Death is the only certain thing in life. It is also the thing for which we are least prepared. We plan and prepare for various other things — examinations, weddings, business transactions, building houses — but we can never be certain whether our plans will materialize according to our wish. Death, on the other hand, can come any minute, sooner or later; it is the most certain event in life. Just as the mushroom raises itself from the ground carrying a bit of earth on its hood, so every living being brings with himself the certainty of death from the moment of his birth.

The Anguttara Nikaya (IV, 136) illustrates the uncertainty and the evanescent nature of life with the help of a few evocative similes. Life is compared to a dew drop at the tip of a blade of grass: it can drop off any moment and even if it does not fall off, it evaporates as soon as the sun comes up. Life is also as fleeting as a bubble of water formed by the falling rain or a line drawn on the water. The text points out that life rushes towards death incessantly like a mountain stream rushing down without stopping. The Dhammapada compares the fragility of the body to foam (v 46) and to a clay water pot (v 40). Thus with various similes the uncertainty of life and the certainty of death are emphasized over and over again in the Buddhist texts.

Cái chết là điều duy nhất chắc chắn trong cuộc sống. Đó cũng là điều mà chúng ta ít chuẩn bị nhất. Chúng ta lên kế hoạch và chuẩn bị cho nhiều việc khác nhau — thi cử, đám cưới, các giao dịch kinh doanh, xây nhà — nhưng chúng ta không bao giờ có thể chắc chắn được rằng liệu những kế hoạch đó có diễn ra đúng như ý muốn hay không. Trái lại, cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào, sớm hay muộn; đó là sự kiện chắc chắn nhất trong cuộc đời. Cũng như cây nấm vươn mình lên khỏi mặt đất, mang theo chút đất bám trên mũ nấm, thì mọi sinh vật cũng mang theo nó sự chắc chắn về cái chết ngay từ khoảnh khắc chào đời.

Kinh Tăng Chi Bộ (Anguttara Nikaya, IV, 136) giảng nghĩa sự bất định và bản chất phù du của cuộc sống với sự hỗ trợ của một vài phép so sánh đầy gợi hình. Cuộc đời được ví như giọt sương trên đầu ngọn cỏ: nó có thể rơi xuống bất cứ lúc nào, và ngay cả khi không rơi, nó cũng sẽ tan biến khi mặt trời vừa ló dạng. Cuộc đời cũng phù du tựa như bong bóng nước do mưa rơi tạo thành, hay một vệt kẻ trên mặt nước. Văn bản chỉ ra rằng cuộc sống không ngớt lao về phía cái chết như dòng suối trên núi cuồn cuộn đổ xuống không ngừng. Kinh Pháp Cú ví sự mong manh của thân xác như bọt nước (câu 46) và như chiếc bình đất đựng nước (câu 40). Như vậy, với nhiều hình ảnh so sánh khác nhau, tính bấp bênh của cuộc sống và sự chắc chắn của cái chết được nhấn mạnh nhiều lần trong các văn bản Phật giáo.

It is accepted as a general truth that everybody fears death (sabbe bhayanti maccuno — Dh 129). We fear death because we crave for life with all our might. It is also a fact that we fear the unknown. We know least about death, therefore we fear death for a duality of reasons. It seems reasonable to conjecture that the fear of death, or the fear of harm to life, lurks at the root of all fear. Therefore each time we become frightened we either run away from the source of fear or fight against it, thus making every effort to preserve life. But we can do so only so long as our body is capable of either fighting or running away from danger. But when at last we are on the deathbed face to face with approaching death, and the body is no longer strong enough for any protest, it is very unlikely that we will accept death with a mental attitude of resignation. We will mentally try hard to survive. As our yearning for life (tanha) is so strong, we will mentally grasp (upadana) another viable place, as our body can no longer support life. Once such a place, for example the fertilized ovum in a mother's womb, has been grasped, the psychological process of life (bhava) will continue with the newly found place as its basis. Birth (jati) will take place in due course. This seems to be the process that is explained in the chain of causation as: craving conditions grasping, grasping conditions becoming or the process of growth, which in turn conditions birth. Thus the average man who fears death will necessarily take another birth as his ardent desire is to survive.

