Newcomers to Buddhism are usually impressed by the clarity, directness, and earthy practicality of the Dhamma as embodied in such basic teachings as the Four Noble Truths, the Noble Eightfold Path, and the threefold training. These teachings, as clear as day-light, are accessible to any serious seeker looking for a way beyond suffering. When, however, these seekers encounter the doctrine of rebirth, they often balk, convinced it just doesn't make sense. At this point, they suspect that the teaching has swerved off course, tumbling from the grand highway of reason into wistfulness and speculation. Even modernist interpreters of Buddhism seem to have trouble taking the rebirth teaching seriously. Some dismiss it as just a piece of cultural baggage, "ancient Indian metaphysics," that the Buddha retained in deference to the world view of his age. Others interpret it as a metaphor for the change of mental states, with the realms of rebirth seen as symbols for psychological archetypes. A few critics even question the authenticity of the texts on rebirth, arguing that they must be interpolations.

Những người mới tìm hiểu Phật giáo thường bị thu hút bởi sự rõ ràng, trực diện và tính thực tiễn của Giáo pháp, thể hiện qua các giáo lý căn bản như Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo và Tam vô lậu học. Những giáo lý này sáng tỏ như ban ngày và dễ dàng tiếp cận cho bất kỳ ai thực sự khao khát tìm sự giải thoát khỏi khổ đau. Tuy nhiên, khi tiếp xúc với giáo lý về sự tái sinh, họ thường tỏ ra e ngại vì cho rằng điều đó hoàn toàn phi lý. Tại điểm này, họ hồ nghi rằng giáo lý ấy đã chệch hướng, rơi từ con đường lớn của lý trí vào chốn của những suy tưởng mơ hồ và phỏng đoán. Ngay cả những người diễn giải Phật giáo theo quan điểm hiện đại cũng dường như gặp khó khăn trong việc nhìn nhận giáo lý tái sinh một cách nghiêm túc. Một số người gạt bỏ nó như một thứ hành trang văn hóa, hay "siêu hình học Ấn Độ cổ đại", mà Đức Phật vẫn giữ lại để phù hợp với thế giới quan đương thời. Số khác lại diễn giải nó như một phép ẩn dụ cho sự thay đổi của các trạng thái tâm thức, trong đó các cõi tái sinh được xem là biểu tượng cho những nguyên mẫu tâm lý. Một vài nhà phê bình thậm chí còn đặt nghi vấn về tính xác thực của các văn bản nói về tái sinh, cho rằng đó là những phần được thêm vào sau này.

A quick glance at the Pali suttas would show that none of these claims has much substance. The teaching of rebirth crops up almost everywhere in the Canon, and is so closely bound to a host of other doctrines that to remove it would virtually reduce the Dhamma to tatters. Moreover, when the suttas speak about rebirth into the five realms — the hells, the animal world, the spirit realm, the human world, and the heavens — they never hint that these terms are meant symbolically. To the contrary, they even say that rebirth occurs "with the breakup of the body, after death," which clearly implies they intend the idea of rebirth to be taken quite literally.

Đọc lướt qua các bài kinh Pali sẽ thấy rằng không có lời kinh nào trong số đó thực sự có cơ sở vững chắc. Giáo lý về sự tái sinh xuất hiện ở hầu khắp các phần của bộ Kinh tạng và gắn kết chặt chẽ với vô số giáo lý khác; do đó, nếu loại bỏ nó, Giáo pháp (Dhamma) gần như sẽ bị tan rã hoàn toàn. Hơn nữa, khi các bài kinh đề cập đến việc tái sinh vào năm cõi — địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, cõi người và cõi trời — chúng không hề ám chỉ rằng những thuật ngữ này chỉ mang tính biểu tượng. Trái lại, các kinh văn còn khẳng định rằng sự tái sinh diễn ra "khi thân xác tan rã, sau khi chết," điều này cho thấy rõ ràng rằng khái niệm tái sinh cần được hiểu theo nghĩa đen.

In this essay I won't be arguing the case for the scientific validity of rebirth. Instead, I wish to show that the idea of rebirth makes sense. I will be contending that it "makes sense" in two ways: first, in that it is intelligible, having meaning both intrinsically and in relation to the Dhamma as a whole; and second, in that it helps us to make sense, to understand our own place in the world. I will try to establish this in relation to three domains of discourse, the ethical, the ontological, and the soteriological. Don't be frightened by the big words: the meaning will become clear as we go along.

Trong bài tiểu luận này, tôi sẽ không tranh luận về tính hợp lệ khoa học của thuyết tái sinh. Thay vào đó, tôi muốn chứng minh rằng ý niệm về tái sinh là có ý nghĩa. Tôi sẽ lập luận rằng nó "có ý nghĩa" theo hai cách: thứ nhất, nó dễ hiểu, có ý nghĩa cả về bản chất lẫn trong mối quan hệ với toàn bộ Phật pháp; và thứ hai, nó giúp chúng ta hiểu rõ hơn, hiểu được vị trí của mình trong thế giới. Tôi sẽ cố gắng chứng minh điều này trong mối liên hệ với ba lĩnh vực diễn ngôn: đạo đức, bản thể luận và cứu rỗi luận. Đừng lo lắng về những từ ngữ khó hiểu: ý nghĩa sẽ trở nên rõ ràng hơn khi chúng ta tiếp tục.

First, the teaching of rebirth makes sense in relation to ethics. For early Buddhism, the conception of rebirth is an essential plank of its ethical theory, providing an incentive for avoiding evil and doing good. In this context, the doctrine of rebirth is correlated with the principle of kamma, which asserts that all our morally determinate actions, our wholesome and unwholesome deeds, have an inherent power to bring forth fruits that correspond to the moral quality of those deeds. Read together, the twin teachings of rebirth and kamma show that a principle of moral equilibrium obtains between our actions and the felt quality of our lives, such that morally good deeds bring agreeable results, bad deeds disagreeable results.

