If you have any friends or family members who are sick or dying, I know of no one who would tell you to treat them in a hardhearted way. Everyone would agree that you should be as compassionate as you can. The problem is that there's little agreement on how compassion translates into specific actions. For some people, compassion means extending life as long as possible; for others it means terminating life — through assisted suicide or euthanasia — when quality of life falls below a certain level. And neither of these two groups sees the other as compassionate at all. The first sees the second as criminal; the second sees the first as heartless and cruel.

For those of us trying to negotiate the murky territory between these two extremes, there's not much reliable guidance. Ours is a culture that doesn't like to think about illness and death, and as a result, when faced with someone who's sick or dying, we're at a loss as to what to do. Some people will advise you simply to do what feels right, but feelings have a way of turning slippery and devious. Some things feel right simply because they make you feel good, regardless of whether they're genuinely right for the other person. A desire to extend life may mask a deeper fear of your own death; a desire to terminate a miserable illness may rationalize your distress at having to witness suffering. Even if you're told to act from a place of mindful presence, you may find that what seem to be your spontaneous inspirations are actually conditioned by hidden, unexamined assumptions about what life and death are all about.

Nếu bạn có bạn bè hay người thân đang ốm đau hoặc cận kề cái chết, tôi không biết có ai lại khuyên bạn đối xử với họ một cách nhẫn tâm cả. Mọi người đều sẽ đồng ý rằng bạn nên biểu lộ lòng từ bi nhiều nhất mà bạn có thể. Vấn đề là có rất ít sự đồng thuận về việc tâm từ bi được chuyển hóa thành những hành động cụ thể như thế nào. Đối với một số người, tâm từ bi đồng nghĩa với việc duy trì sự sống càng lâu càng tốt; trong khi với những người khác, nó lại có nghĩa là chấm dứt sự sống — thông qua hình thức tự tử có hỗ trợ hoặc an tử — khi chất lượng cuộc sống giảm xuống dưới một mức nhất định. Và cả hai nhóm này đều không hề coi nhóm kia là những người giàu lòng trắc ẩn. Nhóm đầu coi nhóm sau là kẻ phạm tội; nhóm sau lại coi nhóm đầu là kẻ nhẫn tâm và tàn ác.

Đối với những ai đang cố gắng định hướng trong vùng ranh giới mơ hồ giữa hai thái cực này, thì không có nhiều chỉ dẫn đáng tin cậy. Văn hóa của chúng ta vốn không thích nghĩ đến chuyện bệnh tật và cái chết; hậu quả là khi đối diện với người đang đau ốm hoặc cận kề cái chết, chúng ta thường lúng túng, không biết phải làm gì. Một số người sẽ khuyên bạn cứ làm theo những gì mình cảm thấy đúng, nhưng cảm xúc vốn dĩ rất dễ trở nên khó nắm bắt và đầy mánh khóe. Có những điều mang lại cảm giác đúng đắn chỉ vì chúng khiến bạn cảm thấy dễ chịu, bất kể liệu chúng có thực sự phù hợp với người kia hay không. Mong muốn kéo dài sự sống có thể che giấu nỗi sợ sâu kín về cái chết của chính bạn; còn mong muốn chấm dứt một căn bệnh đau đớn lại có thể là cách hợp thức hóa nỗi khổ tâm khi phải chứng kiến cảnh đau đớn ấy. Ngay cả khi được khuyên hãy hành động từ trạng thái hiện diện đầy tỉnh thức, bạn có thể nhận thấy rằng những gì tưởng chừng là nguồn cảm hứng tự phát thật ra lại bị chi phối bởi những giả định ngầm ẩn và chưa được xem xét kỹ lưỡng về bản chất của sự sống và cái chết.

This is why the simple injunction to be compassionate or mindful in the presence of a sick or dying person isn't enough. We need help in educating our compassion: specific advice on how to think through the implications of our actions in the face of life and death, and specific examples of how people who have contemplated these issues thoroughly have actually acted in the past.

With this thought in mind, I searched through the Pali canon — the oldest extant record of the Buddha's teachings — to see what lessons could be drawn from the Buddha's example. After all, the Buddha often referred to himself as a doctor, and to his Dharma as medicine for the sufferings of the world. From his point of view, we're all sick and dying on a subtle level, so we all deserve continual compassion. But what sort of advice did this doctor give when face-to-face with the flesh and blood suffering of illness and death? How did he treat people who were physically sick or dying?