Let us probe a little further into the process of death, going from the known to the unknown. We know that in normal life, when we are awake, sense data keep on impinging on our sense faculties. We are kept busy attending to these sense data, rejecting some, selecting some for greater attention, and getting obsessed with still other things. This is an ongoing process so long as we are awake. In the modern age man is reaching out and seeking more and more sense stimulation. The popularity of the portable radio with or without earphones, chewing gum, cosmetics and television is a clear indication of the present trend for more and more sense stimulation. By all this we have become alienated from ourselves; we do not know our own real nature, or the real nature of our mind to be more precise. Moreover, we go about our business in social life wearing masks appropriate for each occasion. We often do not show our true feelings of jealousy, greed, hatred, pride, or selfishness. We hide them in socially accepted ways of formalized verbal expressions such as congratulations, thank you, deepest sympathies. But there are times when our negative emotions are so acute that they come into the open in the form of killing, stealing, quarreling, backbiting, and so forth. But generally we try to keep these venomous snakes of negative emotions inhibited.

Một sự thật hiển nhiên được thừa nhận là ai cũng sợ chết (sabbe bhayanti maccuno — Dh 129). Chúng ta sợ chết vì chúng ta khao khát sự sống bằng tất cả sức lực của mình. Một thật tế nữa là chúng ta sợ những điều chưa biết. Chúng ta biết rất ít về cái chết, do đó chúng ta sợ nó vì hai lý do song hành. Có lý khi cho rằng nỗi sợ chết, hay nỗi sợ bị tổn hại đến tính mạng, ẩn náu nơi cội rễ của mọi nỗi sợ hãi. Do đó, mỗi khi cảm thấy sợ hãi, chúng ta hoặc là bỏ chạy khỏi nguồn cơn của nỗi sợ, hoặc là chống lại nó, vì thế nỗ lực hết mình để bảo toàn tính mạng. Nhưng chúng ta chỉ có thể làm được như vậy chừng nào thân thể còn đủ khả năng chống lại hoặc chạy trốn khỏi nguy hiểm. Nhưng khi cuối cùng chúng ta nằm trên giường bệnh, đối diện với cái chết đang đến gần, và thân thể không còn đủ sức để phản kháng nữa, thì rất khó có khả năng chúng ta sẽ đón nhận cái chết với một tâm thế cam chịu. Chúng ta sẽ nỗ lực về mặt tâm thức để duy trì sự sống. Vì lòng khao khát sống (tanha) quá mãnh liệt, nên khi thân xác không còn khả năng duy trì sự sống nữa, tâm thức chúng ta sẽ bám víu (upadana) vào một nơi chốn thích hợp khác. Một khi nơi chốn như vậy, ví dụ như trứng đã thụ tinh trong tử cung người mẹ, đã được tiếp nhận, thì tiến trình tâm lý của sự sống (bhava) sẽ tiếp tục với nơi chốn mới tìm thấy đó làm nền tảng. Sự sinh ra (jati) sẽ diễn ra vào thời điểm thích hợp. Đây dường như là quá trình được giải thích trong chuỗi nhân quả như sau: ái (sự khao khát) tạo điều kiện cho thủ (sự bám víu), thủ tạo điều kiện cho hữu (trạng thái hiện hữu) hay quá trình phát triển, và chính hữu lại tạo điều kiện cho sinh (sự ra đời). Do đó, người bình thường sợ cái chết sẽ nhất định phải tái sinh vì khao khát mãnh liệt của họ là được tiếp tục sống.

Hãy cùng đi sâu hơn một chút vào tiến trình của cái chết, bắt đầu từ những điều đã biết đến những điều chưa biết. Chúng ta biết rằng trong cuộc sống thường ngày, khi đang thức, các dữ liệu giác quan liên tục tác động lên các giác quan của chúng ta. Chúng ta luôn bận rộn xử lý các dữ liệu giác quan này: loại bỏ một số, chọn lọc một số khác để chú tâm hơn, và lại bị ám ảnh bởi những điều khác nữa. Đây là một quá trình diễn ra liên tục chừng nào chúng ta còn thức. Trong thời hiện đại, loài người đang vươn tới và tìm kiếm ngày càng nhiều sự kích thích giác quan. Sự phổ biến của đài phát thanh cầm tay có hay không có tai nghe, kẹo cao su, mỹ phẩm và truyền hình là dấu hiệu rõ ràng của xu hướng hiện nay hướng tới ngày càng nhiều sự kích thích giác quan. Bởi tất cả những điều này mà chúng ta trở nên xa lạ với chính mình; chúng ta không biết được bản chất thực sự của mình, hay nói chính xác hơn là bản chất thực sự của tâm trí mình. Hơn nữa, chúng ta tham gia vào các hoạt động trong đời sống xã hội với những chiếc mặt nạ phù hợp cho từng dịp. Chúng ta thường không bộc lộ những cảm xúc thật của mình như ghen tuông, tham lam, căm thù, kiêu ngạo hay ích kỷ. Chúng ta che giấu chúng trong những cách diễn đạt bằng lời nói mang tính hình thức và được xã hội chấp nhận, chẳng hạn như lời chúc mừng, lời cảm ơn hay lời chia buồn sâu sắc. Nhưng có những lúc cảm xúc tiêu cực của chúng ta trở nên gay gắt đến mức bộc phát ra bên ngoài dưới hình thức giết chóc, trộm cắp, cãi vã, gièm pha, v.v. Tuy nhiên, nhìn chung chúng ta cố gắng kìm hãm những con rắn độc của các cảm xúc tiêu cực này.