Trước hết, giáo lý về sự tái sinh hoàn toàn hợp lý khi xét trên phương diện đạo đức học. Đối với Phật giáo thời sơ khai, quan niệm về tái sinh là một nền tảng thiết yếu trong hệ thống lý thuyết đạo đức, đóng vai trò là động lực thúc đẩy việc tránh làm điều bất và thực hành điều thiện. Trong bối cảnh này, học thuyết tái sinh gắn liền với nguyên lý nghiệp (kamma); nguyên lý này khẳng định rằng mọi hành động mang tính đạo đức của chúng ta, dù là thiện hay bất thiện, đều chứa đựng nội lực tạo ra những quả báo tương ứng với phẩm chất đạo đức của chính hành động đó. Khi được xem xét song hành, hai giáo lý về tái sinh và nghiệp cho thấy sự tồn tại của một nguyên lý cân bằng đạo đức giữa hành động và chất lượng đời sống mà ta trải nghiệm: theo đó, hành động thiện mang lại kết quả tốt đẹp, còn hành động bất thiện mang lại kết quả bất như ý.

It is only too obvious that such moral equilibrium cannot be found within the limits of a single life. We can observe, often poignantly, that morally unscrupulous people might enjoy happiness, esteem, and success, while people who lead lives of the highest integrity are bowed down beneath pain and misery. For the principle of moral equilibrium to work, some type of survival beyond the present life is required, for kamma can bring its due retribution only if our individual stream of consciousness does not terminate with death. Two different forms of survival are possible: on the one hand, an eternal afterlife in heaven or hell, on the other a sequence of rebirths. Of these alternatives, the hypothesis of rebirth seems far more compatible with moral justice than an eternal afterlife; for any finite good action, it seems, must eventually exhaust its potency, and no finite bad action, no matter how bad, should warrant eternal damnation.

Điều đó hiển nhiên là về sự cân bằng đạo đức như vậy không thể tìm thấy trong phạm vi của một kiếp sống duy nhất. Ta thường thấy, đôi khi thật xót xa, rằng những kẻ thiếu đạo đức lại có thể tận hưởng hạnh phúc, sự trọng vọng và thành công, trong khi những người sống với sự chính trực cao cả lại phải oằn mình gánh chịu đau khổ và bất hạnh. Để nguyên tắc cân bằng đạo đức có thể vận hành, cần phải có một dạng tồn tại nào đó sau kiếp sống hiện tại; bởi lẽ nghiệp (kamma) chỉ có thể mang lại quả báo tương xứng nếu dòng ý thức của mỗi cá nhân không chấm dứt khi cái chết đến. Có hai hình thức tồn tại sau cái chết: một là sự sống vĩnh hằng ở thiên đàng hay địa ngục, hai là chuỗi các kiếp tái sinh. Trong các khả năng này, giả thuyết về tái sinh dường như phù hợp với giáo lý đạo đức hơn nhiều so với quan niệm về sự sống vĩnh hằng; bởi lẽ, dường như bất kỳ hành động thiện hữu hạn nào cũng sẽ đến lúc cạn kiệt năng lực tác động của nó, và không một hành động bất thiện hữu hạn nào, dù tồi tệ đến đâu, lại đáng phải chịu sự trừng phạt vĩnh viễn.

It may be the case that this insistence on some kind of moral equity is an illusion, an unrealistic demand we superimpose on a universe cold and indifferent to our hopes. There is no logical way to prove the validity of rebirth and kamma. The naturalist might just be right in holding that personal existence comes to an end at death, and with it all prospects for moral justice. Nevertheless, I believe such a thesis flies in the face of one of our deepest moral intuitions, a sense that some kind of moral justice must ultimately prevail. To show that this is so, let us consider two limiting cases of ethically decisive action. As the limiting case of immoral action, let us take Hitler, who was directly responsible for the dehumanizing deaths of perhaps ten million people. As the limiting case of moral action, let us consider a man who sacrifices his own life to save the lives of total strangers. Now if there is not survival beyond death, both men reap the same ultimate destiny. Before dying, perhaps, Hitler experiences some pangs of despair; the self-sacrificing hero enjoys a few seconds knowing he's performing a noble deed. Then beyond that — nothing, except in others' memories. Both are obliterated, reduced to lifeless flesh and bones.

Có thể rằng việc đòi hỏi một sự công bằng về mặt đạo đức nào đó chỉ là ảo tưởng, một đòi hỏi phi thực tế mà chúng ta áp đặt lên một vũ trụ lạnh lùng và dửng dưng trước những hy vọng của chúng ta. Không có cách nào để chứng minh tính xác thực của sự tái sinh và nghiệp báo. Người theo quan điểm tư duy tự nhiên có lẽ đã đúng khi cho rằng sự tồn tại của cá nhân sẽ chấm dứt khi cái chết đến, và cùng với đó là mọi triển vọng về công lý đạo đức. Mặc dù vậy, Tôi tin rằng quan điểm đó đi ngược lại một trong những trực giác đạo đức sâu sắc nhất của chúng ta: niềm tin rằng cuối cùng thì công lý đạo đức phải được thực thi. Để thấy rõ điều này, hãy xem xét hai trường hợp cực đoan tiêu biểu cho những hành động mang tính quyết định về mặt đạo đức. Đối với trường hợp cực đoan về hành động phi đạo đức, hãy lấy ví dụ về Hitler, kẻ trực tiếp gây ra cái chết đầy bi thảm cho mười triệu người. Đối với trường hợp cực đoan về hành động đạo đức, hãy xem xét một người hy sinh mạng sống của mình để cứu mạng những người hoàn toàn xa lạ. Nếu không có sự tồn tại nào sau cái chết, thì cả hai người này rốt cuộc đều chịu chung một kết cục. Trước khi chết, có lẽ Hitler phải trải qua những nỗi tuyệt vọng giày vò; còn người anh hùng hy sinh thân mình thì tận hưởng vài giây phút ý thức được rằng mình đang thực hiện một hành động cao cả. Và sau đó – chẳng còn gì cả, ngoại trừ những ký ức còn đọng lại trong tâm trí người khác. Cả hai đều bị xóa mất, chỉ còn lại da thịt và xương cốt vô tri.