Đây là lý do tại sao chỉ đơn thuần được khuyên hãy tỏ ra từ bi hoặc chánh niệm khi ở bên cạnh người bệnh hay người sắp qua đời là chưa đủ. Chúng ta cần được hỗ trợ để vun đắp tâm từ bi của mình: những lời khuyên cụ thể về cách suy nghĩ thấu đáo về hệ quả từ các hành động của chúng ta trước những vấn đề sinh tử, và những ví dụ thật tế về cách hành xử của những người từng suy tư kỹ lưỡng về các vấn đề này trong quá khứ.

Với suy nghĩ đó, tôi đã tìm hiểu trong Tạng Pali — bộ tư liệu cổ nhất còn lưu giữ những lời dạy của Đức Phật — để xem có thể rút ra được bài học gì từ tấm gương của ngài. Suy cho cùng, Đức Phật thường tự ví mình như một vị lương y, và coi Giáo pháp của ngài là phương thuốc chữa lành những nỗi khổ đau của thế gian. Theo quan điểm của ngài, tất cả chúng ta đều đau ốm và dần lụi tàn ở một tầng sâu kín, vì vậy ai cũng xứng đáng nhận được lòng trắc ẩn không ngừng. Thế nhưng, vị bác sĩ này đã đưa ra lời khuyên gì khi phải đối diện trực tiếp với nỗi đau thể xác do bệnh tật và cái chết gây ra? Ngài đã đối xử như thế nào với những người đau ốm về thể chất hoặc đang hấp hối?

You probably know the story of how, together with Ven. Ananda, he once found an unattended sick monk lying in his own filth. After washing the monk, he assembled the other monks, chided them for abandoning their brother, and gave them strong incentive to follow his example: "Whoever would tend to me," he said, "should tend to the sick." He arranged that monks nursing their fellow monks should receive special allotments of food, to encourage them in their work and help lighten their burden. But he didn't subscribe to the notion that medical treatment should try to extend life at all costs. The Vinaya, his monastic discipline, imposes only a minor penalty on a monk who refuses to care for a fellow monk who is sick or dying, or who totally abandons a sick monk before the latter recovers or dies. And there's no penalty for withholding or discontinuing a specific medical treatment. So the rules convey no message that the failure to keep life going is an offense of any kind. At the same time, though, a monk who deliberately ends the life of a patient, even from compassionate motives, is expelled from the monkhood and can never reordain in this life, so there's no room for euthanasia or assisted suicide.

This means that the middle ground is where true compassion can be exercised. The Buddha sets out some guidelines for this area in his definition of the ideal nurse. You're qualified to tend to the sick if (1) you know how to prepare medicines; (2) you know what's amenable to the patient's cure, taking away whatever's unamenable and providing things that are amenable; (3) you're motivated by compassion and not by material gain; (4) you're not squeamish about cleaning up urine, excrement, saliva, or vomit; and (5) you're competent at encouraging the patient at the proper times with talk on Dharma.

Có lẽ bạn đã biết câu chuyện về việc ngài, cùng với Tôn giả Ananda, đã từng bắt gặp một nhà sư đau ốm nằm giữa những thứ uế tạp của chính mình mà không có ai chăm sóc. Sau khi tắm rửa cho vị sư nọ, ngài tập hợp các vị sư khác lại, quở trách họ vì đã bỏ mặc người huynh đệ của mình, và đưa ra động lực mạnh mẽ để họ noi gương ngài: "Ai muốn chăm sóc tôi," ngài nói, "thì hãy chăm sóc người bệnh." Ngài đã sắp xếp để các nhà sư chăm sóc đồng môn của mình được nhận thêm khẩu phần thực phẩm đặc biệt, nhằm khích lệ họ trong công việc và giúp giảm bớt gánh nặng. Tuy nhiên, ngài không tán thành quan điểm cho rằng việc điều trị y tế cần tìm cách kéo dài sự sống bằng mọi giá. Luật Tạng (Vinaya) – tức giới luật dành cho tu sĩ – chỉ quy định hình phạt nhẹ đối với vị sư từ chối chăm sóc người bạn đồng tu đang đau ốm hoặc hấp hối, hay bỏ mặc hoàn toàn một vị sư đang bệnh trước khi người ấy bình phục hoặc qua đời. Và không có hình phạt nào đối với việc từ chối hoặc ngừng một phương pháp điều trị y tế cụ thể. Như vậy, các quy định này không truyền tải thông điệp rằng việc không duy trì sự sống là một hành vi vi phạm dưới bất cứ hình thức nào. Tuy nhiên, đồng thời, một vị tu sĩ cố ý chấm dứt mạng sống của bệnh nhân, dù xuất phát từ lòng trắc ẩn, sẽ bị trục xuất khỏi tăng đoàn và vĩnh viễn không thể thọ giới lại trong kiếp sống này; do đó, hoàn toàn không có chỗ cho việc an tử hay hỗ trợ tự tử.

