/lib/authors/medhanandi/foodofkindness.html .

©2005 Ayya Medhanandi.
Quý vị có thể làm bản sao, thay đổi hình dạng, in lại, xuất bản lại, và phân phối lại công trình này dưới bất cứ phương tiện nào, với điều kiện: (1) quý vị chỉ làm các bản sao như vậy, v.v. , cung cấp miễn phí và, trong trường hợp in lại, chỉ với số lượng không quá 50 bản sao; (2) quý vị chỉ ra rõ ràng là bất kỳ dẫn xuất nào của công trình nghiên cứu này (bao gồm cả bản dịch) có nguồn gốc từ nguồn tài liệu này, và (3) quý vị bao gồm đầy đủ văn bản của giấy phép này trong bất kỳ bản sao hay các dẫn xuất của công việc này. Nếu không, phải tôn trọng bản quyền. Các tài liệu liên kết từ trang này có thể bị hạn chế. Chép lại từ tài liệu được cung cấp bởi tác giả. Chỉnh sửa cuối cho Access to Insight vào ngày 2 tháng 11, năm 2013.
Làm thế nào để trích dẫn tài liệu này (một đề nghị bút pháp): "The Food of Kindness - Thực Phẩm Cúng Dường", Ayya Medhanandi biên soạn. Access to Insight (BCBS Edition), ngày 2 tháng 11 năm 2013, http://www.accesstoinsight.org/lib/authors/medhanandi/foodofkindness.html .

 Webmasters: Minh Hạnh & Thiện Pháp
Cập nhập ngày: Thứ Tư 24-06-2026

 | | trở về đầu trang | Home page |