Now the naturalist might be correct in drawing this conclusion, and in holding that those who believe in survival and retribution are just projecting their own wishes out upon the world. But I think something within us resists consigning both Hitler and our compassionate hero to the same fate. The reason we resist is because we have a deep intuitive sense that a principle of moral justice is at work in the world, regulating the course of events in such a way that our good and bad actions rebound upon ourselves to bring the appropriate fruit. Where the naturalist holds that this intuition amounts to nothing more than a projection of our own ideals out upon the world, I would contend that the very fact that we can conceive a demand for moral justice has a significance that is more than merely psychological. However vaguely, our subjective sense of moral justice reflects an objective reality, a principle of moral equilibrium that is not mere projection but is built into the very bedrock of actuality.

Theo quan điểm tự nhiên có thể đúng khi đưa ra kết luận này, và khi cho rằng những ai tin vào sự tồn tại và sự báo ứng chỉ đang cho ra những mong muốn của chính mình lên thế giới. Nhưng tôi nghĩ rằng trong thâm tâm chúng ta có điều gì đó để không chấp nhận việc cả Hitler và người thiện giàu lòng trắc ẩn của chúng ta cùng chịu chung một kết cục. Lý do khiến chúng ta phản đối điều đó là vì ta có một trực giác sâu sắc rằng một nguyên tắc đạo đức đang vận hành trong thế giới, chi phối diễn biến sự việc sao cho những hành động thiện hay bất thiện của chúng ta sẽ quay trở lại tác động lên chính bản thân ta và mang lại kết quả tương ứng. Trong khi người theo quan điểm tự nhiên cho rằng trực giác này chẳng qua chỉ là sự tạo ra các lý tưởng của chính chúng ta ra thế giới, thì tôi lại lập luận rằng chính việc chúng ta có thể hình dung và đòi hỏi sự công bằng về mặt đạo đức đã mang một ý nghĩa vượt xa phạm vi tâm lý đơn thuần. Dù còn mơ hồ, cảm thức chủ quan của chúng ta về công lý đạo đức vẫn phản ánh một thực tại khách quan, một nguyên tắc cân bằng đạo đức không phải là sự tạo ra đơn thuần, mà là yếu tố được kiến ​​tạo ngay trong nền tảng của thực tại.

The above considerations are not intended to make belief in rebirth a necessary basis for ethics. The Buddha himself does not try to found ethics on the ideas of kamma and rebirth, but uses a purely naturalistic type of moral reasoning that does not presuppose personal survival or the working of kamma. The gist of his reasoning is simply that we should not mistreat others — by injuring them, stealing their belongings, exploiting them sexually, or deceiving them — because we ourselves are averse to being treated in such ways. Nevertheless, though the Buddha does not found ethics on the theory of rebirth, he does make belief in kamma and rebirth a strong inducement to moral behavior. When we recognize that our good and bad actions can rebound upon ourselves, determining our future lives and bringing us happiness or suffering, this gives us a decisive reason to avoid unwholesome conduct and to diligently pursue the good.

Những lập luận trên không nhằm biến niềm tin vào sự tái sinh thành cơ sở bắt buộc cho đạo đức. Chính Đức Phật không xây dựng nền tảng đạo đức dựa trên các quan niệm về nghiệp và tái sinh; thay vào đó, Ngài sử dụng lối suy luận đạo đức hoàn toàn dựa trên quy luật tự nhiên, không cần đến giả định về sự tồn tại của cá nhân sau khi chết hay sự vận hành của nghiệp. Điểm chính trong lập luận của Ngài rất đơn giản: chúng ta không nên đối xử tệ bạc với người khác — như làm hại họ, trộm cắp tài sản, lạm dụng tình dục hay lừa dối họ — bởi chính chúng ta cũng không muốn bị đối xử như vậy. Tuy nhiên, dù không xây dựng đạo đức dựa trên thuyết tái sinh, Đức Phật vẫn xem niềm tin vào nghiệp và tái sinh là động lực thúc đẩy hành vi đạo đức. Khi nhận thức được rằng những hành động thiện hay bất thiện của mình có thể tác động lên chính bản thân mình, tạo nên các kiếp sống tương lai và mang lại hạnh phúc hay khổ đau, chúng ta sẽ có lý do chính đáng để tránh xa những hành vi bất thiện và chuyên tâm thực hành điều thiện.