Điều này có nghĩa là sự cân bằng chính là nơi tâm từ bi đích thật có thể được thể hiện. Đức Phật đã đưa ra một số chỉ dẫn về khía cạnh này trong định nghĩa của ngài về người điều dưỡng lý tưởng. Bạn đủ điều kiện để chăm sóc người bệnh nếu (1) bạn biết cách pha chế thuốc; (2) bạn biết điều gì có lợi cho việc chữa trị cho bệnh nhân, loại bỏ những gì không phù hợp và cung cấp những gì có lợi; (3) bạn được thôi thúc bởi tâm từ bi chứ không phải vì lợi ích vật chất; (4) bạn không ngại việc dọn dẹp nước tiểu, phân, nước bọt hoặc chất nôn; và (5) bạn có khả năng khích lệ bệnh nhân vào những thời điểm thích hợp bằng cuộc nói chuyện về Giáo pháp.

Of these five qualifications, the one most discussed in the Pali canon is the fifth: What qualifies as a helpful and compassionate talk on Dharma to a person who is sick or dying? What doesn't?

Here again, the don'ts mark off the territory for the do's. The Vinaya cites cases where monks tell a sick person to focus his thoughts on dying, in the belief that death would be better than the miserable state of his life. The sick person does as they advise, he dies as a result, and the Buddha expels the monks from the monkhood. Thus, from the Buddha's perspective, encouraging a sick person to relax her grip on life or to give up the will to live would not count as an act of compassion. Instead of trying to ease the patient's transition to death, the Buddha focused on easing his or her insight into suffering and its end.

Trong số năm phẩm chất này, điều được bàn luận nhiều nhất trong Tạng Pali chính là điều thứ năm: Thế nào là một cuộc nói chuyện về Giáo pháp mang tính hữu ích và đầy lòng từ bi dành cho người đau ốm hoặc sắp qua đời? Thế nào là không?

Ở đây cũng vậy, những điều không nên làm xác định phạm vi cho những điều nên làm. Luật Tạng (Vinaya) có ghi lại những trường hợp chư tăng khuyên người bệnh hãy tập trung tâm trí vào cái chết, với niềm tin rằng cái chết sẽ tốt đẹp hơn tình cảnh khốn khổ của họ khi còn sống. Người bệnh làm theo lời khuyên của họ và qua đời, hậu quả là Đức Phật trục xuất các vị tỳ-khưu đó khỏi tăng đoàn. Do đó, dưới góc nhìn của Đức Phật, việc khuyến khích một người bệnh buông bỏ sự bám víu vào cuộc sống hay từ bỏ ý chí sống sẽ không được xem là hành động của tâm từ bi. Thay vì cố gắng giúp bệnh nhân chuyển tiếp nhẹ nhàng sang cái chết, Đức Phật tập trung vào việc giúp họ thấu hiểu về khổ đau và sự chấm dứt khổ đau.

This is because he regarded every moment of life as an opportunity to practice and benefit from the Dharma. It's a well-known principle in all meditation traditions that a moment's insight into the pain of the present is far more beneficial than viewing the present moment with disgust and placing one's hopes on a better future. This principle applies as much at the end of life as it does anywhere in the middle. In fact, the Buddha encouraged his monks to reflect constantly on the potential imminence of death at every moment, even when in ordinary health, so that they could bring a sense of urgency to their practice and give the present moment their full attention. If you learn to treat all moments as potentially your last, then when your last moment does come you will face it prepared.

