|
A Gift of Dhamma |
Món Quà Pháp Bảo |
|
A public talk given on October 10, 1977, addressed to the parents of a monk who had come from France to visit their son. An edited version of this talk has been translated into English under the same name. |
thuyết giảng bởi Ngài Ajahn Chah, được chuyển dịch từ tiếng Thái bởi Thanissaro Bhikkhu (2013; 34pp./114KB)
Bài pháp thoại được thuyết trình vào ngày 10 tháng 10 năm 1977 cho Phật tử, nhân dịp cha mẹ của một nhà sư từ Pháp đến thăm con trai. Một phiên bản biên tập của bài pháp thoại này đã được dịch sang tiếng Anh với cùng tên. |
|
SO NOW… There’s been not enough time…. too little time…. You’ve been visiting for many days now, and we haven’t had the chance to talk, to ask questions, because here at Wat Nong Pa Pong there’ve been many visitors, both day and night. So we haven’t had the opportunity to talk. [Aside: Whose parents are these?] [Answer: Ṭhitiñāṇo’s.] Ṭhitiñāṇo’s parents have come to visit from Paris for several days now, staying three nights at Wat Pa Pong and three nights at Wat Pa Nanachat. In two days you’re going to leave. |
BÂY GIỜ… Thời gian không đủ… quá ít thời gian… Các vị đã đến thăm nhiều ngày rồi, và chúng ta chưa có cơ hội nói chuyện, hỏi han nhau, bởi vì ở chùa Wat Nong Pa Pong này có rất nhiều khách đến thăm, cả ngày lẫn đêm. Vì vậy chúng ta chưa có cơ hội trò chuyện. [Nói nhỏ: Đây là bố mẹ của ai?] [Trả lời: Của Ṭhitiñāṇo.] Bố mẹ của Ṭhitiñāṇo đã đến thăm từ Paris được vài ngày rồi, ở lại ba đêm tại Wat Pa Pong và ba đêm tại Wat Pa Nanachat. Hai ngày nữa các vị sẽ rời đi. . |
|
So I’d like to take the opportunity to tell you how glad I am that you made the effort to come here to Wat Nong Pa Pong and that you’ve had the chance to visit with your son, the monk. I’m glad for you, but I don’t have any gift to give to you. There are already lots of material things and whatnot in Paris. Lots of material things. But there’s not much Dhamma to nourish people’s hearts and bring them peace. There’s not much at all. From what I observed when I was there, all I could see were things to stir up the heart and give it trouble all the time. From what I observed, Paris seems to be very advanced in terms of all kinds of material things that are sensual objects—sights, sounds, smells, tastes, tactile sensations, and ideas that act as temptations for people who aren’t familiar with the Dhamma, getting them all stirred up. So now I’d like to give a gift of Dhamma that you can put into practice in Paris after you leave Wat Nong Pa Pong and Wat Pa Nanachat. |
Vì vậy tôi muốn nhân cơ hội này để bày tỏ sự hoan hỉ của tôi khi bà đã nỗ lực đến đây, đến chùa Wat Nong Pa Pong, và có cơ hội gặp gỡ con trai mình, một vị tỳ kheo. Tôi rất hoan hỉ, nhưng tôi không có món quà vật chất nào để tặng bà cả. Về vật chất thi ở Paris đã có rất nhiều. Rất nhiều thứ. Nhưng lại không có nhiều giáo pháp để nuôi dưỡng tâm hồn và mang lại bình an cho con người. Thật sự là không có nhiều. Theo những gì tôi quan sát được khi tôi ở đó, tất cả những gì tôi thấy chỉ là những thứ khuấy động tâm và gây ra phiền não liên tục. Theo những gì tôi quan sát, Paris dường như rất phát triển về mọi loại vật chất, những thứ thuộc về giác quan – sắc, thinh, vị, xúc và những ý tưởng cám dỗ những người không quen thuộc với giáo pháp, khiến họ luôn bị xáo trộn. Vì vậy, bây giờ tôi muốn tặng bà một món quà giáo pháp mà bà có thể thực hành ở Paris sau khi rời khỏi Wat Nong Pa Pong và Wat Pa Nanachat. |
|
The Dhamma is…. [Are you going to translate as we go along?] [Yes.] [Okay, but it’s not really convenient.] |
Pháp là… [Bạn sẽ dịch từng đoạn chứ?] [Vâng.] [Được rồi, nhưng như vậy không tiện lắm.] |
The Dhamma is a condition that can cut through and reduce the problems and difficulties in the human heart—reducing them, reducing them until they’re gone. This condition is called Dhamma. So you should train yourself in this Dhamma in your daily life. When any preoccupation strikes and disturbs the mind, you can then solve the problem, you can resolve it. That’s because problems of this sort, everyone—whether here in Thailand, abroad, everywhere: If you don’t know how to solve this problem, it’s normal that you suffer. |