Now let us see what happens at the moment of death. We believe that death is a process and not just a sudden instantaneous event. When the senses lose their vitality one by one and they stop providing stimulation, the inhibitions too fall away. The masks we have been wearing in our various roles get cast off. We are at last face to face with ourselves in all our nakedness. At that moment if what we see are the venomous snakes of negative emotions of hatred, jealousy, etc., we would be laden with guilt, remorse and grief. It is very likely that our memories too will become quite sharp, as all the sensory disturbances and inhibitions which kept them suppressed have fallen off. We may remember our own actions committed and omitted during our lifetime with unpretentious clarity. If they are morally unwholesome we would be guilty and grief stricken (S. V. 386), but if they are morally wholesome we would be contented and happy. The Abhidhammattha Sangaha speaks of the presentation of kamma or kammanimitta at the mind door on the advent of death. This seems to be the revival in memory of an actual action or action veiled in symbols at the onset of death. It is said that rebirth will be determined by the quality of thoughts that surface in this manner.

Death is as natural an event as nightfall; it is but one of the manifestations of the law of impermanence. Though we dislike it immensely we have to orient ourselves to accept its inevitability, as there is no escape therefrom. The Buddhist texts advocate the cultivation of the mindfulness of death often so that we are not taken unawares when the event does take place. To face death peacefully one has to learn the art of living peacefully with one's own self as well as with those around. One method of doing so is to remember the inevitability of death, which will deter one from unwholesome behavior. The practice of meditation is the best technique which will enable one to live peacefully with oneself and others.

Bây giờ, hãy cùng xem điều gì xảy ra vào thời điểm lâm chung. Chúng ta tin rằng cái chết là một quá trình chứ không chỉ là một sự kiện đột ngột diễn ra trong chớp nhoáng. Khi các giác quan lần lượt mất đi sức sống và ngừng mang lại sự kích thích, những sự kiềm chế cũng dần tan biến. Những chiếc mặt nạ mà chúng ta vẫn thường đeo trong các vai trò khác nhau sẽ được trút bỏ. Cuối cùng, chúng ta đối diện với chính mình trong sự trần trụi hoàn toàn. Vào khoảnh khắc đó, nếu những gì ta nhìn thấy là những con rắn độc của các cảm xúc tiêu cực như căm thù, ghen tị, v.v., thì ta sẽ trĩu nặng nỗi mặc cảm tội lỗi, sự hối hận và niềm đau buồn. Rất có thể trí nhớ của chúng ta cũng sẽ trở nên vô cùng sắc bén, khi mà mọi nhiễu loạn giác quan và những rào cản từng kiềm chế chúng đã bị loại bỏ. Chúng ta có thể nhớ lại những hành động mình đã làm và cả những điều chưa làm trong suốt cuộc đời với sự sáng tỏ, chân thật và không chút tô vẽ. Nếu chúng mang tính bất thiện về mặt đạo đức, chúng ta sẽ cảm thấy có lỗi và đau khổ (S. V. 386), nhưng nếu chúng mang tính thiện lành về mặt đạo đức, chúng ta sẽ cảm thấy mãn nguyện và hạnh phúc. Tác phẩm Abhidhammattha Sangaha đề cập đến sự xuất hiện của nghiệp (kamma) hoặc tướng nghiệp (kammanimitta) tại cửa ngõ tâm trí vào thời điểm lâm chung. Đây dường như là sự khơi dậy ký ức về một hành động thật sự hoặc một hành động được che đậy bằng các biểu tượng vào thời điểm cận kề cái chết. Người ta cho rằng sự tái sinh sẽ được quyết định bởi chất lượng của những suy nghĩ nảy sinh theo cách này.