Most often, though, a sick or dying person hasn't been living with this sort of urgent alertness, so the first step in advising such a person is to aim at clearing away any emotional obstacles to learning from the present. The Pali texts note two such obstacles: worry over the responsibilities the person is leaving behind, and fear of death. In one poignant discourse, a man appears to be dying and his wife consoles him not to worry: She'll be able to provide for herself and their children in his absence; she won't go looking for another husband; and she'll continue in her practice of the Dharma. With each reassurance she repeats the refrain, "So don't be worried as you die. Death is painful for one who is worried. The Blessed One has warned against being worried at the time of death." The man recovers unexpectedly and, while still frail, goes to visit the Buddha, telling him of his wife's reassurances. The Buddha comments on how fortunate the man is for having such a wise and sympathetic wife.

Đây là do ngài coi mỗi khoảnh khắc của cuộc sống là cơ hội để thực hành và nhận được lợi lạc từ Giáo pháp. Một nguyên tắc phổ biến trong mọi truyền thống thiền định là: việc thấu hiểu nỗi đau của hiện tại dù chỉ trong khoảnh khắc cũng mang lại nhiều lợi ích hơn hẳn so với việc nhìn khoảnh khắc hiện tại bằng sự chán ghét và đặt hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn. Nguyên tắc này cũng áp dụng cho giai đoạn cuối đời giống như ở bất cứ thời điểm nào khác trong suốt cuộc đời. Thật vậy, Đức Phật khuyến khích các sư thường xuyên quán chiếu về khả năng cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào, ngay cả khi đang có sức khỏe bình thường, để họ có thể tạo ra sự cấp bách trong quá trình tu tập và dành trọn vẹn sự chú tâm cho giây phút hiện tại. Nếu bạn học cách coi mọi khoảnh khắc đều có thể là khoảnh khắc cuối cùng của mình, thì khi khoảnh khắc cuối cùng ấy thật sự đến, bạn sẽ đối mặt với nó trong tâm thế sẵn sàng.

Tuy nhiên, trong đa số trường hợp, người đau ốm hoặc sắp qua đời thường không sống với trạng thái tỉnh táo đầy cấp bách kiểu này; do đó, bước đầu tiên khi tư vấn cho một người như vậy là khuyên họ hảy tập trung gỡ bỏ mọi rào cản cảm xúc để học hỏi từ thời khắc hiện tại. Các văn bản Pali ghi nhận hai trở ngại như vậy: nỗi lo lắng về những trách nhiệm mà người đó để lại phía sau, và nỗi sợ chết. Trong một cuộc đối thoại đầy xúc động, một người đàn ông dường như đang hấp hối và vợ ông an ủi để ông đừng lo lắng: Cô ấy sẽ có thể tự lo liệu cho bản thân và các con khi ông qua đời; cô sẽ không tìm kiếm người chồng khác; và cô sẽ tiếp tục thực hành Giáo pháp. Với mỗi lời trấn an, cô lặp đi lặp lại câu nói: "Đừng lo lắng khi lâm chung. Cái chết sẽ trở nên đau đớn đối với người mang lòng lo âu. Đức Thế Tôn đã cảnh báo về việc lo lắng vào lúc lâm chung." Người đàn ông hồi phục một cách bất ngờ; dù cơ thể còn yếu ớt, ông vẫn đến gặp Đức Phật và kể cho Ngài nghe về những lời trấn an của vợ mình. Đức Phật nhận xét rằng người đàn ông thật may mắn khi có được một người vợ khôn ngoan và thấu hiểu như vậy.

As for fear of death, the Buddha notes that one of the primary reasons for this fear is the remembrance of hurtful or cruel things you've done in the past. Thus the Vinaya shows that monks would often console a fellow monk on his deathbed by asking him to call to mind something more positive — his highest meditative attainment — and to focus his thoughts there. In a similar vein, a common practice in Asian Buddhist countries is to remind a dying person of the acts of generosity or virtue he or she has performed in this life. Even if the person is unable to muster the mindfulness and alertness needed to gain further insight into the present, any Dharma talk that helps allay worries and forestall fears is an act of true compassion.

The Buddha comments, however, that there are three additional reasons for fearing death: attachment to the body, attachment to sensual pleasures, and a lack of direct insight into the unconditioned Dharma of the Deathless. His more advanced instructions for sick and dying people thus focus on cutting these reasons for fear at the root. He once visited a sick ward and told the monks there to approach the moment of death mindful and alert. Instead of focusing on whether they would recover, they should observe the movements of the feelings they were experiencing: painful, pleasant, or neutral. Observing a sensation of pain, for instance, they should notice how inconstant it is and then focus on the repeated dissolution of all pains. They could then apply the same focused alertness to pleasant and neutral feelings as well. The steadiness of their focus would give rise to a sense of ease independent of sensory feelings, and from this point of independence they could develop dispassion and relinquishment, both for the body and for feelings of any sort. With relinquishment would come a genuine insight into the Dharma which, being Deathless, would end all fear of death.