The Buddha includes belief in rebirth and kamma in his definition of right view, and their explicit denial in wrong view. It is not that the desire for the fruits of good karma should be one's main motive for leading a moral life, but rather that acceptance of these teachings inspires and reinforces our commitment to ethical ideals. These twin principles open a window to a wider background against which our pursuit of the moral life unfolds. They show us that our present living conditions, our dispositions and aptitudes, our virtues and faults, result from our actions in previous lives. When we realize that our present conditions reflect our kammic past, we will also realize that our present actions are the legacy that we will transmit to our kammic descendants, that is, to ourselves in future lives. The teaching of rebirth thus enables us to face the future with fortitude, dignity, and courage. If we recognize that no matter how debilitating our present conditions might be, no matter how limiting and degrading, we can still redeem ourselves, we will be spurred to exercise our will for the achievement of our future good. By our present actions of body, speech, and mind, we can transform ourselves, and by transforming ourselves, we can surmount all inner and outer obstacles and advance toward the final goal.

Đức Phật kết hợp niềm tin trong sự tái sinh và nghiệp vào định nghĩa về Chánh kiến, và coi việc phủ nhận chúng là Tà kiến. Mong cầu quả báo của nghiệp thiện không nên là động lực chính để ta sống một cuộc đời đạo đức; mà việc chấp nhận những giáo lý này khơi dậy và sự kiên cố của ta đối với các lý tưởng đạo đức. Hai nguyên lý này mở ra một tầm nhìn rộng lớn hơn về bối cảnh trong đó ta theo đuổi nếp sống đạo đức. Chúng cho ta thấy rằng hoàn cảnh sống hiện tại, khuynh hướng và năng khiếu, cũng như những đức tính và khiếm khuyết của ta, đều là kết quả từ những hành động trong các kiếp quá khứ. Khi nhận ra hoàn cảnh hiện tại phản ánh quá khứ nghiệp báo của mình, ta cũng sẽ hiểu rằng hành động hiện tại chính là di sản ta để lại cho "nghiệp báo trong tương lai" của mình, tức là chính bản thân ta trong những kiếp sống tương lai. Nhờ vậy, giáo lý về sự tái sinh giúp ta đối diện với tương lai bằng sự kiên định, phẩm giá và lòng can đảm. Nếu nhận thức được rằng dù hoàn cảnh hiện tại có khắc nghiệt, hạn chế hay thấp kém, ta vẫn có thể tự mình chuyển hóa và vươn lên, ta sẽ được thôi thúc vận dụng ý chí để tạo dựng những điều tốt đẹp cho tương lai. Thông qua hành động của thân, khẩu và ý trong hiện tại, ta có thể chuyển hóa chính mình; và nhờ sự chuyển hóa đó, ta có thể vượt qua mọi chướng ngại bên trong lẫn bên ngoài để tiến tới mục tiêu tối hậu.

The teachings of kamma and rebirth have a still deeper ethical significance than as simple pointers to moral responsibility. They show us not only that our personal lives are shaped by our own kammic past, but also that we live in an ethically meaningful universe. Taken in conjunction, they make the universe a cosmos, an orderly, integrated whole, with dimensions of significance that transcend the merely physical. The levels of order that we have access to by direct inspection or scientific investigation do not exhaust all the levels of cosmic order. There is system and pattern, not only in the physical and biological domains, but also in the ethical, and the teachings of kamma and rebirth reveal just what that pattern is. Although this ethical order is invisible to our fleshly eyes and cannot be detected by scientific apparatus, this does not mean it is not real. Beyond the range of normal perception, a moral law holds sway over our deeds and via our deeds over our destiny. It is just the principle of kamma, operating across the sequence of rebirths, that locks our volitional actions into the dynamics of the cosmos, thus making ethics an expression of the cosmos's own intrinsic orderliness. At this point ethics begins to shade into ontology, which we will examine in the next part of this essay.

Giáo lý về nghiệp và tái sinh mang ý nghĩa đạo đức sâu sắc hơn so với việc chỉ đơn thuần chỉ ra trách nhiệm đạo đức. Chúng không chỉ cho thấy cuộc sống cá nhân của chúng ta được định hình bởi quá khứ nghiệp báo của chính mình, mà còn cho thấy chúng ta đang sống trong một vũ trụ mang ý nghĩa đạo đức. Khi được xem xét cùng nhau, chúng biến thành một trật tự vũ trụ một chỉnh thể thống nhất và có trật tự, với những chiều kích ý nghĩa vượt xa phạm vi vật lý đơn thuần. Các cấp độ trật tự mà chúng ta có thể tiếp cận thông qua quan sát trực tiếp hay nghiên cứu khoa học chưa thể bao quát hết mọi cấp độ trật tự của vũ trụ. Ở đó là hệ thống và quy luật, không chỉ trong lĩnh vực vật lý và sinh học mà còn trong cả lĩnh vực đạo đức; và giáo lý về nghiệp cùng tái sinh đã hé lộ bản chất của quy luật đó. Mặc dù trật tự đạo đức này vô hình đối với mắt thường và không thể bị phát hiện bởi các thiết bị khoa học, điều đó không có nghĩa là nó không có thực. Vượt ra ngoài phạm vi nhận thức thông thường, một quy luật đạo đức vẫn chi phối hành động của chúng ta, và thông qua hành động, nó chi phối cả vận mệnh của chúng ta. Chính nguyên lý về nghiệp, vận hành xuyên suốt chuỗi tái sinh , đã gắn kết những hành động có chủ ý của chúng ta vào cơ chế vận hành của vũ trụ, qua đó biến đạo đức thành sự biểu hiện cho chính trật tự nội tại của vũ trụ. Tại điểm này, đạo đức học bắt đầu giao thoa với bản thể học, vấn đề chúng ta sẽ thẩm vấn trong phần tiếp theo của bài viết này.