Cái chết cũng là một sự kiện tự nhiên như khi hoàng hôn xuống; đó chỉ là một trong những biểu hiện của quy luật vô thường. Mặc dù vô cùng không thích, chúng ta vẫn phải tập chấp nhận tính tất yếu của nó, vì không thể nào tránh khỏi được. Các văn bản Phật giáo khuyến khích việc thường xuyên thực hành chánh niệm về cái chết, để chúng ta không bị bất ngờ khi sự kiện này thật sự xảy ra. Để đối diện với cái chết một cách thanh thản, người ta cần học nghệ thuật sống bình an với chính mình cũng như với những người xung quanh. Một phương pháp để thực hiện điều này là ghi nhớ tính tất yếu của cái chết, qua đó ngăn bản thân khỏi những hành vi bất thiện. Thực hành thiền định là phương pháp tốt nhất giúp một người sống bình an với chính mình và những người khác.

The practice of loving-kindness (mettabhavana) is an effective method of meditation. One of its special advantages is the ability to face death undeluded (asammulho kalam karoti).

In one sutta (A. III, 293) the Buddha explains how to prepare for a peaceful death. One has to organize one's life and cultivate an appropriate attitude for this purpose. The instructions given there are as follows:

Thực hành tâm từ (mettabhavana) là một phương pháp thiền định hiệu quả. Một trong những lợi thế đặc biệt của nó là khả năng đối diện với cái chết mà không bị mê lầm (asammulho kalam karoti).

Trong một bài kinh (A. III, 293), Đức Phật giải thích cách chuẩn bị cho một cái chết bình an. Người ta cần sắp xếp cuộc sống và vun đắp thái độ phù hợp cho mục đích này. Sau đây là các hướng dẫn được đưa ra ở đó:

(1) One should not be fond of a busy life involved in various activities.

(2) One should not be fond of being talkative.

(3) One should not be fond of sleeping.

(4) One should not be fond of having too many companions.

(5) One should not be fond of too much social intercourse.

(6) One should not be fond of daydreaming.

(1) Không nên ham mê một cuộc sống bận rộn với đủ loại hoạt động.

(2) Không nên ham nói nhiều.

(3) Không nên ham ngủ.

(4) Không nên ham có quá nhiều bạn đồng hành.

(5) Không nên quá ham mê giao du xã hội.

(6) Không nên ham mê mơ mộng viển vông.

Another sutta (A. I, 57-8) explains that if one avoids unwholesome wicked activities through body, speech and mind, one need not fear death. The Maha-parinibbana Sutta (D. II, 85-6) categorically states that those who are evil in character face death with delusion while the virtuous face death free from delusion. Thus if one leads a simple virtuous life one need not fear death.

Once Mahanama Sakka (S. V. 369) disclosed to the Buddha that he was worried where he would be reborn if he were to meet with a violent death in a road accident. The Buddha explained that those who have cultivated the qualities of faith, virtue, learning, generosity and wisdom for a long time need not entertain such fears. To illustrate the position further the Buddha employs a simile. If a pot of oil or ghee is broken in deep water the potsherds will sink to the riverbed and the oil or ghee will rise to the surface of the water. Similarly in such a tragic situation the body would be discarded and may be devoured by vultures and jackals, but the mind will rise and progress upwards.

Một bài kinh khác (A. I, 57-8) giải thích rằng nếu một người tránh xa các hành vi bất thiện và xấu xa qua thân, khẩu và ý, thì người ấy không cần phải sợ hãi cái chết. Kinh Maha-parinibbana (D. II, 85-6) khẳng định dứt khoát rằng những người có tâm tính xấu ác sẽ đối mặt với cái chết trong trạng thái mê lầm, trong khi những người đức hạnh lại đối mặt với cái chết mà không bị mê lầm chi phối. Vì vậy, nếu sống một cuộc đời giản dị và đức hạnh thì người ta không cần phải sợ chết.