Về nỗi sợ chết, Đức Phật chỉ ra rằng một trong những nguyên nhân chính dẫn đến nỗi sợ này là việc nhớ lại những hành động gây tổn thương hoặc tàn nhẫn mà bạn đã làm trong quá khứ. Do đó, Luật tạng cho thấy các vị sư thường an ủi người bạn đồng tu đang lâm chung bằng cách khuyến khích vị ấy hồi tưởng lại một điều gì đó tích cực hơn — thành tựu thiền định cao nhất của ông — và tập trung tâm trí vào đó. Tương tự như vậy, một tập tục phổ biến tại các quốc gia Phật giáo châu Á là nhắc nhở người sắp lâm chung về những hành động rộng lượng hoặc đức hạnh mà họ đã thực hiện trong cuộc đời này. Ngay cả khi một người không thể tập hợp đủ sự chánh niệm và tỉnh giác cần thiết để thấu hiểu sâu sắc hơn về hiện tại, thì bất kỳ bài pháp thoại nào giúp xua tan lo âu và ngăn ngừa nỗi sợ hãi cũng đều là hành động của lòng từ bi đích thật.

Tuy nhiên, Đức Phật chỉ ra rằng có thêm ba lý do khiến người ta sợ hãi cái chết: sự luyến ái thân xác, sự luyến ái các lạc thú giác quan, và sự thiếu vắng tuệ giác trực tiếp về Pháp Vô vi Bất tử. Do đó, những chỉ dẫn chuyên sâu hơn của ngài dành cho người bệnh và người sắp qua đời tập trung vào việc triệt tiêu tận gốc những nguyên nhân gây ra nỗi sợ hãi này. Có lần ngài đến thăm một khu điều trị bệnh và dặn dò các vị sư ở đó hãy đối diện với khoảnh khắc lâm chung trong trạng thái tỉnh giác và sáng suốt. Thay vì tập trung vào việc liệu mình có hồi phục hay không, họ nên quan sát sự biến chuyển của những cảm giác mà mình đang trải nghiệm: đau đớn, dễ chịu hay trung tính. Ví dụ, khi quan sát cảm giác đau, họ cần nhận thấy tính chất không bền vững của nó, rồi tập trung vào sự tan biến liên tục của mọi cơn đau. Sau đó, họ có thể áp dụng cùng một trạng thái tỉnh giác tập trung đó đối với cả những cảm giác dễ chịu lẫn trung tính. Sự vững vàng trong khả năng tập trung sẽ mang lại cảm giác an ổn, tách biệt khỏi các cảm giác giác quan; và từ trạng thái độc lập này, họ có thể phát triển tâm xả ly và sự buông bỏ đối với cả thân xác lẫn mọi dạng cảm thọ. Cùng với sự buông bỏ sẽ là sự thấu hiểu đích thật về Giáo Pháp, vốn là trạng thái Bất tử, giúp chấm dứt mọi nỗi sợ hãi về cái chết.

On another occasion, Ven. Sariputta visited the famous supporter of the Buddha, Anathapindika, who was on his deathbed. After learning that Anathapindika's disease was worsening, he advised him to train himself: "I won't cling to the eye; my consciousness won't be dependent on the eye. I won't cling to the ear; my consciousness won't be dependent on the ear," and so forth through all the six senses, their objects, and any mental events dependent on them. Although Anathapindika was unable to develop this independent consciousness in line with Sariputta's instructions, he asked that these instructions be given to other lay people as well, for there would be those who would understand and benefit from them.

Obviously, these recommendations are all shaped by the Buddha's teachings on how the state of one's mind influences the process of death and rebirth, but that doesn't mean that they're appropriate only for those who would call themselves Buddhist. Regardless of your religious beliefs, when you're faced with obvious pain you're bound to see the value of any instructions that show you how to reduce suffering by investigating the pain in and of itself. If you have the strength to follow through with the instructions, you're bound to want to give them a try. And if you encounter the Deathless in the course of your efforts, you're not going to quibble about whether to call it by a Buddhist or non-Buddhist name.