The teaching of rebirth, taken in conjunction with the doctrine of kamma, implies that we live in a morally ordered universe, one in which our morally determinate actions bring forth fruits that in some way correspond to their own ethical quality. Though the moral law that links our actions with their fruits cannot be demonstrated experimentally in the same way that physical and chemical laws can be, this does not mean it is not real. It means only that, like quarks and quasars, it operates beyond the threshold of sensory perception. Far from being a mere projection of our subjective ideals, the moral law locks our volitional deeds into an all-embracing cosmic order that is perfectly objective in that it functions independently of our personal desires, views, and beliefs. Thus when we submit our behavior to the rule of ethics, we are not simply acting in ways that merit moral approval. By conforming to the principles of ethics we are doing nothing less than aligning ourselves with the Dhamma, the universal law of righteousness and truth which stands at the bedrock of the cosmos.

Giáo lý về sự tái sinh, khi cùng phối hợp với học thuyết về nghiệp, chỉ ra rằng chúng ta đang sống trong một vũ trụ vận hành theo trật tự đạo đức; tại đó, những hành động mang tính quyết định về mặt đạo đức sẽ trổ quả tương ứng với phẩm chất đạo đức của chính chúng. Mặc dù quy luật đạo đức gắn kết hành động với kết quả của chúng không thể được chứng minh bằng thực nghiệm theo cách thức áp dụng cho các định luật vật lý hay hóa học, nhưng điều đó không có nghĩa là nó không có thực. Điều này chỉ có nghĩa là, cũng giống như các hạt cơ bản sơ cấp (quarks)*1 hay chuẩn tinh (quasar)*2, quy luật ấy vận hành vượt ra ngoài phạm vi cảm nhận của giác quan. Không hề là sự phóng chiếu đơn thuần từ những lý tưởng chủ quan của chúng ta, quy luật đạo đức gắn kết các hành động có chủ ý của ta vào một trật tự vũ trụ bao trùm và hoàn toàn khách quan; trật tự này vận hành độc lập với những mong cầu, quan điểm và niềm tin cá nhân của mỗi người. Do đó, khi tuân theo các chuẩn mực đạo đức trong hành xử, chúng ta không chỉ đơn thuần là thực hiện những hành động đáng được tán đồng về mặt đạo đức. Bằng cách sống thuận theo các nguyên tắc đạo đức, chúng ta thực chất đang hòa mình vào Giáo pháp, quy luật phổ quát của sự chính trực và chân lý, vốn là nền tảng cốt lõi của vũ trụ.

*1. Quark là những hạt cơ bản nguyên thủy cấu tạo nên vật chất.

Bản chất: Chúng là những thành phần nhỏ nhất cấu tạo nên các hạt hạt nhân như prôton (proton) và nơtron (neutron). Hiện tại, khoa học tin rằng quark không thể bị chia nhỏ hơn nữa.

*2. Quasar (chuẩn tinh) là những thiên thể cực kỳ sáng và xa xôi trong vũ trụ.

Bản chất: Bản chất của quasar là trung tâm của các thiên hà trẻ, nơi có một lỗ đen siêu khối lượng đang nuốt chửng vật chất xung quanh với tốc độ chóng mặt.

Đặc điểm: Khi vật chất bị hút vào lỗ đen, nó ma sát và nóng lên đến hàng triệu độ, giải phóng một lượng năng lượng khổng lồ. Một quasar có thể sáng gấp hàng ngàn lần toàn bộ dải Ngân Hà của chúng ta cộng lại, giúp chúng ta có thể nhìn thấy chúng dù chúng ở cách Trái Đất hàng tỷ năm ánh sáng.

This brings us to the ontological aspect of the Buddhist teaching on rebirth, its implications for understanding the nature of being. Buddhism sees the process of rebirth as integral to the principle of conditionality that runs through all existence. The sentient universe is regulated by different orders of causation layered in such a way that higher orders of causation can exercise dominion over lower ones. Thus the order of kamma, which governs the process of rebirth, dominates the lower orders of physical and biological causation, bending their energies toward the fulfillment of its own potential. The Buddha does not posit a divine judge who rules over the workings of kamma, rewarding and punishing us for our deeds. The kammic process functions autonomously, without a supervisor or director, entirely through the intrinsic power of volitional action. Interwoven with other orders in the vast, complex web of conditionality, our deeds produce their consequences just as naturally as seeds in a field bring forth their appropriate herbs and flowers.

Điều này dẫn chúng ta đến khía cạnh bản thể học của giáo lý Phật giáo về sự tái sinh, nó liên quan tới sự thấu hiểu bản chất của sự tạo thành. Phật giáo xem quá trình tái sinh là một phần không thể tách rời của nguyên lý duyên khởi vốn chi phối toàn bộ sự tồn tại. Vũ trụ hữu tình được vận hành bởi các trật tự nhân quả khác nhau, được sắp xếp theo các tầng bậc sao cho những trật tự nhân quả cao hơn có thể chi phối các trật tự thấp hơn. Theo đó, trật tự nghiệp, vốn chi phối quá trình tái sinh, sẽ chế ngự các trật tự nhân quả thấp hơn thuộc về vật lý và sinh học, hướng nguồn năng lượng của chúng vào việc hiện thực hóa tiềm năng của chính nghiệp lực. Đức Phật không chủ trương sự tồn tại của một vị thần phán xét tối cao nào cai quản sự vận hành của nghiệp hay ban thưởng và trừng phạt chúng ta dựa trên những hành động đã làm. Tiến trình của nghiệp vận hành một cách tự chủ, không cần đến người giám sát hay điều hành, mà hoàn toàn dựa vào sức mạnh nội tại của hành động có chủ ý. Đan xen với các trật tự khác trong mạng lưới duyên khởi rộng lớn và phức tạp, hành động của chúng ta tạo ra kết quả một cách tự nhiên, tựa như những hạt giống trên cánh đồng nảy mầm thành các loài thảo mộc và hoa trái tương ứng.