Pháp (Dhamma) là một phương pháp có thể giúp loại bỏ và giảm bớt căng thẳng và phiền não trong tâm con người – giảm dần, giảm dần cho đến khi chúng biến mất. Trạng thái này được gọi là Pháp. Vì vậy, bạn nên rèn luyện bản thân theo Pháp trong cuộc sống hàng ngày. Khi bất kỳ sự lo lắng nào xuất hiện và làm xáo trộn tâm, bạn có thể giải quyết vấn đề đó, bạn có thể hóa giải nó. Bởi vì những vấn đề kiểu này, dù ở Thái Lan, nước ngoài hay bất cứ nơi nào khác: Nếu bạn không biết cách giải quyết vấn đề, thì việc bạn đau khổ là điều bình thường. |
|
When this sort of problem arises, the way to solve it is discernment: building discernment, training discernment, making discernment arise from within our heart. |
Khi loại vấn đề này phát sinh, cách giải quyết là sự tỉnh giác: nâng cao sự tỉnh giác, rèn luyện sự tỉnh giác, và để sự tỉnh giác nảy phát sinh từ sâu thẳm trong tâm của chúng ta. |
|
As for the path of practice, it’s nothing far away. It’s right within you: in your body and mind. It’s the same whether you’re Thai or from abroad. The body and mind are what stir up trouble. But the body and mind can bring peace. |
Về con đường tu tập, nó không hề xa vời. Nó nằm ngay trong chính bạn: trong thân và tâm của bạn. Điều này đúng cho dù bạn là người Thái hay người nước ngoài. Thân và tâm là những thứ gây ra phiền não. Nhưng thân và tâm cũng có thể mang lại sự bình an. |
|
Actually, the mind is already at normalcy. It’s like rain water, water that’s normally clear, pure, and clean. But if you put green or yellow dye into it, it turns green or yellow. |
Thực ra, tâm vốn dĩ đã ở trạng thái bình thường. Nó giống như nước mưa, loại nước vốn dĩ trong suốt, tinh khiết và sạch sẽ. Nhưng nếu bạn cho thuốc nhuộm màu xanh lá cây hoặc màu vàng vào, nó sẽ chuyển sang màu xanh lá cây hoặc màu vàng. |
|
It’s the same with the mind. If you meet up with a preoccupation you like, the heart feels good and at ease. If it meets up with a preoccupation you don’t like, it feels dis-ease. It gets murky—like water that turns yellow when mixed with yellow dye, black when mixed with black dye, green when mixed with green dye. It keeps changing its color. But actually, the water that’s yellow or green: Its normalcy is that it’s clear and clean. The normalcy of the mind is like rain water. It’s a mind that’s clear and clean. It’s a mind whose normalcy isn’t stirred up and troubled. The reason it’s stirred up and troubled is because it takes after its preoccupations. It falls for its preoccupations. |
Tâm cũng vậy. Nếu gặp phải điều mình thích, tâm sẽ cảm thấy hài lòng và thoải mái. Nếu gặp phải điều không thích, tâm sẽ cảm thấy khó chịu. Nó trở nên đục ngầu – giống như nước chuyển sang màu vàng khi pha với thuốc nhuộm vàng, màu đen khi pha với thuốc nhuộm đen, màu xanh lá cây khi pha với thuốc nhuộm xanh lá cây. Nó liên tục thay đổi màu sắc. Nhưng thực ra, nước dù có màu vàng hay xanh lá cây: trạng thái bình thường của nó là trong suốt và sạch sẽ. Trạng thái bình thường của tâm giống như nước mưa. Đó là một tâm trong sáng và thanh tịnh. Đó là một tâm mà trạng thái bình thường của nó không bị khuấy động và phiền muộn. Lý do nó bị khuấy động và phiền muộn là vì nó bị ảnh hưởng bởi những điều mình bận tâm. Nó bị cuốn theo những điều mình bận tâm. |
|
To put it so that you’ll see this clearly: Right now we’re sitting in a forest that’s quiet, like a leaf. A leaf, if there’s no breeze blowing, is still. Quiet. If a breeze blows, it flutters in line with the breeze. The same with the mind. If it makes contact with a preoccupation, it flutters in line with the preoccupation. The more it’s ignorant of the Dhamma, the more you keep letting it run loose in line with its moods. If the mood is happy, you let it run loose. If the mood is unhappy, you let it run loose, and it keeps staying stirred up—to the point where people have nervous breakdowns, because they don’t know what’s going on. They let things run loose in line with their moods. They don’t know how to care for their minds. |