Có lần, Mahanama Sakka (S. V. 369) đã bày tỏ với Đức Phật nỗi lo lắng về việc mình sẽ tái sinh ở đâu nếu chẳng may gặp phải cái chết thảm khốc trong một tai nạn giao thông. Đức Phật giải thích rằng những ai đã vun bồi các phẩm hạnh như đức tin, đạo đức, sự học hỏi, lòng quảng đại và trí tuệ trong một thời gian dài thì không cần phải mang nỗi sợ hãi như vậy. Để làm rõ hơn quan điểm này, Đức Phật đã sử dụng một ví dụ so sánh. Nếu một chiếc bình đựng dầu hoặc bơ bị vỡ dưới làn nước sâu, các mảnh vỡ của bình sẽ chìm xuống đáy sông, trong khi dầu hoặc bơ sẽ nổi lên mặt nước. Tương tự như vậy, trong một hoàn cảnh bi thảm như thế, thể xác sẽ bị bỏ lại và có thể bị kền kền cùng chó rừng rỉa xác, nhưng tâm thức sẽ vươn lên và thăng tiến.

The account of the illness of Nakula's father (A. III, 295) is another interesting episode regarding the Buddhist attitude to death. Once Nakula's father was seriously ill and his wife noticed that he was fretful and anxious. She advised him that death with anxiety is painful and is denounced by the Buddha. Therefore he must compose himself. Comforting him, she said that he might be worried about the family income and the task of bringing up the children after his death. She assured him that she was capable of spinning and weaving and thus she could provide for the family and bring up the children. He may be anxious that she would remarry after his death. She said that he knows just as well as she that she has never been unfaithful to him ever since they were married at the age of sixteen, and she pledged that she would remain loyal to him even after his death. Perhaps he may worry about her spiritual development and she assured him that she would continue to be earnest in her spiritual welfare. Therefore he must face death, if need there be, with no anxiety. Such was her advice to her husband who was fatally ill. It is said that he regained self- composure and thereby good health too. The matter was later reported to the Buddha, who commended Nakula's mother for her wisdom and composure.

The suttas also discuss the advantages of the regular contemplation of death (A. IV, 46-48; S. V, 344,408). The mind gets divested from the love of life, and being intoxicated with the zest of life, men commit various atrocities. That can be prevented by the habit of practicing mindfulness of death. If we only remember that we have not come to this world to stay forever, we would take care to lead much better lives. If, when we take stock, we find wicked negative emotions such as lust, hatred and jealousy in us, we should immediately take steps to eradicate them as we would try to put out the flames if our head were to catch fire (A. IV, 320).

Câu chuyện về căn bệnh của cha của Nakula (A. III, 295) là một tình tiết thú vị khác liên quan đến quan điểm của Phật giáo về cái chết. Có lần, cha của Nakula bị bệnh nặng, và vợ ông nhận thấy ông tỏ ra bồn chồn, lo lắng. Bà khuyên ông rằng chết trong sự lo lắng là đau đớn và bị Đức Phật chê trách. Vì vậy, ông cần phải trấn tĩnh lại. Bà an ủi và nói rằng có lẽ ông đang lo lắng về thu nhập của gia đình cũng như việc nuôi dạy con cái sau khi ông qua đời. Bà cam đoan với ông rằng mình có khả năng kéo sợi và dệt vải, nhờ đó có thể lo liệu cho gia đình và nuôi dạy con cái. Có lẽ ông lo lắng rằng bà sẽ tái hôn sau khi ông qua đời. Bà nói rằng ông cũng hiểu rõ như chính bà vậy: bà chưa bao giờ phản bội ông kể từ khi hai người kết hôn ở tuổi mười sáu, và bà cam đoan sẽ mãi chung thủy với ông ngay cả sau khi ông chết. Có lẽ ông lo lắng về sự phát triển tâm linh của bà, và bà đã trấn an ông rằng mình sẽ tiếp tục chú tâm nghiêm túc đến đời sống tâm linh của bản thân. Vì vậy, ông phải đối mặt với cái chết, nếu cần thiết, mà không chút lo âu. Đó là lời khuyên bà dành cho người chồng đang mắc bệnh nan y. Người ta kể rằng ông đã lấy lại được sự bình tĩnh và nhờ đó mà sức khỏe cũng được phục hồi. Sự việc sau đó được trình lên Đức Phật, và Ngài đã tán thán trí tuệ cũng như sự điềm tĩnh của mẹ của Nakula.