To understand how kamma can produce its effects across the succession of rebirths we must invert our normal, everyday conception of the relationship between consciousness and matter. Under the influence of materialistic biases we assume that material existence is determinative of consciousness. Because we witness bodies being born into this world and observe how the mind matures in tandem with the body, we tacitly take the body to be the foundation of our existence and mind or consciousness an evolutionary offshoot of blind material processes. Matter wins the honored status of "objective reality," and mind becomes an accidental intruder upon an inherently senseless universe.

Để hiểu được cách nghiệp tạo ra các hệ quả xuyên suốt chuỗi luân hồi, chúng ta cần đảo ngược quan niệm thông thường hằng ngày về mối quan hệ giữa ý thức và vật chất. Do chịu ảnh hưởng của những thiên kiến ​​duy vật, chúng ta thường cho rằng sự tồn tại của vật chất là yếu tố quyết định ý thức. Bởi vì chúng ta nhìn thấy ​​sự sinh ra của thân và quan sát quá trình tâm trưởng thành song hành cùng thân, chúng ta mặc nhiên coi thân là nền tảng cho sự tồn tại của mình, còn tâm hay ý thức chỉ là sản phẩm phụ nảy sinh từ các quá trình vật chất mù quáng. Khi ấy, vật chất được tôn vinh là "thực tại khách quan", còn tâm lại trở thành kẻ xâm nhập ngẫu nhiên vào một vũ trụ vốn dĩ vô nghĩa

From the Buddhist perspective, however, consciousness and the world coexist in a relationship of mutual creation which equally require both terms. Just as there can be no consciousness without a body to serve as its physical support and a world as its sphere of cognition, so there can be no physical organism and no world without some type of consciousness to constitute them as an organism and world. Though temporally neither mind nor matter can be regarded as prior to the other, in terms of practical importance the Buddha says that mind is the forerunner. Mind is the forerunner, not in the sense that it arises before the body or can exist independently of a physical substratum, but in the sense that the body and the world in which we find ourselves reflect our mental activity.

Tuy nhiên, dưới góc độ Phật giáo, ý thức và thế giới cùng tồn tại trong một mối quan hệ tương trợ kiến ​​tạo lẫn nhau, đòi hỏi sự hiện diện của cả hai yếu tố này. Cũng như không thể có ý thức nếu thiếu đi một cơ thể làm nền tảng vật lý và một thế giới làm phạm vi nhận thức, thì cũng không thể có cơ thể sinh học hay thế giới nếu thiếu đi một dạng ý thức nào đó để định hình chúng thành một cơ thể và một thế giới. Mặc dù xét về mặt thời gian, không thể coi tâm hay vật là có trước cái kia, nhưng xét về tầm quan trọng trong thực tiễn, Đức Phật khẳng định rằng tâm đóng vai trò tiên phong. Tâm đóng vai trò tiên phong không phải theo nghĩa là nó nảy sinh trước cơ thể hay có thể tồn tại độc lập với nền tảng vật lý, mà theo nghĩa là cơ thể và thế giới mà chúng ta đang hiện diện chính là sự phản ánh các hoạt động tâm thức của chúng ta.

It is mental activity, in the form of volition, that constitutes kamma, and it is our stock of kamma that steers the stream of consciousness from the past life into a new body. Thus the Buddha says: "This body, O monks, is old kamma, to be seen as generated and fashioned by volition, as something to be felt" (SN XI.37). It is not only the body, as a composite whole, that is the product of past kamma, but the sense faculties too (see SN XXV.146). The eye, ear, nose, tongue, body-sense, and mind-base are also fashioned by our past kamma, and thus kamma to some degree shapes and influences all our sensory experience. Since kamma is ultimately explained as volition (cetana), this means that the particular body with which we are endowed, with all its distinguishing features and faculties of sense, is rooted in our volitional activities in earlier lives. Precisely how past volition can influence the development of the zygote lies beyond the range of scientific explanation, but if the Buddha's words are to be trusted such an influence must be real.

Nó là sự hoạt động của tâm, dưới hình thức tác ý, tạo nên nghiệp; và chính giòng nghiệp lực này dẫn dắt dòng tâm thức từ kiếp sống trước chuyển sang một thân xác mới. Do đó, Đức Phật đã dạy: "Này các Tỷ-kheo, thân xác này là nghiệp cũ; cần phải xem nó như là thứ được sinh ra và tạo tác bởi ý chí, là thứ để cảm thọ" (SN XI.37). Không chỉ thân xác, xét như một tổng thể hợp nhất, là sản phẩm của nghiệp quá khứ, mà các giác quan cũng vậy (xem SN XXV.146). Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý căn cũng đều được tạo tác bởi nghiệp quá khứ của chúng ta; vì thế, ở một mức độ nào đó, nghiệp định hình và chi phối mọi trải nghiệm giác quan của chúng ta. Nghiệp được định nghĩa là tác ý (cetana), nên điều này có nghĩa là thân xác cụ thể mà chúng ta có, với tất cả những đặc điểm riêng biệt và các giác quan, đều bắt nguồn từ những hành động mang tính tác ý của chúng ta trong các kiếp sống trước. Cơ chế chính xác mà qua đó những tác ý trong quá khứ có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của hợp tử nằm ngoài phạm vi giải thích của khoa học; tuy nhiên, nếu tin vào lời dạy của Đức Phật thì sự ảnh hưởng đó phải là điều có thật.