Để bạn có thể hình dung dễ dàng hơn: Hiện tại chúng ta đang ngồi trong một khu rừng yên tĩnh, giống như một chiếc lá. Một chiếc lá, nếu không có gió thổi, sẽ đứng yên. Tĩnh lặng. Nếu có gió thổi, nó sẽ lay động theo chiều gió. Tâm cũng vậy. Nếu nó tiếp xúc với một mối bận tâm, nó sẽ giao động theo mối bận tâm đó. Càng thiếu hiểu biết về Phật pháp, bạn càng để tâm mình chạy lung tung theo cảm thọ. Nếu cảm thọ vui vẻ, bạn để nó chạy lung tung. Nếu cảm thọ buồn bã, bạn cũng để nó chạy lung tung, và nó cứ mãi giao động – đến mức khiến người ta bị suy nhược thần kinh, vì họ không biết chuyện gì đang xảy ra. Họ để mọi thứ diễn ra theo cảm thọ của mình. Họ không biết cách chăm sóc tâm của mình. |
|
When the mind has no one to care for it, it’s like a person with no parents to care for it, a destitute person. A destitute person has no refuge. A person who lacks a refuge suffers. The same with the mind. If it lacks training in making its views right, it’s put to all sorts of difficulties. |
Khi tâm không được ai chăm sóc, nó giống như một người không có cha mẹ chăm sóc, một người khốn khổ. Một người khốn khổ không có nơi nương tựa. Một người thiếu nơi nương tựa sẽ phải chịu khổ. Tâm cũng vậy. Nếu nó thiếu sự tu tập để có những quan điểm đúng đắn, nó sẽ gặp phải đủ mọi khó khăn. |
|
So the practice of bringing the mind to peace is called, in Buddhism, doing kammaṭṭhāna. Kammaṭṭhāna. Ṭhāna means foundation. Kamma is the work we have to do. One part of this is the body; one part is the mind. That’s all there is: these two things. The body is a rūpa-dhamma, a physical condition. It has a shape you can see with your eyes. The mind is a nāma-dhamma, a mental phenomenon that doesn’t have a shape. You can’t see it with your eyes, but it’s there. In ordinary language we call these things body and mind. The body you can see with your physical eyes. The mind you can see with your inner eye, the eye of the mind. There are just these two things, but they’re all stirred up. |
Vì vậy việc tu tập đưa tâm đến trạng thái bình an được gọi trong Phật giáo là tu tập đề mục hành thiền (kammaṭṭhāna). Kammaṭṭhāna. Ṭhāna có nghĩa là nền tảng. Kamma là công việc chúng ta phải làm. Một phần của việc này là thân; một phần là tâm. Chỉ có hai điều này mà thôi. Thân là rūpa-dhamma, sắc pháp một trạng thái vật chất. Nó có hình dạng mà bạn có thể nhìn thấy bằng mắt thường. Tâm là nāma-dhamma là danh pháp, một hiện tượng tinh thần không có hình dạng. Bạn không thể nhìn thấy nó bằng mắt thường, nhưng nó vẫn tồn tại. Trong ngôn ngữ thông thường, chúng ta gọi những điều này là thân và tâm. Thân bạn có thể nhìn thấy bằng mắt vật lý. Tâm bạn có thể nhìn thấy bằng con mắt nội tâm, con mắt của tâm. Chỉ có hai điều này, nhưng chúng lại đang bị xáo trộn. |
|
So the practice of training the mind, the gift I’m giving you today, is simply doing this kammaṭṭhāna. I’m giving it to you to train the mind. Use this mind to contemplate this body. Use this mind to contemplate this body. |
Vì vậy, việc tu tập rèn luyện tâm, món quà mà tôi tặng cho các bạn hôm nay, đơn giản chỉ là thực hành thiền định (kammaṭṭhāna) này. Tôi tặng nó cho các bạn để rèn luyện tâm. Hãy dùng tâm này để quán chiếu thân này. Hãy dùng tâm này để quán chiếu thân này. |
|
What is the mind? The mind isn’t “is” anything. But through our suppositions we say it’s an awareness. It’s always aware of receiving preoccupations. What’s aware of receiving preoccupations, we’ll call “mind.” Whatever is aware, that’s called the mind. It’s aware of preoccupations and moods—sometimes happy, sometimes painful, moods of gladness, moods of sadness. Whatever takes on the burden of being aware of these things is called the mind. |
Tâm là gì? Tâm không phải là "cái gì" cụ thể. Nhưng thông qua những giả định của chúng ta, chúng ta nói rằng nó là một sự nhận thức. Nó luôn nhận thức được những phiền não. Cái gì nhận thức được những phiền não, chúng ta gọi đó là "tâm". Bất cứ thứ gì có khả năng nhận thức, đó được gọi là tâm. Nó nhận thức được những phiền não và các cảm thọ—đôi khi vui vẻ, đôi khi đau khổ, cảm thọ hân hoan, cảm thọ buồn bã. Bất cứ thứ gì gánh vác trách nhiệm nhận thức những điều này đều được gọi là tâm. |
|