Trong một dịp khác, Tôn giả Xá-lợi-phất (Sariputta) đã đến thăm vị hộ pháp nổi tiếng của Đức Phật là Cấp-cô-độc (Anathapindika) khi ông đang lâm chung. Sau khi biết bệnh tình của Cấp-cô-độc trở nên trầm trọng hơn, ngài đã khuyên vị này hãy tự rèn luyện bản thân: "Tôi sẽ không bám víu vào con mắt; ý thức của tôi sẽ không lệ thuộc vào con mắt. Tôi sẽ không bám víu vào tai; ý thức của tôi sẽ không lệ thuộc vào tai," và cứ thế đối với cả sáu giác quan, các đối tượng của chúng, cũng như bất cứ trạng thái tâm lý nào nảy sinh từ đó. Mặc dù Cấp-cô-độc không thể phát triển được trạng thái nhận thức độc lập này theo đúng sự hướng dẫn của Xá-lợi-phất, ông vẫn thỉnh cầu ngài truyền dạy những lời chỉ dẫn đó cho cả các cư sĩ khác, bởi sẽ có những người có thể thấu hiểu và được lợi ích từ chúng.

Rõ ràng, những lời khuyên này đều bắt nguồn từ giáo lý của Đức Phật về việc trạng thái tâm thức ảnh hưởng như thế nào đến quá trình chết và tái sinh; tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chúng chỉ phù hợp với những ai tự nhận mình là Phật tử. Bất kể niềm tin tôn giáo của bạn là gì, khi thật sự đối mặt với nỗi đau, chắc chắn bạn sẽ nhận ra giá trị của những chỉ dẫn giúp giảm bớt khổ đau thông qua việc quán chiếu chính bản chất của nỗi đau đó. Nếu bạn đủ quyết tâm để thực hiện theo các hướng dẫn, chắc chắn bạn sẽ muốn thử áp dụng chúng. Và nếu bạn chạm trán với trạng thái Bất Tử trong quá trình nỗ lực của mình, bạn sẽ chẳng bận tâm tranh cãi xem nên gọi nó bằng cái tên mang màu sắc Phật giáo hay phi Phật giáo.

This point is illustrated by another story involving Ven. Sariputta. Visiting an aged brahman on his deathbed, Sariputta reflected that brahmans desire union with Brahma, so he taught the man to develop the four attitudes of a Brahma — infinite good will, compassion, appreciation, and equanimity. After following these instructions, the brahman was reborn as a Brahma after death. The Buddha, however, later chided Sariputta for not teaching the brahman to focus instead on investigating pain, for if he had, the brahman would have experienced nirvana and been freed from rebirth altogether.

What's striking about all these instructions is that, from the Buddha's point of view, deathbed Dharma is no different from Dharma taught to people in ordinary health. The cause of suffering is in every case the same, and the path to the end of suffering is the same as well: comprehend suffering, abandon its cause, realize its cessation, and develop the qualities of mind that lead to its cessation. The only difference is that the obvious proximity of death makes teaching the Dharma both easier and harder — easier in that the patient is freed from extraneous responsibilities and can see clearly the need to understand and gain release from pain; harder in that the patient may be too weakened physically or emotionally, through fear or worry, to put the instructions into practice. But whatever the case, it's worth noting that up to the moment of death the Buddha would have you focus less on the limitations of the situation than on the potential opportunities. Even one moment of insight in the midst of pain and suffering, he said, is worth more than one hundred years of good health.

Điểm này được minh chứng bằng một câu chuyện khác liên quan đến Tôn giả Xá-lợi-phất. Khi đến thăm một vị Bà-la-môn cao tuổi đang hấp hối, Xá-lợi-phất suy ngẫm rằng các vị Bà-la-môn luôn mong cầu sự hợp nhất với Phạm Thiên; vì vậy, ngài đã hướng dẫn vị ấy phát triển bốn tâm thái của Phạm Thiên — đó là tâm từ vô lượng, tâm bi, tâm hỷ và tâm xả. Sau khi làm theo những hướng dẫn này, vị Bà-la-môn đã tái sinh làm một vị Phạm Thiên sau khi qua đời. Tuy nhiên, về sau Đức Phật đã khiển trách Xá-lợi-phất vì không hướng dẫn vị Bà-la-môn tập trung quán chiếu về đau khổ; bởi vì nếu làm vậy, vị Bà-la-môn ấy đã có thể chứng đắc Niết-bàn và hoàn toàn giải thoát khỏi luân hồi.