The channel for the transmission of kammic influence from life to life across the sequence of rebirths is the individual stream of consciousness. Consciousness embraces both phases of our being — that in which we generate fresh kamma and that in which we reap the fruits of old kamma — and thus in the process of rebirth, consciousness bridges the old and new existences. Consciousness is not a single transmigrating entity, a self or soul, but a stream of evanescent acts of consciousness, each of which arises, briefly subsists, and then passes away. This entire stream, however, though made up of evanescent units, is fused into a unified whole by the causal relations obtaining between all the occasions of consciousness in any individual continuum. At a deep level, each occasion of consciousness inherits from its predecessor the entire kammic legacy of that particular stream; in perishing, it in turn passes that content on to its successor, augmented by its own novel contribution. Thus our volitional deeds do not exhaust their full potential in their immediately visible effects. Every volitional deed that we perform, when it passes, leaves behind a subtle imprint stamped upon the onward-flowing stream of consciousness. The deed deposits in the stream of consciousness a seed capable of bearing fruit, of producing a result that matches the ethical quality of the deed.

Phương thức quá trình truyền tải nghiệp từ kiếp này sang kiếp khác trong chuỗi luân hồi chính là dòng ý thức của mỗi cá nhân. Ý thức bao hàm cả hai giai đoạn của sự hiện hữu: giai đoạn tạo ra nghiệp mới và giai đoạn gặt hái quả của nghiệp cũ; do đó, trong tiến trình tái sinh, ý thức đóng vai trò cầu nối giữa kiếp sống cũ và kiếp sống mới. Ý thức không phải là một thực thể duy nhất luân chuyển, một cái "tôi" hay linh hồn, mà là một dòng chảy gồm các sát-na ý thức thoáng qua; mỗi sát-na ngắn ngủi sinh và diệt. Tuy nhiên, toàn bộ dòng chảy này, dù được tạo thành từ những đơn vị thoáng qua, lại được kết nối thành một thể thống nhất nhờ các mối quan hệ nhân quả giữa mọi sát-na ý thức trong dòng tiếp nối của cá nhân đó. Tại cấp bậc sâu, mỗi sát-na ý thức kế thừa toàn bộ di sản nghiệp của dòng chảy đó từ sát-na trước; khi diệt, nó lại truyền tải nội dung ấy cho sát-na kế tiếp, đồng thời bổ sung thêm phần đóng góp mới của chính nó. Như vậy, những hành động có tác ý của chúng ta không hề cạn kiệt toàn bộ tiềm năng chỉ qua những hệ quả có thể thấy ngay lập tức. Mỗi hành động có tác ý mà ta thực hiện, khi đã qua đi, đều để lại một dấu ấn vi tế hằn sâu lên dòng ý thức đang trôi chảy không ngừng. Hành động ấy gieo vào dòng ý thức một hạt giống có khả năng trổ quả, tạo ra kết quả tương ứng với phẩm chất đạo đức của chính hành động đó.

When we encounter suitable external conditions, the kammic seeds deposited in our mental continuum rise up from their dormant condition and produce their fruits. The most important function performed by kamma is to generate rebirth into an appropriate realm, a realm that provides a field for it to unfold its stored potentials. The bridge between the old existence and the new is, as we said above, the evolving stream of consciousness. It is within this stream of consciousness that the kamma has been created through the exercise of volition; it is this same stream of consciousness, flowing on, that carries the kammic energies into the new existence; and it is again this same stream of consciousness that experiences the fruit. Conceivably, at the deepest level all the individual streams of consciousness are integrated into a single all-embracing matrix, so that, beneath the surface of events, the separate kammic accumulations of all living beings crisscross, overlap, and merge. This hypothesis — though speculative — would help account for the strange coincidences we sometimes meet that prick holes in our assumptions of rational order.

Khi chúng ta gặp các điều kiện bên ngoài thích hợp, những hạt giống nghiệp vốn nằm yên trong dòng tâm thức của chúng ta sẽ trỗi dậy từ trạng thái tiềm ẩn và trổ quả. Chức năng quan trọng nhất của nghiệp là tạo ra sự tái sinh vào một cảnh giới thích hợp, một cảnh giới cung cấp môi trường để các tiềm năng tích tụ trong nghiệp được triển khai. Như đã đề cập ở trên, chiếc cầu nối giữa kiếp sống cũ và kiếp sống mới chính là dòng tâm thức đang không ngừng biến chuyển. Chính trong dòng tâm thức này, nghiệp được tạo thông qua tác động của ý chí; cũng chính dòng tâm thức đang tiếp diễn ấy mang theo năng lượng nghiệp sang kiếp sống mới; và cũng lại chính dòng tâm thức ấy là nơi thọ nhận quả báo. Có thể hình dung rằng, ở cấp bậc sâu nhất, tất cả các dòng tâm thức cá biệt đều hòa quyện vào một nền tảng bao trùm tất cả; nhờ đó, bên dưới bề mặt của các sự kiện, những khối nghiệp riêng biệt của mọi chúng sinh đan xen, chồng lấp và hòa lẫn vào nhau. Giả thuyết này—dù mang tính suy đoán—có thể giúp lý giải những sự trùng hợp kỳ lạ mà đôi khi ta bắt gặp, những điều làm lung lay các giả định của chúng ta về một trật tự hợp lý.

The generative function of kamma in the production of new existence is described by the Buddha in a short but pithy sutta preserved in the Anguttara Nikaya (AN III.76). Venerable Ananda approaches the Master and says, "'Existence, existence' is spoken of, venerable sir. In what way is there existence?" The Buddha replies: "If there were no kamma ripening in the sensory realm, no sense-sphere existence would be discerned. If there where no kamma ripening in the form realm, no form-sphere existence would be discerned. If there were no kamma ripening in the formless realm, no formless-sphere existence would be discerned. Therefore, Ananda, kamma is the field, consciousness the seed, and craving the moisture for beings obstructed by ignorance and fettered by craving to be established in a new realm of existence, either low (sense-sphere), middling (form-sphere), or high (formless-sphere)."