The mind is right here right now. While I’m talking to you, the mind is aware of what I’m saying. When the sounds come into the ear, the mind is aware of what I’m saying. Whatever’s there, it’s aware of it. What’s aware: That’s called the mind. The mind has no body, no shape. It’s simply what’s aware and nothing else. That’s called the mind. |
Tâm hiện diện ngay tại đây, ngay lúc này. Trong khi tôi đang nói chuyện với bạn, tâm nhận thức được những gì tôi đang nói. Khi âm thanh truyền vào tai, tâm nhận thức được những gì tôi đang nói. Bất cứ điều gì hiện diện, tâm đều nhận thức được. Cái gì nhận thức được: Đó chính là tâm. Tâm không có hình thể, không có hình dạng. Nó chỉ đơn giản là nhận thức và không gì khác. Đó được gọi là tâm. |
|
This mind, if we teach it to have right views, won’t have any problems. It’ll be at its ease. The mind will be the mind, the preoccupations will be preoccupations. Preoccupations won’t be the mind; the mind won’t be its preoccupations. We contemplate the mind and its preoccupations so that we’ll see clearly in our awareness that the mind receives and is aware of preoccupations that come passing in. These two things meet and give rise to an awareness in the mind—good, bad, hot, cold, all kinds of things. If we don’t have the discernment to straighten things out, the problems that come about in this way will put the mind in a turmoil. |
Với tâm, nếu chúng ta dạy những quan điểm đúng đắn, nó sẽ không gặp bất kỳ phiền não nào. Nó sẽ được an lạc. Tâm sẽ là tâm, những phiền não sẽ là những phiền não. Những phiền não không phải là tâm; tâm không phải là những phiền não. Chúng ta quán chiếu tâm và những phiền não của nó để thấy rõ trong nhận thức rằng tâm tiếp nhận và nhận biết những phiền não đến rồi đi. Hai điều này gặp nhau và tạo ra nhận thức trong tâm – tốt, xấu, nóng, lạnh, đủ loại thứ. Nếu chúng ta không có sự sáng suốt để giải quyết mọi việc, những phiền não phát sinh theo cách này sẽ khiến tâm trở nên hỗn loạn. |
|
To do kammaṭṭhāna is to give the mind a foundation. The in-and-out breath is our foundation. Take this—the breath coming in, the breath going out—as the object of your meditation. Familiarize yourself with it. There are lots of other meditation objects, but they can cause difficulties. It’s better to stay with the breath. The breath has been the crown of all meditation objects from time immemorial. |
Tu tập đề mục thiền (kammaṭṭhāna) là để tạo nền tảng cho tâm. Hơi thở ra vào chính là nền tảng của chúng ta. Hãy lấy hơi thở – hơi thở vào, hơi thở ra – làm đối tượng thiền định. Hãy làm quen với nó. Có rất nhiều đối tượng thiền định khác, nhưng chúng có thể gây khó khăn. Tốt hơn hết là hãy tập trung vào hơi thở. Hơi thở luôn là đối tượng thiền định tối thượng từ thời xa xưa. |
|
You sit and meditate—when you have the chance, you sit and meditate. Put your right hand on top of your left hand, your right leg on top of your left leg. Sit up straight. Think to yourself: “Right now I’m going to put aside all my burdens. I won’t concern myself with anything else.” Let go. Whatever responsibilities you have, all your many responsibilities, let them go for the time being. Teach your mind: “Right now I’m going to keep track of the breath. I’ll be alert to one thing only: the breath.” Then breathe in, breathe out. When you focus on the breath, don’t make it long, don’t make it short, don’t make it light, don’t make it heavy. Let it be just right. Just right. |
Bạn hãy ngồi và thiền (tập trung vào hơi thở) – khi có cơ hội, hãy ngồi thiền. Đặt tay phải lên trên tay trái, chân phải lên trên chân trái. Ngồi thẳng lưng. Tự nhủ: “Ngay bây giờ tôi sẽ gạt bỏ mọi phiền não. Tôi sẽ không bận tâm đến bất cứ điều gì khác.” Hãy buông bỏ. Bất kể trách nhiệm nào bạn đang gánh vác, tất cả những trách nhiệm đó, hãy tạm thời buông bỏ chúng. Hãy dạy cho tâm của bạn: “Ngay bây giờ tôi sẽ tập trung vào hơi thở. Tôi sẽ chỉ chú ý đến một điều duy nhất: hơi thở.” Sau đó hít vào, thở ra. Khi tập trung vào hơi thở, đừng hít thở quá dài, đừng hít thở quá ngắn, đừng hít thở quá nhẹ, đừng hít thở quá mạnh. Hãy để hơi thở tự nhiên. vừa phải. |
|