Điều đáng chú ý ở tất cả những lời chỉ dẫn này là, theo quan điểm của Đức Phật, những Giáo Pháp dành cho người đang hấp hối không khác gì Giáo Pháp được giảng dạy cho người có sức khỏe bình thường. Nguyên nhân của đau khổ trong mọi trường hợp đều giống nhau, và con đường dẫn đến sự chấm dứt đau khổ cũng vậy: thấu hiểu đau khổ, từ bỏ nguyên nhân của nó, chứng ngộ sự chấm dứt của nó, và phát triển vun bồi những phẩm chất tâm thức dẫn đến sự chấm dứt ấy. Điểm khác biệt duy nhất là việc cái chết đang đến gần một cách rõ ràng khiến cho việc truyền dạy Giáo Pháp vừa dễ dàng hơn lại vừa khó khăn hơn: dễ dàng hơn ở chỗ người bệnh được giải thoát khỏi những trách nhiệm bên ngoài và có thể nhận thấy rõ ràng sự cần thiết phải thấu hiểu cũng như thoát khỏi nỗi đau; khó khăn hơn ở chỗ người bệnh có thể đã quá suy kiệt về thể chất hoặc tinh thần, do nỗi sợ hãi hay lo âu, khiến họ không thể thực hành theo những lời chỉ dẫn. Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa, cũng cần lưu ý rằng cho đến tận giây phút lâm chung, Đức Phật vẫn muốn bạn chú trọng vào những cơ hội tiềm năng hơn là những hạn chế của hoàn cảnh. Ngài nói rằng, ngay cả một khoảnh khắc giác ngộ giữa những nỗi đau và khổ sở còn đáng giá hơn cả trăm năm sống khỏe mạnh.

From my own personal experience — both in watching my teachers implement these instructions and in trying to implement them myself — I've learned two major lessons. One is that the patients best suited for making the most of the Dharma when sick or dying are those who are not tormented with memories of cruel or hurtful things they did in the past, and who have already developed a meditative or contemplative practice prior to their illness. Even if that practice isn't Buddhist, they intuitively respond to the Buddha's message on pain and are able to use it to alleviate their own sufferings. The lesson here is that as long as you know you're going to die someday, it's a good idea to avoid cruel actions and to get started on a meditative practice of your own, so that you'll be prepared for illness and death when they come. As my teacher, Ajaan Fuang, once said, when you meditate you're gaining practice in how to die — how to be mindful and alert, how to endure pain, how to gain control over wayward thoughts and maybe even reach the Deathless — so that when the time comes to die, you'll do it with skill.

The second lesson is that if you want to help other people overcome their fear of death, you have to learn how to overcome your own fear of death as well, by abandoning attachment to the body, abandoning attachment to sensual pleasures, avoiding cruel actions, and gaining direct insight into the Deathless. With your fears overcome, you'll be much more effective in teaching the Dharma to those on their deathbed. You won't be disturbed by the physical horrors of death, you'll be able to communicate directly to the needs of the dying person, and your words will carry more weight, for they come from direct experience. Your compassion will be educated not by books or feelings, but by a clear insight into what dies and what doesn't.

Từ kinh nghiệm cá nhân — cả khi quan sát các giáo viên của tôi thực hiện những hướng dẫn này lẫn khi tự mình thử áp dụng chúng — tôi đã rút ra được hai bài học lớn. Một là những bệnh nhân phù hợp nhất để tận dụng Giáo Pháp khi đau ốm hoặc cận kề cái chết chính là những người không bị dằn vặt bởi ký ức về những hành động tàn nhẫn hay gây tổn thương trong quá khứ, và những người đã xây dựng được thói quen thực hành thiền định hoặc suy tưởng từ trước khi lâm bệnh. Ngay cả khi thực hành đó không thuộc Phật giáo, họ vẫn cảm nhận được một cách trực giác thông điệp của Đức Phật về nỗi đau và có thể vận dụng nó để xoa dịu những đau khổ của chính mình. Bài học ở đây là, chừng nào bạn còn biết rằng rồi sẽ có ngày mình phải lìa đời, thì tốt hơn hết là hãy tránh làm những điều tàn nhẫn và bắt đầu thực hành thiền định cho riêng mình, để bạn có thể sẵn sàng đối mặt với bệnh tật và cái chết khi chúng đến. Như thầy tôi, Ajaan Fuang, từng nói: khi hành thiền, bạn đang tập dượt cho việc lâm chung — tập cách giữ chánh niệm và tỉnh giác, cách chịu đựng cơn đau, cách kiểm soát những dòng suy nghĩ miên man và thậm chí có thể đạt đến trạng thái Bất Tử — để rồi khi thời khắc lìa đời thực sự đến, bạn có thể ra đi một cách đầy thiện xảo.