Kinh cũng thảo luận về những lợi ích của việc thường xuyên quán niệm về cái chết (A. IV, 46-48; S. V, 344,408). Tâm trí dần rời xa niềm yêu đời sống, và khi say sưa với niềm vui sống, con người lại gây ra đủ mọi hành vi tàn bạo. Điều đó có thể được ngăn ngừa bằng thói quen thực hành chánh niệm về cái chết. Nếu chỉ cần nhớ rằng chúng ta không đến thế giới này để ở lại mãi mãi, chúng ta sẽ chú trọng việc dẫn đến nhiều cuộc sống tốt đẹp hơn. Khi tự quán chiếu, nếu nhận thấy trong mình có những cảm xúc tiêu cực, xấu xa như dục vọng, thù hận và ghen tị, chúng ta cần lập tức hành động để loại bỏ chúng giống như cách chúng ta cố gắng dập tắt ngọn lửa nếu đầu chúng ta chẳng may bị bốc cháy (A. IV, 320).

Thus the Buddhist texts tirelessly reiterate the positive benefits of the regular contemplation of the inevitability of death. It helps one to lead a more wholesome life and also to face death, the one and only certain event in life, with calm composure and fearless confidence.

Do đó, các văn bản Phật giáo không ngừng nhấn mạnh những lợi ích tích cực của việc thường xuyên quán niệm về tính tất yếu của cái chết. Nó giúp người ta sống một cuộc đời lành mạnh hơn, đồng thời đối diện với cái chết, sự kiện duy nhất chắc chắn xảy ra trong đời, bằng sự điềm tĩnh và lòng tự tin không chút sợ hãi.

©1986 Lily de Silva.
You may copy, reformat, reprint, republish, and redistribute this work in any medium whatsoever, provided that: (1) you only make such copies, etc. available free of charge and, in the case of reprinting, only in quantities of no more than 50 copies; (2) you clearly indicate that any derivatives of this work (including translations) are derived from this source document; and (3) you include the full text of this license in any copies or derivatives of this work. Otherwise, all rights reserved. Documents linked from this page may be subject to other restrictions. The Wheel Publication No. 337/338 (Kandy: Buddhist Publication Society, 1986). Transcribed from the print edition in 1994 by Maureen Riordan under the auspices of the DharmaNet Dharma Book Transcription Project, with the kind permission of the Buddhist Publication Society. Last revised for Access to Insight on 30 November 2013.
How to cite this document (a suggested style): "One Foot in the World: Buddhist Approaches to Present-day Problems", by Lily de Silva. Access to Insight (BCBS Edition), 30 November 2013, http://www.accesstoinsight.org/lib/authors/desilva/wheel337.html .

©1986 Lily de Silva.
Quý vị có thể làm bản sao, thay đổi hình dạng, in lại, xuất bản lại, và phân phối lại công trình này dưới bất cứ phương tiện nào, với điều kiện: (1) quý vị chỉ làm các bản sao như vậy, v.v. , cung cấp miễn phí và, trong trường hợp in lại, chỉ với số lượng không quá 50 bản sao; (2) quý vị chỉ ra rõ ràng là bất kỳ dẫn xuất nào của công trình nghiên cứu này (bao gồm cả bản dịch) có nguồn gốc từ nguồn tài liệu này, và (3) quý vị bao gồm đầy đủ văn bản của giấy phép này trong bất kỳ bản sao hay các dẫn xuất của công việc này. Nếu không, phải tôn trọng bản quyền. Các tài liệu liên kết từ trang này có thể bị hạn chế. The Wheel số 337/338 (Kandy: Buddhist Publication Society, 1986). Được chép lại từ ấn bản in năm 1994 bởi Maureen Riordan, dưới sự bảo trợ của Dự án Chuyển đổi Văn bản Sách Phật Pháp DharmaNet (DharmaNet Dharma Book Transcription Project) và với sự cho phép của Hội Ấn hành Phật giáo (Buddhist Publication Society). Chỉnh sửa cuối cho Access to Insight vào ngày 30 tháng 11 năm 2013.
Làm thế nào để trích dẫn tài liệu này (một đề nghị bút pháp): "One Foot in the World: Buddhist Approaches to Present-day Problems", bởi Lily de Silva. Bài tiểu luận "Facing Death Without Fear - Đối diện Với cái Chết Không Sợ hãi" là một phần trong tập sách "One Foot in the World". Access to Insight (BCBS Edition), ngày 30 tháng 11, năm 2013, http://www.accesstoinsight.org/lib/authors/desilva/wheel337.html#death .

 Webmasters: Minh Hạnh & Thiện Pháp
Cập nhập ngày: Thứ Năm 10-09-2026

 | | trở về đầu trang | Home page |