Mindfulness is the ability to keep this in mind. Alertness is the awareness that comes from the mind. Let it know that the breath is going out. Let it know that the breath is coming in. At ease. You don’t have to think about this or that or anything at all. Just be aware in the present that “Right now my only duty is to focus on the breath. I don’t have any duty to think about anything else.” Then focus just on the breath going out, the breath coming in. Focus your mindfulness to keep track of this. Make your alertness be aware that right now you have a breath. |
Chánh niệm là khả năng ghi nhớ điều này trong tâm. Sự tỉnh giác là nhận thức đến từ tâm. Hãy để tâm biết rằng hơi thở đang đi ra. Hãy để tâm biết rằng hơi thở đang đi vào. Hãy thư thái. Bạn không cần phải suy nghĩ về điều này hay điều kia, hay bất cứ điều gì khác. Chỉ cần nhận thức trong hiện tại rằng “Ngay bây giờ, nhiệm vụ duy nhất của tôi là tập trung vào hơi thở. Tôi không có nhiệm vụ phải suy nghĩ về bất cứ điều gì khác.” Sau đó, chỉ tập trung vào hơi thở đi ra, hơi thở đi vào. Hãy dùng chánh niệm để theo dõi điều này. Hãy để sự tỉnh giác của bạn nhận biết rằng ngay bây giờ bạn đang có hơi thở. |
|
At first, when the breath comes in, the beginning of the breath is at the tip of the nose, the middle of the breath is at the heart, the end of the breath is at the navel. When you breathe out, the beginning of the breath is at the navel, the middle of the breath is at the heart, the end of the breath is at the tip of the nose. Feel it in this way. The beginning of the breath, one—nose; two—heart; three—navel. Then one—navel; two—heart; three—nose. Focus on these three stages and let all your concerns fade away. You don’t have to think of anything else. Focus on the breath. Focus on in. Always know the beginning of the breath, the middle of the breath, the end of the breath. The beginning of the breath, the middle of the breath, the end of the breath. |
Đầu tiên, khi hơi thở vào, hơi thở bắt đầu ở chóp mũi, phần giữa hơi thở ở tim, và kết thúc hơi thở ở rốn. Khi thở ra, hơi thở bắt đầu ở rốn, phần giữa hơi thở ở tim, và kết thúc hơi thở ở chóp mũi. Hãy cảm nhận theo cách này. Bắt đầu hơi thở, một – mũi; hai – tim; ba – rốn. Sau đó, một – rốn; hai – tim; ba – mũi. Tập trung vào ba giai đoạn này và để mọi lo lắng tan biến. Bạn không cần phải nghĩ đến bất cứ điều gì khác. Hãy tập trung vào hơi thở. Tập trung vào việc hít vào. Luôn luôn nhận biết điểm bắt đầu, điểm giữa và điểm kết thúc của hơi thở. Điểm bắt đầu, điểm giữa, điểm kết thúc của hơi thở. |
|
Perhaps the mind may think of something. It’ll bring up the breath as its preoccupation. It’ll evaluate the breath, contemplate it, staying involved with its preoccupation, keeping this up continually—knowing the beginning of the breath, knowing the middle of the breath, knowing the end of the breath. |
Tâm có thể sẽ nghĩ đến điều gì đó. Nó sẽ hướng sự chú ý đến hơi thở. Nó sẽ đánh giá hơi thở, suy ngẫm về nó, luôn tập trung vào đối tượng đó, duy trì trạng thái này liên tục – nhận biết sự bắt đầu của hơi thở, nhận biết phần giữa của hơi thở, nhận biết sự kết thúc của hơi thở . |
|
When you keep doing this, then citta-mudutā: The heart will be malleable. Kāya-mudutā: The body will be malleable. Its tiredness and stiffness will gradually disappear. The body will become light; the mind will gather together. The breath will grow more gentle and refined. |
Khi bạn tiếp tục tu tập như vậy, thì nhu tâm (citta-mudutā): Tâm sẽ trở nên mềm dẻo. Nhu thân (Kāya-mudutā): Thân sẽ trở nên mềm dẻo. Sự mệt mỏi và cứng nhắc sẽ dần biến mất. Cơ thể sẽ trở nên nhẹ nhàng; tâm sẽ tập trung hơn. Hơi thở sẽ trở nên nhẹ nhàng và tinh tế hơn. |
|
Mindfulness and alertness will coalesce with the mind. Keep doing this until the mind quiets down, grows still, and becomes one. One. The mind rests with the breath. It won’t separate out anywhere else. At ease. No disturbance. It knows the beginning of the breath, the middle of the breath, the end of the breath. When you know this, stay focused on it at all times. When the mind is quiet, you can focus just on the end point and beginning point of the breath. You don’t have to follow it down into the body. In other words, stay just at the tip of the nose. The breath goes out, the breath comes in, goes out, comes in, but you don’t have to follow it down. |