Bài học thứ hai là nếu muốn giúp người khác vượt qua nỗi sợ chết, bạn cũng phải học cách vượt qua nỗi sợ chết của chính mình, bằng cách buông bỏ sự bám víu vào thân xác và những thú vui giác quan, tránh xa các hành động tàn ác, và đạt được sự thấu hiểu trực tiếp về trạng thái Bất tử. Khi đã vượt qua được nỗi sợ hãi, bạn sẽ có hiệu quả hơn nhiều trong việc truyền dạy Giáo Pháp cho những người đang hấp hối. Bạn sẽ không bị những cảnh tượng kinh hoàng về cái chết làm cho bối rối; bạn sẽ có thể hiểu và đáp ứng trực tiếp các nhu cầu của người sắp qua đời, đồng thời lời nói của bạn sẽ mang sức nặng hơn vì chúng xuất phát từ trải nghiệm trực tiếp. Tâm từ bi của bạn sẽ được vun đắp không phải bởi sách vở hay cảm xúc, mà bởi sự thấu hiểu rõ ràng về cái gì sẽ mất đi và cái gì thì không.

Ultimately, these two lessons boil down to one: Meditate, as an act of compassion both for yourself and for others, even if death seems far away. When the time comes to die, you'll be less of a burden on those who are caring for you. In the meantime, if you're called on to comfort those who are sick or dying, your compassion will be more genuinely helpful, and you'll have a more effective message to teach.

Suy cho cùng, hai bài học này quy về một điều: Hãy thiền định như một hành động thể hiện tâm từ bi đối với cả bản thân lẫn người khác, ngay cả khi cái chết dường như còn rất xa vời. Khi đến lúc phải lìa đời, bạn sẽ bớt trở thành gánh nặng cho những người đang chăm sóc mình. Trong thời gian này, nếu được mời gọi an ủi người bệnh hoặc người sắp qua đời, tâm từ bi của bạn sẽ mang lại sự giúp đỡ chân thật hơn, và bạn cũng sẽ có những lời chia sẻ hiệu quả hơn để truyền đạt.

©2006 Thanissaro Bhikkhu.
The text of this page ("Educating Compassion", by Thanissaro Bhikkhu) is licensed under a Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License. To view a copy of the license, visit http://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0/. Documents linked from this page may be subject to other restrictions. Transcribed from a file provided by the author. Last revised for Access to Insight on 5 June 2010.
How to cite this document (a suggested style): "Educating Compassion", by Thanissaro Bhikkhu. Access to Insight (BCBS Edition), 5 June 2010, http://www.accesstoinsight.org/lib/authors/thanissaro/compassion.html .

©2006 Thanissaro Bhikkhu.
Bài viết của trang này ("Educating Compassion", Tỳ khưu Thanissaro biên soạn) được cấp giấy phép bởi Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License. Để xem bản sao của giấy phép, hảy truy cập http://creativecommons.org/licenses/by-nc/4.0/. Các tài liệu liên kết từ trang này có thể bị hạn chế. Chép lại từ tài liệu được cung cấp bởi tác giả. Chỉnh sửa cuối cho Access to Insight vào ngày 5 tháng 6, năm 2010.
Làm thế nào để trích dẫn tài liệu này (một đề nghị bút pháp): "Educating Compassion - Vun Đắp Tâm Từ Bi", Tỳ khưu Thanissaro biên soạn. Access to Insight (BCBS Edition), 5 tháng 6 2010, http://www.accesstoinsight.org/lib/authors/thanissaro/compassion.html .

 Webmasters: Minh Hạnh & Thiện Pháp
Cập nhập ngày: Thứ Sáu 21-08-2026

 | | trở về đầu trang | Home page |