Chức năng sinh sản của nghiệp trong việc tạo ra sự hiện hữu mới được Đức Phật mô tả trong một bài kinh ngắn nhưng súc tích trong Tăng Chi Bộ Kinh - Kinh Hiện Hữu - Anguttara Nikaya (AN III.76). Tôn sĩ Ananda đến gặp Đức Phật và nói: "Hữu, hữu, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được xem là có hữu?" Đức Phật đáp: "Nếu không có nghiệp chín muồi trong cõi giác quan, thì sẽ không thể nhận biết được sự tồn tại trong cõi giác quan. Nếu không có nghiệp chín muồi trong cõi sắc quan, thì sẽ không thể nhận biết được sự tồn tại trong cõi sắc quan. Nếu không có nghiệp chín muồi trong cõi vô hình, thì sẽ không thể nhận biết được sự tồn tại trong cõi vô hình. Như vậy, này Ananda, nghiệp là thửa ruộng, thức là hột giống, ái là sự nhuận ướt. Chúng sanh bị vô minh che lấp, bị ái trói buộc, nên thức được an lập trong giới thấp kém. Như vậy, trong tương lai có sự tái sanh sanh khởi. Như vậy, này Ananda, hữu có mặt.

As long as ignorance and craving, the twin roots of the round of rebirths, remain intact in our mental continuum, at the time of death one especially powerful kamma will become ascendant and propel the stream of consciousness to the realm of existence that corresponds to its own "vibrational frequency." When consciousness, as the seed, becomes planted or "established" in that realm it sprouts forth into the rest of the psycho-physical organism, summed up in the expression "name and form" (nama-rupa). As the organism matures, it provides the site for other past kammas to gain the opportunity to produce their results. Then, within this new existence, in response to our various kammically induced experiences, we engage in actions that engender fresh kamma with the capacity to generate still another rebirth. Thereby the round of existence keeps turning from one life to the next, as the stream of consciousness, swept along by craving and steered by kamma, assumes successive modes of embodiment.

Chừng nào vô minh và ái dục, hai cội rễ của vòng luân hồi, còn hiện hữu trong dòng tâm thức, thì vào thời điểm lâm chung, một nghiệp lực đặc biệt mạnh mẽ sẽ trỗi dậy và thúc đẩy dòng tâm thức hướng về cảnh giới tương ứng với "tần số rung động" của chính nghiệp lực đó. Khi tâm thức đóng vai trò như hạt giống được gieo vào hoặc "an trú" tại cảnh giới ấy, nó sẽ nảy mầm và phát triển thành toàn bộ thực thể thân-tâm, hay còn được gọi tắt là "danh và sắc" (nama-rupa). Khi thực thể này trưởng thành, nó tạo ra môi trường để các nghiệp lực khác từ quá khứ có cơ hội trổ quả. Và rồi, trong kiếp sống mới này, trước những trải nghiệm do nghiệp lực chi phối, chúng ta lại thực hiện các hành động tạo ra những nghiệp mới, những nghiệp có khả năng dẫn dắt đến một lần tái sinh kế tiếp. Cứ như thế, vòng luân hồi tiếp diễn từ kiếp này sang kiếp khác; dòng tâm thức bị cuốn đi bởi ái dục và dẫn dắt bởi nghiệp lực lần lượt khoác lên mình , thân xác mới.

The ultimate implication of the Buddha's teaching on kamma and rebirth is that human beings are the final masters of their own destiny. Through our unwholesome deeds, rooted in greed, hatred, and delusion, we create unwholesome kamma, the generative cause of bad rebirths, of future misery and bondage. Through our wholesome deeds, rooted in generosity, kindness, and wisdom, we beautify our minds and thereby create kamma productive of a happy rebirth. By using wisdom to dig more deeply below the superficial face of things, we can uncover the subtle truths hidden by our preoccupation with appearances. Thereby we can uproot the binding defilements and win the peace of deliverance, the freedom beyond the cycle of kamma and its fruit. This aspect of the Buddhist teaching on rebirth will be explored more fully in the third part of this essay.[1]

làm chủ vận mệnh của mình. Thông qua những hành động bất thiện bắt nguồn từ tham, sân và si, chúng ta tạo ra nghiệp bất thiện, nguyên nhân dẫn đến những cảnh tái sinh đau khổ, và sự trói buộc trong tương lai. Thông qua những hành động thiện lành bắt nguồn từ sự hào phóng, lòng tốt và trí tuệ, chúng ta làm đẹp tâm hồn mình và nhờ đó tạo ra nghiệp lành đưa đến sự tái sinh an vui. Bằng cách dùng trí tuệ để thấu suốt bên dưới vẻ bề ngoài của sự vật, chúng ta có thể khám phá ra những chân lý vi tế vốn bị che lấp bởi sự bận tâm của ta vào hình thức bên ngoài. Nhờ vậy, ta có thể nhổ tận gốc những phiền não trói buộc và đạt được sự an tịnh của sự giải thoát – một trạng thái tự do vượt khỏi vòng xoáy của nghiệp và quả báo. Khía cạnh này trong giáo lý Phật giáo về tái sinh sẽ được trình bày chi tiết hơn ở phần ba của bài viết này.[1]

Note

1.
As of Summer 2005, the third installment had not yet been published — jtb.

Note

1.
Tính đến mùa hè năm 2005, phần thứ ba vẫn chưa được xuất bản —— jtb.



 | | trở về đầu trang | Home page |