Chánh niệm và tỉnh giác sẽ hòa quyện với tâm. Hãy tiếp tục tu tập điều này cho đến khi tâm lắng xuống, trở nên tĩnh lặng và hợp nhất thành một. Một thể duy nhất. Tâm nghỉ ngơi cùng với hơi thở. Nó sẽ không tách rời đi đâu khác. Thư thái. Không có sự xáo trộn. Nó nhận biết được điểm bắt đầu của hơi thở, điểm giữa của hơi thở, điểm kết thúc của hơi thở. Khi bạn nhận biết được điều này, hãy luôn tập trung vào nó. Khi tâm tĩnh lặng, bạn chỉ cần tập trung vào điểm cuối và điểm bắt đầu của hơi thở. Bạn không cần phải theo dõi hơi thở đi xuống trong thân. Nói cách khác, chỉ cần giữ sự chú ý ở đầu mũi. Hơi thở đi ra, hơi thở đi vào, đi ra, đi vào, nhưng bạn không cần phải theo dõi nó đi xuống. |
|
When you do this, it’s called making the mind comfortable, at peace. When the mind is at peace, let it stop and stay right there. It stops and stays with one preoccupation. The mind is one. It stays with a single preoccupation, the in-and-out breath, at all times. This is called making the mind quiet and making it give rise to discernment. |
Khi bạn làm điều này, đó được gọi là làm cho tâm thoải mái, bình an. Khi tâm bình an, hãy để nó dừng lại và giữ nguyên trạng thái đó. Nó dừng lại và tập trung vào một điều duy nhất. Tâm là một thể thống nhất. Nó luôn luôn tập trung vào một điều duy nhất, đó là hơi thở ra vào. Điều này được gọi là làm cho tâm tĩnh lặng và giúp nó phát sinh tuệ. |
This is the beginning, the foundation of doing kammaṭṭhāna. Try to do this every day, every day, wherever you are: at home, in your car, in your boat, sitting, lying down. Have mindfulness and alertness in charge at all times. |
Đây là sự khởi đầu, là nền tảng của việc tu tập thiền định. Hãy cố gắng thực hiện điều này mỗi ngày, mọi lúc mọi nơi: ở nhà, trong xe hơi, trên thuyền, khi ngồi, khi nằm. Luôn luôn giữ tâm chánh niệm và tỉnh giác. |
|
This is called meditation (bhāvanā). There are many types of meditation and they can be done in all four postures, not only while you’re sitting. You can do them while standing, sitting, walking, or lying down. All that’s asked is that your mindfulness be always focused on knowing: “At this moment, what are the characteristics of the mind? What mood is it in? Happy? Pained? Stirred up? At peace?” Observe it in this way. In other words, know what’s right and wrong in your mind at all times. This is called making the mind quiet. |
Đây được gọi là tu thiền định (bhāvanā). Có nhiều loại thiền định khác nhau và chúng có thể được thực hiện ở cả bốn tư thế, không chỉ khi ngồi. Bạn có thể thực hiện chúng khi đứng, ngồi, đi hoặc nằm. Điều cần thiết là sự chú tâm của bạn luôn tập trung vào việc nhận biết: “Vào lúc này, tâm đang có những đặc điểm gì? Tâm trạng như thế nào? Vui vẻ? Đau khổ? Bồn chồn? Bình an?” Hãy quan sát nó theo cách này. Nói cách khác, hãy luôn biết điều gì đúng và điều gì sai trong tâm của bạn. Điều này được gọi là làm cho tâm tĩnh lặng. |
|
When the mind is quiet, discernment will arise; discernment will know; discernment will see. When the mind is quiet, use the quiet mind to contemplate. Contemplate what? It’s kammaṭṭhāna: your body from the head down to the toes, from the toes up to the head. Use the quiet mind to keep contemplating back and forth. Look at hair of the head, hair of the body, nails, teeth, and skin as your kammaṭṭhāna. See that all bodies have earth, water, fire, and wind. These four groups are called kammaṭṭhāna. They’re called properties: the earth property, the water property, the fire property, the wind property. When they come together, we call them a “human being,” a “living being.” But the Buddha said to see them just as properties. The parts of the body that are solid are earth, the earth property. The liquid parts that circulate in the body are called the water property. The breath that flows up and down is called the wind property. The heat and warmth in the body is called the fire property. |
Khi tâm tĩnh lặng, tuệ sẽ phát sinh; tuệ sẽ hiểu biết; tuệ sẽ nhìn thấy. Khi tâm tĩnh lặng, hãy sử dụng tâm tĩnh lặng đó để quán tưởng. Quán tưởng điều gì? Đó là đề mục thiền (kammaṭṭhāna): thân của bạn từ đầu đến chân, từ chân đến đầu. Hãy sử dụng tâm tĩnh lặng để liên tục quán tưởng qua lại. Hãy nhìn vào tóc trên đầu, lông trên cơ thể, móng tay, răng và da như là đề mục thiền (kammaṭṭhāna) của bạn. Hãy thấy rằng trong mỗi thân đều có đất, nước, lửa và gió. Bốn nhóm này được gọi là đề mục thiền (kammaṭṭhāna). Chúng được gọi là các yếu tố: yếu tố đất, yếu tố nước, yếu tố lửa, yếu tố gió. Khi chúng kết hợp lại, chúng ta gọi chúng là “con người”, “sinh vật sống”. Nhưng Đức Phật dạy hãy nhìn chúng chỉ như là các yếu tố. Các bộ phận rắn chắc của cơ thể là đất, yếu tố đất. Các chất lỏng lưu thông trong cơ thể được gọi là yếu tố nước. Hơi thở lên xuống được gọi là yếu tố gió. Nhiệt và hơi ấm trong cơ thể được gọi là yếu tố lửa. |
|
A person, when analyzed, has only these four things: earth, water, fire, wind. There’s no “being,” no “human being.” There’s nothing: no Thai, no Westerner, no Cambodian, no Vietnamese, no Lao. Nobody. There’s just earth, water, fire, and wind. But we suppose these things into being a person, a living being. But actually you’ll come to see that there’s nothing at all to this earth, water, fire, and wind that we call a human being. They’re composed of inconstancy, stress, and not-self. They’re not for sure. They keep cycling around and changing. They don’t stay in place. Even our body isn’t for sure. It keeps moving around, changing. The hair of the head changes, the hair of the body changes, the skin changes. Everything keeps changing. |
Một con người khi phân tích ra thì chỉ có bốn yếu tố này: đất, nước, lửa, gió. Không có “thực thể”, không có “chúng sinh”. Không có gì cả: không có người Thái, không có người phương Tây, không có người Campuchia, không có người Việt Nam, không có người Lào. Không ai cả. Chỉ có đất, nước, lửa và gió. Nhưng chúng ta lại gán cho những yếu tố này là một con người, một sinh vật sống. Nhưng thực ra bạn sẽ thấy rằng đất, nước, lửa và gió mà chúng ta gọi là con người chẳng có gì cả. Chúng được cấu thành từ sự bất ổn, sự phiền não và vô ngã. Chúng không cố định. Chúng cứ tuần hoàn và thay đổi. Chúng không đứng yên một chỗ. Ngay cả cơ thể chúng ta cũng không cố định. Nó cứ chuyển động, thay đổi. Tóc trên đầu thay đổi, lông trên thân thay đổi, da thay đổi. Mọi thứ đều liên tục thay đổi. |
|
Even the heart is the same way. It’s not our self, it’s not “us,” it’s not “him” or “her.” It can think all kinds of things. Sometimes it can think of committing suicide, sometimes it can think pleasant thoughts, sometimes it can think painful thoughts—all kinds of things. It’s not for sure. If you don’t have any discernment, you believe it—this one mind that can keep lying to you: sad, happy, all mixed up together. This is what we mean when we say that the mind isn’t for sure. The body isn’t for sure. In short, they’re both inconstant, both stressful, both not-self. The Buddha said that these things aren’t a being, aren’t a person, aren’t our self, aren’t us or anyone else. They’re properties, that’s all: earth, water, fire, and wind. |
Ngay cả tâm cũng vậy. Tâm không phải là bản ngã của chúng ta, không phải là “chúng ta”, không phải là “anh ấy” hay “cô ấy”. Nó có thể nghĩ đủ thứ. Đôi khi nó nghĩ đến việc tự tử, đôi khi nó nghĩ những điều dễ chịu, đôi khi nó nghĩ những điều đau khổ—tất cả mọi thứ. Nó không chắc chắn. Nếu bạn không có khả năng phân biệt, bạn sẽ tin vào nó—cái tâm duy nhất này có thể liên tục lừa dối bạn: buồn, vui, tất cả lẫn lộn vào nhau. Đây là điều chúng ta muốn nói khi nói rằng tâm không chắc chắn. Thân thể cũng không chắc chắn. Tóm lại, cả hai đều bất ổn, cả hai đều phiền não, cả hai đều không phải là bản ngã. Đức Phật nói rằng những thứ này không phải là một chúng sinh, không phải là một người, không phải là bản ngã của chúng ta, không phải là chúng ta hay bất cứ ai khác. Chúng chỉ là những thuộc tính, thế thôi: đất, nước, lửa và gió. |
|
This is contemplation. Use the mind to contemplate until it sees clearly all the way down. |
Đây là thiền quán. Hãy dùng tâm để quán chiếu cho đến khi nhìn thấy rõ ràng mọi thứ đến tận cùng. |
|
When it sees clearly all the way down, the clinging that teaches us that we’re beautiful, good, bad, unhappy, right, whatever, gets uprooted. Removed. You see everything as one and the same thing: human beings, animals. Westerners are one and same with Thais; Thais, one and the same with Westerners. Everything. It’s all properties: earth, water, fire, wind. When the mind sees in this way, it uproots every clinging out of itself. When you contemplate and see inconstancy, stress, and not-self— that there’s no “us,” no “being”—you give rise to a sense of chastened dismay. You uproot your clingings, uproot your clingings. You don’t have to cling to anything at all as “you” or your self or anyone else. |
Khi tâm nhìn thấu mọi thứ đến tận cùng, sự chấp thủ điều đó dạy chúng ta rằng mình đẹp, tốt, xấu, bất hạnh, đúng, hay bất cứ điều gì khác, sẽ bị nhổ tận gốc. Bị diệt trừ. Bạn nhìn thấy mọi thứ là một và cùng một thực thể: con người, động vật. Người phương Tây và người Thái đều giống nhau; người Thái cũng giống và cùng một thực thể với người phương Tây. Tất cả mọi thứ. Tất cả đều là yếu tố: đất, nước, lửa, gió. Khi tâm nhìn nhận theo cách này, nó sẽ nhổ tận gốc mọi sự bám víu ra khỏi chính nó. Khi bạn chiêm nghiệm và thấy sự vô thường, đau khổ và vô ngã – rằng không có “chúng ta”, không có “sự hiện hữu” – bạn sẽ nảy sinh một cảm giác kinh ngạc được thanh lọc. Bạn nhổ tận gốc những sự bám víu của mình, nhổ tận gốc những sự chấp thủ của mình. Bạn không cần phải bám víu vào bất cứ điều gì cả như là “bạn”, bản ngã của bạn hay bất cứ ai khác. |
|
When the mind sees in this way, it gives rise to disenchantment. Dispassion. In other words, when it sees everything as inconstant, stressful, and not-self, it stops. It becomes Dhamma. Passion, aversion, and delusion keep wasting away, wasting away until nothing is left but Dhamma: this mind. That’s all there is. |
Khi tâm nhìn nhận theo cách này, nó sẽ dẫn đến sự thất vọng. Không còn chấp trước. Nói cách khác, khi nó thấy mọi thứ đều bất biến, phiền não và không phải là tự ngã, nó sẽ dừng lại. Nó trở thành Pháp (Dhamma). Tham ái, ác cảm và si mê cứ thế tiêu tan, tiêu tan cho đến khi không còn gì ngoài Pháp (Dhamma): chính là tâm này. Chỉ có vậy thôi. |
|
This is what’s meant by doing kammaṭṭhāna. |
Đây chính là ý nghĩa của việc tu tập đề mục thiền (kammaṭṭhāna). |
|
So I give this to you to take and contemplate. Study it every day in your everyday life. Even though you’ve received these teachings from Wat Nong Pa Pong or Wat Pa Nanachat, they’re an heirloom that’s been passed down. I advise you—as do all the monks, the ajaans, and your son the monk—to take this gift of Dhamma and contemplate it. Your heart will be at ease. It won’t be troubled any more. It’ll be at peace. If the body is disturbed, don’t worry about it. Make sure the mind isn’t disturbed. If people in the world are disturbed, we’re not disturbed along with them. Even though there may be a lot of disturbance in your foreign land, you don’t have to be disturbed—because your mind has seen. It’s Dhamma. |
Do vậy nên tôi thuyết bài Pháp này cho con để con nhận và quán chiếu. Hãy nghiên cứu nó mỗi ngày trong cuộc sống thường nhật của con. Mặc dù con đã nhận được những lời dạy này từ Wat Nong Pa Pong hay Wat Pa Nanachat, nhưng chúng là một báu vật được truyền lại. Tôi khuyên con – cũng như tất cả các vị sư, các vị tỳ kheo, và con trai của con – hãy nhận món quà Phật pháp này và suy ngẫm về nó. Tâm con sẽ được an yên. Nó sẽ không còn phiền muộn nữa. Nó sẽ được bình an. Nếu thân bị xáo trộn, đừng lo lắng về điều đó. Hãy đảm bảo rằng tâm không bị xáo trộn. Nếu mọi người trên thế giới bị xáo trộn, chúng ta không bị xáo trộn theo họ. Cho dù có thể có nhiều xáo trộn ở quê hương con, con không cần phải bị xáo trộn – bởi vì tâm con đã thấy. Đó là Phật pháp. |
|
This is a good path, a correct path. So remember it and contemplate it. |
Đây là một con đường tốt, một con đường đúng đắn. Vì vậy, hãy ghi nhớ và quán tưởng về nó. |
webmasters: Nguyễn Văn Hoà & Minh Hạnh |
|